1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Báo cáo biện pháp nâng cao chất lượng môn ngữ văn 7 (thuyết trình thi giáo viên giỏi)

16 34 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 4,61 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đây là định hướng cơ bản thiết thực đối với mỗi giáo viên trong đó có giáo viên dạy bộ môn Ngữ văn.Từ nhiều năm nay, phương pháp dạy văn đổi mới đã chú trọng phát triển hứng thú học văn

Trang 1

BÁO CÁO BIỆN PHÁP TẠO HỨNG THÚ HỌC TẬP CHO HỌC SINH

TRONG CÁC TIẾT DẠY NGỮ VĂN 7.

MỤC LỤC

2.Biện pháp tạo hứng thú học tập cho học sinh trong các tiết dạy Ngữ văn 7 4

.a Biện pháp 1: Tạo tâm thế học tập cho học sinh 4

.c Biện pháp 3: Phương pháp sử dụng bản đồ tư duy 5 d Biện pháp 4: Lồng ghép các trò chơi trong dạy học Ngữ văn 5

Trang 2

PHẦN IV: CAM KẾT. 13

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ

Việc đổi mới phương pháp giảng dạy Ngữ văn hiện nay đã và đang thực sự là yếu tố quyết định hiệu quả giờ dạy Phương pháp dạy học đổi mới chú trọng đến việc phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh làm cho học sinh ham thích môn học Điều 24, Luật giáo dục (do Quốc hội khóa X thông qua) cũng đã chỉ rõ: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh” Đây là định hướng cơ bản thiết thực đối với mỗi giáo viên trong đó có giáo viên dạy bộ môn Ngữ văn.Từ nhiều năm nay, phương pháp dạy văn đổi mới đã chú trọng phát triển hứng thú học văn của học sinh Một trong những mục đích của giờ văn là làm sao gây được rung động thẩm mĩ, giáo dục nhân cách cho học sinh Ai đó đã nói rằng: “Dù có dắt ngựa đến bờ sông cũng không thể bắt nó uống nước được” Vấn đề học tập của trẻ cũng vậy Dù có bắt được chúng ngồi ngay ngắn học tập nhưng nếu không thích thú, trẻ không thể học tốt được Từ thực tế giảng dạy bộ môn Ngữ văn lớp 7 tôi nhận thấy, muốn giờ dạy đạt hiệu quả cao, ngoài việc truyền đạt kiến thức, tôi nghĩ rằng mình cần phải biết gây hứng thú học tập cho học sinh để tiết học thực sự nhẹ nhàng, sinh động; học sinh tiếp thu kiến thức một cách tự nhiên, không gượng ép Từ đó mới phát huy thực sự tính chủ động, tích

cực, sáng tạo của học sinh.Chính vì thế, tôi mạnh dạn nghiên cứu: “ Biện pháp tạo hứng

thú học tập cho học sinh trong các tiết dạy Ngữ văn 7” giúp học sinh say mê học tập, từ

đó cải thiện và nâng cao chất lượng học tập hơn

Trang 3

PHẦN II: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

1 Thực trạng công tác dạy và học môn Ngữ văn ở trường THCS :

a) Ưu điểm:

Nhà trường có đội ngũ cán bộ giáo viên có trình độ chuyên môn nghiệp vụ vững

vàng,nhiệt tình trong công tác giảng dạy.Cơ sở vật chất của nhà trường bước đầu đáp ứng

đủ cho điều kiện dạy học.Nhà trường và tổ chuyên môn luôn quan tâm và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho giáo viên trong công tác giảng dạy

Đa số các em học sinh của trường THCS đều ngoan ngoãn, lễ phép và kính trọng

các thầy cô Phụ huynh luôn quan tâm tới việc học tập của các con,tạo mọi điều kiện để con được học tập tốt nhất

Bản thân có năng lực chuyên môn,dạy đúng chuyên môn đào tạo,luôn gần gũi,thân

thiện,quan tâm sát sao tới học sinh.Bản thân thường xuyên học hỏi,trau dồi kinh nghiệm từ bạn bè,đồng nghiệp,tự bồi dưỡng để nâng cao trình độ chuyên môn của bản thân

b) Hạn chế và nguyên nhân của hạn chế:

b.1.Đối với học sinh:

Tình trạng học sinh ngày càng thụ động, không chịu phát biểu xây dựng bài Nhiều lần

cô giáo đặt câu hỏi, dù chỉ là những câu hỏi trong sách giáo khoa nhưng hỏi đi hỏi lại 2, 3 lượt nhưng các em vẫn ngồi im , và chính thầy cô là người phải trả lời câu hỏi do mình đặt

ra Những tình huống như vậy thường gây tâm lí ức chế cho thầy cô rất nhiều Nguyên nhân gây nên hiện tượng học sinh thụ động trong giờ học Ngữ văn bắt nguồn từ tâm lý

Trang 4

chung của học sinh: Học sinh sợ bị chê cười khi phát biểu sai, chưa tự tin vào năng lực của mình.Các em còn ngại ngùng, rụt rè khi đứng lên trả lời trước đám đông nhất là các bạn nữ

Do các em lười học, không chịu, hoặc rất ít chuẩn bị bài trước ở nhà mà có thói quen đợi đến lớp chờ thầy cô giảng rồi chép vào vở, chưa hiểu rõ tác dụng của việc phát biểu xây dựng bài Không khí một số giờ học trên lớp nhiều khi còn tẻ nhạt, thiếu hấp dẫn bởi thế một số tiết học trở nên đơn điệu, căng thẳng, ảnh hưởng đến việc nhận thức, hình thành kĩ năng sống của học sinh bị hạn chế.Việc học sinh chưa hứng thú và chưa phát huy được tính tích cực trong học tập của học sinh đã dẫn đến kết quả học tập của các em chưa cao

b.2.Đối với giáo viên:

Một số giáo viên chưa biết tạo hứng thú cho học sinh trong tiết học Ngữ Văn

Một số giáo viên chưa sử dụng triệt để các phương tiện hiện đại như máy tính,máy chiếu…vào dạy học

Giáo viên chưa có sự linh hoạt trong việc kết hợp phương pháp đổi mới với phương pháp dạy truyền thống Giáo viên nhiều tuổi thì ngại thay đổi Một số giáo viên trẻ thì tinh thần học hỏi chưa cao, chưa bắt kịp với sự đổi mới nên bài dạy trên lớp cũng chưa có tính thu hút, đạt hiệu quả chưa cao.Vì vậy, muốn đổi mới được nền giáo dục thì cần đổi mới tư duy, nhận thức trong việc dạy và học Một trong số đó là tạo hứng thú học tập cho học sinh trong tiết dạy Ngữ văn

2 Biện pháp tạo hứng thú học tập cho học sinh trong các tiết dạy Ngữ văn 7 ở trường THCS

Vấn đề tạo hứng thú cho học sinh trong tiết học Ngữ văn đi đôi với hiệu quả và có tính giáo dục cao Học sinh có thể có hứng thú nhưng hiệu quả giáo dục mới là mục đích mà người dạy cần đạt Vì vậy, trong quá trình giảng dạy tôi đã áp dụng một số biện pháp thiết thực nhằm giúp học sinh say mê, hứng thú trong giờ học Ngữ văn 7 như sau:

a) Biện pháp 1:Tạo tâm thế học tập cho học sinh.

Tạo tâm thế cho học sinh trong giờ học văn thực chất là việc giáo viên tạo cho học sinh

một tâm thế vững vàng,một tâm lý thoải mái,một cảm xúc,hứng thú khi tiếp cận tác phẩm văn học

Trước hết là tác động đến tình cảm của học sinh: Để học sinh luôn chủ động, tích cực,

tự giác đặc biệt có hứng thú với môn học, giáo viên phải truyền dạy tri thức bằng cả trái tim và lòng tâm huyết của mình Thực sự quan tâm đến học sinh, tạo ra không khí học tập thân thiết, gần gũi Từ đó tạo được niềm tin với các em Theo quy luật lây lan tình cảm, từ chỗ yêu quý, trân trọng thầy cô đến thích học môn do thầy cô dạy

Trang 5

Tiếp theo là xây dựng không khí lớp học: Học tập căng thẳng thường làm cho học sinh mệt mỏi Do đó chúng ta cần tổ chức giờ học một cách sinh động mới kích thích hứng thú học tập của học sinh Để tạo hứng thú trong một tiết học của học sinh thì lời dẫn vào bài cũng rất là quan trọng Lời vào bài hấp dẫn là khâu gợi tâm lí, tạo ngay một tâm thế hứng thú tìm hiểu bài mới của học sinh Do đó phần khởi động đóng vai trò không nhỏ Giáo viên có thể tạo không khí lớp học bằng các chuyện vui, các câu thơ, bài hát hay hình thức

đố vui, đóng kịch, xem mẫu vật, tranh ảnh có liên quan đến nội dung bài học

Ưu điểm lớn nhất của biện pháp tạo tâm thế là đưa lại không khí lớp học sôi nổi,giúp học sinh có tâm thế thoải mái,hào hứng với bài học

b)Biện pháp 2:Ứng dụng công nghệ thông tin.

Ngày nay khi công nghệ thông tin càng phát triển thì việc ứng dụng công nghệ thông tin vào tất cả các lĩnh vực là một điều tất yếu, trong đó có lĩnh vực giáo dục Trong lĩnh vực này, công nghệ thông tin được ứng dụng mạnh mẽ, các trường đã đưa tin học vào giảng dạy, học tập và xem công nghệ thông tin như là một công cụ hỗ trợ đắc lực nhất cho đổi mới phương pháp dạy học ở các môn học , trong đó có cả môn Ngữ văn

Khi dạy học bộ môn Ngữ văn, giáo viên cần tích cực ứng dụng công nghệ thông tin, phát huy khả năng hỗ trợ của phương tiện, công nghệ vào các bài giảng: lồng ghép những đoạn phim, những tranh ảnh, những khúc ngâm, bài thơ được phổ nhạc… vào quá trình giảng dạy, không những tạo không khí hứng thú học tập, mà đó là một kênh thông tin hữu hình, trực quan để học sinh nhận biết, hiểu bài sâu sắc

c) Biện pháp 3:Phương pháp sử dụng bản đồ tư duy:

Trong dạy học sơ đồ hệ thống hóa kiến thức đã có từ rất lâu Ngày nay, công nghệ thông tin phát triển, các phần mềm vẽ, sơ đồ tư duy ra đời đáp ứng kịp thời cho việc giảng dạy Sơ đồ hệ thống hóa kiến thức có vai trò hết sức to lớn trong quá trình tổ chức dạy học

Nó giúp học sinh dễ dàng nắm bắt kiến thức, hiểu sâu kiến thức, vận dụng sáng tạo, linh hoạt, chủ động các kiến thức đã học từ đó nâng cao hiệu quả học tập môn học

Sơ đồ tư duy là hình thức ghi chép nhằm giúp học sinh tìm tòi, đào sâu, mở rộng một ý tưởng, tóm tắt những ý chính của một nội dung, hệ thống hóa một chủ đề bằng cách kết hợp sử dụng hình ảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết Đặc biệt đây là một sơ đồ mở, việc thiết kế sơ đồ là theo mạch tư duy của mỗi người Việc ghi chép thông thường theo từng hàng chữ khiến chúng ta khó hình dung tổng thể vấn đề, dẫn đến hiện tượng đọc sót ý, nhầm ý Sơ đồ tư duy tập trung rèn luyện cách xác định chủ đề rõ ràng, sau đó phát triển ý chính, ý phụ một cách logic

Sử dụng bản đồ tư duy trong dạy học kiến thức mới sẽ giúp các em học tập một cách chủ động,tích cực và huy động được tất cả học sinh tham gia xây dựng bài một cách hào

Trang 6

hứng.Với sản phẩm độc đáo ‘‘ kiến thức + hội họa’’là niềm vui sáng tạo hàng ngày của học sinh và cũng chính là niềm vui của thầy cô giáo khi chứng kiến thành quả lao động của học trò

d)Biện pháp 4.Lồng ghép các trò chơi trong dạy học Ngữ văn.

Trò chơi vừa là một hoạt động giải trí vừa là một phương pháp giáo dục.Lồng ghép trò chơi trong dạy và học môn Ngữ văn, kết hợp với phương pháp dạy học khác sẽ có ý nghĩa tích cực đối với yêu cầu đổi mới hiện nay Giải pháp này sẽ thay đổi không khí căng thẳng trong các giờ học, tăng thêm hứng thú cho người học, học sinh sẽ chú ý hơn, chủ động hơn trong chuẩn bị, mạnh dạn hơn trong đề xuất của mình, phát huy tư duy sáng tạo Hứng thú

và chủ động trong học tập là sự khởi đầu tốt cho việc nắm bắt kiến thức, hình thành kĩ năng

và phát triển nhân cách ở học sinh qua bộ môn Ngữ văn

Giáo viên cần chú ý đến đặc thù của từng phân môn; lưu ý mối quan hệ giữa trò chơi

và hệ thống câu hỏi; vận dụng linh hoạt, hợp lý, đúng mức và đúng lúc để không xáo trộn nhiều không gian lớp học, nhanh chóng ổn định lớp học khi trò chơi kết thúc; trò chơi phải phù hợp với nội dung, mục tiêu cần đạt, không vận dụng cho tất cả các tiết học; trò chơi bao giờ cũng kết thúc bằng thưởng cho người (đội) thắng Từ đó, tạo nên sự hứng thú Giáo viên có thể tự sáng tạo ra những trò chơi phù hợp với tiết học theo nguyên tắc vừa phù hợp,

vừa kích thích sự tò mò của các em ”

3 Thực nghiệm sư phạm:

a) Mô tả cách thức thực hiện:

Để nghiên cứu biện pháp tạo hứng thú học tập cho học sinh trong các tiết dạy Ngữ văn 7, tôi lựa chọn học sinh lớp 7A và 7D trường THCS để nghiên cứu,vì đây là nơi tôi đang công tác giảng dạy,tôi có điều kiện thuận lợi để giải quyết vấn đề mình cần nghiên cứu

a.1.Tạo tâm thế học tập cho học sinh.

Thông thường trong 1 tiết đọc- hiểu văn bản,không phải lúc nào học sinh cũng có thể tập trung chú tâm vào bài học,đặc biệt là những tác phẩm dài và khó.Song tôi đã thu hút,hướng học sinh vào bài học ngay ở phần giới thiệu bài mới bằng cách đưa những câu hỏi có vấn đề,liên tưởng so sánh để phát huy khả năng sáng tạo của học sinh

Ví dụ: Khi dạy bài " Ca Huế trên sông Hương" giáo viên có thể dẫn vào bài bằng

cách hỏi học sinh: Em đã đến Huế chưa? Huế có nét đẹp văn hóa nào? Sau đó cho học sinh xem tranh ảnh về Huế.Giáo viên dẫn dắt giới thiệu về Ca Huế trên sông Hương

Trang 7

Hình ảnh ca Huế trên sông Hương

Tuy nhiên giáo viên không chỉ tạo tâm thế ở đầu tiết học mà cần chú ý cả trong tiết học.Giáo viên có thể kích thích sự hứng thú của học sinh bằng câu chuyện vui,bài hát ,bài thơ được phổ nhạc liên quan đến bài học

Ví dụ :Khi dạy bài ‘‘Những câu hát về tình cảm gia đình’’ giáo viên có thể hát tặng

học sinh một bài dân ca ‘‘ Trống cơm’’để giúp các em có thể phân biệt được dân ca và ca

dao.Qua đó giúp các em hứng thú hơn trong giờ học Ngữ văn

a.2.Ứng dụng công nghệ thông tin

Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học giúp học sinh dễ tiếp thu kiến thức đồng thời nó còn giúp học sinh hứng thú hơn trong tiết học

Sử dụng công nghệ thông tin trong việc cung cấp về tác giả và tác phẩm rất tốt

Ví dụ:Khi dạy bài thơ ‘‘Bánh trôi nước’’chúng ta có thể cung cấp cho học sinh những

hiểu biết về nhà thơ Hồ Xuân Hương,các tác phẩm nổi tiếng của bà.Giáo viên có thể cho học sinh quan sát tranh ảnh của tác giả,cho học sinh nhận diện thể thơ học sinh sẽ cảm thấy tiết học không còn tẻ nhạt,nhàm chán

Trang 8

Đặc biệt khi dạy phần đọc hiểu văn bản bài ‘‘Bánh trôi nước’’ giáo viên cho các em

xem một video ngắn về cách làm bánh trôi nước hoặc có thể cho các em nghe một bài ngâm

thơ về bài Bánh trôi nước sẽ cuốn hút ,tạo được sự hứng thú cho học sinh.

Ví dụ: Khi dạy bài " Ca Huế trên sông Hương" giáo viên có thể cho học sinh nghe một

đoạn nhạc về làn điệu ca Huế, hoặc cho học sinh xem một đoạn video về cảnh biểu diễn ca Huế trên thuyền rồng.giúp các em hứng thú

Trang 9

Ví dụ:Dạy bài ‘‘Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê ’’của tác giả Hạ Tri

Chương,giáo viên cho các em nghe một khúc ngâm của bài thơ cũng kích thích được sự hứng thú của học sinh

a.3.Phương pháp bản đồ tư duy.

Ngay từ đầu năm học, tôi đã chú trọng việc hướng dẫn học sinh cách thức vẽ sơ đồ tư duy, tổ chức hoạt động nhóm Khi vẽ sơ đồ tư duy học sinh học được quá trình tổ chức và kết nối thông tin bằng hiểu biết của mình Giúp học sinh hứng thú,hăng hái, dễ hiểu, dễ nhớ các thông tin, biết sắp xếp các ý tưởng khoa học

Vận dụng kỹ thuật sơ đồ tư duy trong hoạt động củng cố kiến thức( Cuối giờ học)

Ví dụ: Khi dạy bài ‘‘ Liệt kê ’’thay vì tổng kết bằng việc xem, đọc lại bài,đọc phần ghi

nhớ , chúng ta có thể phân nhóm cho học sinh vẽ sơ đồ tư duy.Học sinh được tự tay mình

vẽ sẽ hào hứng hơn,qua đó nhớ kiến thức lâu hơn

Trang 10

Sơ đồ tư duy của học sinh lớp 7 sau khi học xong bài Liệt kê

Ví dụ: Sau khi học xong tác phẩm: “Cuộc chia tay của những con búp bê” – Ngữ văn 7 kì

I, tôi có yêu cầu học sinh về nhà lập dàn ý theo sơ đồ tư duy ghi lại những ý chính cho yêu cầu sau:Trình bày hiểu biết về tác giả,tác phẩm,nhân vật,nội dung và nghệ thuật của truyện? (Phần này tôi yêu cầu học sinh thực hiện ở nhà lên giấy A3 và tiết sau trưng bày sản phẩm

và trình bày cho các bạn và cô giáo nghe)

Trang 11

a.4.Lồng ghép các trò chơi trong dạy học Ngữ văn.

Để tạo hứng thú trong học tập cho học sinh,tôi đã sử dụng trò chơi học tập để các em

“chơi mà học” Giáo viên có thể tổ chức nhiều trò chơi như:Ai nhanh hơn,đuổi hình bắt chữ,tiếp sức,ô chữ bí mật…Tuy nhiên khi sử dụng trò chơi giáo viên luôn gắn với mục tiêu

từng tiết học, phù hợp với bài dạy

Ví dụ:Khi dạy bài " Thành ngữ" (SGK Ngữ văn lớp 7 tập 1) chúng ta có thể lồng

ghép các trò chơi để tạo hứng thú cho học sinh trong phần luyện tập

Bài 3.Điền thêm yếu tố để thành ngữ được trọn vẹn

-Lời tiếng nói

-Một nắng hai

-Ngày lành tháng

-No cơm ấm

-Bách bách thắng

-Sinh lập nghiệp

Bài tập này thuộc dạng bài tập điền khuyết Giáo viên sẽ tổ chức trò chơi: “Nhanh tay, nhanh mắt’.

Để tổ chức trò chơi này giáo viên ghi sẵn các đáp án:ăn,sương,tốt,cật,chiến,cơ… ra các mảnh giấy úp ngược xuống ,sau đó cho các đội chơi lần lượt lên lật lên và thật nhanh dán vào chỗ trống cho đúng.Đội nào dán được nhanh và chính xác sẽ là đội chiến thắng

Cũng ở bài ‘‘Thành ngữ’’ ,giáo viên cho học sinh làm bài tập 4( Sưu tầm thành ngữ

chưa giới thiệu trong sách giáo khoa và giải thích nghĩa của các thành ngữ ấy.)

Với bài tập này,giáo viên cho các em chơi trò chơi:‘‘Đuổi hình bắt chữ’’

Giáo viên đưa ra các hình ảnh.Học sinh suy nghĩ sẽ đoán ra được câu thành ngữ

cần tìm

Ngày đăng: 26/11/2021, 15:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w