1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Bài giảng môn giáo dục pháp luật thực hành (CLE) 2021

37 122 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 37
Dung lượng 107,18 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm tư vấn pháp luật: Định nghĩa: - Tư vấn là “phát biểu những ý kiến về những vấn đề được hỏi đến nhưng không có quyền quyết định” Từ điển tiếng Việt, Viện Ngôn ngữ học, 1998, tra

Trang 1

BÀI GIẢNG MÔN GIÁO DỤC PHÁP LUẬT THỰC HÀNH – HP2021

Tiết 1: Khái quát về tư vấn pháp luật

IV Nội dung giảng:

1 Ổn định lớp

2 Nội dung tiết giảng

1 Khái niệm tư vấn pháp luật:

Định nghĩa:

- Tư vấn là “phát biểu những ý kiến về những vấn đề được hỏi đến nhưng không

có quyền quyết định” (Từ điển tiếng Việt, Viện Ngôn ngữ học, 1998, trang1035);

- Tư vấn pháp luật là việc Luật sư hướng dẫn, đưa ra ý kiến, giúp khách hàngsoạn thảo các giấy tờ liên quan đến việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của họ (Điều

28 Luật Luật sư); hoặc nói cách khác, tư vấn pháp luật là “Phát biểu những ýkiến về những vấn đề do khách hàng đặt ra trên cơ sở các văn bản pháp luật màkhông có quyền quyết định”, giúp khách hàng bảo vệ quyền, lợi ích hợp phápcủa họ

Như vậy, tư vấn pháp luật là việc giải đáp pháp luật, hướng dẫn ứng xử đúng phápluật, cung cấp dịch vụ pháp lý nhằm giúp công dân, tổ chức trong và ngoài nướcthực hiện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ

Nhìn dưới góc độ Luật sư, tư vấn pháp luật là:

– Đưa ra một giải pháp pháp lý cho một tình huống cụ thể;

– Hướng dẫn khách hàng ứng xử đúng pháp luật

Theo nghĩa rộng, tư vấn pháp luật còn là cung cấp các dịch vụ pháp lý khác sau tưvấn Ví dụ: đại diện cho khách hàng thực hiện một công việc cụ thể, tham gia tốtụng tại Tòa án, v.v…

Các lĩnh vực tư vấn rất rộng, trải từ dân sự, hình sự, kinh tế - thương mại cho tớihành chính, lao động, (tiết 2 khoản 1 điều 28 Luật luật sư 2006 sửa đổi, bổ sungnăm 2011)

b Đặc điểm:

- Về phía khách hàng: là người mang đến tình huống pháp luật

- Về phía Luật sư: dựa trên những tình huống, thông tin mà khách hàng cung cấp,Luật sư thông tin, chỉ dẫn cho khách hàng một hành lang an toàn pháp lý

- Có mối quan hệ hai chiều giữa luật sư và khách hàng

Trang 2

Ví dụ: Thông tin khách hàng mang đến là “vấn đề có hợp pháp hay không?”; Luật

sư sẽ tư vấn cho khách hàng biết luật quy định vấn đề này như thế nào, Trình tự,thủ tục tiến hành ra sao

Do đó, Luật sư cần phải:

– Chỉ dẫn, đưa ra lời khuyên (chính kiến của Luật sư);

– Chỉ ra những điểm mạnh và điểm yếu của khách hàng (rủi ro);

– Đánh giá mức độ rủi ro để khuyên khách hàng hành động hay không hành động;– Đưa ra những giải pháp cụ thể cho khách hàng lựa chọn

Hiệu quả của tư vấn là:

– Giải pháp tư vấn phải mang lại hiệu quả kinh tế;

– Trong đời sống giao dịch thì đó là hành lang an toàn pháp lý, tiên liệu được rủi

ro, đề ra được giải pháp thực hiện nhằm tránh hoặc hạn chế rủi ro;

– Yêu cầu đặt ra trong khi tư vấn là các bên (Luật sư và khách hàng) phải tuân thủpháp luật, nguyên tắc đạo đức và ứng xử của nghề Luật sư, độc lập, khách quan,tôn trọng sự thật, trung thực… trên cơ sở mọi vấn đề đều phải được giải quyết căn

cứ theo pháp luật

Tuy nhiên, cuộc sống luôn phong phú hơn những dự liệu của điều luật nên Luật sưcần biết vận dụng nguyên tắc “công dân được phép làm những gì pháp luật khôngcấm”

Cũng cần chú ý một thực tế ở Việt Nam là các cơ quan tố tụng và cơ quan hànhchính chưa có sự tuân thủ pháp luật một cách triệt để, nghiêm túc nên khi tư vấnpháp luật cần đưa ra nhiều tình huống dự liệu đề phòng những trường hợp này

c Pháp luật về tư vấn pháp luật:

 Luật luật sư 2006 sửa đổi, bổ sung năm 2011

 Nghị định số 65/2003/NĐ-CP ngày 11-6-2003 của Chính phủ về tổ chức, hoạtđộng tư vấn pháp luật

 Thông tư số 01/2010/TT-BTP ngày 09/02/2010 Quy định chi tiết và hướng dẫnthi hành một số điều của Nghị định số 77/2008/NĐ-CP

 Nghị định số 77/2008/NĐ-CP ngày 16/7/2008 Về tư vấn pháp luật

2 Phân biệt tư vấn pháp luật với một số hoạt động khác

Theo quy định của Luật luật sư 2006 sửa đổi, bổ sung năm 2011 và Nghị định số65/2003/NĐ-CP ngày 11-6-2003 của Chính phủ về tổ chức, hoạt động tư vấn phápluật, ta có thể phân biệt như sau:

a) Hoạt động tư vấn pháp luật:

Trang 3

- Các tổ chức tư vấn pháp luật được thành lập và hoạt động, luật sư hành nghềtheo quy định của pháp luật, thực hiện tư vấn pháp luật trong tất cả các lĩnhvực pháp luật và được phép kinh doanh thu lợi nhuận.

- Có trách nhiệm hướng dẫn cá nhân, tổ chức thi hành đúng pháp luật

- Giúp cơ quan nhà nước giảm bớt khiếu kiện

- Thông qua hoạt động tư vấn để giúp đỡ hỗ trợ những vấn đề sau:

 Phát hiện những lỗ hổng và xung đột pháp luật để kiến nghị nhà nước hoànthiện

 Giúp cơ quan nhà nước thấy được khiếm khuyết trong quản lý điều hành

 Giúp cho nhân dân hiểu được quyền và nghĩa vụ thực chất của mình

b) Hoạt động cung cấp thông tin pháp luật:

Các tổ chức được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật Được nhànước phân công có nghĩa vụ phải cung cấp các thông tin pháp luật cho nhân dân, vídụ: Báo Pháp Luật TPHCM, UBND các cấp,

c) Hoạt động phổ biến, tuyên truyền pháp luật:

Các tổ chức xã hội do nhà nước thành lập hoặc cá nhân có trình độ hiểu biết pháp

lý nhất định tư vấn pháp luật cho người dân Không được phép kinh doanh

Ví dụ: Mặt trận tổ quốc, hội luật gia,

d) Hoạt động giảng dạy pháp luật:

Các tổ chức được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật

Mang tính chất truyền đạt các kiến thức pháp luật theo quy định của Bộ Giáo Dục

& Đào Tạo cho các sinh viên luật, học viên sau đại học luật

e) Hoạt động tư vấn trong các lĩnh vực khác:

Các tổ chức được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật

Được phép kinh doanh thu lợi nhuận

Chỉ được tư vấn một số lĩnh vực mang tính chất chuyên ngành như: tư vấn kế toán,thiết kế, xây dựng, thuế,

3 Yêu cầu của hoạt động tư vấn pháp luật:

3.1 Tuân thủ pháp luật

3.2 Không được tư vấn cho khách hàng có quyền lợi đối lập

Trang 4

3.3 Giữ bí mật nghề nghiệp

3.4 Trung thực, khách quan

V Kết thúc tiết học:

- Hệ thống lại nội dung đã trình bày

- Nhắc người học những nội dung đã học và câu hỏi

Câu hỏi chuẩn bị cho thảo luận:

1.Tư vấn khác gì với lời khuyên?

2 Đặc điểm của tư vấn pháp luật?

Tiết 2: Quy trình tư vấn pháp luật

IV Nội dung giảng:

1 Ổn định lớp

2 Nội dung tiết giảng

Bước 1: Tiếp xúc khách hàng, tìm hiểu yêu cầu tư vấn

• Trong bất kỳ hình thức tiếp xúc khách hàng nào thì cũng cần đên phương phápxác định các thông tin cơ bản mà Luật sư cần khai thác ở khách hàng trong lần tiếpxúc đầu tiên và những lẫn tiếp xúc sau đó

• Bước này đòi hỏi có nghệ thuật giao tiếp và tạo niềm tin cho khách hàng, hiểuđược diễn biến tâm lỹ và tâm trạng bức xúc của khách hàng để có những ứng xửphù hợp

• Luật sư chú ý đến đặt các câu hỏi khai thác thông tin làm rõ vấn đề pháp lý cầnphải giải quyết (cách sử dụng các câu hỏi đóng và câu hỏi mởi để khai thác thôngtin và xác định lại các thông tin)

- Luật sư phải lắng nghe khách hàng trình bày và ghi chép đầy đủ nội dung chính, ý chính, trên cơ sở đó đặt câu hỏi để làm rõ thêm Thông thường, lần đầu

tiên tiếp xúc, luật sư chưa thể nắm bắt một cách chắc chắn bản chất của sự việc đóhơn nữa, khách hàng thường trình bày theo ý chủ quan và bỏ qua nhiều chi tiết mà

Vì vậy, luật sư cần gợi ý những vấn đề để khách hàng trình bày đúng bản chất của

vụ việc Luật sư tư vấn nên lưu ý khách hàng, chỉ có thể đưa ra giải pháp chínhxác, đầy đủ và đúng pháp luật nếu khách hàng trình bày vấn đề trung thực và kháchquan

Các câu hỏi mà luật sư đặt ra cần hướng tới việc làm sáng tỏ các nội dung cơ bảnsau: khách hàng muốn gì ở lời tư vấn của luật sư? Đâu là quan hệ pháp lý chủ yếucần quan tâm nhất và cần được tập trung giải quyết? Còn các quan hệ khác có mốiquan hệ với quan hệ pháp lý mấu chốt như thế nào?

Trang 5

2 Bước 2: Thỏa thuận hợp đồng dịch vụ pháp lý (nếu có)

Các nội dung chính:

• Nêu các nội dung cơ bản của hợp đồng dịch vụ pháp lý;

• Chia sẻ kinh nghiệm về nghệ thuật đàm phán hợp đồng dịch vụ pháp lý;

• Xác định các phương thức tính phí, cách vận dụng trong một số vụ việc cụ thể;Ngoài yếu tố hiệu quả công việc, bao giờ khách hàng cũng chú ý tới vấn đề phí luật

sư Cùng có trình độ chuyên môn nghiệp vụ như nhau, khách hàng sẽ chọn luật sưhay công ty luật có mức phí thấp Tuy nhiên, giá thấp chưa phải là vấn đề quyếtđịnh mà chỉ là một yếu tố để khách hàng cân nhắc Do đó việc xây dựng mức phíthù lao cũng là một yếu tố quan trọng

Hiện tại chưa có một văn bản nào chính thức quy định về chi phí mà khách hàngcần phải trả cho luật sư tư vấn Các đoàn luật sư hay công ty luật có quy định, cáchtính khác nhau về chi phí luật sư Một số luật sư hành nghề độc lập cũng tự địnhgiá cho khách hàng Theo Điều 55 Luật Luật sư, mức thù lao và phương thức tínhthù lao dựa trên các căn cứ: Nội dung, tính chất của dịch vụ pháp lý; Thời gian vàcông sức của luật sư sử dụng để thực hiện dịch vụ pháp lý; kinh nghiệm và uy tíncủa luật sư; giờ làm việc; vụ, việc với mức thù lao trọn gói; vụ, việc với mức thùlao tính theo tỷ lệ phần trăm của giá ngạch vụ kiện hoặc giá trị hợp đồng, giá trị dựán; hợp đồng dài hạn với mức thù lao cố định

Ngoài các khoản thù lao, khách hàng có thể thoả thuận với luật sư về việc thanhtoán tiền tàu xe, lưu trú và các chi phí hợp lý khác cho việc thực hiện yêu cầu củamình Việc thanh toán các khoản chi phí thực hiện theo các quy định của pháp luật

• Mục đích nghiên cứu hồ sơ:

• Xác định yêu cầu cụ thể của khách hàng;

• Xác định khả năng cung cấp dịch vụ của Luật sư (phạm vi công việc);

• Căn cứ xác định phí dịch vụ;

• Xác định định bản chất của vụ việc (vấn đề chuyên môn luật - quan hệ pháp luật

cơ bản):

○ Khách quan, Sự thật;

○ Xác định từ khoá - định hướng tìm kiếm VBPL;

○ Định hướng nội dung tư vấn Các bước nghiên cứu hồ sơ:

Trang 6

• Đọc hồ sơ (kỹ năng);

• Tóm lược vụ việc (theo các yếu tố);

• Sắp xếp hồ sơ (theo các tiêu chí);

• Tiếp tục thu thập các thông tin và tài liệu còn thiếu;

• Làm rõ các thông tin, tài liệu còn mâu thuẫn hoặc chưa rõ ràng;

• Xây dựng bản tư vấn khách hàng

Phương pháp:

• Phân tích vụ việc theo diễn biến xuôi, diễn biến ngược;

• Phân tích vụ việc trên cơ sở yêu cầu của khách hàng;

• Phân tích theo vấn đề;

• Phân tích theo kinh nghiệm nghề nghiệp của Luật sư

Các câu hỏi mà luật sư đặt ra cần hướng tới việc làm sáng tỏ các nội dung cơ bảnsau: khách hàng muốn gì ở lời tư vấn của luật sư? Đâu là quan hệ pháp lý chủ yếucần quan tâm nhất và cần được tập trung giải quyết? Còn các quan hệ khác có mốiquan hệ với quan hệ pháp lý mấu chốt như thế nào?

Trước hết, luật sư đối chiếu lời trình bày của khách hàng với các tài liệu họ cungcấp Sau đó, luật sư đánh giá, phân tích chứng cứ để xác định cần bổ sung thêmnhững tài liệu gì Luật sư phải dành thời gian để đọc hết các giấy tờ, tài liệu, vănbản có liên quan đó

Ngoài ra, trong hoạt động tư vấn pháp luật, quá trình thu thập, nghiên cứu và đánhgiá chứng cứ sau đó đưa ra một giải pháp cho khách hàng là một hoạt động hết sứcquan trọng Phương án luật sư đưa ra phải đáp ứng được yêu cầu là chính xác, hiệuquả, nhanh chóng Đôi khi có trường hợp nội dung khách hàng yêu cầu tư vấn làmột việc cần giải đáp gấp (phải có kết quả tư vấn ngay), trường hợp này đòi hỏingười luật sư phải có kiến thức pháp luật và các hiểu biết khác liên quan một cáchsâu sắc để đưa ra được phương án tư vấn ngay Đây là một yêu cầu rất khó màmuốn làm được điều này, luật sư phải có một trình độ chuyên môn nhất định, cókinh nghiệm, nhạy bén

4 Bước 4: Tìm luật, áp dụng luật

• Cung cấp nguồn khai thác văn bản pháp luật miễn phí;

5 Bước 5: Trả lời tư vấn

Luật sư phải đưa ra được các giải pháp khác nhau cho nội dung được yêu cầu, nêu

rõ tính hợp pháp, tính khả thi, căn cứ pháp luật áp dụng của từng giải pháp, những

Trang 7

điểm thuận lợi cũng như rủi ro của từng phương pháp Cuối cùng là lời khuyên củaluật sư nên lựa chọn giải quyết vụ việc theo giải pháp nào và sắp xếp các giải pháptheo thứ tự ưu tiên.

Về thực chất là việc đưa ra giải pháp bằng miệng cho khách hàng để trả lời các vấn

đề mà khách hàng yêu cầu Tuy vậy có thể sau khi luật sư đã đưa ra định hướngnhưng khách hàng không thực hiện những bước tiếp theo

Trong nhiều trường hợp, có những vấn đề khách hàng yêu cầu tư vấn ngay luật sưvẫn phải thận trọng phải có đủ thông tin chắc chắn mới có thể đưa ra các kết luận,bởi một kết luận sai sẽ làm ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ của khách hàng, làmgiảm uy tín của người tư vấn Do đó, có trường hợp, luật sư có thể khéo léo hẹnkhách hàng trở lại vào một dịp khác hoặc mình sẽ trả lời bằng thư, trao đổiqua điện thoại sau để có thêm thời gian tìm hiểu giải quyết vấn đề của khách hàng.Một trong những nguyên tắc khi tiến hành tư vấn cho khách hàng là luật sư phảithể hiện thái độ trung thực, phân tích các vấn đề trên cơ sở pháp lý và luôn đứng vềphía khách hàng của mình Thái độ thiên vị, thiếu cơ sở pháp luật của luật sư có thểtác động đến khách hàng khiến họ thiếu tin tưởng vào luật sư

V Kết thúc tiết học:

- Hệ thống lại nội dung đã trình bày

- Nhắc người học những nội dung đã học và câu hỏi

Câu hỏi chuẩn bị cho thảo luận;

1.Trình bày các bước tư vấn pháp luật?

2.Nguyên tắc cần tuân thủ khi đưa ra lời tư vấn ở bước 5?

Tiết 3: Chính sách ứng xử của luật sư đối với khách hàng

IV Nội dung giảng:

1 Ổn định lớp

2 Nội dung tiết giảng

Khách hàng là nguồn sống, là sự hậu thuẫn của Luật sư, khách hàng cũng là bạn, làđối tác của Luật sư Vì vậy, Luật sư phải thu hút khách hàng Luật sư phải xâydựng cho mình một đội ngũ khách hàng Luật sư phải xây dựng uy tín và niềm tincủa mình đối với khách hàng Trong hoạt động tư vấn pháp luật, không phải Luật

sư đến với khách hàng trước tiên mà là khách hàng đến với Luật sư, khách hàng cóquyền chọn lựa Luật sư hoặc công ty tư vấn pháp luật Khách hàng có thể chọnmột Luật sư hoặc một công ty luật bất kỳ mà họ muốn Không ai có thể áp đặt cho

Trang 8

khách hàng một Luật sư mà họ không muốn Phần lớn khách hàng chọn Luật sư vìnhững mối quan hệ cá nhân như: quen biết, qua giới thiệu…

Tuy nhiên, cũng cần nói rằng không phải chỉ đơn giản là khách hàng có quyền lựachọn Luật sư mà Luật sư cũng có quyền lựa chọn khách hàng Đây là điểm đầu tiênquyết định sự thành bại của hoạt động tư vấn Họ tin tưởng ở Luật sư và kỳ vọngvào Luật sư rất nhiều, mong muốn thông qua quá trình tư vấn Luật sư sẽ bảo vệđược quyền và lợi ích hợp pháp của họ Chính vì thế, người Luật sư phải lấy tínhchuyên nghiệp là nền tảng cơ bản của nghề, luôn có trách nhiệm và bổn phận tựnâng cao trình độ, kỹ năng chuyên môn Là một chuyên gia và cố vấn pháp luật,trước hết những người hành nghề luật sư phải tự mình tôn trọng pháp luật nêugương trong việc tôn trọng, chấp hành pháp luật; tự giác tuân thủ các quy tắc đạođức và ứng xử nghề nghiệp trong hoạt động hành nghề, trong lối sống và giao tiếp

xã hội Đó là lý do vì sao nghề luật sư phải được pháp luật điều chỉnh chặt chẽ đểduy trì lòng tin của xã hội

1.Bản chất mối quan hệ giữa luật sư với khách hàng

- Trong tổng thể các mối quan hệ giữa luật sư với các chủ thể khác nhau trong hànhnghề luật sư, quan hệ luật sư – khách hàng là mối quan hệ nền tảng làm phát sinhcác quan hệ khác;

- Về pháp lý, quan hệ luật sư – khách hàng là một loại quan hệ dân sự, cụ thể làquan hệ hợp đồng dịch vụ chịu sự điều chỉnh của pháp luật dân sự Trong quan hệnày, các quyền và nghĩa vụ của luật sư với khách hàng được thiết lập trên cơ sở tựnguyện của hai bên Tuy nhiên, vì là loại quan hệ dịch vụ pháp lý nên còn chịu sựđiều chỉnh của các quy phạm pháp luật khác trong hệ thống pháp luật về luật sư

- Danh dự, uy tín, trạng thái tích cực hay tiêu cực trong hoạt động nghề nghiệp củaluật sư gắn liền với quá trình thực hiện mối quan hệ này Do vậy, tính chất đạo đứctrong hành vi ứng xử của luật sư có thể nói là bản chất của mối quan hệ giữa luật

sư với khách hàng, là một trong những yếu tố (như kỹ năng hành nghề) góp phầnquyết định sự thành công trong nghề nghiệp của luật

2 Các chính sách trong mối quan hệ giữa luật sư và khách hàng

2.1Chính sách nhận và thực hiện yêu cầu của khách hàng

- Luật sư phải tôn trọng sự lựa chọn của khách hàng, chỉ nhân vụ viêc trong khảnăng của mình và thực hiện nhiệm vụ trong phạm vi yêu cầu của khách hàng

- Khách hàng được lựa chọn luật sư cho riêng mình, luật sư không bị ảnh hưởngbởi bên thứ 3 nào trong việc cung cấp dịch vụ pháp lý cho khách hànhg

- Luật sư không nên hành nghề ở lĩnh vực mà mình không đủ năng lực

Trang 9

- Luật sư phải tuân theo những yêu cầu của khách hàng và phải bàn bạc vớikhách hàng về phương pháp xử lý vụ việc.

- Luật sư phải tích cực, khẩn trương giải quyết vụ việc của khách hàng và phảithông báo về tiến trình công việc để khách hàng

- Luật sư có trách nhiệm bảo vệ lợi ích tốt nhất của khách hàng

- Nghĩa vụ của các luật sư hướng tới khách hàng của họ bao gồm:

- Luật sư phải cung cấp thông tin về luật sư sẽ tiến hành giải quyết công việc màkhách hàng yêu cầu Từ đó khách hàng mới biết ai là người sẽ trực tiếp giảiquyết công việc của họ và để thuận tiện liên hệ sau này

- Khi tiến hành công việc ngay từ đầu luật sư tư vấn phải cung cấp cho kháchhàng mọi thông tin mà họ cần biết, tốt nhất là bằng văn bản Các thông tin đóbao gồm: Nội dung công việc, xác nhận lại yêu cầu của khách hàng, ghi chú cácvấn đề phát sinh và tên của các chuyên gia khác đại diện cho khách hàng

- Dự toán về các khoản chi phí và các chi tiết về chi phí cũng như việc thanh toánphải được xác nhận bằng văn bản

- Thông báo kịp thời cho khách hàng về tiến trình vụ việc của họ

2.2 Chính sách bảo mật trong hoạt động tư vấn luật:

- Tất cả các khách hàng đều có quyền bảo mật Tất cả thông tin liên quan đếncông việc và đời tư thu được của khách hàng trong quá trình giải quyết côngviệc sẽ được giữ hết sức bí mật và không được tiết lộ bởi bất cứ người nào cómối liên hệ một cách chính thức với Văn phòng tư vấn luật

- Tất cả những người có quan hệ một cách chính thức với Văn phòng tư vấn luật

sẽ được làm rõ về các nguyên tắc của bảo mật khách hàng

- Không được sử dụng hoặc mang các tài liệu có tên của khách hàng hoặc nhữngngười khác trong hồ sơ khách hàng để ở nơi khác trong văn phòng mà có thể dễ

bị các khách hàng khác hoặc những người khác biết về nội dung của nó

- Tất cả hồ sơ có tên của khách hàng hoặc những người khác trong hồ sơ kháchhàng phải được phân loại trước khi xử lý thông tin

2.2 Chính sách giải quyết xung đột trong hoạt động tư vấn pháp luật:

- Không đại diện cho cả hai bên của vụ tranh chấp pháp lý, bao gồm đồng phạm

- Không tiếp nhận vụ việc đối lập với khách hàng cũ về cùng một vấn đề mà vănphòng đã đại diện, hoặc về vấn đề liên quan, hoặc khi văn phòng trước đó đãnhận được thông tin bảo mật từ khách hàng cũ và tương ứng với vấn đề mới

- Việc kiểm tra xem có xung đột lợi ích hay không phải được thực hiện trong dữliệu của khách hàng tại thời điểm gặp khách hàng lần đầu và trước khi phỏngvấn khách hàng và sự xác nhận đã kiểm tra xung đột lợi ích phải được ghi lạitrong văn bản

Trang 10

- Thông thường, khi hồ sơ liên quan khách hàng cũ hoặc bên đối lập đã đóng hơn

10 năm, điều này không được coi là xung đột lợi ích

- Không được làm việc với hồ sơ trong đó có xung đột lợi ích hoặc có khả năngxung đột lợi ích mà có thể ảnh hưởng tới phán quyết vụ việc của khách hàng khiđại diện hoặc tới sự trung thành với khách hàng mà không có sự đồng ý củakhách hàng

3 Tình huống liên quan đến đạo đức nghề nghiệp

Tình huống 1: Khi tiếp khách hàng B, luật sư A giới thiệu về học hàm, học vị, chức

vụ trong tổ chức xã hội nghề nghiệp luật sư của mình, về những mối quan hệ rấtrộng của luật sư với những người có chức vụ, quyền hạn trong các cơ quan nhànước, về những vụ án lớn mà luật sư đã tham gia và đạt kết quả rất tốt đẹp Khôngnhững thế, luật sư A còn hỏi khách hàng về tên thẩm phán thụ lý vụ án và thôngbáo cho khách hàng biết luật sư có mối quan hệ rất thân thiết với thẩm phán này vàđộng viên khách hàng yên tâm nếu khách hàng chấp nhận mời luật sư làm ngườibào chữa (bảo vệ quyền lợi) trong vụ án Anh (chị) có nhận xét gì về thái độ đó củaluật sư A? Trong trường hợp này, luật sư A có vi phạm quy tắc đạo đức và ứng xửnghề nghiệp luật sư không ? Nếu có thì vi phạm những quy tắc nào ?

Tình huống 2: Luật sư K được văn phòng luật sư CL phân công theo chỉ định thực

hiện nhiệm vụ bảo vệ bị cáo M, đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bào chữa cho bịcáo M là thương binh làm giám đốc doanh nghiệp THÀNH ĐẠT Tại phiên tòaphúc thẩm, tòa án nhân dân tỉnh N đã chấp nhận lời bào chữa và đề nghị của luật

sư K, tuyên bị cáo M không phạm tội và trả tự do cho bị cáo M tại phiên tòa Cảmkích về chất lượng dịch vụ chuyên nghiệp hiệu quả, doanh nhiệp THÀNH ĐẠTcủa ông M đã đề nghị luật sư K làm luật sư riêng cho doanh nghiệp mình với mứclương 20 triệu đồng/tháng và chỉ đạo kế toán thưởng cho luật sư 10 triệu đồngngay khi phiên tòa kết thúc

Giả sử anh (chị) là luật sư K, anh (chị) sẽ xử sự như thế nào trong tình huống trên?

1 Nhận lời làm việc và nhận tiền?

2 Chỉ nhận lời làm việc, không nhận tiền thưởng?

3 Cách xử lý riêng của anh chị?

Tình huống 3: Luật sư A hành nghề với tư cách cá nhân đã nhận lời bảo vệ quyền

lợi cho người bị hại X trong vụ án hình sự từ giai đoạn điều tra đến hết phiên tòa sơthẩm Cơ quan điều tra yêu cầu luật sư A cung cấp thẻ luật sư, giấy yêu cầu luật sưcủa khách hàng, giấy giới thiệu của Đoàn luật sư, hợp đồng dịch vụ pháp lý Luật

sư A đã xuất trình các giấy tờ theo yêu cầu (trong đó có hợp đồng dịch vụ với bịhại X) nhưn đến hết giai đoạn điều tra mà chưa được cơ quan điều tra Công an tỉnh

Trang 11

N cấp giấy chứng nhận người bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho bị hại X Sau khi cókết luận điều tra, thấy sự tham gia của luật sư A chưa đưa lại hiệu quả như mongmuốn, bị hại X đã từ chối luật sư A, luật sư A đã nhất trí Do hai bên đã thỏa thuậnđược thù lao và chi phí của luật sư A đã thực hiện công việc nên hợp đồng dịch vụpháp lý đã được thanh lý và trên thực tế quan hệ cung cấp dịch vụ đã thực sự chấmdứt Tại phiên tòa sơ thẩm xét xử bị cáo Y và đồng bọn, Tòa án Nhân dân tỉnh N đãtrả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung Trong quá trình điều tra bổ sung, khi phát hiệnluật sư A là người quen của gia đình mình (Y là bị cáo trong vụ án X là bị hại) đãnhờ luật sư A bào chữa, luật sư A nhận lời và ký hợp đồng bào chữa cho bị cáo Y.

Anh (chị) có nhận xét gì về việc cung cấp dịch vụ pháp lý của luật sư A đốivới bị hại X? Luật sư A nhận bào chữa cho bị cáo Y có phù hợp với phápluật và đạo đức nghề nghiệp hay không? Tại sao?

Tình huống 4: Luật sư NTQ – trưởng văn phòng luật sư Q và cộng sự đang tham

gia tố tụng một vụ án ttheo hợp đồng dịch vụ pháp lý để bảo vệ khách hàng X tạiTòa án nhân dân thành phố Y Đúng vào đầu buổi sáng ngày phiên tòa diễn ra, luật

sư Q nhận được điện thoại của gia đình thông báo “bố đang hấp hối cần gặp mặt,con về gấp” Sau khi kiểm tra thông tin, luật sư NTQ đã thông báo cho khách hàng

X biết và đề xuất xin hoãn phiên tòa và nếu Tòa tiếp tục tiến hành xét xử đã có mặtluật sư Z của văn phòng luật sư Q cùng tham gia tố tụng bảo vệ khách hàng X tạiTòa án Tuy nhiên khách hàng X đã không đồng ý với lý do luật sư NTQ bảo vệmới bảo đảm chất lượng và tương ứng với mức thu lao đã trả cho cả 2 luật sư Luật

sư Q vẫn quyết định chuyển vụ việc cho luật sư Z và về quê

Anh (chị) đánh giá về xử sự của luật sư Q dưới góc độ pháp luật và đạo đức nghềnghiệp? Là luật sư trong trường hợp này, bạn sẽ xử sự như thế nào?

Tình huống 5: Cùng đến với văn phòng luật sư A một thời điểm có 4 người, người

thứ nhất nhờ tư vấn về chính sách xã hội về người khuyết tật đối với mình, ngườithứ hai là người nghèo đến nhờ tư vấn và khiếu kiện vì đang bị thu hồi đất, ngườithứ ba là người khó khăn (không đủ tiền chi trả cho dịch vụ của luật sư) nhờ khởikiện chia di sản thừa kế, người thứ tư là doanh nhân nhờ tư vấn hợp đồng ngoại.Trong khi luật sư A chỉ có 2 luật sư Là luật sư trưởng văn phòng , luật sư A sẽ xử

sự như thế nào? Từ chối ai và nhận lời ai đây? Cần phải xử sự như thế nào để vừađúng pháp luật lại vừa phù hợp với đạo đức nghề nghiệp luật sư

V Kết thúc tiết học:

- Hệ thống lại nội dung đã trình bày

- Nhắc người học những nội dung đã học và câu hỏi

Câu hỏi chuẩn bị cho thảo luận:

Trang 12

1 Tại sao lại phải đặt ra quy tắc đạo đức nghề tư vấn luật trong khi đã cóLuật luật sư và các văn bản hướng dẫn thi hành điều chỉnh?

2 Tại sao nói “quan hệ luật sư - khách hàng là nền tảng phát sinh các quan hệkhác của luật sư” ?

3 Anh (chị) có đồng ý với nhận định sau đây: “Thù lao là một vấn đề thểhiện đạo đức nghề nghiệp luật sư trong quan hệ luật sư – kháchhàng” không ? Vì sao ?

Tiết 4: Luật sư nhận và thực hiện yêu cầu của khách hàng

IV Nội dung giảng:

1 Ổn định lớp

2 Nội dung tiết giảng

Ngày nay, pháp luật đã đóng một vai trò hết sức quan trọng trong cuộc sống, gópphần bảo vệ và duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội Nghề Luật sư ở ViệtNam là một nghề cao quý bởi hoạt động nghề nghiệp của Luật sư nhằm mục đíchgóp phần bảo vệ công lý, công bằng xã hội

Chính vì thế, người Luật sư phải lấy tính chuyên nghiệp là nền tảng cơ bản củanghề, luôn có trách nhiệm và bổn phận tự nâng cao trình độ, kỹ năng chuyên môn

Là một chuyên gia và cố vấn pháp luật, trước hết những người hành nghề luật sưphải tự mình tôn trọng pháp luật nêu gương trong việc tôn trọng, chấp hành phápluật; tự giác tuân thủ các quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp trong hoạt độnghành nghề, trong lối sống và giao tiếp xã hội Đó là lý do vì sao nghề luật sư phảiđược pháp luật điều chỉnh chặt chẽ để duy trì lòng tin của xã hội Ngoài những quyđịnh trên còn có những quy tắc nghề nghiệp bổ sung cho các quy định của phápluật Luật sư phải lấy Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp làm khuôn mẫu cho

sự tu dưỡng, rèn luyện để giữ gìn uy tín, và xứng đáng với sự tôn vinh của xã hội

Đạo đức luật sư trong quan hệ với khách hàng là phép đối nhân, xử thế giữa

Luật sư với khách hàng mà ở đó, Khách hàng là yếu tố quyết định sự tồn tại vàphát triển nghề nghiệp của mỗi Luật sư Chất lượng dịch vụ và đạo đức ứng xử củaLuật sư quyết định nguồn khách hàng Mỗi Luật sư phải có nghĩa vụ tôn trọngkhách hàng, bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng

1 Luật sư không phân biệt đối xử về giới tính, dân tộc, tôn giáo, quốc tịch, tuổi tác… khi tiếp nhận vụ việc của khách hàng

Nhận vụ việc khách hàng là sự kiện pháp lý xác lập quan hệ pháp luật giữa luật

sư và khách hàng Trên thực tế đây là giai đoạn đầu tiên luật sư và khách hàngtiếp cận nhau Không được có sự phân biệt đối xử khi nhận vụ việc của kháchhàng

Trang 13

Tình huống 1: Cùng đến với văn phòng luật sư A một thời điểm có 4 người,người thứ nhất nhờ tư vấn về chính sách xã hội về người khuyết tật đối vớimình, người thứ hai là người nghèo đến nhờ tư vấn và khiếu kiện vì đang bị thuhồi đất, người thứ ba là người khó khăn (không đủ tiền chi trả cho dịch vụ củaluật sư) nhờ khởi kiện chia di sản thừa kế, người thứ tư là doanh nhân nhờ tưvấn hợp đồng có yếu tố nước ngoài Trong khi VP luật sư A chỉ có 2 luật sư Làluật sư trưởng văn phòng , luật sư A sẽ xử sự như thế nào? Từ chối ai và nhậnlời ai đây? Cần phải xử sự như thế nào để vừa đúng pháp luật lại vừa phù hợpvới đạo đức nghề nghiệp luật sư?

2 Luật sư tôn trọng sự lựa chọn của khách hàng, chỉ nhận vụ việc theo khả năng chuyên môn, điều kiện của mình và thực hiện vụ việc trong phạm vi yêu cầu hợp pháp của khách hàng.

Nguyên tắc đầu tiên và quan trọng nhất đó là khách hàng phải có quyền tự

do lựa chọn bất kỳ luật sư nào mà mình muốn

Tức là luật sư không can thiệp vào tự do ý chí của khách hàng, khách hàngkhông bị cản trở bởi luật sư trong việc họ có mời luật sư hay không Mời luật sưnày hay luật sư khác trong văn phòng này hoặc công ty luật kia để cung cấpdịch vụ pháp lý theo yêu cầu của khách hàng Việc nhận hay từ chối dịch vụ củaluật sư được thực hiện trong suốt quá trình cung cấp dịch vụ pháp lý

- Nguyên tắc thứ hai là luật sư phải lựa chọn cho mình vụ việc mà trong đóluật sư đưa ra được lời khuyên vô tư cho khách hàng của mình Điều nàycũng có nghĩa là luật sư không được nhận việc nếu có xung đột với kháchhàng khác

- Luật sư có quyền từ chối cung cấp dịch vụ pháp lý nếu yêu cầu của kháchhàng không có căn cứ

Nếu yêu cầu của khách hàng vi phạm pháp luật, trái đạo đức xã hội hoặc nếuthực hiện yêu cầu đó có thể dẫn đến việc luật sư vi phạm pháp luật hoặc đạođực nghề nghiệp thì luật sư phải từ chối việc thực hiện yêu cầu của khách hàng.Một số trường hợp có thể từ chối: yêu cầu vi phạm pháp luật hay quy tắc đạođức; có xung đột lợi ích; luật sư không đủ khả năng hay thời gian cho vụ việckhách hàng; trường hợp khách hàng lợi dụng vào dịch vụ của luật sư với mụcđích xấu; có căn cứ cho rằng khách hàng đã cung cấp chứng cứ giả, tài liệu giả hoặc yêu cầu của khách hàng không có cơ sở, trái đạo đức, trái pháp luật

- Luật sư nhận vụ việc theo chuyên môn và khả năng của mình

Chuyên môn và khả năng là hai yếu tố quan trọng tạo nên chất lượng dịch vụpháp lý Điều đó sẽ đảm bảo cho việc dịch vụ pháp lý của luật sư cung cấp chokhách hàng phải có chất lượng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách

Trang 14

hàng trên thực tế Luật sư không được xử lý một vấn đề mà biết rằng hoặc phảibiết rằng mình không đủ khả năng Xử lý một vấn đề pháp lý thiếu sự chuẩn bịđầy đủ trong các trường hợp cụ thể

-Chỉ được cung cấp dịch vụ pháp lý được giới hạn trong yêu cầu của kháchhàng và yêu cầu đó phải hợp pháp

3 Giải thích cho khách hàng biết về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của luật sư và khách hàng trong phạm vi yêu cầu của khách hàng

Quy định này giúp luật sư minh bạch hóa trọng trách của mình, tránh chokhách hàng cái nhìn lệch lạc về luật sư và nghề luật sư qua đó họ nhận thứcđúng đắn về luật sư và dịch vụ pháp lý của luật sư cung cấp nhằm bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp Chỉ khi khách hàng có quyền và lợi ích hợp phápthì luật sư mới bảo vệ được Hạn chế suy nghĩ tiêu cực không đúng về nghềluật sư

Trong quá trình cung cấp dịch vụ pháp lý cho khách hàng, luật sư khộng coitiền bạc, lợi ích vật chất là mục tiêu duy nhất của hành nghề luật sư

4 Luật sư phải tích cực khẩn trương giải quyết vụ việc của khách hàng

và phải luôn có sự thông báo về tiến trình công việc để khách hàng có quyết định kịp thời.

- Luật sư trao đổi với khách hàng về vụ việc khách hàng, những khả năng

có thể xảy ra, phân tích giúp khách hàng thấy được vấn đề của mình từ đóđánh giá và phối hợp với luật sư trong quá trình giải quyết

- Thông tin liên lạc với khách hàng là cần thiết Luôn thông báo kịp thờicho khách hàng về tiến trình vụ việc của họ

- Luật sư có trách nhiệm bảo vệ lợi ích tốt nhất của khách hàng

V Kết thúc tiết học:

- Hệ thống lại nội dung đã trình bày

- Nhắc người học những nội dung đã học và câu hỏi

Câu hỏi chuẩn bị cho thảo luận:

4 Tại sao lại phải đặt ra quy tắc đạo đức nghề tư vấn luật trong khi đã cóLuật luật sư và các văn bản hướng dẫn thi hành điều chỉnh?

5 Tại sao nói “quan hệ luật sư - khách hàng là nền tảng phát sinh các quan hệkhác của luật sư” ?

Trang 15

6 Anh (chị) có đồng ý với nhận định sau đây : “ Thù lao là một vấn đề thểhiện đạo đức nghề nghiệp luật sư trong quan hệ luật sư – kháchhàng” không ? Vì sao ?

Tiết 7: Lấy khách hàng làm trọng tâm

IV Nội dung giảng:

1 Khái niệm

Lấy Khách hàng làm trọng tâm là một lý thuyết cho rằng một luật sư nên tậptrung nhiều hơn vào sự cần thiết và nguyện vọng cái mà khách hàng muốn Quanđiểm này đối lập với học thuyết rằng các luật sư nên tập trung vào pháp luật và làmnhư thế nào để luật pháp có thể mang lại lợi ích cho khách hàng của họ Trọng tâmcủa việc lấy khách hàng làm trọng tâm là việc giải quyết vấn đề của khách hàngmột cách toàn diện Trong khi pháp luật là một phạm trù rông lớn của những thứkhác phải được xem xét như các tác động khác đến cuộc sống của khách hàng

2 Tại sao phải tuân thủ nguyên tắc lấy khách hàng làm trọng tâm

Khách hàng nhìn chung có vị thế tốt hơn để lường trước được những rủi ro cóthể xảy ra và chính họ là người quyết định có chấp nhận những rủi ro đó haykhông Vị thế đó được tạo ra bởi:

(1) Khách hàng là người trong cuộc nên hiểu rõ hơn;

(2) Họ là người trả tiền;

(3) Khách hàng là người cuối cùng quyết định giải pháp nào (theo các giảipháp mà luật sư tư vấn để lựa chọn)

3 Làm thế nào để tuân thủ nguyên tắc lấy khách hàng làm trọng tâm

Những yếu tố cơ bản giúp chúng ta thực hiện tốt nguyên tắc lấy khách hànglàm trọng tâm bao gồm: sự tham gia của khách hàng, trao quyền cho khách hàng,giải quyết toàn diện vấn đề của khách hàng

- Sự tham gia cả khách hàng có nghĩa là luật sư sẽ hỏi khách hàng chính xáccái mà họ muốn bên cạnh việc giải quyết hơn là phán đoán rằng khách hàng chỉmuốn sự trừng phạt lớn nhất cho những thiệt hại mà hệ thống pháp lý sẽ đưa lạicho họ

- Trao quyền cho khách hàng: là đưa cho khách hàng những kĩ năng và kiếnthức để có thể biết quyền lợi hợp pháp của họ và những hiểu biết để làm thế nào để

sử dụng hệ thống pháp lý để giải quyết những vấn đề của họ

Trang 16

- Giải quyết vấn đề của khách hàng một cách toàn diện: nghĩa là giải quyếttoàn bộ những vấn đề của khách hàng hơn là chỉ nhìn vào một yếu tố của nó Cácluật sư sẽ thường tập trung vào các sự việc liên quan đến pháp lý, trong khi để đạtđược một cách toàn diện sẽ phải nhìn vào một bức tranh lớn của các vấn đề củakhách hàng để đưa cho họ một giải pháp toàn diện hơn

1 Bài tập: “Lấy khách hàng làm trong tâm” và vai trò của khách

hàng Mục đích:

Bài tập này sẽ giúp người học xác định được thế nào là “lấy khách hàng làm trọngtâm” và tầm quan trọng của nó Bên cạnh đó, người học còn hiểu được vai trò củakhách hàng và hiểu vì sao lại phải lấy khách hàng làm trọng tâm

Kịch bản 1:

Khách hàng bước vào văn phòng luật sư

Luật sư: Xin chào, vui lòng cho tôi biết vấn đề của anh là gì?

Khách hàng: Tôi là công nhân nhà máy X Ông chủ của tôi đã không trả lương

cho tôi bốn tháng nay rồi

Luật sư: Ồ, thế thì tệ quá Tôi chắc là anh muốn nhận lại tiền của mình đúng

không?

Khách hàng: Vâng.

Luật sư: Được rồi Vấn đề của anh đã được viết rõ trong Bộ luật Lao động Tôi sẽ

liên hệ với giám đốc của anh để lấy thêm thông tin chi tiết về công việc của anh và

sẽ yêu cầu ông ta trả lương cho anh Nếu cần thiết, chúng ta có thể mang vụ này raTòa án

Khách hàng: Trời, nghe nó có vẻ trầm trọng và phức tạp hơn tôi nghĩ Tôi không

dám chắc về nó lắm…

Trang 17

Luật sư: Đừng lo Tôi tin chắc là đó chính là cách tốt nhất để giải quyết vấn để của

anh, anh sẽ lấy lại được tiền của mình sớm thôi

Vở kịch 2: Khách hành đến nhờ luật sư tư vấn Người luật sư sử dụng cách thứclấy khách hàng làm trọng tâm: lắng nghe ý kiến và nhu cầu của khách hàng, sau đóđưa ra cho khách hàng cách giải pháp kèm theo những ưu điểm và nhược điểm củatừng giải pháp và khuyến khích khách hàng tự mình quyết định

Kịch bản 2:

Luật sư: Xin chào, tôi có thể giúp gì cho anh đây?

Khách hàng: Tôi là công nhân trong nhà máy X Tôi đã không được nhận lương 4

tháng nay rồi Xin ông hãy nói cho tôi biết làm thế nào để tôi nhận lại tiền củamình bây giờ?

Luật sư: Ồ, đừng lo lắng Tôi có một câu hỏi, anh có biết lí do tại sao ông chủ của

anh lại không trả lương cho anh không?

Khách hàng: Tôi không chắc lắm Nhà máy chúng tôi vừa mới phải cắt giảm sản

xuất

Luật sư: Anh có thêm thông tin gì nữa không?

Khách hàng: Không, tôi không biết thêm gì cả.

Luật sư: Trước tiên, tôi cần thêm thông tin về vụ việc của anh Có thể tôi sẽ liên

hệ với giám đốc của anh Tuy nhiên, nếu tôi liên hệ giám đốc của anh về vấn đềnày, nó có thể khiến anh gặp rắc rối với công việc của mình Tôi cũng có thể lấythông tin từ phía Công đoàn tại công ty anh Tôi nghĩ là nó sẽ ổn hơn Vậy giờ hãynói cho tôi biết anh nghĩ như thế nào?

Khách hàng: Vâng, nếu như ông chủ của tôi biết tôi đến đây, chắc là ông ấy sẽ

đuổi việc tôi luôn! Tôi không muốn ông ấy biết việc này Anh hãy liên lạc với bênCông đoàn thôi

Luật sư: Vâng, vậy tôi sẽ liên hệ với bên Công đoàn và giữ kín việc này với giám

đốc của anh Sau đó tôi sẽ thông báo cho anh tình hình về các bước tiếp theo để lấylại các khoản lương của anh

Khách hàng: Vâng, cám ơn anh rất nhiều.

Trang 18

Những người học tình nguyện đóng vai còn những người còn lại sẽ ghi chú vàquan sát Sau 2 vở kịch:

 Sự khác biệt giữa cách tiếp cận của 2 luật sư là gì?

 Người luật sư ở vở kịch nào là tốt hơn và vì sao?

 Vai trò của khách hàng trong các vở kịch là gì?

Sau đó hỏi cảm tưởng của 2 người học đã tham gia đóng vai khách hàng về chấtlượng của dịch vụ tư vấn từ luật sư

đề thiết lập văn phòng Nói chung, những người này không có các nguồn lực đểtìm kiếm sự tư vấn ở nơi khác và có thể có không tìm đến luật sư trước khi đến vớivăn phòng Để phục khách hang một cách tốt nhất, nó bắt buộc là luật sư hiểu vềcon người đó để cho anh ta hoặc cô ta dịch vụ tốt nhất

Câu hỏi chuẩn bị cho thảo luận:

1 Luật sư phải làm gì khi chính khách hàng chưa nắm bắt được nhu cầu, mongmuốn của chính bản thân mình?

Ngày đăng: 26/11/2021, 15:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w