1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

bài thu hoạch chức danh nghề nghiệp giáo viên tiểu học hạng 3

40 37 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 84,83 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với tính chất là một phân môn thực hành của môn Tiếng Việt ở trườngtiểu học, Luyện từ và câu có nhiệm vụ hình thành và phát triển cho học sinhnăng lực sử dụng từ và câu trong hoạt động g

Trang 2

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 2

4 Giả thuyết khoa học của đề tài 2

5 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 3

6 Phương pháp nghiên cứu 3

7 Cấu trúc đề tài 4

PHẦN NỘI DUNG 5

Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu 5

1 Lịch sử nghiên cứu của vấn đề 5

2 Đặc điểm tâm lí học sinh tiếu học 5

3 Nội dung giáo dục của vấn đề 8

4 Nhiệm vụ của GV trong công tác dạy học cho HS 8

5 Kết luận chương 1 9

Chương 2: Cơ sở lí luân và thực tiễn đề tài 10

1 Cơ sở lí luận 10

2 Một số vấn đề về phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực giao tiếp 14

3 Chương trình và nội dung dạy học luyện từ và câu trong SGK Tiếng Việt 3 19

4 Thực trạng dạy học Luyện từ và câu tại trường Tiểu học Hữu Định 20

5 Kết luận chương 2 20

Trang 3

Chương 3: Khảo sát thực trạng dạy học PTNL giao

tiếp thông qua môn LTVC cho HS Lớp 3 21

1 Mục đích khảo sát 21

2 Nội dung khảo sát 21

3 Tổ chức khảo sát 21

4 Phân tích kết quả khảo sát 22

5 Kết luận chương 3 24

Chương 4: Biện pháp sư phạm 25

1 Nguyên tắc đề xuất biện pháp 25

2 Các phương pháp dạy học 26

3 Kết luận chương 4 28

Chương 5: Thực nghiệm sư phạm 29

1 Mục đích thực nghiệm 29

2 Quy trình thực nghiệm 29

3 Kiểm tra và dánh giá kết quả thự nghiệm 33

4 Phân tích kết quả thực nghiệm 33

5 Kết luận chương 5 34

PHẦN KẾT LUẬN 35

Tài liệu tham khảo 36

Trang 5

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Trong các cấp học, Tiểu học được xác định là cấp học nền tảng, là cấp họcphổ cập tạo tiền đề cho các cấp học khác.Vì vậy mà mục tiêu của Giáo dục Tiểuhọc là nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện Mỗi một môn học trong chươngtrình Giáo dục Tiểu học đều góp phần vào việc hình thành và phát triển nhâncách cho con người Việt Nam Môn Tiếng Việt là một trong những môn học cơbản, quan trọng nhất trong chương trình giáo dục Tiểu học, nó cung cấp và rènluyện cho học sinh những kiến thức về ngôn ngữ để giao tiếp và học tập Đâycũng có thể coi là công cụ để học sinh học tập các môn học khác

Với tính chất là một phân môn thực hành của môn Tiếng Việt ở trườngtiểu học, Luyện từ và câu có nhiệm vụ hình thành và phát triển cho học sinhnăng lực sử dụng từ và câu trong hoạt động giao tiếp và học tập Dạy luyện từchính là dạy thực hành từ ngữ trên quan điểm giao tiếp, dạy từ trên bình diệnphát triển lời nói.Đó chính là công việc làm giàu vốn từ cho học sinh, giúp họcsinh mở rộng, phát triển vốn từ (phong phú hóa vốn từ), nắm nghĩa của từ (chínhxác hóa vốn từ), luyện tập sử dụng từ (tích cực hoá vốn từ) Bên cạnh đó, nhiệm

vụ của việc rèn luyện về câu ở tiểu học nói chung là thông qua các hoạt độngthực hành giúp học sinh hệ thống lại những kiến thức cơ bản về ngữ pháp mà các

em đã được tích luỹ trong vốn sống của mình, dần dần hình thành các quy tắcdùng từ, đặt câu và tạo lập văn bản trong giao tiếp Từ đó giúp học sinh nói năngđúng chuẩn, phù hợp với mục đích và môi trường giao tiếp, đồng thời góp phầnrèn luyện tư duy và giáo dục thẩm mĩ cho học sinh

Vai trò của từ trong hệ thống ngôn ngữ quy định tầm quan trọng của việcdạy từ ngữ ở tiểu học Không có một vốn từ đầy đủ thì không thể nắm ngôn ngữnhư một phương tiện giao tiếp Việc học từ ở tiểu học sẽ tạo cho học sinh nănglực từ ngữ, giúp học sinh nắm tiếng mẹ đẻ, tạo điều kiện để học tập những cấphọc tiếp theo và phát triển toàn diện Vốn từ của học sinh càng giàu bao nhiêuthì khả năng lựa chọn từ càng lớn, càng chính xác, sự trình bày tư tưởng, tìnhcảm càng rõ ràng, sâu sắc bấy nhiêu Vì vậy số lượng từ, tính đa dạng, tính năngđộng của từ được xem là điều kiện quan trọng hàng đầu để phát triển ngôn ngữ.Qua bao nhiêu thời gian nghiên cứu của ngành giáo dục, để học sinh tiếp cận vớicuộc sống hiện đại ngày nay và giao tiếp một cách chuẩn mực thì đổi mớiphương pháp dạy học, thay sách giáo khoa của môn học Tiếng Việt là một chiến

Trang 6

lược quan trọng của nền giáo dục nước nhà với mục tiêu phát triển các kỹ năng

sử dụng Tiếng Việt ở học sinh để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạtđộng của lứa tuổi Từ đó bồi dưỡng thêm cho học sinh tình yêu Tiếng Việt chocác em và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của Tiếng Việt,góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thờiđại công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Với mong muốn góp phần nâng cao hiệu quả giảng dạy phân môn Luyện

từ và câu ở Tiểu học, giúp học sinh chủ động lĩnh hội nguồn tri thức từ thực tiễn

cuộc sống, tôi mạnh dạn chọn và thực hiện đề tài: “Xây dựng hệ thống bài tập phát triển năng lực giao tiếp thông qua dạy học Luyện từ và câu cho học sinh lớp 3 trường Tiểu học Hữu Định”.

2 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu đề tài là:

- Tìm hiểu thực trạng việc dạy học mở rộng vốn từ từ tình huống giao tiếp

- Đề xuất hệ thống bài tập phát triển năng lực giao tiếp thông qua dạy họcLuyện từ và câu cho học sinh lớp 3

- Thiết kế thực nghiệm bài dạy bằng những phương pháp xây dựng hệthống bài tập đổi mới trong chương trình Luyện từ và câu lớp 3

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Xác định các vấn đề lí thuyết có liên quan đến đề tài nghiên cứu

- Tìm hiểu thực trạng dạy học Luyện từ và câu theo định hướng phát triểnnăng lực giao tiếp của giáo viên Tiểu học và mức độ yêu thích, mức độ nhậnbiết, tiếp thu của học sinh

- Đề xuất các phương pháp dạy học Luyện từ và câu theo định hướng pháttriển năng lực giao tiếp cho học sinh; cách thức xây dựng và tổ chức lớp học, sửdụng các phương tiện dạy học trong dạy học Mở rộng vốn từ phân môn Luyện từ

và câu

4 Giả thuyết khoa học của đề tài

Trang 7

HS lớp 3 có nhu cầu giao tiếp hằng ngày cao, nhưng năng lực giao tiếpcòn hạn chế Nếu GV nắm bắt được đặc điểm của HS mà tìm ra những biện phápthiết thực trong quá trình dạy học thì sẽ làm tăng kết quả học tập của học sinh.

5 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu

- Nội dung, phương pháp, quy trình dạy học phân môn LTVC lớp 3

- Thực trạng dạy học phân môn Luyện từ và câu lớp 3 theo định hướngphát triển năng lực giao tiếp cho học sinh

- Những biện pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy học phân môn Luyện từ

và câu theo định hướng phát triển năng lực giao tiếp trong giảng dạy ở trườngTiểu học

5.2 Phạm vi nghiên cứu

Trọng tâm nghiên cứu của đề tài là:

- Nội dung Mở rộng vốn từ có trong các bài Luyện từ và câu – Tiếng Việt

lớp 3 bao gồm 15 chủ điểm: Măng non; Mái ấm; Tới trường; Cộng đồng; Quê hương; Bắc – Trung – Nam; Anh em một nhà; Thành thị và nông thôn; Bảo vệ

Tổ quốc; Sáng tạo; Nghệ thuật; Lễ hội; Thể thao; Ngôi nhà chung; Bầu trời và mặt đất;

Đề tài chỉ giới hạn nghiên cứu và xây dựng hệ thống bài tập ở 8 chủ điểm,

đó là: Măng non; Mái ấm; Tới trường; Thành thị và nông thôn; Sáng tạo; Nghệ thuật; Lễ hội; Thể thao.

- Phương pháp dạy học phát triển năng lực giao tiếp và ứng dụng dạy học

Mở rộng vốn từ trong phân môn Luyện từ và câu lớp 3

6 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, khóa luận sử dụng các phương pháp chủ yếu sauđây:

- Phương pháp nghiên cứu lí luận

- Phương pháp thống kê

Trang 8

- Phương pháp điều tra khảo sát thực trạng.

- Phương pháp thực nghiệm sư phạm

- Phương pháp sử dụng công cụ toán học để phân tích số liệu thống kê

7 Cấu trúc đề tài

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục và Tài liệu tham khảo, nội dung

chính của đề tài gồm 5 chương:

Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Chương 2: Cơ sở lí luận và thực tiễn liên quan đến đề tài

Chương 3: Khảo sát công tác ở trường Tiểu học

Chương 4: Một số phương pháp nâng cao công tác

Chương 5: Thực nghiệm sư phạm

PHẦN NỘI DUNG Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1 Lịch sử nghiên cứu của vấn đề

Chương trình phân môn Luyện từ và câu trong sách Tiếng Việt 3 tuy mớiđược thực hiện gần đây nhưng đã có khá nhiều công trình nghiên cứu liên quanđến phân môn này Đó là những vấn đề lí thuyết bàn về các phương pháp dạyhọc, hoặc là những hệ thống bài tập được tác giả đưa ra để làm tài liệu tham khảocho các giờ dạy - học Một số công trình tiêu biểu như:

1 Hệ thống bài tập rèn luyện năng lực giao tiếp cho học sinh tiểu học của

Lê Hữu Tỉnh (Luận án Tiến sĩ, 2001);

2 Hỏi - Đáp về dạy học Tiếng Việt 3 của Nguyễn Minh Thuyết (2004);

3 Phương pháp dạy học Luyện từ và câu 3 của nhóm tác giả Trần Đức

Niềm, Lê Thị Nguyên và Ngô Lê Hương Giang (2004);

4 Hoạt động giao tiếp với dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học của NXB Đại

Trang 9

5 Yêu cầu đối với việc thiết kế bài tập Tiếng Việt dưới ánh sáng của lí thuyết hoạt động giao tiếp của Trịnh Thị Lan [http://nguvan.hnue.edu.vn];

Ngoài những công trình tiêu biểu vừa dẫn, còn có rất nhiều công trìnhkhác liên quan đến dạy – học phân môn Luyện từ và câu nói riêng và môn TiếngViệt nói chung Song, hầu hết đều nghiêng về trình bày những phương pháp luậntrên bình diện lí thuyết mà ít đề cập đến vai trò tự học của người học sinh, vẫnchưa có một công trình nào cung cấp cho ta một bức tranh toàn cảnh về dạy học

Mở rộng vốn từ phân môn Luyện từ và câu theo quan điểm giao tiếp

Mặc dù các giáo trình, các tài liệu và các bài viết trên không đề cập trựctiếp đến vấn đề mà đề tài này nghiên cứu, song chính các công trình trên lànhững định hướng, những gợi ý quý báu làm tiền đề cho chúng tôi triển khai

thực hiện các nghiên cứu về đề tài Dạy – học mở rộng vốn từ từ tình huống giao tiếp.

2 Đặc điểm tâm lí học sinh tiểu học

2.1.Về tri giác

Tri giác của học sinh tiểu học mang tính chất đại thể, ít đi sâu vào chi tiết

và mang tính không chủ động, do đó mà việc phân biệt các đối tượng còn thiếuchính xác, dễ mắc sai lầm, có khi còn lẫn lộn Ở các lớp đầu ở bậc tiểu học trigiác của học sinh thường gắn với cảm xúc.Những sự vật, những dấu hiệu, nhữngđặc điểm nào trực tiếp gây nên những xúc cảm thì các em tri giác tốt hơn Trigiác về không gian và thời gian của học sinh tiểu học còn hạn chế

Chú ý:

- Ở học sinh tiểu học chú ý chủ định còn yếu, khả năng điều chỉnh chú ýmột cách có ý trí chưa mạnh Chú ý không chủ định được phát triển mạnh.Những gì mang tính chất mới lạ, bất ngờ, rực rỡ khác thường làm cho các emchú ý tập trung nhiều hơn Vì vậy, việc sử dụng đồ dùng dạy học là điều kiệnquan trọng để tổ chức sự chú ý Nhu cầu hứng thú có thể kích thích và duy trì sựchú ý không có chủ lực, vì vậy giáo viên cần tìm cách làm cho giờ học được hấpdẫn và lý thú

- Sự tập trung chú ý học sinh lớp 1, lớp 2 còn chưa cao Các công trìnhnghiên cứu chú ý đã khẳng định học sinh tiểu học chỉ tập trung khoảng 30 đến 35phút Sự chú ý của học sinh tiểu học còn phụ thuộc vào nhịp độ học tập Nhịp độ

Trang 10

học tập quá nhanh hoặc quá chậm đến không thuận lợi cho tính bền vững và sựtập trung chú ý.

- Khả năng phát triển của chú ý có chủ định bền vững Tập trung của họcsinh tiểu học trong quá trình học tập là rất cao Bởi vì bản thân quá trình học tậpđòi hỏi các em phải rèn luyện thường xuyên sự chú ý có chủ định Rèn luyện ýtrí

2.2 Trí nhớ

- Ở học sinh tiểu học, hoạt động của hệ thống tín hiệu thứ nhất chiếm ưuthế nên trí nhớ trực quan - hình tượng được phát triển hơn trí nhớ từ ngữ - lôgic.Việc nhớ các sự vật, hiện tượng cụ thể sẽ nhanh hơn những định nghĩa kháiniệm

- Học sinh tiểu học chưa biết tổ chức việc ghi nhớ có ý nghĩa, chưa biết sửdụng sơ đồ lôgíc, và dựa vào các điểm tựa đề ghi nhớ

2.3 Tưởng tượng

- Tưởng tượng của học sinh tiểu học được hình thành và phát triển tronghoạt động học và các hoạt động khác Tưởng tượng của học sinh tiểu học pháttriển và ngày càng phong phú hơn song nhìn chung tưởng tượng cảm của các emcòn tản mạn ít có tổ chức Hình ảnh của tưởng tượng còn đơn giản hay thay đổihay chưa bền vững

Ở các lớp cuối bậc (lớp 4, lớp 5) tưởng tượng của các em gần với hiệnthực hơn, các em có khả năng nhào nặc, gọt dũa những hình tượng cũ để sángtạo ra hình tượng mới Có được điều này là những học sinh lớp 4, lớp 5 đã biếtdựa vào ngôn ngữ để xây dựng hình tượng mang tính khái quát và trìu tượnghơn Tưởng tượng của các em đã gắn liền với sự phát triển của tư duy và ngônngữ

Trang 11

và dấu hiệu bản chất của sự vật, hiện tượng và tư duy từ đó tạo thành khả năngkhái quát đầu tiên so sánh, xây dựng những suy luận siêu đẳng.

- Kỹ năng phân biệt các dấu hiệu để nhận biết thuộc tính bản chất còn hạnchế, việc phân biệt giữa các dấu hiệu bên ngoài với những thuộc tính bản chấtchưa rõ ràng

- Khả năng khái quát hoá của học sinh tiểu học còn hạn chế nếu không có

sự hướng dẫn của người lớn Hoạt động phân tích - tổng hợp còn sơ đẳng ở cáclớp đầu bậc tiểu học tiến hành hoạt động phân tích - trực quan - hành động khi trigiác trực tiếp đối tượng Ở các lớp cuối bậc tiểu học, học sinh có thể phân tíchđược đối tượng, các em có thể phân biệt được những dấu hiệu, những khía cạnhkhác nhau của đối tượng dưới dạng ngôn ngữ.Việc học tiếng Việt và số học sẽgiúp học sinh biết phân tích và tổng hợp

Từ những đặc điểm nhận thức của các học sinh tiểu học như đã trình bày ởtrên ta thấy rằng khi dạy luyện từ và câu cho học sinh tiểu học nhất thiết phảidựa trên những quy luật và đặc điểm tâm lý của học sinh Những quy luật này là

cơ sở đáng tin cậy cho việc xem xét khả năng nhận thức và thực hành từ ngữ ởtiểu học Việc nghiên cứu đặc điểm tâm lý lứa tuổi cho thấy rõ khả năng tiếpnhận tri thức và hình thành kỹ năng khác nhau ở những độ tuổi là có sự khác

nhau Từ đó quá trình dạy học luyện từ và câu sẽ "tránh" tình trạng (quá tải) hoặc

ngược lại nếu không căn cứ vào độ tuổi mà đưa ra những kiến thức quá dễ sẽ làmcho học sinh chán, không hứng thú Vì lẽ đó mà chương trình bộ môn tiếng Việtnói chung, phân môn luyện từ và câu ở tiểu học chủ yếu dựa vào trực cảm ngônngữ của học sinh do đặc điểm tư duy trực quan của các em tâm lý học đưa ranhững số liệu cụ thể và quá trình nắm lời nói, nắm ngữ pháp do đó ta có thể xácđịnh được mức độ và của tài liệu học tập

Học sinh (HS) tiểu học nói chung, HS lớp 3 nói riêng cũng cần có sự giaotiếp (GT), các em GT để tìm hiểu thé giới xung quanh, thể hiện yêu cầu củamình đối với người lớn hay sự vui chơi, đùa nghịch, đối với bạn bè cũng là GT

GT giúp các em hiểu về phong tục, tập quán, văn hóa của dân tộc Từ đó các em

sẽ áp dụng vào cuộc sống một cách có hiệu quả, phù hợp với chuẩn mực xã hội.Nếu được rèn luyện năng lực giao tiếp (NLGT) các em có thể diễn đạt các suynghĩ và ý tưởng của mình một cách rõ ràng, mạch lạc Biết lắng nghe, tiếp thu ýkiến nhận xét, phê bình của người khác cũng như tự tin thuyết phục người khácchấp nhận ý kiến của bản thân Trong bậc học này, hoạt động học là hoạt động

Trang 12

chủ đạo vì thế thông qua quá trình giảng dạy các bài tập (BT) phát triển NLGT

mà giáo viên (GV) có thể định hình và phát triển NLGT cho HS

3 Nội dung giáo dục của vấn đề

- Góp phần hoàn thiện cơ sở lí luận, cách thức và phương tiện để rèn các

kĩ năng dạy học Luyện từ và câu theo định hướng phát triển năng lực giao tiếpcho bản thân nói riêng và cho các giáo viên tiểu học nói chung

- Bước đầu xây dựng hệ thống các bài tập từ tình huống giao tiếp tiêu biểu

để giúp người giáo viên tiểu học có thể ứng dụng và sáng tạo nhằm đưa việc học

Mở rộng vốn từ phân môn Luyện từ và câu đến với học sinh một cách tự nhiênnhất, dễ hiểu nhất thông qua các hoạt động giao tiếp trong và ngoài nhà trường

4 Nhiệm vụ giáo viên trong công tác dạy học cho học sinh

- Người giáo viên nên nhất thiết phải sử dụng đúng, đủ số thời gian quyđịnh cho tiết dạy luyện từ và câu ở lớp 3

- Để giúp học sinh nắm vững được các khái niệm và có khả năng vận dụng

từ ngữ trong học tập, giao tiếp cần phải có sự phối hợp các phương pháp và cáchthức dạy học sao cho phù hợp nhằm biến quá trình tiếp thu thụ động kiến thứccủa thầy thành quá trình học sinh tự học, tự phát hiện, chủ động nắm bắt kiếnthức

- Phải có phương án bài dạy học luyện từ và câu theo hướng đổi mới mộtcách cụ thể như: thiết kế bài học, cách thức tiến hành giờ dạy nhằm tích cực hoạtđộng của học sinh v.v

- Cần chú ý đến điều kiện cơ sở vật chất cho giờ dạy học như không gianphòng học, bàn ghế, tài liệu (phiếu học tập)

5 Kết luận chương 1

Trong chương 1 tôi đã trình bày một số lí thuyết Lịch sử nghiên cứu củavấn đề và đặc điểm tâm lí HS tiểu học Từ đó đưa ra cơ sở lí luận liên quan đến

dề tài ở chương 2

Trang 13

a Khái niệm giao tiếp

Theo tác giả Hoàng Anh: “Giao tiếp là hình thức đặc trưng cho mối quan

hệ giữa người với người mà qua đó nảy sinh tình huống sự tiếp xúc tâm lí và sựbiểu hiện ở các quá trình thông tin, hiểu biết, rung cảm, ảnh hưởng và tác độngqua lại lẫn nhau”

Trong giáo dục học, giáo sư Phạm Minh Hạc cho rằng: “Giao tiếp là hoạtđộng xác lập và vận hành các quan hệ người – người hiện thực hóa các quan hệ

xã hội giữa chủ thể này với chủ thể khác

Giao tiếp là nhu cầu và điều kiện tất yếu không thể thiếu của cuộc sốngcon người Thông qua giao tiếp, cá nhân gia nhập vào các quan hệ xã hội vớitoàn cộng đồng, nhờ có giao tiếp,con người tiếp thu nền văn hóa xã hội và biếnthành của riêng mình, qua giao tiếp con người biết được vị trí xã hội của ngườikhác và của bản thân, trên cơ sở điều chỉnh bản thân theo các chuẩn mực xã hội

Vì vậy giao tiếp không chỉ quan trọng đối với cuộc sống con người, với tồn tại

và phát triển của xã hội loài người nói chung mà còn có ảnh hưởng rất lớn đếnviệc hình thành nhân cách mỗi cá nhân trong cộng đồng

Có thể hiểu một cách khái quát: Giao tiếp là hoạt động tiếp xúc, trao đổigiữa người với người trong xã hội nhầm truyền đạt cho nhau những nhận thức,những tư tưởng hoặc nhằm bày tỏ , chia sẽ tình cảm, thái độ… đối với nhau cũngnhư đối với các sự vật hiện tượng trong thực tế khách quan

Con người có thể giao tiếp bằng nhiều phương tiện: ánh mắt, điệu bộ, âmthanh, dùng còi… nhưng nếu giao tiếp bằng các phương tiện như vậy thì rất hạnchế về nội dung Phong phú và hiệu quả hơn cả trong giao tiếp là sử dụng ngônngữ làm cho phương tiện chính

b Chức năng của giao tiếp

Trang 14

Giao tiếp có chức năng lưu giữ tình cảm, tư tưởng văn hóa để phát triểnnhân cách con người cho hoàn chỉnh tâm hồn tình cảm ngày càng phong phú.

c Ngôn bản và các nhân tố của hoạt động giao tiếp

- Nhân vật giao tiếp:

Người viết, người nói và người đọc, người nghe được gọi chung là nhữngnhân vật giao tiếp Trong hoạt động giao tiếp nếu người phát luôn luôn là một thìngười nhận không phải lúc nào cũng như vậy.Có khi người nhận là một nhưngcũng có khi người nhận là số đông.Hiệu quả giao tiếp không chỉ phụ thuộc vàongười phát mà còn phụ thuộc vào người nhận.Vì vậy, khi nói hoặc viết nhữngvấn đề mà người nhận cảm thấy khó hiểu hoặc không phù hợp, không thiết thựcthì cuộc giao tiếp rất khó đạt được kết quả như mong muốn

- Hoàn cảnh giao tiếp:

Hoạt động giao tiếp cũng như mọi hoạt động khác của con người bao giờcũng diễn ra trong một hoàn cảnh nhất định Hoàn cảnh giao tiếp bao gồm cácyếu tố không gian, thời gian, xã hội, tâm lí mà ở đó diễn ra hoạt động giao tiếpdiễn ra Xét ở phạm vi rộng thì hoàn cảnh giao tiếp bao gồm từ hoàn cảnh xã hộiđến hoàn cảnh tự nhiên, từ hoàn cảnh tâm lí chung đến bối cảnh lịch sử, thời đại ,kinh tế, chính trị của cộng đồng Xét ở phạm vi hẹp thì hoàn cảnh giao tiếp baogồm những hiểu biết và cách ứng xử về thời gian địa điểm, hình thức, những sựviệc xảy ra xung quanh quá trình giao tiếp

- Nội dung giao tiếp:

Nội dung giao tiếp chính là các vấn đề được đề cập trong cuộc giao tiếp,sau khi xác định rõ mục đích giao tiếp, tìm hiểu nhân vật giao tiếp một cách thấuđáo, người nói cần phải xem xét, lựa chọn triển khai nội dung giao tiếp Nộidung giao tiếp phải xuất phát từ mcj đích giao tiếp Việc xác định, triển khai nộidung giao tiếp giúp người nói tránh xa vào những vấn để không cần thiết.Khi cânnhắc để giới hạn nội dung giao tiếp cần đặc biệt lưu ý tới kiến thức, mối quantâm và lợi ích của người nghe

- Mục đích giao tiếp:

Mục đích giao tiếp là kết quả mà người nói muôc đạt được sau khi thựchiện cuộc giao tiếp Nó có thể phan loại thành : mục đích tác động về nhận thức,

Trang 15

mục đích tác động về tình cảm, muc đích tác động về hành động Song trongthực tế nhiều cuộc giao tiếp không chỉ hướng tới mục đích duy nhất mà cónhững mục đích kép Chẳng hạn người nói cần muốn truyền đạt thông trin tớingười nghe trao đổi thảo luận với người nghe về một vấn đề nào đó vừa muốnthuyết phục người nghe tin và làm theo ý của mình

- Phương tiện và cách thức giao tiếp:

Ngôn ngữ với tư cách là phương tiện đóng vai trò hết sức quan trọng tronghoạt động giao tiếp Nếu thiếu đi phương tiện này, hoạt động giao tiếp rất khó đểđạt được kết quả như mong muốn Bản thân ngôn ngữ lại mang phong cách khácnhau và có bên độ phân biệt nhất định Vì vậy tùy từng phạm vi, từng lãnh vựchoạt động của các đối tượng giao tiếp người nói cần lựa chọn phương tiện ngônngữ phù hợp với người nghe (bao gồm cách diễn đạt, lựa chọn từ ngữ, sử dụngcác biện pháp tu từ…)

Các nhân tố giao tiếp vừa nêu trên đây luôn có mối quan hệ chặt chẽ vớinhau trong hoạt động giao tiếp Cũng có thể nói nó là điều kiện đảm bảo cho mộthoạt động giao tiếp diễn ra đạt được hiệu quả mong muốn

1.1.2 Dạy học theo hướng phát triển năng lực giao tiếp

a Năng lực

Theo Weinert – (2001): Năng lực là khả năng và kỹ năng nhận thức vốn

có của cá nhân hay có thể học được… để giải quyết các vấn đề đặt ra trong cuộcsống Năng lực cũng hàm chứa trong nó tính sẵn sang hành động , động cơ ý chí,

và trách nhiệm xã hội để có thể sử dụng một cách thành công và có trách nhiệmcác giải pháp… trong những tình huống thay đổi

Theo OECD – (2002): Năng lực là khả năng cá nhân đáp ứng các yêu cầuphức hợp và thực hiện thành công nhiệm vụ trong bối cảnh cụ thể

b Năng lực giao tiếp

NLGT là khả năng nhận biết mau lẹ những biểu hiện bên ngoài và đoánbiết tâm lí bên trong của con người (với tư cách là đối tượng giao tiếp) đồng thờibiết sử dụng phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ, biết cách định hướng để điềukhiển quá trình giao tiếp đạt một mục đích nhất định

Trang 16

NLGT giúp cho quá trình tương tác với cá nhân, tương tác trong nhóm vớitập thể có hiệu quả hơn Nó giúp cá nhân bày tỏ suy nghĩ, cảm xúc và tâm trạngcủa mình, giúp người khác hiểu rõ mình hơn Thái độ cảm thông với người kháccũng góp phần giúp giải quyết vấn đề mà mình gặp phải Kĩ năng hợp tác và làmviệc tập thể là các yếu tố quan trọng trong việc phát triển NLGT, đem lại hiệuquả làm việc trong nhóm và giúp cá nhân tăng cường sự tự tin và hiệu quả trongviệc thương thuyết, xử lí tình huống và giúp đỡ người khác.

Đối với học sinh tiểu học ta có thể phân loại các NLGT thành các nhóm

+ NL lắng nghe: được biểu hiện ở chổ HS có khả năng đọc đúng sau khinghe, GV đọc mẫu chăm chú lắng nghe

+ NL phản hồi thông tin: được biểu hiện ở chổ HS có khả năng tham giaphát biểu, tự tin trình bày các ý kiến của mình trước lớp

- Nhóm NL thiết lập mối quan hệ xã hội:

+ NL tạo mối quan hệ được biểu hiện ở chổ HS thiết lập được mối quan hệthân thiết với bạn bè

+ NL chia sẻ thông tin: được biểu hiện ở chổ biết cách san sẻ niềm vui, nổibuồn, chia sẻ ý kiến của mình về nội dung bài học

+ NL giải quyết vấn đề: được biểu hiện ở chổ HS nhận thức được lỗi lầmcủa mình, tìm ra được cách giải quyết tối ưu cho những mâu thuẫn với bạn bètrong quá trình học tập

c Phát triển năng lực giao tiếp cho học sinh thông qua phân môn Luyện

từ và câu

Mục tiêu cơ bản của môn Tiếng Việt ở Tiểu học là nhằm:

Trang 17

+ Hình thành và phát triển HS các kĩ năng sử dụng Tiếng Việt (nghe, nói,đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi.

+ Thông qua việc dạy và học Tiếng Việt góp phần rèn luyện các thao táccủa tư duy

+ Cung cấp cho HS kiến thức sơ giản về Tiếng Việt và những hiểu biết về

xã hội, tự nhiên và con người về văn hóa văn học của Việt Nam và nước ngoài

+ Bồi dưỡng tình yêu Tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn, sự trongsáng, giàu đẹp của Tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người ViệtNam xã hội chủ nghĩa

Phân môn Luyện từ và câu có vai trò đặc biệt trong hệ thống ngôn ngữ,không có một vốn từ đầy đủ thì không thể nắm ngôn ngữ như là phương tiệngiao tiếp Luyện từ và câu còn phát triển năng lực, trí tuệ, ngôn ngữ, những phẩmchất đạo đức ở trẻ em.Nó có vai trò hướng dẫn HS nghe, nói, đọc, viết

2 Một số vấn đề về phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực giao tiếp

2.1 Khái niệm về phương pháp day học theo định hướng phát triển năng lực giao tiếp.

Đổi mới phương pháp dạy học đang thực hiện bước chuyển từ chươngtrình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học, nghĩa là

từ chỗ quan tâm đến việc HS học được cái gì đến chỗ quan tâm HS vận dụngđược cái gì qua việc học Để đảm bảo được điều đó, phải thực hiện chuyển từphương pháp dạy học theo lối "truyền thụ một chiều" sang dạy cách học, cáchvận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành năng lực và phẩm chất Tăngcường việc học tập trong nhóm, đổi mới quan hệ giáo viên - học sinh theo hướngcộng tác có ý nghĩa quan trọng nhằm phát triển năng lực xã hội Bên cạnh việchọc tập những tri thức và kỹ năng riêng lẻ của các môn học chuyên môn cần bổsung các chủ đề học tập tích hợp liên môn nhằm phát triển năng lực giải quyếtcác vấn đề phức hợp

Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của người học, hình thành

và phát triển năng lực tự học (sử dụng sách giáo khoa, nghe, ghi chép, tìm kiếm thông tin ), trên cơ sở đó trau dồi các phẩm chất linh hoạt, độc lập, sáng tạo của

tư duy Có thể chọn lựa một cách linh hoạt các phương pháp chung và phương

Trang 18

pháp đặc thù của môn học để thực hiện Tuy nhiên dù sử dụng bất kỳ phươngpháp nào cũng phải đảm bảo được nguyên tắc “Học sinh tự mình hoàn thành

nhiệm vụ nhận thức (tự chiếm lĩnh kiến thức) với sự tổ chức, hướng dẫn của giáo

viên”

Việc sử dụng phương pháp dạy học gắn chặt với các hình thức tổ chức dạyhọc Tuỳ theo mục tiêu, nội dung, đối tượng và điều kiện cụ thể mà có nhữnghình thức tổ chức thích hợp như: học cá nhân, học nhóm; học trong lớp, học ởngoài lớp Cần chuẩn bị tốt về phương pháp đối với các giờ thực hành để đảmbảo yêu cầu rèn luyện kỹ năng thực hành, vận dụng KT vào thực tiễn, nâng caohứng thú cho người học Cần sử dụng đủ và hiệu quả các thiết bị dạy học mônhọc tối thiểu đã qui định Có thể sử dụng các đồ dùng dạy học tự làm nếu xétthấy cần thiết với nội dung học và phù hợp với đối tượng học sinh Tích cực vậndụng CNTT trong dạy học

Việc đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lựcthể hiện qua bốn đặc trưng cơ bản sau:

Một là, dạy học thông qua tổ chức liên tiếp các hoạt động học tập, giúp

học sinh tự khám phá những điều chưa biết chứ không thụ động tiếp thu nhữngtri thức được sắp đặt sẵn Giáo viên là người tổ chức và chỉ đạo học sinh tiếnhành các hoạt động học tập phát hiện kiến thức mới, vận dụng sáng tạo kiến thức

đã biết vào các tình huống học tập hoặc tình huống thực tiễn

Hai là, chú trọng rèn luyện cho học sinh biết khai thác sách giáo khoa và

các tài liệu học tập, biết cách tự tìm lại những kiến thức đã có, suy luận để tìmtòi và phát hiện kiến thức mới Định hướng cho học sinh cách tư duy như phântích, tổng hợp, đặc biệt hoá, khái quát hoá, tương tự, quy lạ về quen… để dầnhình thành và phát triển tiềm năng sáng tạo

Ba là, tăng cường phối hợp học tập cá thể với học tập hợp tác, lớp học trở

thành môi trường giao tiếp GV - HS và HS - HS nhằm vận dụng sự hiểu biết vàkinh nghiệm của từng cá nhân, của tập thể trong giải quyết các nhiệm vụ học tậpchung

Bốn là, chú trọng đánh giá kết quả học tập theo mục tiêu bài học trong suốt tiến trình dạy học thông qua hệ thống câu hỏi, bài tập (đánh giá lớp học).

Chú trọng phát triển kỹ năng tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau của học sinh vớinhiều hình thức như theo lời giải/đáp án mẫu, theo hướng dẫn, hoặc tự xác định

Trang 19

tiêu chí để có thể phê phán, tìm được nguyên nhân và nêu cách sửa chữa các sai

sót(tạo điều kiện để học sinh tự bộc lộ, tự thể hiện, tự đánh giá).

2.2 Những phương pháp phát triển năng lực giao tiếp

2.2.1 Cải tiến các phương pháp dạy học truyền thống

Đổi mới phương pháp dạy học không có nghĩa là loại bỏ các phương phápdạy học truyền thống như thuyết trình, đàm thoại, luyện tập mà cần bắt đầu bằngviệc cải tiến để nâng cao hiệu quả và hạn chế nhược điểm của chúng Để nângcao hiệu quả của các phương pháp dạy học này người giáo viên trước hết cầnnắm vững những yêu cầu và sử dụng thành thạo các kỹ thuật của chúng trongviệc chuẩn bị cũng như tiến hành bài lên lớp, kỹ thuật đặt các câu hỏi và xử lýcác câu trả lời trong đàm thoại, hay kỹ thuật làm mẫu trong luyện tập Tuy nhiên,các phương pháp dạy học truyền thống có những hạn chế tất yếu, vì thế bên cạnhcác phương pháp dạy học truyền thống cần kết hợp sử dụng các phương phápdạy học mới, có thể tăng cường tính tích cực nhận thức của học sinh trong thuyếttrình, đàm thoại theo quan điểm dạy học giải quyết vấn đề

2.2.2 Kết hợp đa dạng các phương pháp dạy học

Việc phối hợp đa dạng các phương pháp và hình thức dạy học trong toàn

bộ quá trình dạy học là phương hướng quan trọng để phát huy tính tích cực vànâng cao chất lượng dạy học Dạy học toàn lớp, dạy học nhóm, nhóm đôi và dạyhọc cá thể là những hình thức xã hội của dạy học cần kết hợp với nhau, mỗi mộthình thức có những chức năng riêng Tình trạng độc tôn của dạy học toàn lớp và

sự lạm dụng phương pháp thuyết trình cần được khắc phục, đặc biệt thông qualàm việc nhóm Trong thực tiễn dạy học ở trường trung học hiện nay, nhiều giáoviên đã cải tiến bài lên lớp theo hướng kết hợp thuyết trình của giáo viên vớihình thức làm việc nhóm, góp phần tích cực hoá hoạt động nhận thức của họcsinh Tuy nhiên hình thức làm việc nhóm rất đa dạng, không chỉ giới hạn ở việcgiải quyết các nhiệm vụ học tập nhỏ xen kẽ trong bài thuyết trình, mà còn cónhững hình thức làm việc nhóm giải quyết những nhiệm vụ phức hợp, có thểchiếm một hoặc nhiều tiết học, sử dụng những phương pháp chuyên biệt nhưphương pháp đóng vai, nghiên cứu trường hợp, dự án Mặt khác, việc bổ sungdạy học toàn lớp bằng làm việc nhóm xen kẽ trong một tiết học mới chỉ cho thấy

rõ việc tích cực hoá “bên ngoài” của học sinh Muốn đảm bảo việc tích cực hoá

“bên trong” cần chú ý đến mặt bên trong của phương pháp dạy học, vận dụng

Trang 20

2.2.3 Vận dụng dạy học giải quyết vấn đề

Dạy học giải quyết vấn đề (dạy học nêu vấn đề, dạy học nhận biết và giải quyết vấn đề) là quan điểm dạy học nhằm phát triển năng lực tư duy, khả năng

nhận biết và giải quyết vấn đề Học được đặt trong một tình huống có vấn đề, đó

là tình huống chứa đựng mâu thuẫn nhận thức, thông qua việc giải quyết vấn đề,giúp học sinh lĩnh hội tri thức, kỹ năng và phương pháp nhận thức Dạy học giảiquyết vấn đề là con đường cơ bản để phát huy tính tích cực nhận thức của họcsinh, có thể áp dụng trong nhiều hình thức dạy học với những mức độ tự lựckhác nhau của học sinh Các tình huống có vấn đề là những tình huống khoa họcchuyên môn, cũng có thể là những tình huống gắn với thực tiễn Trong thực tiễndạy học hiện nay, dạy học giải quyết vấn đề thường chú ý đến những vấn đềkhoa học chuyên môn mà ít chú ý hơn đến các vấn đề gắn với thực tiễn Tuynhiên nếu chỉ chú trọng việc giải quyết các vấn đề nhận thức trong khoa họcchuyên môn thì học sinh vẫn chưa được chuẩn bị tốt cho việc giải quyết các tìnhhuống thực tiễn Vì vậy bên cạnh dạy học giải quyết vấn đề, lý luận dạy học cònxây dựng quan điểm dạy học theo tình huống

2.2.4 Vận dụng dạy học theo tình huống

Dạy học theo tình huống là một quan điểm dạy học, trong đó việc dạy họcđược tổ chức theo một chủ đề phức hợp gắn với các tình huống thực tiễn cuộcsống và nghề nghiệp Quá trình học tập được tổ chức trong một môi trường họctập tạo điều kiện cho học sinh kiến tạo tri thức theo cá nhân và trong mối tươngtác xã hội của việc học tập Các chủ đề dạy học phức hợp là những chủ đề có nộidung liên quan đến nhiều môn học hoặc lĩnh vực tri thức khác nhau, gắn với thựctiễn Trong nhà trường, các môn học được phân theo các môn khoa học chuyênmôn, còn cuộc sống thì luôn diễn ra trong những mối quan hệ phức hợp Vì vậy

sử dụng các chủ đề dạy học phức hợp góp phần khắc phục tình trạng xa rời thựctiễn của các môn khoa học chuyên môn, rèn luyện cho học sinh năng lực giảiquyết các vấn đề phức hợp, liên môn Phương pháp nghiên cứu trường hợp làmột phương pháp dạy học điển hình của dạy học theo tình huống, trong đó họcsinh tự lực giải quyết một tình huống điển hình, gắn với thực tiễn thông qua làmviệc nhóm Vận dụng dạy học theo các tình huống gắn với thực tiễn là conđường quan trọng để gắn việc đào tạo trong nhà trường với thực tiễn đời sống,góp phần khắc phục tình trạng giáo dục hàn lâm, xa rời thực tiễn hiện nay củanhà trường phổ thông Tuy nhiên, nếu các tình huống được đưa vào dạy học lànhững tình huống mô phỏng lại, thì chưa phải tình huống thực Nếu chỉ giải

Ngày đăng: 26/11/2021, 14:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Lê A, Trần Mạnh Hường, Nguyễn Trí (1994), Phương pháp dạy tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy tiếngViệt
Tác giả: Lê A, Trần Mạnh Hường, Nguyễn Trí
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1994
3. Bộ Giáo dục và Đào tạo ( 2006), Đổi mới phương pháp dạy học ở Tiểu học, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới phương pháp dạy học ở Tiểuhọc
Nhà XB: NXB Giáo dục
4. Bộ Giáo dục và Đào tạo ( 2006), Dạy lớp 3 theo chương trình tiểu học mới NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy lớp 3 theo chương trình tiểu họcmới
Nhà XB: NXB Giáo dục
5. Nguyễn Nguyệt Anh (2005), Dạy học phân môn Luyện từ và câu trong sách Tiếng Việt 2, Luận văn Thạc sĩ, ĐHSP Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học phân môn Luyện từ và câu trongsách Tiếng Việt 2
Tác giả: Nguyễn Nguyệt Anh
Năm: 2005
6. Nguyễn Thị Nhẫn (2006), Tìm hiểu phân môn Luyện từ và câu trong SGK Tiếng Việt 3 chương trình mới, Luận văn tốt nghiệp Đại học, ĐHSP Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu phân môn Luyện từ và câu trongSGK Tiếng Việt 3 chương trình mới
Tác giả: Nguyễn Thị Nhẫn
Năm: 2006
7. Chu Thị Phương (2005) Về việc dạy học tích hợp môn Tiếng việt lớp 2, 3, Tạp chí giáo dục, ( số 121) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về việc dạy học tích hợp môn Tiếng việt lớp 2,3
8. Nguyễn Trại, Lê Thị Thu Huyền, Phạm Thị Thu Hà (2004), Thiết kế bài giảng Tiếng Việt 3 tập một, NXB, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế bàigiảng Tiếng Việt 3 tập một
Tác giả: Nguyễn Trại, Lê Thị Thu Huyền, Phạm Thị Thu Hà
Năm: 2004
9. Nguyễn Trí, Dương Thị Hương, Thảo Nguyên (2004), Để dạy học tốt Tiếng Việt 3, NXB Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Để dạy học tốtTiếng Việt 3
Tác giả: Nguyễn Trí, Dương Thị Hương, Thảo Nguyên
Nhà XB: NXB Giáo dục Hà Nội
Năm: 2004

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w