1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

TÀI LIỆU TẬP HUẤN THÚC ĐẨY BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG VIỆC BẢO ĐẢM QUYỀN TRẺ EM

239 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 239
Dung lượng 2,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài này chủ yếu giới thiệu những kiến thức cơ bản và toàn diện về các khái niệm liên quan đến giới, bình đẳng giới, trẻ em và quyền trẻ em; giới thiệu phương pháp tiếp cận quyền trẻ em n

Trang 1

HÀ NỘI, 6- 2010

Trang 2

HỌC VIỆN CT-HC QUỐC GIA

HÀ NỘI, 6- 2010

TÀI LIỆU TẬP HUẤN NÀY ĐƯỢC HỖ TRỢ BỞI QUỸ NHI ĐỒNG (UNICEF)

VÀ QUỸ DÂN SỐ LIÊN HỢP QUỐC (UNFPA) TẠI VIỆT NAM

_

THIS TRAINING MANUAL IS SUPPORTED

BY THE UNITED NATIONS CHILDREN’S FUND (UNICEF) AND UNITED NATIONS POPULATION FUND (UNFPA)

Trang 3

TÀI LIỆU TẬP HUẤN

TS TƯỜNG DUY KIÊN

ThS HOÀNG MAI HƯƠNG

CN TRẦN THỊ HỒNG HẠNH

Trang 4

Bài 1 Một số vấn đề cơ bản về bảo đảm

bình đẳng giới trong việc thực hiện

quyền trẻ em

ThS.Hoàng Mai Hương Trần Thị Hồng Hạnh 6

Bài 2 Pháp luật và kinh nghiệm quốc tế về

bảo đảm bình đẳng giới trong việc

thực hiện quyền trẻ em

TS Đặng Dũng Chí

TS Hoàng Văn Nghĩa 63

Bài 3 pháp luật việt nam về bảo đảm

bình đẳng giới trong thực hiện

quyền trẻ em

TS Nguyễn Thị Báo

TS Nguyễn Đức Thuỳ 121

Bài 4 Ý nghĩa,vai trò, trách nhiệm của đại

biểu dân cử đối với việc thúc đẩy

bình đẳng giới trong việc bảo đảm

thực hiện quyền trẻ em

TS Tường Duy Kiên

TS Nguyễn Duy Sơn

167

Bài 5 Lồng ghép giới trong việc bảo đảm

thực hiện Quyền trẻ em: một số kỹ

năng của đại biểu dân cử

Nguyễn Đức Lam

189

GIỚI THIỆU

Trang 5

Trong tiến trình phát triển xã hội, bình đẳng giới đã và đang thu hút được

sự quan tâm của hầu hết các nước trên thế giới và trở thành một mục tiêu phát triển của quốc gia.

Ở Việt Nam, quyền bình đẳng của phụ nữ và trẻ em được khẳng định ngay trong Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam năm 1946, được tiếp tục khẳng định

và phát triển trong những Hiến pháp tiếp theo.

Đảng và Nhà nước Việt Nam đã có nhiều Nghị quyết và chính sách, pháp luật nhằm phát triển toàn diện cho trẻ em Việc thực hiện chính sách, pháp luật về trẻ

em ở Việt Nam đã đạt được những kết quả nhất định Vấn đề bình đẳng giới trong việc thực hiện quyền trẻ em cũng đã được quan tâm Tuy nhiên, trên thực tế do ảnh hưởng của quan niệm truyền thống nên những định kiến về vai trò, trách nhiệm và quyền của phụ nữ và nam giới, của trẻ em trai và trẻ em gái vẫn hạn chế sự đóng góp của phụ nữ cũng như của trẻ em gái trong phát triển xã hội, trong xây dựng gia đình hạnh phúc và cản trở sự tiến bộ của phụ nữ và trẻ em gái Vì vậy, nghiên cứu việc thực hiện quyền trẻ em không chỉ đơn thuần xem xét xem quyền trẻ em được thực hiện như thế nào, mà còn phải đánh giá việc thực hiện quyền trẻ em đó qua lăng kính giới, hay nói cách khác cần bảo đảm bình đẳng giới trong việc thực hiện quyền trẻ em thì mới bảo đảm cho đất nước phát triển bền vững và hài hoà.

Trong khuôn khổ dự án giữa Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF)

và Quốc hội Việt Nam về: "Nâng cao năng lực cho đại biểu dân cử", Viện Nghiên

cứu Quyền con người là cơ quan trực tiếp biên soạn tài liệu tập huấn: "Thúc đẩy bình đẳng giới trong việc bảo đảm quyền trẻ em" Bộ tài liệu này nhằm phục vụ

cho tập huấn Đại biểu Dân cử năm 2010 và các năm tiếp theo.

Bộ tài liệu được xây dựng nhằm góp phần nâng cao năng lực các đại biểu dân

cử (ĐBDC) (gồm đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng Nhân dân (ĐBHĐND)) ở cấp tỉnh, thành phố Cụ thể nó cung cấp những kiến thức về bình đẳng giới trong việc thực hiện chức năng lập pháp và giám sát việc bảo đảm quyền trẻ em.

Bộ tài liệu tập huấn sẽ cung cấp cho các ĐBDC một khối lượng kiến thức cơ bản và toàn diện về giới, bình đẳng giới, trẻ em, quyền trẻ em, cách tiếp cận giới trong việc bảo đảm quyền trẻ em và một số kỹ năng lồng ghép của ĐBDC Do vậy, nội dung của bộ tài liệu khá rộng, không chỉ đề cập đến các khái niệm cơ bản liên quan đến giới

và quyền trẻ em mà còn đưa ra các cách tiếp cận mới trong việc giảng dạy và nghiên cứu về quyền trẻ em, như: cách tiếp cận dựa trên quyền, cách tiếp cận dựa trên giới Toàn bộ nội dung quyền trẻ em của bộ tài liệu tập huấn đều được các tác giả trình bày dưới lăng kính giới.

Bộ tài liệu gồm 2 phần: Phần A là tài liệu đọc gồm năm bài và phần B là tài liệu hướng dẫn giảng dạy năm bài đã được đề cập ở phần A Ngoài ra, bộ tài liệu còn có phần phụ lục riêng của các bài và phần phụ lục chung của năm bài Bộ tài liệu tập huấn này sẽ giúp các ĐBDC có thể lựa chọn nội dung phù hợp với nhu cầu học tập, nghiên

Trang 6

Nội dung của Bộ tài liệu gồm năm bài cụ thể sau:

Bài 1: "Một số vấn đề cơ bản về bảo đảm bình đẳng giới trong việc thực hiện quyền trẻ em" Bài này chủ yếu giới thiệu những kiến thức cơ bản và toàn diện

về các khái niệm liên quan đến giới, bình đẳng giới, trẻ em và quyền trẻ em; giới thiệu phương pháp tiếp cận quyền trẻ em nhin từ góc độ giới và đặc biệt là làm rõ mối quan

hệ giữa bình đẳng giới với việc bảo đảm quyền trẻ em Đây là một bài quan trọng, cung cấp lượng kiến thức nền tảng cho khoá tập huấn và các bài tiếp theo, làm cơ sở

để các bài tiếp theo trình bày nội dung bảo đảm quyền trẻ em nhìn từ lăng kính giới.

Bài 2: "Pháp luật và kinh nghiệm quốc tế về bảo đảm bình đẳng giới trong việc thực hiện quyền trẻ em" Bài này giúp đại biểu nắm được sự hình thành và phát

triển của hệ thống pháp luật quốc tế về QTE, QPN và BĐG; cơ chế bảo đảm QTE từ góc độ bình đẳng giới trong hệ thống pháp luật quốc tế và quốc gia; đồng thời cung cấp cho đại biểu những nội dung cơ bản về thực tiễn bảo đảm quyền trẻ em từ góc độ bình đẳng giới ở một số quốc gia trên thế giới.

Bài 3: "Pháp luật Việt Nam về bảo đảm bình đẳng giới trong thực hiện quyền trẻ em" Bài này giới thiệu những quan điểm cơ bản của Đảng ta về bảo đảm

bình đẳng giới trong việc thực hiện quyền trẻ em; làm rõ thực trạng với những ưu điểm

và hạn chế của hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay về bảo đảm bình đẳng giới trong việc thực hiện quyền trẻ em; Đồng thời, chỉ rõ phương hướng và giải pháp tiếp tục hoàn thiện pháp luật về bảo đảm bình đẳng giới trong việc thực hiện quyền trẻ em.

Bài 4: "Ý nghĩa, vai trò, trách nhiệm của đại biểu dân cử đối với việc thúc đẩy bình đẳng giới trong việc bảo đảm thực hiện quyền trẻ em" Bài này giới thiệu

ý nghĩa của việc thúc đẩy bình đẳng giới trong việc bảo đảm quyền trẻ em ở Việt Nam; làm rõ vị trí, vai trò của đại biểu dân cử trong việc thúc đẩy bình đẳng giới nhằm bảo đảm quyền trẻ em; đồng thời nêu rõ những thuận lợi và khó khăn của đại biểu dân cử trong việc thúc đẩy bình đẳng giới bảo đảm quyền trẻ em.

Bài 5: "Lồng ghép giới trong việc bảo đảm quyền trẻ em: Một số kỹ năng của đại biểu dân cử" Bài này hỗ trợ ĐBDC hiểu rõ hơn và biết cách vận dụng những

kỹ năng thực tế cần thiết nhằm lồng ghép giới trong việc bảo đảm quyền trẻ em Đây

là một bài quan trọng và có tính thực tiễn cao, giúp cho ĐBDC có thể vận dụng được

kỹ năng lồng ghép giới của mình vào việc thực hiện quyền trẻ em.

Phần phụ lục của bộ tài liệu bao gồm những nội dung cơ bản của một số luật

Việt Nam và điều ước quốc tế có liên quan như CRC, CEDAW, Luật BVCS&GDTE, Luật Bình đẳng giới ; báo cáo quốc gia về tình hình thực hiện quyền trẻ em ở Việt Nam.

Nhân dịp này, Viện Nghiên cứu Quyền con người xin trân trọng cảm ơn sự đóng góp quý báu của các chuyên gia trong nước và quốc tế, cùng với sự hỗ trợ về mặt

kỹ thuật và tài chính của Tổ chức UNICEF, Quỹ Dân số Liên hợp quốc (UNFPA) tại

Trang 7

Việt Nam và Ban Quản lý dự án "Ô" của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội trong quá trình xây dựng và hoàn thiện bộ tài liệu tập huấn này.Viện nghiên cứu quyền con người rất mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp xây dựng của các quý vị khi sử dụng tài liệu này Trên cơ sở các ý kiến đóng góp của quý vị, chúng tôi sẽ tiếp tục sửa chữa

và hoàn thiện để hy vọng trong thời gian tới bộ tài liệu trở thành công cụ hữu ích cho các giảng viên và ĐBDC trong công tác giáo dục, tuyên truyền về thúc đẩy bình đẳng giới liên quan đến việc bảo đảm thực hiện quyền trẻ em ở Việt Nam.

VIỆN NGHIÊN CỨU QUYỀN CON NGƯỜI

PHẦN MỞ ĐẦU CÁCH SỬ DỤNG TÀI LIỆU TẬP HUẤN

VÀ PHƯƠNG PHÁP SỬ DỤNG TRONG BỘ TÀI LIỆU

1 CÁCH SỬ DỤNG BỘ TÀI LIỆU TẬP HUẤN

Trang 8

khảo Cuối tập tài liệu có phần phụ lục chung.

Phần A: Tài liệu đọc:

+ Tài liệu đọc dùng cho học viên tham khảo trước khi tới lớp hoặc đọc

thêm sau khi đã tham dự khoá tập huấn Do khối lượng nội dung kiến thứccủa phần này rộng, nên trong quá trình sử dụng, giảng viên có thể lựa chọnnội dung phù hợp với nhu cầu học tập, nghiên cứu của học viên, đối tượnghọc viên và thời gian cho phép để tiến hành một chương trình tập huấn phùhợp

+ Tài liệu đọc dùng chung cho cả ĐBQH và ĐBHĐND, do đó, nội dungcác bài chủ yếu thể hiện chung cho cả hai đối tượng Phần nào có sự khác biệt

do chức năng, nhiệm vụ của đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND khác nhau thìcác tác giả sẽ có phần trình bày riêng khác nhau

+ Mỗi phần của các bài đều có câu hỏi và câu trả lời gợi ý, câu hỏi thảoluận và đào sâu kiến thức

+ Trong mỗi bài, những kiến thức cơ bản và cần lưu ý đều được đóngkhung Đó là những kiến thức học viên cần ghi nhớ

+ Trong mỗi bài, tác giả xây dựng ít nhất một tình huống để phân tích làm

rõ các thông điệp của bài, để người đọc có thể trải nghiệm và hiểu cụ thể hơnqua tình huống

+ Cuối mỗi bài của phần tài liệu đọc, tác giả gợi ý nguồn tài liệu tham khảo.+ Tài liệu này chỉ đưa ra những gợi ý về tiến trình thực hiện để thamkhảo Giảng viên cần phát huy tính chủ động, sáng tạo trong quá trình tập huấn

để phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương và đối tượng tập huấn

Phần B: Tài liệu hướng dẫn giảng dạy (giáo án):

+ Mỗi bài đều có các phần sau đây: i) Mục tiêu; ii) Nội dung chính; iii)Thời gian dự định của mỗi hoạt động giảng dạy và tiến trình kiến thức; iv)Chuẩn bị phương tiện và hướng dẫn sử dụng phương tiện cho hoạt động tậphuấn; v) Bài tập tình huống và câu hỏi thảo luận

+ Mỗi bài chia các nội dung cần truyền đạt thành các hoạt động học tập,kèm theo hướng dẫn từng bước thực hiện cụ thể, cũng như phương pháp ápdụng, phương tiện và thời gian phân bổ Tuỳ từng đối tượng tập huấn, hay thờigian cho phép mà giảng viên lựa chọn nội dung và phương pháp thể hiện phùhợp

+ Các giảng viên chỉ trình bày khoảng 15 phút cho một ý, sau đó chuyểnsang hoạt động hoặc thảo luận Tổng thời gian thuyết trình của một bài không

Trang 9

quá 60 phút.

+ Tuỳ theo thời gian cho phép, giảng viên có thể mở rộng bài giảng bằngcách cho học viên thảo luận thêm những vấn đề của địa phương, hoặc rút ngắnbài giảng bằng thảo luận bài tập

Phần phụ lục riêng của từng bài:

- Bài tập tình huống

- Các trang chiếu (slides)

- Trích dẫn các điều luật (nếu có)

Phần phụ lục chung của tập tài liệu

Phần phụ lục bao gồm một số tài liệu quan trọng có thể sử dụng cho cácmục đích tra cứu, tham khảo trong việc soạn thảo bài giảng cho các khóa tậphuấn Đó là Luật Bình đẳng giới; Luật Phòng chống bạo lực gia đình; Công ước

về Quyền trẻ em (CRC); Công ước xoá bỏ mọi hình thức phân biệt chống lạiphụ nữ (CEDAW) và một số số liệu liên quan đến bình đẳng giới và quyền trẻ

em được cung cấp làm tư liệu để giảng viên sử dụng khi giảng những chương cóliên quan (VD: Báo cáo Quốc gia về phụ nữ và trẻ em)

2 PHƯƠNG PHÁP SỬ DỤNG TRONG BỘ TÀI LIỆU

Các bài giảng được thiết kế theo hình thức kết hợp phương pháp thuyếttrình về nội dung với phương pháp động viên sự tham gia của học viên trongquá trình học tập, ví dụ phát biểu ý kiến, làm việc theo nhóm, thảo luận chung,đặt câu hỏi đào sâu Qua các hoạt động của học viên, giảng viên gợi ý, giảithích, tóm tắt, bổ sung ý kiến và đưa ra những bài học thông điệp tổng hợp cuốicùng

Phương pháp áp dụng trong khoá tập huấn được xây dựng trên cơ sở cácnguyên tắc giáo dục cho người lớn với một số phương pháp chủ đạo sau: i)Cùng tham gia, ii) Hỏi- đáp, iii) Nêu ý kiến ghi lên bảng, iv) Thảo luận nhóm, v)Sàng lọc) vi) Tình huống, vii) Thuyết trình

Trang 10

chống lại phụ nữ

Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và

chính trị

ICCPR

Công ước Quốc tế về các quyền kinh tế, xã

hội và văn hoá

ICESCR

Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em Luật BVCS&GDTE

Luật Phòng chống bạo lực gia đình Luật PCBLGĐ

CHƯƠNG TRÌNH TẬP HUẤN

“THÚC ĐẨY BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG VIỆC BẢO ĐẢM QUYỀN TRẺ EM”

(Gợi ý)

1 Thời gian: 3 ngày

2 Địa điểm: Một số tỉnh, thành phố

Trang 11

3 Đối tượng: Đại biểu dân cử

4 Số lượng: 30 đại biểu (10 đại biểu ở các huyện)

NGÀY THỨ NHẤT

SÁNG - Khai mạc

Bài 1: Một số vấn đề cơ bản về bảo đảm bình đẳng giới trong việc thực hiện quyền trẻ em

- Giảng viên

CHIỀU Bài 2: Pháp luật và kinh nghiệm quốc

tế về bảo đảm bình đẳng giới trong việc thực hiện quyền trẻ em

- Giảng viên

NGÀY THỨ HAI

SÁNG Bài 3: Pháp luật Việt Nam về bảo đảm

bình đẳng giới trong việc thực hiện

quyền trẻ em

- Giảng viên

CHIỀU Bài 4: Ý nghĩa, vai trò, trách nhiệm

của đại biểu dân cử đối với việc thúc đẩy bình đẳng giới trong việc bảo đảm thực hiện quyền trẻ em

- Giảng viên

NGÀY THỨ BA

SÁNG Bài 5: Lồng ghép giới trong việc bảo

đảm thực hiện quyền trẻ em: Một số kỹ năng của đại biểu dân cử

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ BẢO ĐẢM BÌNH ĐẲNG GIỚI

TRONG VIỆC THỰC HIỆN QUYỀN TRẺ EM

ThS Hoàng Mai Hương & Trần Thị Hồng Hạnh

PHẦN A: TÀI LIỆU ĐỌC

MỤC TIÊU

Trang 12

 Biết được một số phương pháp tiếp cận và một số mô hình thựchiện quyền trẻ em nhìn từ góc độ giới

 Nhìn nhận và đưa ra phương pháp giải quyết những vấn đề đangdiễn ra trong việc thực hiện quyền trẻ em dưới góc độ giới

THÔNG ĐIỆP CHÍNH

1 Giới không đồng nghĩa với giới tính

2 BĐG trong chính sách và pháp luật có thể vẫn chưa phải là bình

đẳng thực chất

3 Vai trò giới, định kiến giới tác động tới việc thực hiện quyền

trẻ em

4 Tiếp cận dựa trên quyền và tiếp cận giới và phát triển là những

phương pháp hiệu quả trong việc thực hiện QTE

5 Cần đảm bảo mục tiêu bình đẳng giới khi thực hiện QTE

NỘI DUNG CƠ BẢN

(Xem phụ lục)

Trang 13

THỰC HIỆN

I MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI, TRẺ EM VÀ QUYỀN TRẺ EM

1 Một số khái niệm về giới và bình đẳng giới

1.1 Giới và giới tính

 THẢO LUẬN: Hỏi các học viên những câu hỏi sau:

1 Trong các đặc điểm của phụ nữ/ TE gái và nam giới/ TE trai đã đượcliệt kê ở hoạt động 1 ở trên, có những đặc điểm nào có thể xem là chung cho cảphụ nữ/ TE gái và nam giới/ TE trai? Những đặc điểm nào được xem là chungcho cả nam giới/TE trai và phụ nữ/TE gái

2.Có những đặc điểm nào có thể xem là của riêng nam giới/ TE trai? Haycủa riêng phụ nữ/ TE gái?

3.Các mảnh giấy (đặc điểm) có thể hoán đổi cho nhau không? Cái nào cóthể hoán đổi? Cái nào không?

4.Tại sao có mảnh giấy (đặc điểm) có thể hoán đổi và có mảnh giấy (đặcđiểm) không thể hoán đổi

 GỢI Ý NỘI DUNG BÀI GIẢNG

Các câu hỏi cần được trả lời trong phần này:

- Giới tính là gì?

- Giới là gì?

- Giới và giới tính khác nhau như thế nào?

1.Giới tính là gì?

- Giới tính là khái niệm đề cập tới sự khác nhau về mặt sinh học giữa nam

và nữ, giữa TE trai và TE gái

- Sự khác nhau này có ngay từ lúc một con người được sinh ra (trừ trườnghợp dị thường) Sự khác biệt giới tính rõ ràng nhất đó là việc có kinh nguyệt,mang thai, cho con bú của phụ nữ/ TE gái và việc tạo ra tinh trùng của nam giới/

TE trai

- Theo Luật Bình đẳng giới năm 2007, giới tính được định nghĩa như sau:

" Giới tính chỉ các đặc điểm sinh học của nam và nữ"1 Như vậy, có thể hiểu giớitính không chỉ các đặc điểm sinh học của nam và nữ, mà còn chỉ đặc điểm sinhhọc của TE trai và TE gái

Giới tính chỉ các đặc điểm sinh học của trẻ em trai và trẻ em gái

1 Luật Bình đẳng giới năm 2007

Trang 14

em trai và cũng có thể có ở nữ giới/ TE gái được gọi là giới Ví dụ: TE gái sợ

ma, TE trai cũng sợ ma; TE trai thích chơi ô tô, TE gái cũng thích chơi ô tô; TEtrai thích sửa chữa máy móc, đồ điện tử, TE gái cũng thích sửa chữa máy móc,

đồ điện tử…

- Những đặc điểm giới là do xã hội và con người tạo nên

- Cũng như khái niệm giới tính, khái niệm giới cũng đã được đề cập trongLuật Bình đẳng giới năm 2007 như sau: "Giới chỉ đặc điểm, vị trí, vai trò củanam và nữ trong tất cả các mối quan hệ xã hội" Khái niệm này cũng bao hàmchỉ đặc điểm, vị trí, vai trò của TE trai và TE gái

Giới chỉ đặc điểm, vị trí, vai trò của trẻ em trai và trẻ em gái

trong tất cả các mối quan hệ trong gia đình và xã hội

Phụ nữ/ TE gái và nam giới/ TE trai có khác biệt xã hội và khác biệt sinhhọc, nói cách khác có khác biệt về giới tính và giới Câu hỏi đặt ra giới tính vàgiới có những đặc điểm gì? Có thể phân biệt những đặc điểm của giới tính vàgiới như thế nào? Câu trả lời ở phần tiếp theo

2 Phân biệt giữa giới tính và giới

Câu hỏi đ ặt ra : Tại sao phải phân biệt khái niệm “giới tính” và “giới”? Hai khái niệm này giúp ta phân biệt hai loại đặc điểm của phụ nữ/TE gái

và nam giới/ TE trai để hiểu rõ thực chất và cơ chế hình thành các đặc điểm đó.Trong khi đó, việc sinh con của phụ nữ và có kinh nguyệt của TE gái do yếu tốsinh học tạo ra và đó là đặc điểm giới tính Việc phụ nữ làm việc nội trợ tronggia đình nhiều hơn nam giới lại do các yếu tố phi tự nhiên, hay con gái thíchmặc áo màu hồng, con trai mặc áo màu xanh là do quan niệm lâu đời của nhữngngười cha, người mẹ các em và do sự phân công lao động trong xã hội tạo ra Sựkhác biệt giới không phải là tự nhiên mà có, không xuất hiện lúc TE mới sinh ra

mà chỉ hình thành trong quá trình TE lớn lên do sự dạy dỗ của gia đình, giáo dụccủa nhà trường, học hỏi ngoài xã hội và môi trường xung quanh Do vậy, muốn

có bình đẳng giữa nam và nữ, giữa TE trai và TE gái trong gia đình thì cần phảithay đổi quan niệm về đặc điểm, vị trí, vai trò của phụ nữ/ trẻ em gái và namgiới/ trẻ em trai và thay đổi cách phân công lao động trong gia đình, chứ khôngphải thay đổi các đặc điểm giới tính Việc phân biệt hai thuật ngữ giới và giớitính không có nghĩa là đặt đối lập giới và giới tính mà cần hiểu biết rõ các đặc

Trang 15

điểm sinh học và đặc điểm xã hội của nam và nữ, giữa TE trai và TE gái để cóthể ứng xử một cách phù hợp.

- Đặc trưng sinh học: Giống đực hay

giống cái;

- Đặc trưng xã hội: Quan hệ giữa phụ

nữ và nam giới, giữa TE trai và trẻ em gái

- Tự nhiên và mang tính bẩm sinh - Do xã hội và con người tạo nên

- Giống nhau ở mọi nơi - Khác nhau tuỳ vùng miền và dân tộc;

tuỳ thuộc vào văn hoá, quan niệm

- Không thay đổi (hoặc khó thay đổi) vì

chức năng sinh sản của phụ nữ và nam

giới không thể thay đổi cho dù họ có

thay đổi hình thức bên ngoài VD: Nam

giới có thể phẫu thuật nâng ngực nhưng

họ không thể cho con bú bằng sữa của

mình được.

- Thay đổi được.

Ví dụ: + TE gái có kinh nguyệt và trẻ

em trai có tinh trùng

Ví dụ: + TE gái có thể đá bóng, thích chơi ô tô và trẻ em trai thích nấu ăn và

sợ ma

* Nhấn mạnh: Giới có thể thay đổi được vì vậy xã hội và con người cần

thúc đẩy để tạo nên quan hệ giới tiến bộ Mọi người đều có thể thúc đẩy bìnhđẳng giữa TE gái và TE trai

 CÂU HỎI ĐÀO SÂU: Hỏi các học viên những câu hỏi sau:

1 TE gái bị ảnh hưởng bởi những đặc điểm về Giới tính của mình như thếnào?

2 TE trai bị ảnh hưởng bởi những đặc điểm về Giới tính của mình nhưthế nào?

3 TE gái bị ảnh hưởng bởi những đặc điểm về Giới của mình như thế nào?

4 TE trai bị ảnh hưởng bởi những đặc điểm về Giới của mình như thế nào?

5 Các Anh/Chị đã hình thành những nhận thức, quan điểm của mình về

TE trai và TE gái như thế nào?

Trên đây là những câu hỏi mở nên các câu trả lời sẽ rất khác nhau, phụthuộc vào quan điểm cá nhân của học viên Tuy nhiên, có một câu trả lời thíchhợp nhất mà giảng viên nên đưa ra thảo luận với các học viên

Cách chúng ta nhìn nhận về phụ nữ/ TE gái và nam giới/ TE trai thườngđược hình thành bởi cách chúng ta đã được nuôi dưỡng, giáo dục TE được dạy

dỗ và tiếp thu từ gia đình (cha mẹ, người lớn), từ nhà trường và xã hội những lời

Trang 16

phù hợp với mong đợi của gia đình, nhà trường và xã hội Ví dụ, con gái phảidịu dàng, biết trông em, làm việc nội trợ, học ngành sư phạm, y tế, con trai phảimạnh dạn, dũng cảm, cương quyết, học các ngành kỹ thuật Hay con gái khôngcần học nhiều, con trai cần phải học hành để có sự nghiệp sau này Vì vậy đó là

lý do đã dần dần hình thành nên nhận thức của bố mẹ, gia đình và xã hội đối vớicác đặc điểm mà mọi người cho là chỉ dành cho TE trai hay TE gái

1.2 Định kiến giới

 GỢI Ý NỘI DUNG BÀI GIẢNG:

Hỏi học viên những câu hỏi sau:

1 Đ ịnh kiến giới là gì ?

Định kiến giới là những suy nghĩ mang tính cố hữu của mọi người về vaitrò, khả năng, loại công việc cũng như tính cách và hành vi ứng xử mà phụ nữ/

TE gái và nam giới/ TE trai có thể thực hiện cũng như những tính cách mà phụ

nữ / TE gái và nam giới/ TE trai nên có

2.Nêu một số ví dụ về đ ịnh kiến giới ?

+ TE trai sẽ là trụ cột gia đình, là người kiếm tiền sau này nên phải họchành cẩn thận

+ TE trai mạnh mẽ và quyết đoán hơn TE gái

+ TE gái làm công việc nội trợ, chăm em tốt hơn TE trai

+ TE gái nên dịu dàng, điềm đạm

+ Con gái không cần học nhiều

3 Đ ịnh kiến giới đư ợc biểu hiện d ư ới những hình thức nào ?

+ Thổi phồng hoặc cường điệu một số đặc điểm, phẩm chất của phụ nữ/

TE gái hoặc nam giới/ TE trai

+ Coi thường hoặc phê phán một cách thái quá một số đặc điểm, phẩmchất của phụ nữ/ TE gái và nam giới/ TE trai

4 Đ ịnh kiến giới có tác đ ộng nh ư thế nào tới BĐG ?

Những định kiến giới đã tạo nên bất BĐG và ảnh hưởng tiêu cực nhiềuhơn đối với phụ nữ/ TE gái và nam giới/ TE trai Định kiến giới tạo nên tưtưởng" trọng nam, khinh nữ", đã kìm hãm khả năng phát triển của phụ nữ/ TEgái, làm cho phụ nữ/ TE gái an phận, tự ti; đồng thời định kiến giới cũng tạo nên

áp lực đối với nam giới/ TE trai với vai trò là trụ cột, kiếm tiền chính cho giađình Do đó, gây áp lực không nhỏ đối với công việc học tập của TE trai

Xã hội ngày nay đã có nhiều thay đổi tích cực về cách nhìn nhận, đánh giá

về vai trò, khả năng của phụ nữ/ TE gái Tuy nhiên, định kiến giới vẫn còn tồn

Trang 17

tại, ảnh hưởng tiêu cực trong việc thực hiện bình đẳng nam-nữ, TE trai và TEgái, xoá đói giảm nghèo và phát triển cộng đồng.

Giới có thể thay đổi được Vì vậy, mỗi người đều có thể làm thay đổi mốiquan hệ giới theo hướng tích cực thông qua việc tự nâng cao nhận thức và loại

bỏ những thái độ, hành vi định kiến đối với phụ nữ/TE gái và nam giới/TE trai

ĐBDC cần đi đầu trong việc xoá bỏ định kiến giới để phát huy vai trò của

nữ đại biểu QH và HĐND trong các hoạt động của ĐBDC về thúc đẩy QTE và

sự tham gia tích cực của cử tri nữ và nam trong xây dựng cộng đồng

Nữ ĐBDC cần tự "giải phóng" mình khỏi những định kiến giới, luôn họchỏi lên để tự tin hơn trong mọi công việc

Theo Luật BĐG năm 2007, "Định kiến giới là nhận thức, thái độ, và đánhgiá thiên lệch, tiêu cực về đặc điểm, vị trí, vai trò và năng lực của nam hoặc nữ".Định kiến giới là nhận thức, thái độ và đánh giá thiên lệch, tiêu cực

về đặc điểm, vị trí, vai trò và năng lực của TE trai và TE gái trong

gia đình và xã hội

1.3 Vai trò giới

HOẠT ĐỘNG 2: “Một ngày làm việc của TE ở nông thôn” (Hoạt động 2-Xem phụ lục)

Các câu hỏi cần trao đổi trong phần này:

- TE gái trong dạng gia đình ở hoạt động 2 thường thức dậy vào khi nào?

Đi ngủ khi nào? Các em gái làm những việc gì từ lúc thức dậy cho tới lúc đingủ? (xác định cụ thể công việc các em làm trong từng thời điểm)

- TE trai trong dạng gia đình ở hoạt động 2 thường thức dậy khi nào? Đingủ khi nào? Các em trai làm những việc gì từ lúc thức dậy cho tới lúc đi ngủ?(Xác định cụ thể công việc các em làm trong từng thời điểm)

 GỢI Ý NỘI DUNG BÀI GIẢNG:

Các câu hỏi cần được trả lời trong phần này:

1 Vai trò giới là gì?

2 Có mấy loại vai trò giới?

3 Tại sao lại có các loại vai trò giới?

Trang 18

gái mà đã được xác định về mặt xã hội, văn hoá và được xem là “bình thường”hay “phù hợp” cho các cá nhân thuộc mỗi Giới Tuy nhiên, trên thực tế lại có thể

do các cá nhân thuộc Giới kia thực hiện Ví dụ, nhiều người thường cho rằng cácnghề như thợ mộc, cơ khí, kỹ sư, phi công… chỉ thích hợp cho nam giới/ TEtrai, còn các nghề như bán hàng, y tá, thư ký, nấu ăn… chỉ thích hợp với phụ nữ/

TE gái Tuy nhiên, thực tế cũng có các nữ thợ mộc, nữ kỹ sư, nữ công nhân cơkhí, nam nấu ăn,…

Theo khái niệm của sách "Giới và LGG với hoạt động của QH" do Uỷ

ban các vấn đề xã hội của QH biên soạn năm 2009 (trang 24): " Vai trò giới chỉ kiểu hành vi, hoạt động với các nhiệm vụ, quyền lợi, trách nhiệm nhất định mà

xã hội mong chờ nữ giới và nam giới thực hiện" Vậy, có thể hiểu khái niệm này

cũng bao hàm cả TE trai và TE gái

Vai trò giới chỉ kiểu hành vi, hoạt động với các nhiệm vụ, quyền

lợi, trách nhiệm nhất định mà xã hội mong chờ TE trai và TE gái

thực hiện

 Có mấy loại vai trò giới ?

Có 3 loại vai trò giới: sản xuất; tái sản xuất; cộng đồng

Vai trò sản xuất: là những hoạt động nhằm tạo ra của cải vật chất,

tinh thần để đem lại thu nhập hoặc tự nuôi sống Ví dụ: TE tham gia vàotrồng trọt, chăn nuôi, làm vườn và giúp các em học,…

Vai trò tái sản xuất: Là các hoạt động nhằm đảm bảo duy trì nòi

giống, nuôi dạy con cái và chăm sóc các thành viên và tổ chức cuộc sốnggia đình Ví dụ: TE nấu ăn và giặt giũ; chăm sóc bố mẹ

Vai trò cộng đồng: Là các hoạt động đem lại phúc lợi cho cộng

đồng và quản lý, lãnh đạo cộng đồng Vai trò cộng đồng gồm hai loạicông việc:

+ Công việc đem lại phúc lợi cho cộng đồng là những công việc dophụ nữ/ TE gái và nam giới/ TE trai tự nguyện làm nhằm đem lại phúclợi cho tập thể, cộng đồng Ví dụ: cọ rửa khu bể nước công cộng, quétdọn đường làng ngõ xóm…

+ Công việc lãnh đạo cộng đồng: Là những hoạt động do phụ nữ

và nam giới tham gia vào việc quản lý lãnh đạo cộng đồng.Ví dụ tham

Trang 19

gia HĐND các cấp; thảo luận các vấn đề xã hội của địa phương… Riênghoạt động này thường chỉ xảy ra với người lớn, còn trẻ em do chưa cóđầy đủ năng lực hành vi dân sự, vì vậy các em chỉ được tham gia đónggóp ý kiến vào các chương trình, kế hoạch của địa phương có liên quanđến quyền lợi của các em

 Tại sao lại có các loại vai trò giới ?

Đó là do sự phân công lao động theo giới truyền thống trong gia đình vàtrong xã hội trong hoạt động sản xuất và hoạt động tái sản xuất tạo ra

 KẾT LUẬN:

Tìm hiểu vai trò giới là cần thiết, giúp cho ĐBDC thu thập được nhữngthông tin về công việc của phụ nữ/ TE gái và nam giới/ TE trai, đánh giá đúng ýnghĩa, giá trị công việc của phụ nữ/ TE gái cũng như công việc của nam giới/ TEtrai Thực tế, phụ nữ/ TE gái phải thực hiện nhiều vai trò giới Thông thường,phụ nữ thực hiện các vai trò sản xuất; tái sản xuất, cộng đồng không tách rời màđan xen nhau Vì vậy, khi quyết định thực hiện một chương trình, chính sáchnào đó của địa phương cần có những biện pháp hỗ trợ tích cực cho phụ nữ/ TEgái và xét đến những yếu tố nhằm đảm bảo bình đẳng cho cả nam giới/ TE trai

và nữ giới/ TE gái

Ví dụ:

+ Hiện nay, tỷ lệ TE gái bỏ học ở nhà giúp việc gia đình tương đối cao,đặc biệt là TE miền núi Do đó, để khuyến khích TE tích cực đến trường, chínhquyền địa phương cần có những chương trình, kế hoạch, quyết định ưu tiên chonhững TE thiệt thòi, có hoàn cảnh khó khăn, đặc biệt là TE gái như đề nghị giảmhọc phí, hỗ trợ các điều kiện vật chất như sách vở, đồ dùng

+ Khi quyết định các chính sách về xoá đói giảm nghèo, cần kèm theoquy định ưu tiên cho những gia đình có trẻ nhỏ

+ Để đảm bảo cho nữ ĐBDC hoạt động có hiệu quả, các nam ĐBDC cầnkhuyến khích, hỗ trợ và tạo điều kiện cho nữ đại biểu được học tập, nâng caotrình độ nhằm góp phần bảo đảm tốt hơn các quyền của TE

1.4 Nhu cầu giới

Trang 20

Ngược lại, nam giới đặt ưu tiên cao hơn vào việc tiếp cận thị trường và các lĩnhvực liên quan đến vai trò kiếm tiền cơ bản của họ.

- TE gái thường đóng vai trò như người chị, đôi khi như người mẹ trongnhững gia đình đông anh em, vì vậy TE gái thường quan tâm đến những vấn đềliên quan đến sinh hoạt gia đình Ngược lại, TE trai lại thường quan tâm nhiềutới học tập, lao động kiếm tiền

 GỢI Ý NỘI DUNG BÀI GIẢNG

Ở phần này,các câu hỏi cần trả lời một số câu hỏi sau::

1 Nhu cầu giới là gì?

2 Phân loại nhu cầu giới?

3 Nhu cầu giới thực tế là gì?

4 Nhu cầu giới chiến lược là gì?

5 Phân biệt nhu cầu giới thực tế và nhu cầu giới chiến lược?

 Nhu cầu giới là gì ?

Nhu cầu giới là những mong muốn của TE gái và TE trai xuất

phát từ việc thực hiện các vai trò giới khác nhau

 Phân loại nhu cầu giới ?

Có 2 loại nhu cầu giới: đó là nhu cầu giới thực tế (còn gọi là nhu cầu giớitrước mắt) và nhu cầu giới chiến lược (còn gọi là nhu cầu giới lâu dài)

 Nhu cầu giới thực tế (còn gọi là nhu cầu giới trước mắt)

Hàng ngày, phụ nữ/ TE gái và nam giới/ TE trai đều làm những công việc

cụ thể Họ mong muốn có những điều kiện cần thiết để thực hiện tốt công việccủa mình Ví dụ: Phụ nữ/ TE gái thường đảm nhiệm công việc gia đình nênmuốn được cung cấp nước sạch để sử dụng, muốn có nhà trẻ để gửi con, muốn

có dịch vụ y tế để chăm sóc sức khoẻ bà mẹ và trẻ nhỏ; các em học sinh nữmuốn có nhà vệ sinh để tự chăm sóc vệ sinh khi ở trường; các em học sinh nammuốn có sân bóng để đá bóng Hay nam giới thường lo việc sản xuất nên quantâm đến chuyển đổi cơ cấu cây trồng, mong có hệ thống thuỷ lợi tốt, có đườnggiao thông thuận tiện (nếu là nông dân) hoặc muốn có trường tốt, phương tiệnlàm việc đầy đủ (nếu là giáo viên)

KẾT LUẬN:

Trang 21

- Nhu cầu giới thực tế (nhu cầu giới trước mắt) là những mong muốn

được đáp ứng để TE gái và TE trai thực hiện dễ dàng và tốt hơn côngviệc các em đang làm

- Do thực hiện vai trò giới khác nhau, TE gái và TE trai có nhu cầu giớithực tế khác nhau

-Ví dụ:

+ TE gái muốn có nhà vệ sinh công cộng, muốn có nước sạch để nângcao sức khoẻ và chất lượng cuộc sống

+ TE trai muốn có sân bóng để thoả mãn nhu cầu và nâng cao sức khoẻ

Việc đáp ứng các nhu cầu giới thực tế (nhu cầu giới trước mắt) mới chỉgiúp TE gái và TE trai làm tốt hơn vai trò giới hiện tại mà chưa thể thay đổiđược quan hệ giới bất bình đẳng

 Nhu cầu giới chiến l ư ợc là gì ? (còn gọi là nhu cầu giới lâu dài) Nhu cầu giới chiến lược chỉ các nhu cầu dài hạn nhằm thay đổi vai trò giới,

để phụ nữ/ TE gái và nam giới/ TE trai bình đẳng hơn trong việc chia sẻ tráchnhiệm làm việc nhà và tái sản xuất, cũng như các nguồn lợi thu từ các hoạt độngkinh tế Đây là các lợi ích nhằm tăng cường vị thế của phụ nữ/TE gái so với namgiới/TE trai VD: Phụ nữ/TE gái muốn được đào tạo, nâng cao năng lực chuyênmôn nghiệp vụ để tự tin và mạnh dạn hơn khi tham gia bàn bạc và ra quyết định

về những công việc của gia đình và làng xã, cơ quan, tổ chức Còn nam giới/TEtrai cần được tư vấn và tham gia nhiều hơn về kế hoạch hoá gia đình thì namgiới/TE trai sẽ có điều kiện chia sẻ với phụ nữ/ TE gái nhiều hơn trong các biệnpháp kế hoạch hoá gia đình

KẾT LUẬN:

Nhu cầu giới chiến lược là những mong muốn của TE gái và

TE trai được đáp ứng để cải thiện vai trò, địa vị bình đẳng của

TE gái, tạo nên quan hệ giới bình đẳng

 Phân biệt nhu cầu giới thực tế và nhu cầu giới chiến l ư ợc

Nhu cầu giới thực tế

(nhu cầu trước mắt)

Nhu cầu giới chiến lược (nhu cầu giới lâu dài)

- Xác định bởi vai trò gia đình như là

chăm sóc sức khoẻ, nguồn nước, vệ

Trang 22

giới giữa nam giới/ TE trai và phụ nữ/ TE

gái chẳng hạn, sự tham gia của cả TE trai và TE gái vào các diễn đàn có liên quan đến TE.

 Mối quan hệ giữa nhu cầu giới thực tế và nhu cầu giới chiến lược :Nếu chỉ đáp ứng nhu cầu thực tế về giới (nhu cầu trước mắt) là cần thiếtsong nhìn chung không làm thay đổi sự phân công lao động theo truyền thống

để tạo sự BĐG Vì vậy, khi bàn bạc, quyết định các chương trình/dự án cần quantâm đáp ứng cả nhu cầu thực tế về giới và nhu cầu chiến lược về giới của phụnữ/TE gái và nam giới/TE trai

Tuy nhiên, việc thực hiện các biện pháp để giải quyết nhu cầu giới thực tế

và nhu cầu giới chiến lược có tác động lẫn nhau, đôi khi có tác động tiêu cựcđến nhau Chẳng hạn, đối với nhu cầu giới thực tế: việc giải quyết các nhu cầucủa phụ nữ như xây dựng nhà trẻ để chị em gửi con, hay cung cấp trường sở tốt,phương tiện làm việc đầy đủ để nam giới làm việc tốt hơn Những việc làm này

có thể có nguy cơ củng cố thêm sự phân công lao động trên cơ sở giới bởi nólàm cho phụ nữ/TE gái và nam giới/TE trai phải tiếp tục đảm nhiệm các vai tròtruyền thống của mình Đối với nhu cầu giới chiến lược: phụ nữ/TE được đàotạo, tiếp cận khoa học kỹ thuật để lao động sản xuất, tăng thu nhập; hay namgiới/TE trai cùng chia sẻ công việc gia đình và không có hành vi bạo lực đối vớiphụ nữ Những việc làm này rất tốt nhưng nếu không tiến hành một cách hiệuquả, thực chất và đồng bộ giữa nhu cầu giới thực tế và nhu cầu giới chiến lượcthì đôi khi sẽ là gượng ép, cào bằng

Vì vậy, với cương vị là ĐBDC, đặc biệt là ĐBHĐND khi tiếp xúc cử tricần khuyến khích phụ nữ/TE gái, nam giới/TE trai đưa ra những nhu cầu và mốiquan tâm riêng của mình bằng cách trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua ngườigiám hộ hoặc người đại diện hợp pháp của mình để từ đó họ có thể đóng gópnhằm góp phần cải thiện hơn tình trạng bất bình đẳng nam nữ

1.5 Bình đẳng giới

HOẠT ĐỘNG: Nêu một số vấn đề bất bình đẳng giới ở Việt Nam

 GỢI Ý NỘI DUNG BÀI GIẢNG:

Câu hỏi cần được trả lời trong phần này:

1 Khái niệm bình đ ẳng giới ?

+ BĐG có nghĩa là TE gái và TE trai cùng có địa vị bình đẳng trong giađình và xã hội Điều này không có nghĩa là TE trai/ TE gái là hoàn toàn như

Trang 23

nhau, mà là các điểm tương đồng và khác biệt của các em được thừa nhận và coitrọng BĐG có nghĩa là TE gái và TE trai cùng có điều kiện để phát huy hết khảnăng tiềm tàng của mình, cùng có cơ hội để tham gia đóng góp và hưởng thụbình đẳng các kết quả phát triển của quốc gia trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế,văn hoá, xã hội Điều quan trọng nhất của BĐG là đạt được các kết quả côngbằng cho phụ nữ/TE gái và nam giới/TE trai.

+ KẾT LUẬN:

Theo Luật BĐG năm 2007, BĐG là việc nam, nữ có vị trí, vai tròngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sựphát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quảcủa sự phát triển đó Như vậy, định nghĩa này cũng bao hàm cả TE gái và TEtrai

Bình đẳng giới là việc TE trai và TE gái có vị trí, vai trò ngang nhau,được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự pháttriển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả

của sự phát triển đó.

2 Nội dung bình đ ẳng giới ?

Nội dung BĐG bao gồm:

+ BĐG trong pháp luật: TE trai/TE gái có địa vị và quyền như nhau

trong mọi lĩnh vực được quy định trong pháp luật: chính trị, pháp luật, kinh tế,văn hoá, xã hội Ví dụ: TE trai và TE gái có quyền như nhau về học tập, laođộng, chăm sóc sức khoẻ Các quyền bình đẳng của TE trai và TE gái đều đượcpháp luật bảo vệ

+ BĐG trong tiếp cận kiểm soát nguồn lực: TE trai và TE gái có cơ hội

như nhau trong sử dụng và quản lý nguồn lực Ví dụ: TE trai và TE gái có cơ hộinhư nhau trong đào tạo nghề, cung cấp thông tin

+ BĐG trong tham gia bàn bạc và ra quyết định: TE gái và TE trai

cùng được tham gia vào quá trình ra quyết định trong gia đình, xã hội Ví dụ: TEtrai/TE gái được tham gia bình đẳng vào quá trình xây dựng một số kế hoạch,chương trình liên quan đến thiếu nhi, đều được nói lên tiếng nói của mình trongcác diễn đàn của trẻ em ở cấp quốc gia và quốc tế

+ BĐG trong việc thụ hưởng thành quả lao động và phúc lợi: TE gái

và TE trai được thụ hưởng những thành quả lao động và phúc lợi xã hội nhưnhau Ví dụ: TE trai/TE gái ở nông thôn cũng như thành phố, miền núi cũng như

Trang 24

3.C ơ hội bình đ ẳng, đ iều kiện bình đ ẳng?

Câu trả lời mong đ ợi:

+ Cơ hội bình đẳng: BĐG về cơ hội nghĩa là TE trai/TE gái đều có cơ

hội như nhau được đến trường, được học tập, được chăm sóc sức khoẻ

+ Điều kiện bình đẳng: Bình đẳng về cơ hội, về sự lựa chọn và đối xử là

cần thiết nhưng chưa đủ để hỗ trợ cho sự phát triển của TE gái Thực tế là TEgái đang có vị trí bất bình đẳng do sự phân biệt đối xử trong quá khứ và hiện tại.Trong những trường hợp cụ thể, xuất phát từ vai trò giới không như nhau, có thểphải tạo điều kiện cho trẻ em gái khác với điều kiện cho TE trai thì cơ hội đómới đem lại bình đẳng thực chất Đây chính là biện pháp thúc đẩy BĐG đượcquy định trong Luật Bình đẳng giới năm 2007 Ví dụ: Chính sách hạ điểm chuẩnvào học chuyên nghiệp đối với TE gái ở vùng cao có nhiều khó khăn

KẾT LUẬN:

Biện pháp thúc đẩy BĐG là biện pháp nhằm bảo đảm BĐG thực

chất, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành trong trường

hợp có sự chênh lệch lớn giữa TE trai và TE gái về vị trí, vai trò,

điều kiện, cơ hội phát huy năng lực và thụ hưởng thành quả của

sự phát triển mà việc áp dụng các quy định như nhau giữa TE

trai và TE gái không làm giảm được sự chênh lệch này Biện

pháp thúc đẩy BĐG được thực hiện trong một thời gian nhất

định và chấm dứt khi mục đích BĐG đã đạt được

4 Những lợi ích của bình đ ẳng giới ?

Câu hỏi: Nếu phụ nữ/ TE gái và nam giới/ TE trai đều có cơ hội, điều kiệnbình đẳng sẽ đem lại lợi ích gì cho gia đình, xã hội?

Phụ nữ/ TE gái và nam giới/ TE trai được đầu tư phát triển, có cơ hội,được tạo điều kiện tham gia đào tạo, chăm sóc sức khoẻ, được chia sẻ việc nhà,được đối xử bình đẳng sẽ phát huy đầy đủ tiềm năng trở thành:

+ Người mẹ khoẻ mạnh, có kiến thức sẽ biết cách tổ chức cuộc sống giađình, sinh ít con, nuôi dạy con tốt để trở thành nguồn nhân lực tốt cho gia đình

và xã hội

+ Người bố hiểu biết và có trách nhiệm giới thì sẽ chia sẻ việc nhà, cóbiện pháp kế hoạch hoá gia đình và có trách nhiệm hơn với việc chăm sóc con.Đồng thời, người bố sẽ có thái độ tích cực trong việc sinh con trai hay gái,không có thái độ định kiến với con gái Lúc này, người mẹ có thể tham gia các

Trang 25

công việc xã hội, được phát triển như những người khác

KẾT LUẬN:

Lợi ích của BĐG: BĐG được thực hiện sẽ góp phần phát huy mọi

năng lực của TE gái và TE trai trong xây dựng gia đình hạnh

phúc, phát triển kinh tế- xã hội bền vững

1.6 Phân tích giới

Ở phần này, cần đặt ra một số câu hỏi sau:

1 Phân tích giới là gì?

2 Tại sao phải phân tích giới?

- Để đạt được mục tiêu BĐG và LGG trong chính sách, phân tích giới cầnđược thực hiện trong tất cả các giai đoạn của quá trình xây dựng chính sách

- Phân tích giới sẽ đưa ra những thông tin cần thiết để thiết kế hoặc điềuchỉnh chính sách nhằm thực hiện công bằng giới và BĐG một cách có hiệu quả

 GỢI Ý NỘI DUNG BÀI GIẢNG:

Các câu hỏi cần được trả lời trong phần này:

1 Phân tích giới là gì ?

Theo sách: "Giới và LGG với hoạt động của QH" do Uỷ ban các vấn đề

xã hội của QH biên soạn năm 2009: " Phân tích giới là quá trình thu thập và xử

lý thông tin, dữ liệu về các hoạt động và tương quan giữa nam và nữ trong cácngành, lĩnh vực cụ thể Như vậy có nghĩa là TE trai và TE gái cũng là đối tượngcủa khái niệm này

Phân tích giới là quá trình thu thập và xử lý thông tin, dữ liệu vềcác hoạt động và tương quan giữa TE trai và TE gái trong cácngành, lĩnh vực cụ thể

2 Mục đ ích của phân tích giới ?

Phân tích giới nhằm hiểu rõ thực trạng tình hình của TE gái và TE trai, tìm

ra những vấn đề giới (cách biệt giới), nguyên nhân của vấn đề và đưa ra những biệnpháp cần thiết để đáp ứng nhu cầu, lợi ích của cả TE gái và TE trai

Thực hiện phân tích giới sẽ giúp ĐBDC, đặc biệt là ĐBHĐND xemnhững khác biệt giữa phụ nữ/TE gái và nam giới/TE trai trong phân công laođộng theo giới, trong tiếp cận kiểm soát nguồn lực và ra quyết định Từ đó hiểuđược những nhu cầu, nguyện vọng của cử tri nam và nữ để đưa ra những biệnpháp nhằm đáp ứng mối quan tâm của phụ nữ/TE gái và nam giới/TE trai

Trang 26

giới mà không phân tích sâu Phân tích giới bao gồm 4 yếu tố:

- Xem xét các vai trò giới được biểu hiện trong phân công lao động theogiới tại địa bàn để có thông tin: TE gái/TE trai làm gì?

- Xem xét TE gái/TE trai ai được tiếp cận/ kiểm soát các nguồn lực và lợiích do dự án/kế hoạch hay chương trình đem lại

- Xem xét quyền ra quyết định của TE gái/TE trai thế nào? Ai ra quyết địnhcuối cùng? Quyết định đó tác động hay ảnh hưởng tích cực/tiêu cực đến ai?

- Xem xét TE gái/TE trai có nhu cầu giới thực tế/ nhu cầu giới chiến lượcgì?

4 Một số lưu ý trong quá trình phân tích giới

- Tuỳ từng dự án/kế hoạch mà chọn các yếu tố phân tích giới cho phùhợp Ví dụ: dự án khuyến nông cần phân tích các yếu tố: phân công lao độngtheo giới, tiếp cận kiểm soát, quyết định

- Phân tích giới được thực hiện đối với dự án/kế hoạch đã, đang và sẽ thựchiện Trong phân tích giới, việc thu thập số liệu tách biệt theo giới tính là đầuvào quan trọng để xem xét thực trạng TE trai và TE gái từ đó có cách giảiquyết sát hợp Ví dụ: Xã Long Vân có 16 em bỏ học ở cấp cơ sở, trong đó có 11

em gái và 5 em trai Số liệu này cho thấy các em gái bỏ học nhiều hơn các emtrai Vì vậy, cần phải tìm ra nguyên nhân gì dẫn đến tình trạng các em gái bỏ họcnhiều hơn, từ đó trong các biện pháp giải quyết tình trạng bỏ học ở TE cần đặcbiệt chú ý đến biện pháp đưa các em gái đến trường

- Phân tích giới có thể được tiến hành ở cả các cấp độ, lĩnh vực:

+ Các cấp độ: gia đình, cộng đồng/cơ quan, chính sách của chính phủ.+ Các lĩnh vực: Y tế, giáo dục, việc làm, nông nghiệp, khoa học

- Người phân tích giới: Thông thường khi phân tích giới, chúng ta thườngquan tâm đến trách nhiệm phân tích giới của những người lãnh đạo, quản lý dựán/kế hoạch Tuy nhiên, các đối tượng sau cũng hết sức quan trọng Đó là:

+ Nam/nữ cán bộ quản lý cộng đồng, cán bộ dự án/khoa học

+ TE trai/ TE gái thực hiện/hưởng thụ dự án và những TE trai/TE gái khác

1.7 Lồng ghép giới

HOẠT ĐỘNG: Các câu hỏi liên quan đến LGG (Hoạt động 3 xem phụ lục)

 GỢI Ý NỘI DUNG BÀI GIẢNG:

Các câu hỏi cần được trả lời trong phần này:

Trang 27

1 Lồng ghép giới là gì?

Cho đến nay, có rất nhiều khái niệm về LGG Tuy nhiên, LGG đã được

quy định rõ trong Luật Bình đẳng giới năm 2007 như sau: " Lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật là biện pháp nhằm thực hiện mục tiêu bình đẳng giới bằng cách xác định vấn đề giới, dự báo tác động giới của văn bản, trách nhiệm, nguồn lực để giải quyết vấn đề giới trong các quan hệ xã hội được văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh"

Nhìn chung, có thể hiểu LGG là quá trình đưa yếu tố giới vào chính sách,chu trình kế hoạch/ dự án ở mọi cấp độ và mọi lĩnh vực của đời sống xã hội đểđáp ứng nhu cầu giới Như vậy, LGG là một biện pháp quan trọng để đạt đượcmục tiêu BĐG

2 Vì sao phải lồng ghép giới?

Mỗi chính sách dù không phân biệt cũng sẽ có tác động khác nhau lênmỗi giới, do những khác biệt về mặt sinh học, về giới tính, do điều kiện kinh tế-

xã hội thực tế khác nhau của nữ giới/ TE gái và nam giới/ TE trai trong xã hội.Thực tế cho thấy dù đã có rất nhiều nỗ lực để thúc đẩy BĐG, bất BĐG vẫn tồntại và là cản trở lớn cho sự phát triển Những thay đổi về kinh tế- xã hội trêntoàn thế giới thường ảnh hưởng tới phụ nữ/ TE gái nhiều hơn nam giới/ TE trai.Giữa BĐG với giảm nghèo và phát triển con người có mối quan hệ mật thiết,hiệu quả của các chương trình giảm nghèo sẽ vô cùng hạn chế nếu phụ nữ/ trẻ

em gái ít được tham dự vào các chương trình này và nếu công bằng giới không

có thì cũng đồng nghĩa với việc chúng ta chưa đạt được mục tiêu phát triển conngười một cách đầy đủ Đôi khi cần có những giải pháp khác nhau để đảm bảođược kết quả bình đẳng cho cả phụ nữ/ TE gái và nam giới/ TE trai, phân phốilợi ích xã hội một cách bình đẳng Sự thừa nhận việc các chính sách có thể cótác động khác nhau đối với phụ nữ/ TE gái và nam giới/ TE trai là lý do cần thiếtphải LGG

3 Mục tiêu lồng ghép giới?

+ Mục tiêu lâu dài: Thúc đẩy BĐG nhằm tiến tới bình đẳng thực chất: cảnam/ TE trai và nữ/ TE gái đều được hưởng thụ một cách bình đẳng từ các thànhtựu phát triển của quốc gia

+ Mục tiêu trước mắt: Thu hẹp khoảng cách giới: làm thế nào để cácchính sách, luật pháp có tính đến những khác nhau về mặt sinh học và xã hộigiữa hai giới

4 Ai chịu trách nhiệm lồng ghép giới?

BĐG chỉ có thể đạt được khi có sự cam kết mạnh mẽ từ phía lãnh đạocũng như hành động rộng rãi của tất cả các cá nhân, tổ chức có trách nhiệm, khi

Trang 28

+ Ở góc độ QH, hoạt động LGG cần có sự tham gia của Uỷ ban thường

vụ QH, Hội đồng Dân tộc và các Uỷ ban của QH, nhóm nữ nghị sĩ Việt Nam

và từng đại biểu QH Là cơ quan quyền lực nhà nước ở Trung ương, ĐBQH cótrách nhiệm "lồng ghép giới" trong việc xây dựng và ban hành những văn bảnpháp luật trên mọi lĩnh vực của đời sống

+ Ở góc độ HĐND, hoạt động LGG cần có sự tham gia của HĐND,UBND các cấp, các ĐBHĐND Là cơ quan quyền lực nhà nước địa phương,Hội đồng Nhân dân có ưu thế và có trách nhiệm "lồng ghép giới" trong quyếtđịnh những chủ trương, biện pháp quan trọng về phát triển kinh tế- xã hội củađia phương, trong giám sát việc thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân vàtrong hoạt động tiếp xúc cử tri

2 Một số khái niệm về trẻ em và quyền trẻ em

2.1 Khái niệm trẻ em, nhu cầu của trẻ em

2.1.1 Khái niệm trẻ em

Ở phần này cần đặt ra câu hỏi sau: Nêu đặc điểm của trẻ em và người

lớn? (Hoạt động 4 trong phụ lục)

 GỢI Ý NỘI DUNG BÀI GIẢNG:

Các câu hỏi cần được trả lời trong phần này:

- Trẻ em là ai?

Theo Điều 1 của Công ước về Quyền trẻ em (CRC) của LHQ năm 1989:

TE là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật quốc gia quy định tuổi thànhniên sớm hơn Như vậy, theo Công ước, các nước có thể quy định về độ tuổiđược coi là TE khác nhau và khác so với quy định trong Công ước Đó là lý dokhi nội luật hoá các quy định của Công ước vào Luật Việt Nam, tuỳ vào điềukiện kinh tế, xã hội của Việt Nam, Luật BVCS&GDTE năm 1991 (sửa đổi năm

2004) (điều 1) quy định độ tuổi sớm hơn: "TE quy định trong luật này là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi" Trong điều kiện kinh tế, xã hội hiện tại của Việt

Nam, việc quy định như trên là hợp lý, tạo ra tính khả thi cho các chủ thể cótrách nhiệm bảo vệ, chăm sóc và giáo dục TE

2.1.2 Nhu cầu của trẻ em

Trang 29

Ở phần này cần đặt ra câu hỏi sau:

1 Nhu cầu là gì?

2 Tại sao cần tìm hiểu nhu cầu của trẻ em?

 GỢI Ý NỘI DUNG BÀI GIẢNG:

Các câu hỏi cần được trả lời trong phần này:

1 Trẻ em cần những nhu cầu gì cho sự phát triển?

Trẻ em cần rất nhiều nhu cầu để tồn tại và phát triển Tuy nhiên, khôngphải tất cả các nhu cầu đều được đáp ứng vì chúng ta thường lẫn lộn giữa "nhucầu" và "mong muốn" TE mong muốn rất nhiều như muốn ăn kẹo, mua quần

áo, chơi điện tử Nhưng nhu cầu cơ bản cho sự phát triển của TE lại là không bịphân biệt đối xử, không bị lạm dụng hoặc bỏ rơi, có sân chơi và nơi vui chơi giảitrí

2 Có phải tất cả các nhu cầu của trẻ em và ng ư ời lớn đ ều giống nhaukhông? Nhu cầu của trẻ em trai và trẻ em gái có khác nhau không?

- Đúng là TE và người lớn có những nhu cầu giống nhau vì TE và ngườilớn đều là con người nên đều có những nhu cầu chung của một con người

- Tuy nhiên, do TE là những chủ thể chưa phát triển đầy đủ về thể chất vàtinh thần, chưa tự bảo vệ, điều chỉnh được bản thân mình nên ngoài những nhucầu chung của một con người bình thường như người lớn, trẻ em còn có nhữngnhu cầu đặc biệt (khác hoặc ở mức độ cao hơn so với người lớn), chẳng hạn nhưnhu cầu được chăm sóc, nuôi dưỡng, nhu cầu được học tập, được vui chơi, giảitrí, được bảo vệ Còn người lớn cũng có những nhu cầu đặc biệt chẳng hạn nhưnhu cầu về việc xây dựng gia đình, nhu cầu về việc làm, quản lý xã hội

- TE trai và TE gái về cơ bản có nhu cầu giống nhau vì các em đều là conngười, đều có nhu cầu ăn, mặc, ở Tuy nhiên, do những đặc điểm sinh học củacác em, mà đôi khi trẻ em trai và trẻ em gái có một số nhu cầu khác nhau như

TE gái thường thích mặc váy, còn TE trai thường thích đá bóng hơn

2.2 Khái niệm quyền trẻ em và các nhóm quyền của trẻ em

2.2.1 Khái niệm quyền trẻ em

HOẠT ĐỘNG: (Hoạt động 5 trong phụ lục)

Ở phần này cần đặt ra câu hỏi sau:

- Nhu cầu của trẻ em và quyền của trẻ em có khác nhau không?

 GỢI Ý NỘI DUNG BÀI GIẢNG:

1 Quyền trẻ em là gì?

- Có rất nhiều quan niệm về QTE, những quan niệm này chỉ khác nhau vềcâu chữ, còn về nội hàm không khác nhau Để có thể đưa ra khái niệm QTE,trước hết phải đưa ra khái niệm "quyền" Quyền có thể được định nghĩa là

Trang 30

- Trước đây ở cả phương Đông và phương Tây, TE chỉ được xem như cácchủ thể phụ thuộc, thậm chí bị coi là một thứ tài sản riêng của các bậc cha mẹ.

Do đó, các em thường không được quan tâm Sau đó, tại một số nước đã sớmxuất hiện những đề án công cộng dành riêng cho TE như bệnh viện, khu vuichơi Lúc này, nhận thức về TE và tuổi thơ đã có những thay đổi TE lúc đóđược cho là "ngây thơ" và "thiêng liêng", là những người cần được bảo vệ mộtcách tách biệt và đặc biệt Có nghĩa là TE cần được tách biệt và bảo vệ khỏi thếgiới hỗn độn của người lớn Từ đó nhiều người đã quan tâm nhiều hơn đến TE

và bảo vệ TE

- KẾT LUẬN:

QTE là những điều mà TE được hưởng, được làm, được tôn trọng vàthực hiện nhằm đảm bảo sự sống còn, bảo vệ, phát triển và tham giacủa trẻ2

2 Có phải tất cả các quyền của trẻ em và ng ư ời lớn đ ều giống nhau ? Vàquyền của trẻ em gái và trẻ em trai có khác nhau không?

- Do TE và người lớn đều là những con người, đều là những công dân nênđều có những quyền cơ bản của một con người, một công dân như quyền sống,quyền được tôn trọng nhân phẩm Điều này được thể hiện rõ qua các thuật ngữ

sử dụng trong các văn kiện quốc tế về QCN và các văn bản pháp luật quốc gia

Ví dụ: Tất cả các văn kiện quốc tế về QCN đều bắt đầu bằng câu: " mọi ngườiđều có quyền " Mọi người ở đây chỉ các cá nhân bao gồm người lớn và TE.Hay trong văn bản pháp luật quốc gia, khi đề cập đến quyền và nghĩa vụ của các

cá nhân, thường sử dụng thuật ngữ "công dân" Thuật ngữ này chỉ tất cả nhữngngười có quốc tịch của quốc gia, không phân biệt người lớn, TE trai hay TE gái

- Tuy nhiên, do là chủ thể còn non nớt về thể chất và trí tuệ, TE cần phảiđược hưởng những quyền đặc biệt, cho dù là TE trai hay TE gái Như vậy, ngoàicác quyền như người lớn được ghi nhận trong các văn kiện pháp lý chung về QCN,

TE trai và TE gái còn được quy định những quyền riêng trong các văn kiện pháp lýriêng về quyền trẻ em mà cụ thể là trong CRC và các quy định về bảo vệ, chăm sóc

và giáo dục trẻ em trong pháp luật của các quốc gia

- Nhưng do hạn chế về năng lực hành vi, TE cũng có thể chưa đượchưởng thụ một số QCN, quyền công dân mà pháp luật quốc tế và quốc gia quyđịnh cho người lớn cho đến một độ tuổi nhất định (Chẳng hạn như quyền làm

2 Tài liệu tập huấn: "Quyền trẻ em" do Trung tâm Nghiên cứu Quyền con người thuộc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh và Unicef biên soạn năm 2003, tr 81

Trang 31

việc, quyền kết hôn, quyền được bầu cử, ứng cử ) Nhưng cần phải hiểu rằng,

sự giới hạn này xuất phát từ đặc trưng khách quan về thể chất và tinh thần củatrẻ, nhằm mục đích bảo đảm sự phát triển toàn diện của TE cũng như sự vậnđộng tốt đẹp của toàn xã hội, chứ không được xuất phát từ sự phân biệt đối xửtrên cơ sở độ tuổi

2.2.2 Các nhóm quyền của trẻ em

Ở phần này cần đặt ra câu hỏi sau:

1 Tại sao cần phân nhóm quyền của trẻ em?

2 Phân nhóm quyền của trẻ em có giống với phân nhóm quyền của conngười không?

 GỢI Ý NỘI DUNG BÀI GIẢNG:

1

Có những nhóm quyền trẻ em chủ yếu nào?

- TE cũng là con người, là thành viên của xã hội và là các công dân củanhà nước Vì vậy, QTE cũng là các QCN Do đó có thể phân nhóm quyền của

TE giống như phân nhóm quyền của con người Đó là các nhóm quyền dân sự,chính trị và nhóm quyền kinh tế, xã hội và văn hoá

- Tuy nhiên, CRC của LHQ năm 1989 muốn tạo điều kiện tốt hơn cho TEphát triển toàn diện và phù hợp với điều kiện vật chất và tinh thần của trẻ Vìvậy, Người ta đã chia các quyền được quy định trong Công ước theo bốn nhóm:nhóm quyền được sống, nhóm quyền được phát triển, nhóm quyền được bảo vệ,nhóm quyền được tham gia

- Còn Luật BVCS&GD năm 1991 (sửa đổi năm 2004) ngoài việc phânchia thành bốn nhóm quyền như Công ước trên mà còn bổ sung thêm nhóm bổnphận Bởi vì, các nhà làm luật cho rằng quyền và bổn phận của trẻ em là hai mặtcủa vấn đề bảo vệ, chăm sóc và giáo dục TE Và hơn nữa, quy định bổn phậnđối với TE là phù hợp với tinh thần nhân đạo và phù hợp với truyền thống vănhoá của Nhà nước ta Vì vậy, để phát triển vững chắc nhân cách của trẻ, TEkhông chỉ có quyền mà còn phải thực hiện bổn phận của mình đối với ông bà,cha mẹ

2 Nội dung chính của từng nhóm quyền của trẻ em

- Nhóm quyền được sống: Do TE là những cá thể còn non nớt về thể

chất lẫn trí tuệ, không thể tự nuôi sống được bản thân nên trong Công ước, kháiniệm "bảo đảm sự sống còn" của TE được mở rộng không chỉ bao gồm việc bảođảm không bị tước đoạt về tính mạng, mà còn bao gồm việc bảo đảm cho TEđược cung cấp chất dinh dưỡng và sự chăm sóc y tế ở mức độ cao nhất, đảm bảolàm sao cả TE gái và TE trai đều được hưởng một cách công bằng từ những lợi

Trang 32

việc ngăn ngừa những sự xâm hại về thể chất, tinh thần với TE mà còn bao gồm

cả việc ngăn ngừa và khắc phục những điều kiện bất lợi đối với cuộc sống của

TE Đặc biệt là bảo vệ TE trai và TE gái khỏi sự xâm hại tình dục, và giúp đỡcác em có thể tái hoà nhập cộng đồng sau khi bị xâm hại

- Nhóm quyền được phát triển: Công ước đưa ra một cách nhìn toàn

diện về sự phát triển của TE, không chỉ về thể chất mà còn về trí tuệ, tình cảm,đạo đức và xã hội

- Nhóm quyền được tham gia: Nhóm quyền này bao gồm tất cả các

quyền giúp TE có thể biểu đạt (dưới mọi hình thức) những ý kiến, quan điểmcủa bản thân về các vấn đề liên quan đến cuộc sống của TE Nhóm quyền nàykhuyến khích các em, cả TE trai và TE gái đóng góp ý kiến của mình đối vớinhững chương trình, kế hoạch liên quan đến cuộc sống của các em

3.Trong các nhóm quyền của trẻ em, nhóm quyền nào quan trọng nhất? Trong các nhóm quyền của TE, các nhóm quyền đều quan trọng nhưnhau, không thể tách biệt nhau hoàn toàn Vì cuộc sống của TE là một tiến trìnhliên tục chứ không phải là những sự kiện tách rời; chính vì vậy, tất cả các nhómquyền này có quan hệ gắn bó với nhau Hơn nữa, các mặt của đời sống TE được

đề cập đến trong từng nhóm quyền có liên quan chặt chẽ và ảnh hưởng lẫn nhau,mặt này ảnh hưởng đến mặt khác Nếu không thực hiện được mặt này sẽ khôngthực hiện được mặt khác

4 Mục đ ích của việc phân nhóm quyền là gì ?

Mục đích của việc phân nhóm quyền trong Công ước là tạo điều kiện cho

TE phát triển- sự phát triển được định nghĩa với phạm vi rộng, bao gồm việcphát triển về thể chất, tinh thần, trí tuệ, đạo đức và xã hội Điều này yêu cầu phải

có những quyền đặc biệt để đảm bảo các nhu cầu đặc biệt của TE Bằng cáchphân loại QTE thành các nhóm dựa vào các điều kiện tiên quyết cho sự pháttriển của trẻ, nó cho phép xác định thêm các quyền khác dựa trên các nhu cầu vàlợi ích cao nhất của trẻ

II PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN QTE VÀ MỘT SỐ MÔ HÌNH THỰC HIỆN QTE NHÌN TỪ GÓC ĐỘ GIỚI

1 Phương pháp tiếp cận quyền trẻ em nhìn từ góc độ giới

HOẠT ĐỘNG: (Xem Hoạt động 6 trong phần phụ lục)

 GỢI Ý NỘI DUNG BÀI GIẢNG

Tôn trọng, thừa nhận và bảo đảm thực hiện QTE là trách nhiệm và nghĩa

vụ của gia đình, cộng đồng và Nhà nước Ở Việt Nam, việc xây dựng cũng như

Trang 33

ban hành chính sách và pháp luật để bảo vệ TE đã được thực hiện tương đối tốt.Tuy nhiên, để bảo vệ TE tốt hơn nữa thì việc thực hiện những chính sách vàpháp luật đó vẫn còn nhiều vấn đề cần giải quyết

Trên thế giới đã xuất hiện nhiều phương pháp tiếp cận khi nghiên cứu,xây dựng chính sách và thúc đẩy việc thực hiện QTE, việc lựa chọn phươngpháp tiếp cận tối ưu nhất để bảo vệ tốt hơn nữa QTE, đặc biệt là quyền của TEgái cũng là một vấn đề đang được sự quan tâm của cộng đồng quốc tế

Có một số phương pháp được các quốc gia áp dụng để nhằm thực hiệnQTE: Tiếp cận giới và phát triển, tiếp cận dựa trên QCN, tiếp cận chính sách,tiếp cận đa ngành, tiếp cận phát triển cộng đồng…

Phương pháp tiếp cận dựa trên quyền và phương pháp tiếp cận giới vàphát triển là hai phương pháp đang được áp dụng ở nhiều quốc gia và mang lạinhiều lợi ích thiết thực mà các phương pháp tiếp cận khác không có được Haiphương pháp này có thể tác động sâu rộng từ phạm vi nhà nước đến mỗi hộ giađình, đến mỗi cá thể trong cộng đồng, đến cả nam giới và phụ nữ nhằm tìm raphương thức tốt nhất để thực hiện QTE

1.1 Phương pháp tiếp cận dựa trên quyền

1.1.1 Thế nào là phương pháp tiếp cận dựa trên quyền?

Phương pháp tiếp cận dựa trên quyền là phương pháp tương đối mới đốivới nhiều quốc gia Cho đến nay cũng chưa có một định nghĩa thống nhất vềphương pháp tiếp cận dựa trên quyền trên phạm vi quốc tế Dựa trên các tài liệunghiên cứu và quá trình phân tích, có thể đưa ra khái niệm như sau:

Phương pháp tiếp cận dựa trên quyền là áp dụng và thực hiện các

nguyên tắc và chuẩn mực quốc tế và quốc gia về QCN trong mọi chính

sách, chương trình, dự án nhằm hướng tới việc thúc đẩy và bảo vệQCN

- Các nguyên tắc QCN đó là: Bình đẳng- không phân biệt đối xử; bảo đảmtính thống nhất không thể phân chia giữa các quyền; nhà nước chịu trách nhiệmchính; các nhóm xã hội dễ bị tổn thương cần được quan tâm hơn; người dân vàcác tổ chức xã hội (NGOs) có quyền được tham gia

- Các chuẩn mực QCN: các quy định về quyền trong Hiến pháp, pháp luậtquốc gia và trong các công ước quốc tế về QCN

Để áp dụng được cách tiếp cận dựa trên quyền có hiệu quả đòi hỏi ViệtNam phải tăng cường giáo dục, nâng cao nhận thức về quyền trước khi cóđược nền văn hoá nhân quyền, trong đó mọi người ngày càng được nâng caonhận thức về QCN; xây dựng nhà nước pháp quyền dân chủ xã hội chủ nghĩa

và xây dựng được các cơ chế đảm bảo các QCN được thực thi Theo cách tiếp

Trang 34

1.1.2 Một vài đặc trưng và thế mạnh của phương pháp tiếp cận dựa trên quyền

Theo Văn phòng Cao ủy Nhân quyền của Liên hợp quốc thì cách tiếp cậndựa trên quyền có một số nét đặc trưng sau:

- Lấy con người làm trung tâm cho mọi hoạt động của Nhà nước, mụcđích là thực hiện và đảm bảo các QCN trong hoạch định chính sách và chươngtrình phát triển

- Xác định rõ quyền và nghĩa vụ đồng thời nâng cao năng lực của nhữngngười có quyền những người có nghĩa vụ để họ có thể đòi quyền hay thực hiệnđược các nghĩa vụ của mình

- Các QCN phải được ghi nhận trong pháp luật và đảm bảo thực hiệntrong thực tế

Phương pháp tiếp cận dựa trên quyền là phương pháp tiếp cận đúng đắn,

có cơ sở đạo đức và pháp luật, mặt khác cách tiếp cận này đem lại những kết quảphát triển con người tốt hơn và bền vững hơn vì:

Thứ nhất, nó đề cập đến những người dễ bị tổn thương, những người có

quyền nhưng quyền của họ có nguy cơ dễ bị vi phạm

Thứ hai, tiếp cận dựa trên quyền chính là nhằm bảo vệ một cách tốt nhất

các quyền của TE: quyền được sống, quyền được chăm sóc y tế, quyền giáo dục,quyền được phát biểu ý kiến , đồng thời nó cũng chỉ rõ trách nhiệm của cácquốc gia, của cộng đồng cũng như gia đình trong việc đảm bảo thực hiện nhữngquyền này của TE, đặc biệt là TE gái vì từ trước đến nay, TE gái thường là đốitượng dễ bị tổn thương “kép” do những yếu tố sinh học, văn hóa, xã hội, yếu tốkinh tế và nhiều yếu tố khác tạo ra, nên việc bảo đảm các quyền cho các em lạicàng cần thiết hơn

Trang 35

Thứ ba, cách tiếp cận dựa trên quyền tạo ra nhiều “những con mắt giám

sát”: cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị- xã hội, đoàn thể quần chúng, nhândân… theo từng lĩnh vực và tạo điều kiện ứng phó phù hợp nhất với các vấn đềphát triển của trẻ em, đặc biệt là trẻ em gái trên nhiều phương diện

Ý nghĩa của phương pháp tiếp cận dựa trên quyền đối với TE đó là nókhẳng định QTE là QCN, trong đó không phân biệt đối xử với TE, không phânbiệt đối xử giữa TE trai và TE gái là QCN cơ bản đồng thời cũng là yêu cầu pháttriển bền vững của mỗi quốc gia trong đó có Việt Nam

1.1.3 Vận dụng phương pháp tiếp cận dựa trên quyền để đảm bảo BĐG trong việc thực hiện QTE.

Như trên đã phân tích, phương pháp tiếp cận dựa trên quyền có nhiều ưuviệt

Áp dụng phương pháp tiếp cận dựa trên quyền ở cấp cộng đồng đảmbảo rằng QCN có ý nghĩa thực tiễn và được áp dụng đối với con người chứkhông chỉ là mục tiêu mà chính phủ và những người có nghĩa vụ phải phấnđấu Trong thực tế áp dụng phương pháp tiếp cận dựa trên quyền để đảm bảoBĐG trong việc thực hiện QTE gặp phải một số khó khăn và thách thức như:môi trường chính sách và pháp luật chưa hoàn thiện; khoảng cách giữa phápluật, chính sách và thực tiễn còn xa; quan niệm lạc hậu lâu đời về vị trí củanam giới –nữ giới cũng như TE trai, TE gái trong gia đình và xã hội vẫn tồntại

Vì vậy, các ĐBDC có thể vận dụng thế mạnh của phương pháp tiếp cậndựa trên quyền trong việc xây dựng và thực hiện các chính sách, kế hoạch vàpháp luật Đặc biệt,việc ban hành pháp luật cũng như giám sát việc hoạch định

và thực thi chính sách ở Trung ương và địa phương cần chú ý tới vận dụng cáctiêu chuẩn của Luật quốc tế về QCN, những điều ước quốc tế về QCN mà ViệtNam đã tham gia ký kết Trong đó, cần đặc biệt lưu ý tới Công ước về quyền trẻ

em (CRC), Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ(CEDAW) đã được nội luật hóa trong pháp luật Việt Nam nhằm thúc đẩy BĐG

và đảm bảo quyền của TE trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội

Vận dụng phương pháp tiếp cận dựa trên quyền trong bảo đảm BĐGnhằm thực hiện QTE đòi hỏi:

Thứ nhất, các chương trình, chính sách và pháp luật về QTE phải hướng

tới mục tiêu tôn trọng và bảo vệ TE

Thứ hai, các chương trình, chính sách và pháp luật về QTE phải ghi nhận

sự khác biệt về giới và giới tính giữa TE gái và TE trai bao gồm cả về mặt sinhhọc, văn hóa, kinh tế, xã hội

Trang 36

luật về TE.

Thứ tư, trong quá trình xây dựng, thực hiện, giám sát chương trình

chính sách về thực hiện QTE phải chú ý đến những nhóm TE dễ bị tổnthương như TE dân tộc thiểu số, TE khuyết tật, TE mồ côi không nơi nươngtựa

Thứ năm, xây dựng được nền y tế, giáo dục, văn hóa đảm bảo các tiêu

chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận (cả về mặt địa lý và nguyên tắc không phânbiệt đối xử), có thể chấp nhận được (phù hợp về văn hóa, giới tính và chi phí củacác em và gia đình ) và đảm bảo về chất lượng

1.2 Phương pháp tiếp cận giới và phát triển (Gender and GAD)

Development-1.2.1 Khái niệm phương pháp tiếp cận giới và phát triển

Khi nói đến phương pháp tiếp cận giới và phát triển người ta thường sửdụng các thuật ngữ như: lồng ghép giới, phân tích trên cơ sở giới…

Có thể hiểu tiếp cận giới và phát triển đơn giản như sau:

Phương pháp tiếp cận giới và phát triển có thể được hiểu là tổng

hợp của các biện pháp lồng ghép giới, phân tích giới, đưa yếu tố

giới vào mọi thiết chế và tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế,

văn hóa, xã hội nhằm đạt được mục tiêu BĐG

1.2.2 Một vài đặc trưng và thế mạnh của phương pháp tiếp cận giới và phát triển

Trước đây, người ta thường đề cập đến phương pháp tiếp cận Phụ nữtrong phát triển (WID) Phương pháp này chú trọng hơn tới việc tăng số lượng

nữ và thu hút sự tham gia của họ trong các lĩnh vực hoạt động, đặc biệt là lĩnhvực chính trị Tuy nhiên, phương pháp này tập trung vào việc làm thế nào đểphụ nữ có thể tham gia tốt hơn vào các sáng kiến phát triển hiện có, chủ yếuthúc đẩy sự tham gia của phụ nữ với tư cách là người thụ hưởng chứ chưa phải

là người làm chủ Nó chủ yếu tập trung vào phụ nữ, còn những vấn đề kinh tế,chính trị, văn hóa lại được xem xét một cách độc lập và tách biệt Nhưng cácyếu tố kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội lại có sự tác động rất lớn đến phụ nữ vànam giới ở nhiều góc độ rất khác nhau,Vì vậy, phương pháp tiếp cận giới vàphát triển (GAD) đã mang đến một cách nhìn toàn diện hơn trong quá trình thựchiện mục tiêu BĐG Nó thừa nhận:

Trang 37

Thứ nhất, giới không phải là vấn đề của phụ nữ mà là vấn đề về mối quan

hệ

Thứ hai, phụ nữ và nam giới có nhu cầu khác nhau và mang đặc thù của

giới

Thứ ba, phụ nữ thường yếu thế hơn so với nam giới, những khác biệt về

giới cũng có thể làm nam giới bị yếu thế

Phương pháp này đòi hỏi sự thay đổi trong tư duy và cách thức hành động

để giải quyết triệt để những nguyên nhân của tình trạng bất BĐG trong toàn xãhội, nói cách khác chính là đạt đến “bình đẳng thực chất” của cả nam giới vàphụ nữ

Cũng như vậy, có thể hiểu BĐG trong đảm bảo QTE không chỉ có nghĩa

là số lượng của TE trai và TE gái tham gia trong tất cả các hoạt động là nhưnhau, mà là TE trai và TE gái có vị trí như nhau, được tạo điều kiện và có cơ hộinhư nhau để phát huy khả năng của mình; BĐG đối với TE trai và TE gái không

có nghĩa là giống nhau hoàn toàn mà sự tương đồng và khác biệt giữa TE trai và

TE gái phải được thừa nhận và có giá trị như nhau Các quyền đó phải được ghinhận trong pháp luật và được bảo đảm thực hiện trong thực tế thông qua các cơquan nhà nước, các tổ chức xã hội cũng như nhà trường, gia đình

Ý nghĩa của phương pháp tiếp cận giới và phát triển đối với TE là bảođảm và thực hiện quyền bình đẳng giữa TE trai và TE gái về cơ hội và điều kiệntrong cuộc sống, học tập, vui chơi… TE hay gái đều được pháp luật bảo vệ nhưnhau và đó là cơ sở để thực hiện BĐG giữa nam và nữ

Vì vậy, để đảm bảo bình đẳng trong việc thực hiện các quyền của trẻ, áp dụngphương pháp tiếp cận giới và phát triển là việc làm hợp lý và cần thiết

Vận dụng phương pháp tiếp cận giới và phát triển để đảm bảo bình đẳng giới trong việc thực hiện quyền trẻ em

Áp dụng phương pháp này đòi hỏi các đại biểu dân cử cần quan tâmnhững vấn đề sau:

Thứ nhất, vận dụng phương pháp tiếp cận giới và phát triển trong việc

bảo đảm QTE cần tiếp cận QTE dưới góc độ giới trong toàn bộ quá trình xâydựng các văn bản luật Chẳng hạn, khi đề cập đến Luật nuôi con nuôi, thì cácđiều luật cần tính đến BĐG để đảm bảo rằng không có sự phân biệt đối xử giữa

TE trai và TE gái, không có sự khác biệt về tác động của các điều luật tới TE trai

và TE gái Một số vấn đề cần được quy định nhằm bảo đảm BĐG như nghiêmcấm việc nuôi con nuôi xuất phát từ định kiến giới, dẫn đến sự phân biệt đối xửgiữa TE trai và TE gái Vì định kiến giới sẽ ảnh hưởng đến cơ hội được nhậnlàm con nuôi của TE, trong đó có TE gái Vì vậy, việc lựa chọn giới tính có chủ

Trang 38

trong luật.

Thứ hai, sử dụng phương pháp phân tích giới, LGG…trong mọi lĩnh vực

liên quan đến TE

Thứ ba, đảm bảo nguyên tắc BĐG được thực hiện đối với TE trong mọi

lĩnh vực của đời sống xã hội

Tiếp cận giới và phát triển và cách tiếp cận dựa trên quyền đối với sự

phát triển có những điểm chung: thứ nhất, cả hai đều đòi hỏi có sự quan tâm quyền của những nhóm người cụ thể; thứ hai, cả hai đều áp dụng cho mọi giai

đoạn của hoạt động (xây dựng, thực hiện, giám sát và đánh giá) và áp dụng chomọi loại hoạt động (lập pháp, ban hành các chính sách và chương trình)

Cách tiếp cận dựa trên quyền và cách tiếp cận giới và phát triển có sự tácđộng qua lại, tăng cường, bổ sung cho nhau Tiếp cận giới và phát triển đòi hỏilồng ghép khía cạnh giới vào các hoạt động phát triển, với mục tiêu tối cao là đạtđược bình đẳng giới Cách tiếp cận dựa trên quyền đã lồng ghép các tiêu chuẩn

và nguyên tắc quốc tế về QCN vào các hoạt động phát triển, bao gồm các QCNcủa phụ nữ và nghiêm cấm việc phân biệt đối xử vì giới Chính vì thế, sự kếthợp hai phương pháp tiếp cận này trong việc hoạch định và thực thi chính sách,xây dựng và thực hiện pháp luật nhằm đảm bảo QTE và đạt tới mục tiêu BĐG làmột cách thức cần thiết

2 Một số mô hình thực hiện quyền trẻ em nhìn từ góc độ giới

2.1 Mô hình “Trường học thân thiện”

Trong lịch sử, ở Việt Nam đã xuất hiện nhiều trường học dành riêng chonam sinh hoặc nữ sinh, dù vô tình hay hữu ý đối với việc phân biệt giới thì môhình này đến nay đã lạc hậu, vì để trẻ phát triển toàn diện, hòa nhập với xã hội

và cộng đồng thì TE trai cũng như TE gái phải bình đẳng về cơ hội đến trường,cùng có điều kiện sinh hoạt và học tập như nhau

Mô hình “Trường học thân thiện” đã được xây dựng từ năm 1995, đến

năm 2008 mô hình này đã được phát động xây dựng trong cả nước

Trường học thân thiện thường có một số đặc trưng sau:

- Trường học tiếp nhận tất cả TE trong độ tuổi, nhất là cấp Tiểu học, cấpTrung học cơ sở ( là các cấp học phổ cập giáo dục) đến trường; điều đó có nghĩa

là tất cả TE đến tuổi đi học đều được đến trường, dù là trai hay gái

- Nhà trường tạo điều kiện để thực hiện bình đẳng về quyền học tập cho

TE không có bất kỳ sự phân biệt nào về tình trạng kinh tế gia đình, giới tính, dântộc, tôn giáo, văn hoá, ngôn ngữ, vùng miền, phong tục tập quán , cả TE khuyết

Trang 39

tật có ý chí và khả năng học tập cũng được đến trường Không phân biệt đối xử

sẽ làm trẻ tự tin hơn để có thể đến trường học tập

- Nhà trường giúp đỡ các em học sinh chưa ngoan, giúp đỡ các em có họclực yếu kém; giảm tình trạng lưu ban, bỏ học, vận động những học sinh đã bỏhọc lại đến trường, cùng với Ban đại diện cha mẹ học sinh giúp đỡ những em cóhoàn cảnh gia đình khó khăn Nhiều trẻ em gái phải bỏ học để giúp đỡ cha mẹlàm việc nhà, đi làm thêm…sẽ rất cần sự giúp đỡ của nhà trường để được đếnlớp

- Trường học thân thiện không có bạo lực với trẻ

- Trường học thân thiện tạo cơ hội cho trẻ có khả năng hoạt động độc lập,

tự tin

Với những đặc điểm nêu trên, trường học thân thiện được xây dựng trên

cơ sở hướng tới việc đảm bảo các QTE: quyền được giáo dục, quyền bình đẳnggiữa TE trai và TE gái trong các cơ hội học tập, quyền được an toàn về thân thể,quyền tiếp cận thông tin của trẻ… Phát triển mô hình này sẽ là việc làm thiếtthực để đảm bảo BĐG trong việc thực hiện QTE

2.2 Mô hình “Bệnh viện bạn hữu trẻ em”

“Bệnh viện bạn hữu trẻ em” là danh hiệu phong tặng cho các bệnh viện

làm tốt các chương trình về chăm sóc, bảo vệ TE Hiện nay, đã có nhiều bệnhviện ở các tỉnh được phong tặng danh hiệu này

Bệnh viện bạn hữu TE yêu cầu:

- Thực hiện tốt việc chăm sóc trẻ thông qua sử dụng các biện pháp khácnhau về chuyên môn, chẳng hạn: phương pháp da kề da (Kangaroo) trẻ được mẹ

ủ ấm và cho bú ngay sau khi sinh; TE được tiêm chủng vaccin viêm gan B vàvitamin K sau khi sinh để phòng tránh các bệnh về gan và máu Những biệnpháp chăm sóc đó được áp dụng với mọi trẻ em được sinh ra, bất kể chúng làtrai hay gái, trẻ bị cha mẹ bỏ rơi…

- Cán bộ y tế của các bệnh viện bạn hữu được đào tạo những nội dung về

sự cần thiết nuôi con bằng sữa mẹ và chăm sóc trẻ em sau khi sinh Bệnh nhân làphụ nữ có thai đến bệnh viện được cung cấp đầy đủ thông tin về lợi ích của sữamẹ…

Mô hình này đòi hỏi:

Thứ nhất, bệnh viện phải được trang bị đầy đủ trang thiết bị cần thiết đủ

để chăm sóc sức khỏe cho trẻ ngay từ giai đoạn mang thai của người mẹ, đếngiai đoạn sơ sinh và các giai đoạn sau Việc siêu âm cho người mẹ mang thai làrất cần thiết để có thể theo dõi được sự phát triển của trẻ, tuy nhiên siêu âm đểlựa chọn giới tính cần được cấm tuyệt đối trong các bệnh viện này

Trang 40

Thứ ba, đội ngũ nhân viên trong bệnh viện cần được trang bị kiến thức về

giới, nhằm đảm bảo không có tình trạng phân biệt đối xử về giới diễn ra khi cácbác sỹ, y tá thực hiện nhiệm vụ chuyên môn của mình Những đặc điểm củabệnh viện này luôn đề cập tới việc làm thế nào để chăm sóc tốt nhất cho bà mẹ

và trẻ em, không phân biệt chúng là trai hay gái Chính vì vậy, việc nhân rộng

mô hình này sẽ góp phần đảm bảo quyền của trẻ em không bị phân biệt đối xử

về giới cũng như quyền của các bà mẹ được chăm sóc sức khỏe trong lúc mangthai và sinh con

2.3 Mô hình “Cộng đồng thân thiện với trẻ em”

Để có thể đưa chính sách, pháp luật đúng đắn của Đảng và Nhà nước đếnvới mỗi người dân có hiệu quả thì cộng đồng chính là cầu nối quan trọng nhất.Trên cơ sở đó, tôn trọng và thực hiện quyền trẻ em đã được ghi nhận trong phápluật Việt Nam cần phải có sự phối hợp đa ngành của các cấp chính quyền và củacộng đồng xã hội Hiện nay, có một số mô hình cộng đồng thân thiện với TExuất hiện nhằm đảm bảo tốt hơn các QTE trên toàn quốc Đó là mô hình tỉnhbạn hữu, phường thân thiện hay những phòng điều tra thân thiện… ngày càngtrở nên quen thuộc

Mô hình tỉnh bạn hữu TE:

Theo nguồn tin của UNICEF, hiện nay “sự khác biệt giữa 12 tỉnh giàunhất và 12 tỉnh nghèo nhất thường rất rõ rệt Ví dụ, tỷ lệ nghèo ở những tỉnhgiàu nhất vào khoảng 9%, trong khi tỷ lệ này ở những tỉnh nghèo nhất lên tới16% Tại những tỉnh giàu nhất, tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh là 10 trường hợp trên

1000 ca sinh sống, trong khi tỷ lệ này ở những tỉnh nghèo nhất cao gấp sáulần” Đó là lý do, UNICEF đã xây dựng mô hình tỉnh bạn hữu và áp dụngtương đối hiệu quả trong những năm qua UNICEF đã cùng với các tỉnh thựchiện Mô hình Tỉnh bạn hữu TE nhằm đảm bảo các chính sách, kế hoạch vàngân sách của các cấp tỉnh, huyện, xã được xây dựng hợp lý, rõ ràng, hiệu quảvới sự tham gia của nhân dân, đồng thời hỗ trợ những đối tượng “dễ bị tổnthương”, trong đó có TE…Mô hình hỗ trợ thiết lập các dịch vụ tổng hợp về sứckhỏe và dinh dưỡng, giáo dục, nước sạch và vệ sinh môi trường, bảo vệ vàphòng ngừa thương tích ở TE nhằm giúp các tình này thực hiện tốt hơn cácQTE

Mô hình Phường thân thiện thực hiện mục tiêu cho TE cơ hội học hỏi và

nói lên tiếng nói của chính mình để người lớn có thể hiểu các em hơn Các câu

Ngày đăng: 26/11/2021, 11:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w