1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Số hoá thiết bị dạy học môn công nghệ phổ thông

109 53 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 2,5 MB
File đính kèm So hoa Thiet bi day hoc Cong nghe.rar (2 MB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chúng ta đang sống thích ứng an toàn với “trạng thái bình thường mới” khi đại dịch COVID19 diễn ra. Hai năm vừa qua, đầy biến động với đại dịch COVID19, đại dịch truyền nhiễm đang diễn ra trên phạm vi toàn cầu. Trên Thế giới và cả Việt Nam, Chính phủ đã tiến hành cách li xã hội, huỷ bỏ các sự kiện nơi đông người, đóng cửa trường học và những cơ sở dịch vụ, kinh doanh ít quan trọng để phong toả kiểm soát dịch bệnh lây lan. Đồng thời chuyển đổi mô hình hoạt động kinh doanh, học tập, làm việc sang trực tuyến. Các trường học đã phải đóng cửa trên toàn quốc hoặc một số vùng trên 160 quốc gia, ảnh hưởng đến học sinh và sinh viên. Nước ta có lệnh phong toả, đóng cửa trường học một số tỉnh thành Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Hải Dương,… Bộ Giáo dục và Đào tạo có quan điểm “Dù phải tạm dừng đến trường nhưng không tạm dừng việc học”, hầu hết các sở Giáo dục và Đào tạo các tỉnh trong cả nước đã triển khai dạy học trực tuyến, dạy học qua truyền hình chủ động ứng phó với đại dịch dẫn khi kéo dài thời gian nghỉ học. Muốn nâng cao hiệu quả, các thành tố liên quan trong đó phương tiện, thiết bị dạy và học là một thành tố quan trọng. Luật giáo dục 2019 điều 7 nêu rõ:“Phương pháp giáo dục phải khoa học, phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự học và hợp tác, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên”. Thiết bị dạy học có ý nghĩa và vai trò rất to lớn trong việc dạy và học. Trong việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh phương tiện, thiết bị dạy học lại càng quan trọng hơn. Chính chúng vừa là công cụ để giáo viên tổ chức hoạt động nhận thức tích cực của học sinh, vừa là cơ sở để học sinh hoạt động sáng tạo tự mình tìm và lĩnh hội kiến thức. Có được các phương tiện thích hợp, người giáo viên sẽ phát huy hết năng lực sáng tạo của mình trong công tác giảng dạy, làm cho hoạt động nhận thức của học sinh trở nên tích cực hơn, hiệu quả hơn. Ngôn ngữ dạy học của giáo viên nhiều khi không thể diễn tả hết ý tưởng khoa học cốt lõi của một định luật vật lý, của một phản ứng hóa học, của một bài học lịch sử...,TBDH là công cụ hỗ trợ đắc lực giúp người thầy truyền thụ kiến thức cho học sinh đạt hiệu quả cao nhất, phát huy được tính tích cực của học, một yêu cầu bắt buộc của đổi mới phương pháp dạy học; tạo cho giáo viên thói quen sử dụng thiết bị dạy học, xem việc sử dụng TBDH trong tiết học là một yêu cầu không thể thiếu. Đa số các trường THCS chưa có giáo viên chuyên trách thiết bị, cán bộ phụ trách là giáo viên kiêm nghiệm. Cũng khó khăn về cơ sở vật chất, phòng học thực hành, phòng học bộ môn chưa được trang bị đầy đủ. Các thiết bị sắp xếp còn khó tìm khi cần sử dụng. Nhiều thiết bị khi được cấp về trường còn chưa được sử dụng. Việc số hoá thiết bị sẽ giúp cho GV và HS có thể khai thác, sử dụng thuận lợi cho quá trình dạy và học; cán bộ quản lý thiết bị dễ quản lí thiết bị. Hiện nay nhu cầu số hoá các lĩnh vực đều tăng, có nhiều dịch vụ đang tiến hành số hoá, nhưng số hoá về thiết bị giáo dục còn khiêm tốn nhất là số hoá thiết bị môn công nghệ 8 ở THCS theo hướng trực quan trong dạy học thì chưa có công trình nào. Chính vì những lý do trên, tác giả chọn đề tài nghiên cứu: “Số hoá thiết bị dạy học tối thiểu môn Công nghệ lớp 8 THCS theo hướng trực quan trong dạy học” nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Công nghệ ở trường THCS Cổ Nhuế 2.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

-    -

TRIỆU THỊ TUYẾT

SỐ HOÁ THIẾT BỊ DẠY HỌC TỐI THIỂU MÔN CÔNG NGHỆ 8 THCS THEO HƯỚNG TRỰC

QUAN TRONG DẠY HỌC

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

HÀ NỘI - 2021

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

-    -

TRIỆU THỊ TUYẾT

SỐ HOÁ THIẾT BỊ DẠY HỌC TỐI THIỂU MÔN CÔNG NGHỆ 8 THCS THEO HƯỚNG TRỰC

QUAN TRONG DẠY HỌC

Chuyên ngành: Lý luận và PPDH bộ môn KTCN

Mã số: 8140111

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN CẨM THANH

HÀ NỘI - 2021

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu khoa học này là kết quả nghiên cứu của cá nhân tôi Các số liệu và tài liệu trích dẫn trong công trình này là trung thực Kết quả nghiên cứu này không trùng với bất kỳ công trình nào đã được công bố trước đó Tôi chịu trách nhiệm với lời cam đoan của mình

Hà Nội, ngày tháng 10 năm 2021

Tác giả

Triệu Thị Tuyết

Trang 4

LỜI CẢM ƠN Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo TS Nguyễn Cẩm Thanh – người đã hướng dẫn tận tình, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện và hoàn thiện đề tài này

Tác giả xin trân thành cảm ơn các Thầy/ Cô trong Ban Giám hiệu, Phòng Sau đại học, Trung tâm thư viện, Khoa Sư phạm kỹ thuật – Trường Đại học

Sư phạm Hà Nội, trường THCS Cổ Nhuế 2 và các nhà khoa học đã quan tâm, giúp đỡ, tạo điều kiện cho tác giả hoàn thành đề tài này

Do thời gian nghiên cứu còn hạn nên đề tài của tác giả còn hạn chế và thiếu sót Tác giả rất mong nhận được sự góp ý của các Quý Thầy Cô, và các bạn để đề tài được hoàn chỉnh hơn

Tác giả xin chân thành cảm ơn toàn thể gia đình, bạn bè, đồng nghiệp

đã quan tâm, giúp đỡ, động viên!

Hà Nội, ngày tháng 10 năm 2021

Tác giả

Triệu Thị Tuyết

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1

2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 2

3 KHÁCH THỂ, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3

4 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC 3

5 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 3

6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4

7 CẤU TRÚC LUẬN VĂN 4

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ SỐ HOÁ THIẾT BỊ DẠY HỌC THEO HƯỚNG TRỰC QUAN TRONG DẠY HỌC 5

1.1 SƠ LƯỢC LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 5

1.1.1 Những nghiên cứu ở ngoài nước 5

1.1.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam 6

1.2 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN 12

1.2.1 Số hoá thiết bị dạy học 12

1.2.2 Phương tiện trực quan trong dạy học Công nghệ 14

1.3 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ SỐ HOÁ THIẾT BỊ DẠY HỌC 18

1.3.1 Cơ sở chung về số hóa thiết bị dạy học 18

1.3.2 Ưu và nhược điểm của số hoá thiết bị dạy học 22

1.3.3 Tiến trình số hóa thiết bị dạy học 23

1.3.4 Quản lý và sử dụng thiết bị số hóa trong dạy học theo hướng trực quan 25

1.4 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG THIẾT BỊ DẠY HỌC Ở TRƯỜNG THCS CỔ NHUẾ 2, QUẬN BẮC TỪ LIÊM, HÀ NỘI 28

1.4.1 Khảo sát thực trạng về quản lý và sử dụng thiết bị dạy học dưới góc độ số hóa thiết bị dạy học 28

1.4.2 Phân tích, đánh giá kết quả khảo sát thực trạng 29

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 34

Trang 6

Chương 2 SỐ HÓA VÀ SỬ DỤNG THIẾT BỊ SỐ HÓA TRONG

DẠY HỌC MÔN CÔNG NGHỆ 8 TRUNG HỌC CƠ SỞ 35

2.1 MỤC TIÊU DẠY HỌC VÀ DANH MỤC THIẾT BỊ DẠY HỌC TỐI THIỂU MÔN CÔNG NGHỆ 8 THCS 35

2.1.1 Mục tiêu 35

2.1.2 Phân tích khả năng số hóa các thiết bị dạy học môn công nghệ 8 37

2.2 SỐ HOÁ MỘT SỐ THIẾT BỊ DẠY HỌC MÔN CÔNG NGHỆ 8 39

2.2.1 Phân loại và mã hóa thiết bị dạy học môn Công nghệ 8 39

2.2.2 Số hóa thiết bị tranh giáo khoa môn công nghệ 8 41

2.2.3 Số hóa thiết bị mô hình môn công nghệ 8 49

2.3 HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG THIẾT BỊ SỐ HÓA MÔN CÔNG NGHỆ 8 54

2.3.1 Nguyên tắc sử dụng 54

2.3.2 Các bước sử dụng 56

2.3.3 Ví dụ minh họa việc sử dụng thiết bị số hóa 57

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 79

Chương 3 KIỂM NGHIỆM VÀ ĐÁNH GIÁ 80

3.1 MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ CỦA KIỂM NGHIỆM ĐÁNH GIÁ 80

3.1.1 Mục đích của kiểm nghiệm đánh giá 80

3.1.2 Nhiệm vụ của kiểm nghiệm đánh giá 80

3.2 PHƯƠNG PHÁP CỦA KIỂM NGHIỆM ĐÁNH GIÁ 80

3.3 NỘI DUNG VÀ TIẾN TRÌNH KIỂM NGHIỆM – ĐÁNH GIÁ 81

3.3.1 Đối tượng kiểm nghiệm 81

3.4 PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ KIỂM NGHIỆM 82

3.4.1 Phân tích và đánh giá kết quả định tính 82

3.4.2 Phân tích và đánh giá kết quả định lượng 82

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 86

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 87

TÀI LIỆU THAM KHẢO 89 PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Trang Bảng 1.1 Kết quả điều tra thực trạng sử dụng TBDH số hoá môn Công

nghệ 8 32 Bảng 2.1 Yêu cầu cần đạt môn Công nghệ lớp 8: Công nghiệp 36Bảng 2.2 Danh mục TBDH tối thiểu môn Công nghệ 8 năm học 2020 – 2021 40Bảng 2.3 Mã hồ sơ số hoá tranh giáo khoa môn Công nghệ 8 42Bảng 2.4 Mã hồ sơ số hoá mô hình môn công nghệ 8 52 Bảng 3.1 Thống kê trình độ và thâm niên công tác các chuyên gia 82Bảng 3.2 Thống kê chức vụ, đơn vị công tác của các chuyên gia tham

gia phỏng vấn 83Bảng 3.3 Thống kê đánh giá việc sử dụng TBDH tối thiểu được số hoá

môn Công nghệ 8 84

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Trang

Hình 1.1 Cơ sở khoa học của PPDHTQ 22

Hình 2.1 Quá trình scan tranh giáo khoa khổ (790*540) mm bằng máy scan 43 Hình 2.2 Quá trình scan tranh lấy ở sách giáo khoa có khổ (170*240) mm bằng máy photocopy 44

Hình 2.3 Chỉnh sửa file ảnh đã được số hoá bằng phần mềm Photoshop 45

Hình 2.4 Hồ sơ số: SHCN8.1014 – Sản xuất và truyển tải điện năng 46

Hình 2.5 Hồ sơ số: SHCN8.1016 – Mạng điện trong nhà 47

Hình 2.6 Hồ sơ số: SHCN8.1012 – Bản vẽ nhà một tầng 48

Hình 2.7 Mô hình truyền và biến đổi chuyển động 53

Hình 2.8 Trạng thái công tắc mở 53

Hình 2.9 Trạng thái công tắc đóng 53

Trang 10

PHẦN MỞ ĐẦU

1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Chúng ta đang sống thích ứng an toàn với “trạng thái bình thường mới” khi đại dịch COVID-19 diễn ra Hai năm vừa qua, đầy biến động với đại dịch COVID-19, đại dịch truyền nhiễm đang diễn ra trên phạm vi toàn cầu Trên Thế giới và cả Việt Nam, Chính phủ đã tiến hành cách li xã hội, huỷ bỏ các sự kiện nơi đông người, đóng cửa trường học và những cơ sở dịch vụ, kinh doanh ít quan trọng để phong toả kiểm soát dịch bệnh lây lan Đồng thời chuyển đổi mô hình hoạt động kinh doanh, học tập, làm việc sang trực tuyến Các trường học đã phải đóng cửa trên toàn quốc hoặc một số vùng trên 160 quốc gia, ảnh hưởng đến học sinh và sinh viên Nước ta có lệnh phong toả, đóng cửa trường học một số tỉnh thành Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Hải Dương,… Bộ Giáo dục và Đào tạo có quan điểm “Dù phải tạm dừng đến trường nhưng không tạm dừng việc học”, hầu hết các sở Giáo dục và Đào tạo các tỉnh trong cả nước đã triển khai dạy học trực tuyến, dạy học qua truyền hình chủ động ứng phó với đại dịch dẫn khi kéo dài thời gian nghỉ học Muốn nâng cao hiệu quả, các thành tố liên quan trong đó phương tiện, thiết bị dạy

và học là một thành tố quan trọng

Luật giáo dục 2019 - điều 7 nêu rõ:“Phương pháp giáo dục phải khoa học, phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự học và hợp tác, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên”

Thiết bị dạy học có ý nghĩa và vai trò rất to lớn trong việc dạy và học Trong việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh phương tiện, thiết bị dạy học lại càng quan trọng hơn Chính chúng vừa là công cụ để giáo viên tổ chức hoạt động nhận thức tích cực của học sinh, vừa là cơ sở để học sinh hoạt động sáng tạo tự mình tìm

Trang 11

và lĩnh hội kiến thức Có được các phương tiện thích hợp, người giáo viên sẽ phát huy hết năng lực sáng tạo của mình trong công tác giảng dạy, làm cho hoạt động nhận thức của học sinh trở nên tích cực hơn, hiệu quả hơn

Ngôn ngữ dạy học của giáo viên nhiều khi không thể diễn tả hết ý tưởng khoa học cốt lõi của một định luật vật lý, của một phản ứng hóa học, của một bài học lịch sử ,TBDH là công cụ hỗ trợ đắc lực giúp người thầy truyền thụ kiến thức cho học sinh đạt hiệu quả cao nhất, phát huy được tính tích cực của học, một yêu cầu bắt buộc của đổi mới phương pháp dạy học; tạo cho giáo viên thói quen sử dụng thiết bị dạy học, xem việc sử dụng TBDH trong tiết học là một yêu cầu không thể thiếu

Đa số các trường THCS chưa có giáo viên chuyên trách thiết bị, cán bộ phụ trách là giáo viên kiêm nghiệm Cũng khó khăn về cơ sở vật chất, phòng học thực hành, phòng học bộ môn chưa được trang bị đầy đủ Các thiết bị sắp xếp còn khó tìm khi cần sử dụng Nhiều thiết bị khi được cấp về trường còn chưa được sử dụng Việc số hoá thiết bị sẽ giúp cho GV và HS có thể khai thác, sử dụng thuận lợi cho quá trình dạy và học; cán bộ quản lý thiết bị dễ quản lí thiết bị Hiện nay nhu cầu số hoá các lĩnh vực đều tăng, có nhiều dịch

vụ đang tiến hành số hoá, nhưng số hoá về thiết bị giáo dục còn khiêm tốn nhất là số hoá thiết bị môn công nghệ 8 ở THCS theo hướng trực quan trong dạy học thì chưa có công trình nào

Chính vì những lý do trên, tác giả chọn đề tài nghiên cứu: “Số hoá thiết

bị dạy học tối thiểu môn Công nghệ lớp 8 THCS theo hướng trực quan trong dạy học” nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Công nghệ ở trường THCS Cổ Nhuế 2

2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu để xác lập cơ sở lí luận, thực tiễn của việc số hóa thiết bị dạy học môn Công nghệ 8 THCS, số hoá một số TBDH tối thiểu môn Công nghệ 8 theo hướng trực quan trong dạy học, nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Công nghệ ở trường THCS của GV và kết quả học tập của HS

Trang 12

3 KHÁCH THỂ, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

3.1 Khách thể nghiên cứu

Thiết bị dạy học tối thiểu môn Công nghệ 8 theo chương trình giáo dục hiện hành, sử dụng thiết bị dạy học tối thiểu môn Công nghệ 8 THCS

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Tính trực quan của thiết bị dạy học số hóa trong dạy học môn công nghệ

8, số hóa thiết bị dạy học công nghệ 8 và sử dụng thiết bị dạy học số hóa trong môn Công nghệ 8 THCS

4 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC

Nếu số hoá TBDH tối thiểu môn Công nghệ 8 THCS theo hướng trực quan trong dạy học đảm bảo tính sư phạm, khả thi thì sẽ nâng cao hiệu quả sử dụng thiết bị dạy học, do đó góp phần nâng cao hứng thú và kết quả học tập cho học sinh học môn Công nghệ 8 ở trường THCS

5 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

Để đạt được mục đích nghiên cứu, đề tài đặt ra một số nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể như sau:

- Nghiên cứu cơ sở lí luận về số hoá TBDH theo hướng trực quan trong dạy học

- Khảo sát thực trạng dạy học môn Công nghệ 8 dưới góc độ sử dụng TBDH số hóa ở trường THCS Cổ Nhuế 2, Quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội

- Đề xuất quy trình số hoá TBDH và số hóa một số thiết bị dạy học môn Công nghệ 8

Trang 13

- Kiểm nghiệm và đánh giá để khẳng định tính đúng đắn của giả thuyết khoa học cũng như đánh giá tính khả thi và hiệu quả của đề xuất nghiê cứu

6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

6.1 Nhóm các phương pháp nghiên cứu lí luận

Sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu lí thuyết như: phân tích, tổng hợp, phân loại và hệ thống hóa để xác lập cơ sở lí luận cho đề tài, đề xuất quy trình số hoá TBDH theo hướng trực quan trong dạy học

6.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu thực tiễn như: điều tra, quan sát, chuyên gia để xác định cơ sở thực tiễn ở chương 1 và tiến hành tổ chức kiểm nghiệm, đánh giá đề xuất nghiên cứu ở chương 3 của đề tài

6.3 Phương pháp thống kê xử lí số liệu thực nghiệm

Sử dụng phần mềm Excel để xử lí số liệu khoa học trong khảo sát thực trạng, kiểm nghiệm và đánh giá đề xuất nghiên cứu

7 CẤU TRÚC LUẬN VĂN

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, cấu trúc nội dung chính của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về số hoá thiết bị dạy học theo hướng trực quan trong dạy học

Chương 2: Số hoá và sử dụng thiết bị số hoá trong dạy học môn Công nghệ 8 THCS

Chương 3: Kiểm nghiệm và đánh giá

Trang 14

Chương 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ SỐ HOÁ THIẾT BỊ DẠY HỌC THEO HƯỚNG TRỰC QUAN TRONG DẠY HỌC 1.1 SƠ LƯỢC LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ

1.1.1 Những nghiên cứu ở ngoài nước

Trên thế giới nhiều quốc gia đã và đang triển khai các chiến lược quốc gia về chuyển đổi số như tại Anh, Úc, Đan Mạch, Estonia…Nội dung chuyển đổi số rất rộng và đa dạng nhưng có chung một số nội dung chính gồm chính phủ số (như dịch vụ công trực tuyến, dữ liệu mở), kinh tế số (như tài chính số, thương mại điện tử), xã hội số (như giáo dục, y tế, văn hóa) và chuyển đổi số trong các ngành trọng điểm (như nông nghiệp, du lịch, điện lực, giao thông)

Số hóa thiết bị dạy học trên thế giới thực hiện từ những thập niên 90 thuộc thế kỉ trước, thể hiện ở các dạng tranh ảnh số, bản đồ số, mô hình,

mô phỏng, phần mềm dạy học (elearning), Số hóa thiết bị dạy học theo từng ngành hẹp của mỗi môn học, ngành học, nhất là ngành kĩ thuật được phát triển mạnh mẽ Điển hình là phát triển về mô hình, mô phỏng trong dạy học kĩ thuật

Trên thế giới hiện nay những thành tựu nghiên cứu và áp dụng mô phỏng trong dạy học rất phổ biến, các mô phỏng số, thí nghiệm thực tại ảo được áp dụng trong nhiều lĩnh vực kĩ thuật Trong dạy học phát triển mô hình

sư phạm tương tác ảo sẽ cho phép họ tận dụng khai thác, khả năng của công nghệ, triển khai các hoạt động dạy học theo hướng người học tự kiến tạo kiến thức, hình thành kĩ năng, cũng được các tác giả B Harper và R Thomas - E Hooper đề cập đến trong các công trình nghiên cứu của mình [43,45]

Các phần mềm hỗ trợ thiết kế các chi tiết hệ thống cơ khí như Inventer, SolidWorks, Catia, MasterCam Với các phần mềm này, người sử dụng chỉ cần thiết kế, lựa chọn các chi tiết, xác định kiểu ghép nối, liên kết chúng lại, việc còn lại hoàn toàn do chương trình xử lí, tính toán và cho ra kết quả phù

Trang 15

hợp với thực tế Đây cũng chính là hệ thống chi tiết, nối ghép mang tính mô phỏng [46]

Tuy nhiên, số hóa mang tính hệ thống thiết bị dạy học cho môn học, lớp học đầy đủ theo SGK, chương trình môn học ở trường phổ thông thì chưa được thực hiện, nghiên cứu, tạo ra bộ các sản phẩm đầy đủ theo mong muốn cho mỗi môn học, lớp học, cấp học, bậc học

1.1.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam

Trong bối cảnh hội nhập toàn cầu, Việt Nam nói chung và ngành giáo dục đào tạo (GDĐT) nói riêng cũng không thể nằm ngoài xu thế chung của thế giới và phải thực hiện rất khẩn trương nếu không muốn bỏ lỡ cơ hội mà cuộc cách mạng Công nghiệp lần thứ 4 mang lại

Trong lĩnh vực GDĐT, chuyển đổi số sẽ hỗ trợ đổi mới GDĐT theo hướng giảm thuyết giảng, truyền thụ kiến thức sang phát triển năng lực người học, tăng khả năng tự học, tạo cơ hội học tập mọi lúc, mọi nơi, cá nhân hóa việc học, góp phần tạo ra xã hội học tập và học tập suốt đời Sự bùng nổ của nền tảng công nghệ IoT, Big Data, AI, SMAC (mạng xã hội - di động - phân tích dữ liệu lớn - điện toán đám mây) đang hình thành nên hạ tầng giáo dục

số Theo đó, nhiều mô hình giáo dục thông minh đang được phát triển trên nền tảng ứng dụng CNTT; hỗ trợ đắc lực việc cá nhân hóa học tập (mỗi người học một giáo trình và một phương pháp học tập riêng không giống với người khác, việc này do các hệ thống CNTT thực hiện tự động); làm cho việc truy cập kho kiến thức khổng lồ trên môi trường mạng được nhanh chóng, dễ dàng; giúp việc tương tác giữa gia đình, nhà trường, giáo viên, học sinh gần như tức thời

Chuyển đổi số trong GDĐT tập trung vào hai nội dung chủ đạo là chuyển đổi số trong quản lý giáo dục và chuyển đổi số trong dạy, học, kiểm tra, đánh giá, nghiên cứu khoa học (NCKH) Trong quản lý giáo dục bao gồm

Trang 16

số hóa thông tin quản lý, tạo ra những hệ thống cơ sở dữ liệu (CSDL) lớn liên thông, triển khai các dịch vụ công trực tuyến, ứng dụng các Công nghệ 4.0 (AI, blockchain, phân tích dữ liệu, ) để quản lý, điều hành, dự báo, hỗ trợ ra quyết định trong ngành GDĐT một cách nhanh chóng, chính xác Trong dạy, học, kiểm tra, đánh giá gồm số hóa học liệu (sách giáo khoa điện tử, bài giảng điện tử, kho bài giảng e-learning, ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm), thư viện số, phòng thí nghiệm ảo, triển khai hệ thống đào tạo trực tuyến, xây dựng các trường đại học ảo (cyber university)

Trong GDĐT với khoảng 24 triệu giáo viên, học sinh, sinh viên, để đảm bảo thành công chuyển đổi số trước tiên cần phải tuyên truyền, thống nhất, thông suốt về nhận thức trong toàn ngành, đến từng nhà trường, mỗi cá nhân Nhận định chuyển đổi số là xu thế tất yếu của ngành, diễn ra với tốc độ rất nhanh, do đó cần có sự chuẩn bị, đầu tư xứng tầm, tạo sức mạnh cộng hưởng và quyết tâm cao

Cơ chế, chính sách, hành lang pháp lý phải được hoàn thiện, tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho chuyển đổi số trong toàn ngành Đó là các chính sách liên quan đến học liệu như sở hữu trí tuệ, bản quyền tác giả; liên quan đến chất lượng việc dạy học trên môi trường mạng như an toàn thông tin mạng; liên quan đến chính trị, tư tưởng, đạo đức người dạy, người học như bảo vệ thông tin cá nhân, an ninh thông tin trên môi trường mạng; và các quy định liên quan đến điều kiện tổ chức dạy - học trên mạng, kiểm định chất lượng, tính pháp lý và công nhận kết quả khi dạy - học trực tuyến

Nền tảng hạ tầng CNTT-VT, cơ sở vật chất cơ bản phải được trang bị đồng bộ trong toàn ngành giáo dục đảm bảo việc quản lý, dạy - học có thể được thực hiện một cách bình đẳng giữa các địa phương, nhà trường có điều kiện hoàn cảnh kinh tế khác nhau; đảm bảo môi trường mạng thông suốt, ổn định, an toàn thông tin Thực hiện việc này cần huy động được các nguồn lực

xã hội chung tay hỗ trợ trang thiết bị đầu cuối và tham gia cung cấp các hệ thống, giải pháp đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số

Trang 17

Cuối cùng cần bồi dưỡng được đội ngũ nhân lực (cán bộ quản lý, giáo viên, giảng viên, học sinh sinh viên) có kiến thức, kỹ năng đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số Trước hết là kỹ năng sử dụng CNTT, kỹ năng an toàn thông tin, kỹ năng khai thác, sử dụng hiệu quả các ứng dụng phục vụ công việc dạy - học

Đến nay, toàn ngành giáo dục đã chủ trương, xác định ứng dụng CNTT là 1 trong 9 nhóm nhiệm vụ trọng tâm triển khai có hiệu quả Nghị quyết số 29 của Ban chấp hành Trung ương Đảng về đổi mới căn bản toàn diện GDĐT Thủ tướng Chính phủ cũng đã ban hành Đề án tăng cường ứng dụng CNTT trong quản lý giáo dục, hỗ trợ đổi mới dạy - học, nghiên cứu khoa học triển khai trong toàn ngành Hàng loạt chính sách thúc đẩy chuyển đổi số giáo dục được ban hành, dần hoàn thiện hành lang pháp lý như các quy định ứng dụng CNTT trong quản lý, tổ chức đào tạo qua mạng, quy chế đào tạo từ xa trình độ đại học, quy định quản lý, vận hành sử dụng hệ thống CSDL toàn ngành, mô hình ứng dụng CNTT trường phổ thông, chuẩn dữ liệu kết nối; hướng dẫn nhiệm vụ CNNT cho khối đại học, phổ thông hàng năm và nhiều văn bản chỉ đạo điều hành khác

Trong quản lý giáo dục, toàn ngành đã triển khai số hóa, xây dựng cơ

sở dữ liệu dùng chung từ Trung ương đến 63 sở GDĐT, 710 phòng GDĐT và khoảng 53.000 cơ sở giáo dục Hiện nay đã số hóa và định danh dữ liệu của khoảng 53.000 trường học, 1,4 triệu giáo viên, 23 triệu học sinh Cơ sở dữ liệu này vừa qua đã hỗ trợ đắc lực công tác tuyển sinh và thống kê, báo cáo trong toàn ngành; giúp các cấp quản lý ban hành chính sách quản lý có hiệu quả, vừa qua đã góp phần giải quyết vấn đề thừa thiếu giáo viên ở các nhà trường theo từng địa phương, môn học Khối phổ thông khoảng 82% các trường sử dụng phần mềm quản lý trường học, sổ điểm điện tử, học bạ điện tử

và hầu hết các cơ sở giáo dục đại học đều sử dụng phần mềm quản trị nhà trường Hệ thống quản lý hành chính điện tử kết nối 63 sở GDĐT và hơn 300

Trang 18

trường đại học, cao đẳng trên cả nước với Bộ GDĐT hoạt động thông suốt, ổn định, phát huy hiệu quả tích cực

Về dạy - học, giáo viên toàn ngành được huy động tham gia, đóng góp chia sẻ học liệu vào kho học liệu số toàn ngành; đóng góp lên Hệ tri thức Việt

số hóa gần 5.000 bài giảng điện tử e-learning có chất lượng, kho luận văn tiến

sĩ với gần 7.000 luận văn, ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm với trên 31.000 câu hỏi…góp phần xây dựng xã hội học tập và đẩy mạnh học tập suốt đời

Về nhân lực số, ở bậc phổ thông, thực hiện chương trình giáo dục phổ thông mới, môn Tin học sẽ được đưa vào giảng dạy bắt buộc ngay từ lớp 3; giáo dục STEM được lồng ghép trong các môn học, gắn việc học của học sinh thông qua các hoạt động ứng dụng công nghệ để giải quyết các bài toán và hiện tượng trong cuộc sống Trong giáo dục đại học, triển khai cơ chế đặc thù đào tạo nhân lực CNTT, qua đó giúp các cơ sở đào tạo gia tăng cơ hội hợp tác với doanh nghiệp, các tổ chức quốc tế để huy động các nguồn lực của xã hội tham gia vào quá trình đào tạo nhân lực CNTT, gắn đào tạo với nhu cầu sử dụng nhân lực ở các doanh nghiệp và nhu cầu của xã hội

Tuy vậy, chuyển đổi số ngành giáo dục đào tạo hiện nay còn gặp nhiều khó khăn, tồn tại cần tiếp tục được khắc phục, hoàn thiện cụ thể như sau:

- Hạ tầng mạng, trang thiết bị CNTT (như máy tính, camera, máy in, máy quyét), đường truyền, dịch vụ Internet cho nhà trường, giáo viên, học sinh - đặc biệt ở các vùng xa, vùng khó khăn – còn thiếu, lạc hậu, chưa đồng

bộ, nhiều nơi chưa đáp ứng yêu cầu cho chuyển đổi số (cả về quản lý giáo dục

và dạy - học) Đây cũng là một nguyên nhân dẫn đến sự bất bình đẳng về cơ hội học tập, tiếp cận kiến thức giữa học sinh sinh viên ở các vùng miền, các nhà trường

- Số hóa, xây dựng, cập nhật học liệu số, thẩm định, chia sẻ học liệu

số đòi hỏi sự đầu tư lớn về nhân lực (gồm cả nhân lực quản lý và nhân lực triển khai) cũng như tài chính để đảm bảo kho học liệu số đầy đủ, đạt chất

Trang 19

lượng, đáp ứng yêu cầu học tập, nghiên cứu, tham khảo của học sinh sinh viên

ở các cấp học, ngành học, môn học Vì vậy hiện nay vấn đề xây dựng học liệu

số (như sách điện tử, thư viện điện tử, ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm, bài giảng điện tử, phần mềm học điện tử, phần mềm ứng dụng mô phỏng) còn phát triển tự phát, chưa đi vào nề nếp và thành hệ thống, khó kiểm soát chất lượng và nội dung học tập Kéo theo đó là hệ thống giải pháp học tập VLE/LMS có tính tương tác cao (khác với các hệ thống họp trực tuyến) cũng triển khai tự phát, thiếu sự đồng bộ và chia sẻ giữa các nhà trường dẫn đến lãng phí chung

- Thu thập, chia sẻ, khai thác dữ liệu quản lý giáo dục và học liệu số cần hành lang pháp lý chung phù hợp với các quy định về bản quyền tác giả,

sở hữu trí tuệ, an ninh thông tin, giao dịch điện tử và luật chia sẻ cung cấp thông tin, cụ thể như: Quy định danh mục các thông tin thuộc diện bắt buộc khai báo, nhập liệu - phân biệt với thông tin cá nhân riêng tư thuộc quyền cá nhân; quy định quyền tác giả cho các bài giảng điện tử (trường hợp nào được

sử dụng, điều kiện gì, sử dụng toàn bộ hay một phần); quy định khai thác cơ

sở dữ liệu, kho học liệu số (những ai được quyền khai thác, khai thác gì, mức

độ đến đâu, điều kiện gì, ai thẩm định, ai cho phép); quy định tính pháp lý của

hồ sơ điện tử nói chung và sổ điểm, học bạ điện tử nói riêng (đặc biệt trong trường hợp chuyển cấp, chuyển trường ở phạm vi toàn quốc) Chỉ khi các nút thắt này được tháo gỡ mới thúc đẩy phát triển được hệ thống dữ liệu số, học liệu số đủ lớn (gồm cả dữ liệu mở), đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số quốc gia nói chung và giáo dục đào tạo nói riêng Hiện tượng cục bộ về dữ liệu còn tồn tại ở không ít các địa phương, nhà trường

- Trên cơ sở quy định pháp lý chung ở trên, cần hoàn thiện quy định chuyên ngành giáo dục, cụ thể như: Quy định chương trình học trực tuyến, thời lượng học, kiểm tra đánh giá trực tuyến, kiểm định chất lượng học trực tuyến, công nhận kết quả học trực tuyến (khác với học truyền thống); quy

Trang 20

định điều kiện tổ chức lớp học, trường học trên môi trường mạng (kể cả ngắn hạn và dài hạn)

Ngành GDĐT đóng vai trò quan trọng thúc đẩy tiến trình chuyển đổi

số Quốc gia nói chung Theo đó, ngành GDĐT cần tập trung triển khai một số nhiệm vụ giải pháp cụ thể gồm: (1) Thực hiện các giải pháp nhằm nâng cao chỉ số thành phần nguồn nhân lực Việt Nam (HCI) theo phương pháp đánh giá chính phủ điện tử của Liên Hợp Quốc; (2) Lồng ghép nội dung giáo dục

về chuyển đổi số quốc gia, đặc biệt là những kỹ năng, kiến thức cơ bản, tư duy sáng tạo, khả năng thích nghi với những yêu cầu của cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ 4 đưa vào giảng dạy trong nhà trường một cách phù hợp; (3) Thực hiện phổ cập tin học (như phổ cập xóa mù chữ), triển khai dạy tin học cơ bản, làm quen với tin học cho học sinh ở tất cả các cấp học, ngay từ khi đến trường, bổ túc kiến thức cho người dân, toàn xã hội, đặc biệt qua các trung tâm giáo dục cộng đồng, trung tâm giáo dục thường xuyên; (4) Tăng cường đào tạo nhân lực CNTT chuyên nghiệp theo hướng ứng dụng, phục vụ yêu cầu chuyển đổi số ở các ngành nghề khác nhau, lấy đánh giá của doanh nghiệp làm thước đo cho chất lượng đào tạo của các trường đại học trong lĩnh vực CNTT

Ở Việt Nam, có nhiều tác giả nghiên cứu về số hoá nói chung, như số hóa tài liệu, sách, Tuy nhiên số hóa thiết bị dạy học thì còn khiêm tốn và chưa toàn diện đầy đủ Ở mỗi môn học đều có nghiên cứu về dạy học dùng đa phương tiện, mô hình, mô phỏng, dưới các các góc độ khác nhau

Đề xuất xây dựng số hóa thiết bị dạy học của tác giả Lê Ngọc Ân [1]là một trong những nghiên cứu điển hình, có ý nghĩa thực tiễn Tuy nhiên đây mới chỉ là giải pháp nhằm nâng cao chất lượng quản lý thiết bị dạy học bằng cách mã hóa thiết Chưa được tác giả khái quát về mặt lý luận, chưa quan tâm nhiều đến các loại hình thiết bị như tranh, ảnh, bản đồ, mô hình, thiết bị thí nghiệm, thực hành, để số hóa, lưu dữ, chia sẻ để làm nguồn học liệu giúp

Trang 21

giáo viên xây dựng bài giảng điện tử, bài giảng trực tuyến, giúp học sinh tự học, tham khảo, tra cứu trên các thiết bị di động đang ngày càng phổ biến

Ở Việt Nam nghiên cứu về số hóa thiết bị dạy học, chủ yếu được các tác giả nghiên cứu về lĩnh vực ứng dụng đa phương tiện trong dạy học, mô phỏng trong dạy học kĩ thuật như luận án tiến sĩ Giáo dục học của tác giả Lê Thanh Nhu: ‘‘Vận dụng phương pháp mô phỏng vào dạy học kĩ thuật công nghiệp ở trường trung học phổ thông’’ [32] hay như công trình nghiên cứu của tác giả Ngô Tứ Thành bàn về ‘‘Phương pháp mô phỏng trong dạy học các chuyên ngành kĩ thuật’’ [36], các tác giả Lê Huy Tùng, Lương Thúy Hạnh [41] tất cả đều nhấn mạnh về mô phỏng tạo thuận lợi cho người sử dụng về các mặt: nhận thức (trực quan hóa, dễ thực nghiệm, lặp lại nhiều lần theo ý muốn, gợi mở, tiên đoán, ) và công nghệ (thiết bị, phương pháp cũng như kĩ năng: khả thi, an toàn, hiệu quả kinh tế, luyện kĩ năng trước khi tiếp xúc với thực tế, )

Tóm lại: Những nghiên cứu về số hóa thiết bị dạy học trên thế giới cũng như ở Việt Nam cho đến nay chưa được nghiên cứu đầy đủ, toàn diện, mà mới chỉ ở các khía cạnh, lĩnh vực đơn lẻ, thiếu tính hệ thống, đồng bộ cho môn học, nhất là ở cấp học phổ thông Như vậy, nghiên cứu, đề xuất biện pháp và ứng dụng vào để số hóa thiết bị dạy học cho môn Công nghệ lớp 8 ở trường THCS là

có ý nghĩa và cần thiết trong thời đại ngày nay

1.2 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN

1.2.1 Số hoá thiết bị dạy học

Trang 22

hoặc chuyển đổi một báo cáo giấy thành PDF Dữ liệu không bị thay đổi - nó chỉ đơn giản được mã hóa theo định dạng kỹ thuật số"

Khái niệm số hóa rất dễ bị nhầm lẫn, bởi số hóa tồn tại dưới hai hình thức, đó là số hóa dữ liệu (Digitization) và số hóa quy trình (Digitalization) Như vậy, phải hiểu đúng về số hoá là quá trình chuyển các dữ liệu truyền thống sang chuẩn dữ liệu trên máy tính được máy tính nhận biết, cho chúng

ta có thể quan sát được như thật [1]

Theo tác giả, số hoá là quá trình chuyển đổi các dữ liệu truyền thống sang chuẩn dữ liệu trên máy tính để dễ sử dụng

1.2.1.2 Thiết bị dạy học

Theo từ điển tiếng việt: TBDH hay phương tiện dạy học, đồ dùng dạy học là một thuật ngữ chỉ một đối tượng vật chất hay một tập hợp đối tượng vật chất mà người giáo viên sử dụng để điều khiển hoạt động nhận thức của học sinh, còn đối với học sinh thì đó là nguồn tri thức, là phương tiện giúp học sinh lĩnh hội các khái niệm, định luật, học thuyết khoa học, hình thành ở họ các kỹ năng, kỹ xảo, đảm bảo việc thực hiện mục tiêu dạy học [33]

Theo từ điển tiếng việt của Nguyễn Như Ý: Thiết bị (equipment) là máy móc, các đồ dùng cần thiết cho hoạt động Như vậy thiết bị dạy học là những máy móc, công cụ cần thiết cho hoạt động dạy học

Theo tác giả Phan Trọng Ngọ định nghĩa: TBDH là toàn bộ những công cụ được làm ra và được sử dụng như khâu trung gian để GV và HS tác động vào đối tượng dạy học [31]

Thiết bị dạy học (TBDH) là công cụ, phương tiện không thể thiếu được trong quá trình dạy học, giúp GV lựa chọn phương pháp dạy học tối ưu nhất

để đem lại hiệu quả cao trong quá trình truyền thụ kiến thức cho học sinh, TBDH luôn song hành cùng GV trong đổi mới phương pháp dạy học

Trang 23

Theo Thông tư số 19/2009/TT-BGDĐT của Bộ GD&ĐT: Ban hành Danh mục thiết bị dạy học tối thiểu, Danh mục thiết bị dạy học tối thiểu do

Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành là thiết bị dạy học tối thiểu về số lượng, chất lượng (mô tả chi tiết) mà mỗi trường cần phải có

1.2.1.3 Số hoá thiết bị dạy học

Thiết bị dạy học rất phong phú và đa dạng (tranh ảnh, mô hình, mẫu vật, bộ thiết bị thí nghiệm, ) Việc số hóa các thiết bị dạy học cũng sẽ trở nên đa dạng, phức tạp phụ thuộc vào từng loại hình thiết bị cụ thể

Về mặt quản lý thiết bị, có thể hiểu số hóa TBDH là dùng mẫu tự A, B,

C, , a, b, c, các chữ số 0, 1, 2, 3, các ký hiệu., /, ( ) tạo thành một chuỗi

kí tự gán cho một TBDH tương ứng để tiện quản lý và mượn sử dụng [1] Tuy nhiên đây là cách hiểu về mã hóa cho mỗi thiết bị trong quản lý

Thực tế, với sự phát triển mạnh mẽ của kĩ thuật, công nghệ trong thời đại công nghệ 4.0 giúp cho chúng ta dễ dàng số hóa tranh, ảnh nhờ scan, chụp ảnh, Nhưng đối với các mô hình kĩ thuật có thể biểu diễn động, bộ thiết bị thí nghiệm, thực hành, thì việc số hóa phức tạp hơn Tuy nhiên, không phải

là không làm được Người ta có thể mô phỏng, mô hình động, biểu diễn thí nghiệm nhờ phần mềm ứng dụng như Flash, Solidworks, 3D, Ở mức độ cao hơn còn có thể là sản phẩm phần mềm dạy học cho phép tương tác (môi trường học thực tại ảo)

Như vậy số hóa thiết bị là quá trình chuyển các giá trị thực của các loại hình thiết bị vật chất, sang dạng số dễ lưu trữ và chia sẻ, sử dụng trong dạy học trực tiếp hoặc trực tuyến

1.2.2 Phương tiện trực quan trong dạy học Công nghệ

1.2.2.1 Khái niệm

Theo từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê định nghĩa: “Trực quan nghĩa

là dùng những vật cụ thể hay ngôn ngữ, cử chỉ làm cho học sinh cso được

Trang 24

hình ảnh cụ thể về điều đã học” [31]

Theo định nghĩa của Phan Trọng Ngọ: phương tiện trực quan là những phương tiện đã được sử dụng trong hoạt động dạy học, có vai trò là công cụ để GV và HS tác động vào đối tượng; có chức năng khơi dậy, dẫn truyền, tăng cường khả năng hoạt động của các giác quan, góp phần tạo nên chất liệu cảm tính của đối tượng nhận thức, nhằm đạt được mục đích dạy học cụ thể [31]

Trực quan như trực giác, nói lên hình ảnh cụ thể cảm tính do sự phản ánh trực tiếp của thế giới bên ngoài mà các giác quan của con người đem lại Trực quan là khâu đầu tiên của quá trình nhận thức

Phương tiện trực quan có nhiều khái niệm khác nhau:

“Phương tiện trực quan là những phương tiện được sử dụng trong hoạt động dạy học, có vai trò là công cụ để giáo viên và học sinh tác động vào đối tượng, có chức năng khơi dậy, dẫn truyền tăng cường khả năng hoạt động của các giác quan, góp phần tạo nên chất liệu cảm tính cảu đối tượng nhận thức nhằm đạt được mục đích dạy học cụ thể” [18]

“Tất cả những già mà ta tri giác được, lĩnh hội được do tương tác của

hệ thống tín hiệu thứ nhất và thứ hai, đều là PTTQ” [14]

“Tất cả các đối tượng nghiên cứu (sự vật, hiện tượng, thiết bị và mô hình đại diện cho hiện thực khách quan) các nguồn phát ra thông tin về sự vật

và hiện tượng đó, làm cơ sở cho sự lĩnh hội trực tiếp nhờ các giác quan những kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo về các sự vật và hiện tượng được nghiên cứu đều được gọi là các PTTQ” [13]

“PTTQ là toàn bộ những công cụ (phương tiện) mà GV và HS sử dụng trong quá trình dạy học nhằm cung cấp kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo cho HS thông qua sự tri giác trực tiếp bằng các giác quan của họ” [31]

Trang 25

1.2.2.2 Phân loại phương tiện trực quan

Dựa trên đặc tính, tên gọi, cấu trúc hoặc chức năng của PTTQ hoặc dựa trên đặc điểm của môn học, đặc điểm nhận thức của HS để phân loại PTTQ Ngoài ra trong quá trình hình thành kiến thức dựa vào vai trò và ý nghĩa của PTTQ

PTTQ sử dụng trong dạy học kỹ thuật bao gồm: [25]

- Vật thật: đó là các dụng cụ, các chi tiết, các bộ phận, các linh kiện của vật phẩm, cơ cấu, thiết bị, máy móc kỹ thuật, qui trình công nghệ và còn là những động tác làm mẫu của GV trong dạy học thực hành các thao tác kỹ thuật

- Mô hình vật thật: Mô hình ở trạng thái tĩnh hoặc trạng thái động

- Các hình ảnh: Hình ảnh được thể hiện ở nhiều loại hình thức khác nhau như:

+ Băng đĩa hình thể hiện hình ảnh của vật thật

+ Mô phỏng nội dung các khái niệm, các quá trình diễn biến trừu tượng nhờ sự trợ giúp của máy tính với các phần mềm tin học

+ Tranh giáo khoa in trên giấy khổ lớn

+ Bản trong sử dụng với máy chiếu Overhead

+ Máy tính sử dụng với máy chiếu Projector

+ Hình vẽ trực tiếp trên bảng

1.2.2.3 Vai trò phương tiện trực quan trong dạy học Công nghệ

PTDH được sử dụng phổ biến ngày nay với nhiều vai trò khác nhau trong dạy học

- Giúp đẩy mạnh và hướng dẫn nhận thức của HS: PTTQ giữ vài trò quan trọng trong việc nâng cao tính trực quan trong quá trình dạy học PTTQ chứa đựng và truyền tải thông tin cho HS, là nguồn tri thức phong phú Sử dụng hình ảnh, mô hình, video… để HS quan sát khi không thể quan sát trực tiếp HS có cái nhìn thực tế nhất khi có PTTQ Ví dụ mô hình mạng điện

Trang 26

trong nhà, HS biết được đặc điểm của mạng điện trong nhà; biết đựơc cấu tạo, chức năng một số phần tử của mạng điện trong nhà PTTQ có vài trò điều khiển hoạt động nhận thức của HS HS được định hướng tư duy, chiếm lĩnh kiến thức mới bởi người GV dẫn dắt, hệ thống câu hỏi

- Phát triển năng lực sử dụng công nghệ - một trong năm năng lực riêng của môn Công nghệ PTTQ phát triển được năng lực sử dụng công nghệ từ đó giải quyết được các năng lực riêng của môn Công nghệ: thiết kế, sử dụng, giao tiếp, đánh giá công nghệ

- HS được tích cực hoá hoạt động nhận thức và kích thích hứng thú nhận thức HS có động cơ học tập, gây hứng thú, có thái độ tích cực tiếp cận với kiến thức mới khi GV sử dụng PTTQ Tài liệu dạy học, mô hình, video,

… là những PTTQ, kết hợp với hệ thống câu hỏi nhằm kích thích tri giác của

HS hướng vào đối tượng nghiên cứu

- Trí tuệ của HS được phát triển: Kĩ năng quan sát phân tích và tổng hợp thông tin của HS được hình thành qua lời dắt của GV và những PPDH

HS phát triển trí tuệ, là điều kiện thuận lợi giúp các hoạt động tâm lí khác: tri giác, biểu tượng, trí nhớ của HS

- HS dễ hiểu bài, nhớ kiến thức lâu hơn: PTTQ giúp GV hiện thực hoá những đối tượng trừu tượng, đơn giản hoá những máy móc, thiêt bị phức tạp

HS tiếp nhận thông tin quan trọng một cách đầy đủ chính xác

Đối với phương tiện trực quan cần phải đảm bảo được các yêu cầu và chức năng như sau:

- Phát triển hứng thú nhận thức cho học sinh

- Truyền thụ tri thức, phát triển tư duy học sinh

- Phương tiện trực quan giúp cho HS hình thành kĩ năng

- Tổ chức, điều khiển hoạt động học tập cho học sinh

Trang 27

1.3 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ SỐ HOÁ THIẾT BỊ DẠY HỌC 1.3.1 Cơ sở chung về số hóa thiết bị dạy học

1.3.1.1 Cơ sở pháp lý

Luật lưu trữ Quốc hội vào ngày 11/11/2011 đã được quy định về vấn đề

“tài liệu lưu trữ điện tử”;

Theo Quyết định số 176/QĐ-VTLTNN “Ban hành quy trình và hướng dẫn thực hiện số hoá tài liệu lưu trữ để lập bản sao bảo hiểm và bản sao sử dụng”;

Thông tư 02/2019/TT-BNV “Quy định tiêu chuẩn dữ liệu thông tin đầu vào và yêu cầu bảo quản tài liệu lưu trữ điện tử đã quy định tiêu chuẩn dữ liệu thông tin đầu vào của tài liệu lưu trữ số hóa”;

Thông tư số 04/2014/TT-BNV “Quy định định mức kinh tế kỹ thuật tạo lập cơ sở dữ liệu tài liệu lưu trữ đã quy định về định mức kinh tế kỹ thuật số hóa tài liệu”;

Thông tư số 19/2009/TT-BGDĐT “Danh mục thiết bị dạy học tối thiểu cấp Trung học cơ sở - môn Công nghệ”

1.3.1.2 Cơ sở kĩ thuật và công nghệ về số hóa thiết bị dạy học

Sự phát triển kĩ thuật, công nghệ giúp chúng ta có được các thiết bị, phần mềm ứng dụng hỗ trợ để số hóa thiết bị dạy học

- Các loại hình thiết bị công nghệ có thể kể đến: Máy tính, smartphon, máy ảnh và máy quay phim kĩ thuật số, máy scan,

- Các phần mềm xử lý có thể kể đến: phần mềm xử lý ảnh, chỉnh sửa ảnh Photoshop, Corel Paintshop, các phần mềm mô phỏng như flassh, solidworks,

- Thiết bị lưu trữ số: Hệ thống máy trạm, máy chủ, máy tính cá nhân, HDD, SSD di động,

1.3.1.3 Cơ sở về phương pháp dạy học trực quan

a) Cơ sở triết học

Trang 28

Theo quan điểm nhận thức luận, coi thực tiễn là cơ sở - động lực – mục đích nhận thức và là tiêu chuẩn để kiểm tra kiến thức V.I.Lenin đã chỉ rõ:

“Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn, đó là con đường biện chứng của sự nhận thức chân lý, nhận thức thực tại khách quan”

Theo quan điểm này, trực quan là xuất phát điểm của quá trình nhận thực Trực quan được đặc trưng bởi quá trình tâm lý là cảm giác, tri giác, biểu tượng Việc nhận thức ở giai đoạn cảm tính này mới chỉ phản ánh được các dấu hiệu thuộc tính bên ngoài của sự vật hiện tượng nhưng đã tạo được chất liệu cho tư duy Muốn nhận thức được bản chất nội dung của sự việc hiện tượng thì cần phải xử lý trong óc các thông tin thu được đó bằg thao tác phân tích, so sánh, tổng hợp, khai quát hoá, trừu tượng hoá để loại bỏ được các dấu hiệu không cơ bản và ngẫu nhiên, giữ lại những dấu hiệu cơ bản, chung nhất

và đó chính là quá trình tư duy trừu tượng

Như vậy, quá trình nhận thức là sự thống nhất giữa trực quan sinh động

và tư duy trừu tượng, trong đó cớ sự xâm nhập của thực tiễn vào cả hai Thực tiễn vừa là cơ sở để vận dụng tri thức, vừa là tiêu chuẩn chân lý để đánh giá quá trình nhận thức Kết quả đánh giá bởi thực tiễn lại trở thành thực tiễn cao hơn cho việc trực quan sinh động phong phú hơn quá trình nhận thức tiếp theo [25, Tr.64-65]

b) Cơ sở tâm – sinh lý học

Theo thuyết nhận thức duy vật biện chứng, quá trình nhận thức được phân làm 3 giai đoạn kế tiếp nhau: giai đoạn nhận thức cảm tính – giai đoạn nhận thức lý tính – giai đoạn tái sinh cáci cụ thể trong tư duy

Nhận thức cảm tính này sinh do có sự tác động trực tiếp của các sự vật, hiện tượng lên các giác quan (thị giác, thính giác, khứu giác…) và cơ sở sinh

lý học của nó là hệ thống tín hiệu thứ nhất Trong giai đoạn nhận thức cảm tính, ý thức con người sẽ phản ánh về tập hợp các dấu hiệu thuộc tính của sự

Trang 29

vật, hiện tượng trong mối quan hệ qua lại của chúng Nhận thức cảm tính là giai đoạn thấp cuả quá trình nhận thức vì mới chỉ phản ánh được những cái bên ngoài, cái không bản chất, nhưng có vai trò rất quan trọng để tạo dữ liệu tiền đề cho nhận thức lý tính và tư duy trừu tượng

Nhận thức lý tính là giai đoạn phản ánh trừu tượng, khái quát hoá dưới dạng những khái niệm, định luật, học thuyết và cơ sở sinh lý của giai đoạn này là hệ thống ti hiệu thứ hai

Giai đoạn tái sinh cái cụ thể trong tư duy là sự kiểm tra và vận dụng tri thức mới vào tình huống mới

Trong dạy học, GV phải sử dụng các PTTQ để tạo điều kiện cho người học thu nhận được nhiều tư liệu trong nhận thức cảm tính, qua đó làm phong phú cho quá trình tư duy trừu tượng trong nhận thức lý tính và vận dụng, kiểm tra tri thức

Những nghiên cứu về tâm sinh lý trong dạy học cho thấy rằng, mỗi giác quan của con người có khả năng tiếp nhận một khối lượng thông tin rất khác nhau trong cùng một thời gian Để đánh giá cụ thể, người ta đưa ra khái niệm năng lực dẫn thông của đường tiếp thu thông tin với đơn vị đo là bit/giây Qua

đó, người ta đã xác định được, năng lực dẫn thông của đường tiếp thu thông tin bằng thị giác là 3000000 bit/giây; bằng thính giác là 30000 đến 50000 bit/giây; bằng khứu giác là 10 đến 100 bít/giây và bằng xúc giác là 2 đến 10 bit/giây So sánh các số liệu trên cho thấy, năng lực dẫn thông bằng được thi giác lớn gấp hàng trăm lần so với bằng đường thính giác Bởi bì theo đường thị giác thì cùng một lúc cho người học một hình ảnh trọn vẹn, còn theo đường thính giác thì người học sau khi được nghe đầy đủ nội dung và lại phải tưởng tượng thì mới có thể có được một hình ảnh trọn vẹn Điều này nói lên

ưu điểm nổi bật của DHTQ khi dạy học những đối tượng kỹ thuật

Tuy nhiên không nên coi việc truyền đạt thông tin bằng đường thị giác

là tối ưu, vạn năng vì nó còn phải phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác Nhà giác

Trang 30

dục người Nga là Usinxki đã khẳng định rằng: Trong ý thức người học chỉ để lại dấu ấn rõ nét nhất khi GV tác động cùng lúc đến nhiều giác quan của họ

Vì thế, trong dạy học GV phải biết kết hợp khéo léo DHTQ và các phương tiện dạy học khác, nhằm sử dụng hợp lý khả năng truyền tin theo mọi con đường tiếp nhận khác nhau, để thông tin học tập với người học tối đa, nhanh

và sâu sắc nhất [25, tr.65-66]

c) Cơ sở môn học kỹ thuật - công nghệ

Nội dung các môn học kỹ thuật thường phản ánh các khái niệm, quá trình, sản phẩm/ hệ thống kỹ thuật, các thức hành động hay kỹ năng kỹ thuật

và chúng thường gắn liền với thực tiễn Nhiều nội dung có tính cụ thể cùng tính trừu tượng cao, nó thể hiện ở mối liên hệ giữa cấu tạo với nguyên lý hoạt động hoặc về diễn biến của các quá trình kỹ thuật bên trong các thiết bị, cơ cấu, máy móc và quy trình công nghệ

Khi học về các sản phẩm / hệ thống kỹ thuật, ngoài nội dung về các khái niệm kỹ thuật mà người học cần biết, người học còn phải tìm hiểu cụ thể về cấu tạo, nguyên lý hoạt động cùng việc ứng dụng và sử dụng chúng trong thực tiễn đời sống, sản xuất Để lĩnh hội những kiến thức về cấu tạo thì người học phải đươc trực quan cụ thể chính bản thân sản phẩm / hệ thống kỹ thuật đó

Khi học về các quá trình kỹ thuật, nguyên lý hoạt động, nội dung mà người học cần lĩnh hội thường gắn liền với các quá trình biến đổi cơ sở về cơ,

lý, hoá… xảy ra bên trong máy móc, hệ thống kỹ thuật và người học khó quan sát được trực tiếp Để người học có điểm tựa trong nhận thức cảm tính, làm

cơ sở cho tư duy trừu tượng và lĩnh hội kiến thức thì GV cần phải trực quan hoá các quá trình đó thông qua các phương tiện trực quan là các mô phỏng các dấu hiệu, ký hiệu qui ước,…

Để thực hiện được nhiệm vụ phát triển tư duy kỹ thuật và bồi dưỡng năng lực kỹ thuật cho người học thì trực quan sinh động có vai trò rất quan

Trang 31

trọng, nó là một trong ba yếu tố thành phần (khái niệm – hình ảnh – thao tác) của tư duy kỹ thuật và nó góp phần vào việc hình thành nên ba khâu thành phần (nhận thức – vận dụng – thiết kế) của năng lực kỹ thuật

Có thể tóm tắm các cơ sở khoa học của PPDHTQ qua sơ đồ hình 1.1

Sở đồ này cho thấy cái cụ thể (trực quan) và cái trừu tượng (lý thuyết)

có thể là xuất phát điểm, vừa là kết quả của quá trình nhận thức, trong đó mô hình (phương tiện trực quan) luôn đóng vai trò là cầu nối thể hiện mối liên hệ giữa chúng trong quá trình nhận thức theo con đường quy nạp hoặc diễn dịch [25, tr.66-67]

Hình 1.1 Cơ sở khoa học của PPDHTQ 1.3.2 Ưu và nhược điểm của số hoá thiết bị dạy học

1.3.2.1 Đối với quản lý thiết bị dạy học

Ưu điểm:

- Giảm chi phí quản lý, tiếp kiệm không gian bảo quản thiết bị một cách tương đối vì theo quy định của Luật lưu trữ, tài liệu lưu trữ được số hoá, vẫn phải bảo quản an toàn tài liệu bản gốc

Quá trình trừu tượng hoá – Qui nạp

Quá trình cụ thể hoá – Suy diễn

Khái quát hoá

Giải thích

Trang 32

Nhược điểm:

- Cần phải đầu tư ban đầu về công nghệ, cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin và các thiết bị khác Ví dụ cần đầu tư mua sắm hoặc thuê các thiết bị phần cứng như máy tính, máy in, máy quét ảnh và các chương trình phần mềm để quản lý, tra tìm tài liệu

1.3.2.2 Đối với sử dụng thiết bị dạy học

Ưu điểm:

- Thuận tiện trong việc sử dụng thiết bị, bảo vệ, khai thác thiết bị dễ dàng Ví dụ như GV không ngại lên phòng đồ dùng đăng ký, mượn trả thiết bị; cán bộ quản lý không vất vả lấy đồ dùng cho GV mượn, kiểm tra đồ dùng sau khi GV sử dụng có hư hỏng, mất hay không; GV có sử dụng TBDH tối thiểu học sinh hứng thú học tập

- Có khả năng chỉnh sửa tái sử dụng thiết bị dạy học Ta không được chỉnh sửa nội dung tài liệu, mà chỉ chỉnh sửa chất lượng như bị mờ, bị hư hỏng của thiết bị cần chỉnh sửa

- Số hoá thiết bị dạy học không phải là tài liệu, thông tin cần bảo mật của cơ quan, nên có thể chia sẻ cho những người có nhu cầu sử dụng

- Giúp GV tạo thành thói quen mượn và sử dụng TBDH

- Giúp cán bộ quản lý TBDH dễ dàng quản lý TBDH, cho GV mượn nhanh chóng ít mất thời gian

- Kho chứa TBDH tối thiểu, phòng thực hành bộ môn sắp xếp có khoa học, thẩm mỹ

Trang 33

- Lãnh đạo nhà trường dể dàng kiểm tra việc quản lý TBDH của cán bộ quản lý

- TBDH và mượn TBDH của giáo viên; nắm bắt được tiết học nào GV lên lớp bắt buộc phải chuẩn bị TBDH

- Mục đích số hoá các thiết bị dạy học còn nhằm xây dựng cơ sở dữ liệu tăng cường công tác quản lý và khai thác sử dụng thiết bị

Yêu cầu của số hóa TBDH:

- TBDH đó thuộc bộ môn nào? Sử dụng cho khối lớp nào? Trong tiết học nào của PPCT hiện hành?

- TBDH đó mang số thứ tụ mấy trong sổ danh mục TBDH tối thiểu của

bộ môn?

- TBDH cùng tên số lượng bao nhiêu? TBDH này là thiết bị thứ mấy? (Số giáo viên dạy cùng 1 tiết của cùng một khối lớp có thể mượn được TBDH)

- TBDH này có thể dùng chung cho 3 khối lớp hay không?

- Trong các yêu cầu trên ưu tiên đặc trưng bộ môn, khối lớp và dạy tiết mấy của PPCT [1]

1.3.3.2 Xây dựng quy trình số hoá thiết bị dạy học

Dựa trên mục tiêu và các quy định về số hoá khác nhau Theo Quyết định 176/QĐ-VLTNN ngày 21/10/2011, quy trình thực hiện số hoá lưu trữ tài liệu sẽ được tiến hành 12 bước Nhưng để thực hiện số hoá tranh giáo khoa ta tối giản còn 6 bước:

Các bước tiến hành:

Bước 1: Nghiên cứu nội dung sách giáo khoa, phân phối chương trình

và Công văn số: 3280/BGDĐT-GDTrH ngày 27 tháng 08 năm 2020 của Bộ trưởng Bộ GDĐT hướng dẫn điều chỉnh nội dung dạy học cấp Trung học cơ

sở môn; Danh mục thiết bị dạy học tối thiếu cấp Trung học cơ sở - kèm theo

Trang 34

Thông tư số 19/2009/TT-BGDĐT ngày 11 tháng 08 năm 2009 của Bộ trưởng

Bộ GDĐT

Bước 2: Thống kê thực tế TBDH hiện có ở phòng thiết bị (TBDH tối thiểu được trang bị của BGDĐT) còn sử dụng được cần số hoá Thay thế TBDH không sử dụng được bằng các nguồn khác như SGK, tự làm thiết bị, …

Bước 3: Chuẩn bị thiết bị để thực hiện số hoá phù hợp

Bước 4: Tiến hành số hoá TBDH

Bước 5: Kiểm tra kết quả số hoá, kết xuất và lưu trữ thông tin

Bước 6: Lập bản danh mục TBDH đã được số hóa lưu phòng TBDH, gửi GVBM, gửi BGH theo dõi thực hiện

1.3.4 Quản lý và sử dụng thiết bị số hóa trong dạy học theo hướng trực quan

1.3.4.1 Quản lý thiết bị số hóa

a) Yêu cầu và điều kiện quản lý thiết bị số hóa

Trước kia nhà trường sử dụng 100% văn bản, tài liệu giấy, có phòng đồ dùng tranh ảnh, thiết bị dạy học từng bộ môn và sau đó số hoá chúng để cập nhật quản lý bằng hệ thống văn bản, điều hành một số bộ phận qua mạng Giai đoặn văn thư, lưu trữ trước kia khiến việc quản lý và tìm kiếm khó khăn, mất nhiều thời gian ảnh hưởng trực tiếp tới việc khai thác sử dụng TBDH trong quá trình dạy và học của GV và HS

Yêu cầu của việc quản lý thiết bị số hoá cần cập nhật nhanh chóng tức thời danh sách thiết bị với các tiêu chí cụ thể: số lượng, chất liệu, tình hình sử dụng, chất lượng…

Cập nhật danh sách và công tác sử dụng thiết bị của GV, đồng thời cập nhật được tình hình sử dụng TBDH của GV thông qua các thông số cụ thể: ngày mượn ngày trả, người mượn, thông tin người trả, tình trạng khi mượn, khi trả, những lưu ý cần thiết …

Trang 35

Cập nhật số lượng thiết bị cần sử dụng, có kế hoạch mua sắm, đầu tư trang thiết bị cần thiết, tranh gây lãng phí tài sản của nhà trường

b) Biện pháp quản lý thiết bị số hóa

Sử dụng phần mềm quản lý giúp nhà trường có thể kiểm tra thường xuyên, cập nhật tình hình thiết bị chính xác nhất Tránh gây mất mát, tốn kém

TBDH là tài sản của nhà trường, việc đảm bảo chất lượng và quản lý thiết bị vô cùng quan trọng Đồng thời giúp nhà trường tiếp kiệm được ngân sách

Việc sử dụng phầm mềm để quản lý thiết bị số hoá giúp nhà trưởng quản lý một cách tổng quát, đảm bảo tính chính xác trong quá trình quản lý, giúp cho việc quản lý trở nên dễ dàng và khoa học hơn

1.3.4.2 Sử dụng thiết bị số hóa trong dạy học theo hướng trực quan

a) Phương pháp dạy học trực quan

Dạy học trực quan hay còn gọi là tình bày trực quan, PPDH mang tính tích cực, sủ dụng PTTQ, phương tiện dạy học trước, trong và sau khi tiếp nhận kiến thức mới, khi ôn tập, củng cố, hệ thống hoá kiến thức và kiểm tra kiến thức, kĩ năng

PPDH trực quan được thể hiện dưới hình thức:

- Minh hoạ là trưng bày đồ dùng trực quan có tính minh hoạ như biểu

đồ, tranh ảnh, mô hình, mẫu vật, dụng cụ, thiết bị, …

- Trình bày gắn liền với việc trình bày thí nghiệm, những thiết bị kĩ thuật, trình chiếu, mô phỏng, video…

b) Phương pháp sử dụng phương tiện trực quan trong dạy học Công nghệ Trong quá trình dạy học, PTTQ thường được sử dụng theo các phương pháp sau:

- Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp nghiên cứu gồm bốn giai đoạn: + Giai đoạn 1: Định hướng, gồm 2 bước:

Trang 36

Bước 1: Đặt vấn đề

Bước 2: Phát biểu vấn đề

+ Giai đoạn 2: Lập kế hoạch, gồm 2 bước:

Bước 1: Đề xuất giả thiết

Bước 2: lập kế hoạch giải ứng với giả thuyết

+ Giai đoạn 3: Thực hiện kế hoạch, gồm 3 bước:

Bước 1: Thực hiện kế hoạch giải

Bước 2: Đánh giá việc thực hiện kế hoạch

Bước 3: Phát biểu kết luận về cách giải

+ Giai đoạn 4: Kiểm tra và đánh giá cuối cùng (kết luận), gồm 1 bước: Kiểm nghiệm và kết thúc

- Phương pháp minh hoạ:

+ GV thông báo, giới thiệu kiến thức cho HS

+ GV giải thích và đưa ra kết luận

+ GV sử dụng PTTQ để minh hoạ

- Phương pháp kiểm chứng:

+ Làm cho HS hiểu rõ vấn đề: Nêu mục đích sử dụng PTTQ

+ Xác định phương hướng giải quyết, nêu giả thuyết Yêu cầu HS dự đoán những kiến thức khai thác được, những vấn để có thể xảy ra, lí do, …

+ Xác nhận giả thuyết đúng: Tiến hành sử dụng PTTQ để kiểm chứng nội dung đã nêu, kết luận về lời giải

+ GV chỉnh lí, bổ sung và chỉ ra kiến thức cần lĩnh hội

+ GV kiểm tra kiến thức vừa tiếp thu và dạy HS vận dụng kiến thức

- Phương pháp nêu vấn đề và giải quyết vấn đề: GV dùng PTTQ để tạo mâu thuẫn nhận thức, gây ra yêu cầu tìm kiếm kiến thức mới trong HS Trước tiên GV hoặc HS sử dụng PTTQ HS quan sát PTTQ đối chiếu thấy không đúng với điều dự đoán Khi đó sẽ tạo ra mâu thuẫn nhận thức, kích thích HS

Trang 37

tìm tòi giải quyết vấn đề Kết quả là HS nắm vững kiến thức, tìm ra con đường giải quyết vấn đề và có niềm tin vào sự nhận thức

Như vậy, việc sử dụng PTTQ sẽ đem lại hiệu quả sư phạm khác nhau khi GV sử dụng theo các phương pháp khác nhau Việc sử dụng phương pháp nào trong dạy học còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: Mục đích PTTQ, trình

độ của HS, tính chất của vấn đề cần nghiên cứu

1.4 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG THIẾT BỊ DẠY HỌC Ở TRƯỜNG THCS CỔ NHUẾ 2, QUẬN BẮC TỪ LIÊM, HÀ NỘI

1.4.1 Khảo sát thực trạng về quản lý và sử dụng thiết bị dạy học dưới góc

độ số hóa thiết bị dạy học

1.4.1.1 Mục đích khảo sát

Trên cơ sở nghiên cứu về thiết bị dạy học, quản lý sử dụng thiết bị dạy học Công nghệ 8 THCS Khảo sát thực trạng sử dụng thiết bị dạy học dưới góc độ sử dụng thiết bị dạy học số hoá môn Công nghệ 8 THCS theo hướng trực quan, kiểm nghiệm và đánh giá hiệu quả, tính khả thi tại trường THCS

Cổ Nhuế, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội từ đó rút ra những kết luận cần thiết, làm cơ sở thực tiễn cho việc nghiên cứu đề tài

1.4.1.2 Nội dung khảo sát

a Đối tượng khảo sát

Khảo sát thực trạng quản lý và sử dụng thiết bị dạy học dưới góc độ sử dụng thiết bị dạy học tối thiểu môn Công nghệ 8 được số hoá ở trường THCS

Cổ Nhuế, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội theo hướng trực quan nhằm tăng hứng thú và kết quả học tập môn Công nghệ của HS khối 8

b Thời gian khảo sát

Học kì II năm học 2020 – 2021

c Địa bàn khảo sát

Tác giả khảo sát tại trường THCS Cổ Nhuế

d Nội dung khảo sát

Trang 38

Đề tài tiến hành khảo sát những nội dung sau:

- Thực trạng quản lý TBDH môn Công nghệ của trường THCS Cổ Nhuế

- Thực trạng sử dụng TBDH tối thiểu môn Công nghệ 8 số hoá theo hướng trực quan trong dạy học

1.4.1.3 Phương pháp và công cụ khảo sát

Để tìm hiểu thực trạng quản lý và sử dụng thiết bị dạy học dưới góc độ

sử dụng thiết bị dạy học số hoá theo hướng trực quan, tác giả đã sử dụng phương pháp điều tra giáo dục nhằm kiểm tra đánh giá tính khả thi của đề xuất

Sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu lí thuyết như: phân tích tổng hợp, phân loại và hệ thống hoá để xác lập cơ sở lí luận cho đề tài

1.4.2 Phân tích, đánh giá kết quả khảo sát thực trạng

1.4.2.1 Thực trạng dựa trên phân tích tính sơ lược về nguồn nhân lực và

cơ sở vật chất tại trường THCS Cổ Nhuế

Trường THCS Cổ Nhuế 2 có tổng 106 cán bộ GV, nhân viên trong đó 100% GV đạt chuẩn về trình độ, chuyên môn nghiệp vụ Có một hiệu phó phụ trách chuyên môn, một hiệu phó phụ trách về cơ sở vật chất, một nhân viên thiết bị dạy học, GV được chia làm hai đội ngũ như sau:

Một là, đội ngũ GV lớn tuổi: chuyên môn cao, kinh nghiệm giảng dạy tốt nhưng chưa tích cực sử dụng TBDH số hoá, họ vẫn sử dụng tranh ảnh, mô hình trong kho thiết bị

Hai là, đội ngũ GV trẻ: kinh nghiệm chưa nhiều nhưng lại tích cực sử dụng TBDH số hoá phục vụ cho công tác giảng dạy tốt hơn

Về cơ sở vật chất, phòng học bộ môn có phòng đồ dùng và phòng thực hành các bộ môn: Lí – công nghệ, hoá học, sinh học, phòng đồ tranh ảnh, và phòng đồ dùng dạy các môn khác 100% phòng học được trang bị máy chiếu, tivi thông minh GV không mấy khó khăn khi dạy tích hợp lý thuyết và thực hành với hỗ trợ của thiết bị hiện đại

Trang 39

Dựa trên những đánh giá sơ lược về nguồn lực GV, nhân viên, cơ sở vật chất của phòng học, phòng bộ môn, phòng đồ dùng của nhà trường có thể thấy: Đa phần đội ngũ GV của nhà trường có khả năng sử dụng TBDH số hoá trong dạy học

1.4.2.2 Thực trạng quản lý TBDH số hoá

Nhân viên thiết bị của trường có chuyên môn Cư nhân Công nghệ thiết

bị trường học, có trình độ chuyên môn tốt Phòng đồ dùng được trang bị máy tính, máy photo,… nhân viên có tạo phần mềm quản lý thiết bị riêng của trường Nhân viên thiết bị và BGH nhà trường có trình độ chuyên môn và cơ

sở vật chất để quản lý tốt các TBDH số hoá

GV đăng ký mượn – trả thiết bị trên phần mềm quản lý thiết bị của nhà trường 1.4.2.3 Thực trạng sử dụng TBDH tối thiểu môn Công nghệ 8 số hoá theo hướng trực quan trong dạy học

Ở khuân khổ đề tài này, tác giả số hoá TBDH tối thiểu môn Công nghệ

8 theo hướng trực quan trong dạy học nhằm nâng cao hứng thú và kết quả học sinh lớp 8 THCS

Để tiến hành khảo sát thực trạng sử dụng TBDH tối thiểu môn Công nghệ 8 số hoá theo hướng trực quan trong dạy học ở trường THCS Cổ Nhuế 2, TP Hà Nội tác giả đã tiến hành xây dựng phiếu phỏng vấn sâu cho

10 giáo viên gồm GV cơ hữu đang tham gia giảng dạy môn Công nghệ tại trường THCS Cổ Nhuế 2 và GV giảng dạy môn Công nghệ ở Quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội

Trang 40

- Khi tổ chức dạy học, quý Thầy/ Cô thường sử dụng những loại phương tiện dạy học nào? Mức độ sử dụng phương tiện dạy học đó như thế nào?

- Việc có sử dụng TBDH số hoá theo hướng trực quan trong kho học liệu số tác giả đã gửi cho Thầy / Cô không? Nếu có thì ở mức độ nào?

- Đánh giá sự thành công của sử dụng TBDH số hoá theo hướng trực quan dưới góc nhìn của HS và GV

- Sự cần thiết (lợi ích) của việc sử dụng TBDH số hoá theo hướng trực quan trong dạy học môn Công nghệ 8

- Khó khăn, ảnh hưởng GV gặp phải khi sử dụng TBDH số hoá theo hướng trực quan trong dạy học môn Công nghệ 8

- Sự phù hợp khi sử dụng TBDH số hoá trong dạy học Công nghệ về mặt nội dung, thời gian

- Yếu tố thực hành khi sử dụng TBDH số hoá trong dạy học

c Tiến trình thực hiện

Bước 1: Tác giả xây dựng kho học liệu số gồm các sản phẩm đã được

số hoá: 07 tranh giáo khoa; 02 mô hình trong danh sách TBDH tối thiểu môn Công nghệ 8 theo KHDH năm học 2020 – 2021

Xây dựng phiếu phỏng vấn sâu

Bước 2: Tiến hành phỏng vấn độc lập từng GV đang giảng dạy môn Công nghệ Thời gian phỏng vấn từ 20 phút đến 30 phút Câu trả lời được ghi lại và cố gắng đảm bảo tính tự nhiên khi phỏng vấn

Bước 3: Thu thập các ý kiến phỏng vấn để đưa ra nhận định

d Phân tích và đánh giá kết quả khảo sát thực trạng

* Phân tích và đánh giá kết quả khảo sát bằng điều tra thực trạng sử dụng TBDH số hoá môn Công nghệ 8

Số liệu thu được từ việc gửi phiếu điều tra với 10 giáo viên gồm GV

cơ hữu đang tham gia giảng dạy tại trường THCS Cổ Nhuế 2 và GV giảng dạy môn Công nghệ ở Quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội

Ngày đăng: 26/11/2021, 11:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w