Khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa cùng với sự dadạng về tài nguyên thiên nhiên đất, sinh vật, biển,… và tài nguyên khoáng sản dầukhí, than đá, apatit, đất hiếm, đá vôi, quặng titan,… rất thuậ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
- -BÀI THẢO LUẬN
ĐỀ TÀI: Trình bày cơ hội hợp tác về thương mại và đầu tư giữa
Thái Lan và Việt Nam
Học phần: Kinh tế khu vực và ASEAN Giáo viên hướng dẫn: Nguyễn Ngọc Diệp Nhóm thảo luận: 06
Mã LHP: 2169FECO2031
Hà Nội - 2021
Trang 3CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
BIÊN BẢN HỌP NHÓM 6
(Lần 1)
I Thời gian: 20h30 ngày 09//10/2021.
II Địa điểm: Zalo, Google Meet
III Thành viên tham gia:
V Nội dung cuộc họp
- Nhóm trưởng đưa dàn ý và phân công công việc đến từng thành viên
- Thống nhất thời gian thực hiện và nộp tài liệu
Trang 4CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
BIÊN BẢN HỌP NHÓM 6
(Lần 2)
I Thời gian: 20h30 ngày 12/10/2021.
II Địa điểm: Zalo
III Thành viên tham gia:
- Chỉnh sửa lại bản Word
V Nội dung cuộc họp:
- Chỉnh sửa lại các mục của bản Word
- Thuyết trình kết hợp với slide
VI Kết thúc cuộc họp:
- Tất cả các thành viên đều đồng ý với bản thảo luận
Cuộc họp kết thúc lúc: 22 giờ 30 phút cùng ngày
Ngày 09 tháng 10 năm 2021
Nhóm trưởng LinhNguyễn Nhật Linh
Trang 5BẢNG PHÂN CÔNG NHIỆM VỤ ST
Trang 6A – PHẦN MỞ ĐẦU 6
B – NỘI DUNG 7
I Tổng quan về kinh tế Thái Lan và Việt Nam 7
1.1 Tổng quan về kinh tế Việt Nam 7
1.2 Tổng quan về kinh tế Thái Lan 8
1.3 Điều kiện thuận lợi để hợp tác thương mại và đầu tư giữa Việt Nam và Thái Lan 9
II Cơ hội hợp tác thương mại và đầu tư giữa Việt Nam và Thái Lan (1995 – nay) 10
1 Cơ sở hình thành mối quan hệ hợp tác thương mại, đầu tư giữa Việt Nam – Thái Lan 10
2 Thực trạng quan hệ hợp tác thương mại, đầu tư giữa Việt Nam và Thái Lan (1995 – nay) 11
2.1 Hợp tác về thương mại 11
2.1.1 Xuất khẩu 11
2.1.2 Nhập khẩu 15
2.1.3 Kim ngạch xuất, nhập khẩu 17
2.1.4 Đánh giá 18
2.2 Hợp tác về đầu tư 18
2.2.1 Hình thức đầu tư 18
2.2.2 Quy mô đầu tư 20
2.2.3 Lĩnh vực đầu tư 21
2.2.4 Đánh giá 22
III Cơ hội cho tương lai về mối quan hệ hợp tác thương mại, đầu tư giữa Việt Nam và Thái Lan 23
3.1 Thuận lợi 23
3.2 Khó khăn 23
3.3 Dự báo về quan hệ hợp tác thương mại 23
3.4 Dự báo quan hệ hợp tác đầu tư 24
IV Giải pháp tăng cường quan hệ thương mại, đầu tư giữa Việt Nam và Thái Lan 24
4.1 Giải pháp chung 24
4.1.1 Hoàn thiện hành lang pháp lí và cải cách thủ tục hành chính 24
4.1.2 Nâng cấp cơ sở hạ tầng 25
4.2 Giải pháp đối với quan hệ hợp tác thương mại 25
Trang 74.2.1 Phát triển các ngành hàng xuất khẩu chủ lực 25
4.2.2 Đẩy mạnh xúc tiến thương mại 26
4.2.3 Đẩy mạnh áp dụng thương mại điện tử trong kinh doanh 26
4.2.4 Nghiên cứu thị trường Thái Lan 26
4.3 Giải pháp đối với quan hệ hợp tác đầu tư 26
4.4 Tiểu kết 27
C – KẾT LUẬN 28
A – PHẦN MỞ ĐẦU
Trang 8Hiện nay, quan hệ thương mại và đầu tư đóng một vai trò vô cùng quan trọngtrong việc gắn kết quan hệ và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế giữa các quốc gia, đưa cácquốc gia cùng nhau đi lên cùng nhau vững mạnh Việt Nam và Thái Lan cũng vậy.Hai quốc gia đã có với nhau hơn 45 năm hợp tác cùng phát triển Kể từ năm 1976 –chính thức xác nhận quan hệ hợp tác đến nay, hai nước đã phải trải qua nhiều thăngtrầm và xung đột, nhưng đến cuối cùng vẫn bỏ qua những mâu thuẫn mà tái hợp tác
và cùng nhau nỗ lực hoàn thiện mối quan hệ, đặc biệt là quan hệ thương mại và đầu
tư Trong suốt 45 năm, Việt Nam và Thái Lan đã cùng nhau đạt được nhiều thỏathuận có ý nghĩa sâu sắc về mặt thương mại và đầu tư Bài tiểu luận này sẽ cung cấpthông tin về cơ sở hình thành mối quan hệ thương mại, điện tử giữa hai quốc gia vàphân tích mối quan hệ này xuyên suốt quá trình từ năm 1995 đến nay Sau đó lànhững dự báo và giải pháp giúp thắt chặt và phát triển quan hệ thương mại và điện tửgiữa Việt Nam và Thái Lan trong tương lai
B – NỘI DUNG
Trang 9I Tổng quan về kinh tế Thái Lan và Việt Nam
1.1 Tổng quan về kinh tế Việt Nam.
Việt Nam nằm ở rìa phía đông của bán đảo Đông Dương tiếp giáp Biển Đônggần trung tâm Đông Nam Á, trên các đường hàng hải, đường bộ và đường hàng khôngquốc tế Việt Nam nằm trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương, khu vực có hoạtđộng kinh tế sôi động nhất thế giới Khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa cùng với sự dadạng về tài nguyên thiên nhiên (đất, sinh vật, biển,…) và tài nguyên khoáng sản (dầukhí, than đá, apatit, đất hiếm, đá vôi, quặng titan,…) rất thuận lợi cho việc chăn nuôitrồng trọt, phát triển nông nghiệp, đánh bắt, nuôi trồng thủy hải sản và mở rộng dịch
vụ du lịch…
Kinh tế Việt Nam là một nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩađang phát triển, phụ thuộc lớn vào nông nghiệp, du lịch, xuất khẩu thô và đầu tư trựctiếp nước ngoài Chính phủ Việt Nam tự nhận rằng kinh tế Việt Nam là một nền kinh
tế vận hành theo cơ chế thị trường, nhiều nước và khối kinh tế bao gồm cả một số nềnkinh tế thị trường tiên tiến cũng công nhận Việt Nam là nền kinh tế thị trường Tuynhiên, cho đến nay Hoa Kỳ, EU và Nhật Bản vẫn chưa công nhận kinh tế Việt Nam lànền kinh tế thị trường Tổ chức Thương mại Thế giới công nhận Việt Nam là nền kinh
tế đang phát triển ở trình độ thấp và đang chuyển đổi Xét về mặt kinh tế, Việt Nam làquốc gia thành viên của Liên Hợp Quốc (UN), Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO),Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Nhóm Ngân hàng Thế giới, Ngân hàng Phát triển châu Á,Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương, Hiệp định Đối tác Toàn diện vàTiến bộ xuyên Thái Bình Dương, ASEAN
Đổi mới kinh tế và chính trị từ năm 1986 đã thúc đẩy phát triển kinh tế, nhanhchóng đưa Việt Nam từ một trong những quốc gia nghèo nhất trên thế giới trở thànhquốc gia thu nhập trung bình thấp Từ 2002 đến 2018, GDP đầu người tăng 2,7 lần,đạt trên 2.700 USD năm 2019, với hơn 45 triệu người thoát nghèo
Do hội nhập kinh tế sâu rộng, nền kinh tế Việt Nam chịu ảnh hưởng nặng nề bởiđại dịch COVID-19, nhưng cũng thể hiện sức chống chịu đáng kể Tăng trưởng GDPước đạt 2,9% năm 2020 Việt Nam là một trong số ít quốc gia trên thế giới tăngtrưởng kinh tế dương
Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, năm 2020, quy mô nền kinh tế Việt Nam đạtkhoảng 343 tỷ USD, đứng trong top 40 nền kinh tế lớn nhất thế giới và đứng thứ tưASEAN; GDP bình quân đầu người đạt 3.521 USD đứng thứ 6 ASEAN
Trang 10Một số ngành kinh tế trọng điểm của Việt Nam: nông ngư nghiệp (xuất khẩu gạođứng thứ hai thế giới năm 2020 chỉ sau Ấn Độ), ngành công nghiệp chế biến, chế tạo,công nghiệp hóa chất, phân bón, du lịch.
Tổng giá trị xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ của Việt Nam là 287,76 tỷ USD vàonăm 2020 theo số liệu mới nhất từ Ngân hàng thế giới Giá trị xuất khẩu của ViệtNam tăng 8,04 tỷ USD so với 2019 Các mặt hàng xuất khẩu chính là máy móc thiết
bị, phụ tùng, máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện, gỗ và sản phẩm gỗ, sắt thép,dệt may, giày dép, xăng dầu,… Các thị trường chính là Hoa Kỳ, Trung Quốc,ASEAN,…
Tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ của Việt Nam là 279,84 tỷ USDvào năm 2020 theo số liệu mới nhất từ Ngân hàng thế giới Giá trị nhập khẩu của ViệtNam tăng 8,47 tỷ USD so với 2019 Các mặt hàng nhập khẩu chính là: áy vi tính, sảnphẩm điện tử và linh kiện, nguyên phụ liệu dệt may, phế liệu sắt thép,… Thị trườngchính là Trung Quốc, Hàn Quốc,…
1.2 Tổng quan về kinh tế Thái Lan.
Thái Lan cũng là một quốc gia có nguồn tài nguyên thiên nhiên (đất, biển,…) vàkhoáng sản (thiếc, cao su, khí tự nhiên, gỗ, chì, thạch cao,…) vô cùng phong phú tạomôi trường thuận lợi cho sự phát triển của 3 ngành kinh tế chính là nông nghiệp, côngnghiệp và dịch vụ
Kinh tế Thái Lan là một nền kinh tế thị trường công nghiệp mới phụ thuộc lớnvào du lịch và xuất khẩu với kim ngạch xuất khẩu chiếm khoảng 60% GDP Trongbốn thập kỷ qua, Thái Lan đã đạt được những tiến bộ đáng kể trong phát triển kinh tế
và xã hội, chuyển từ một quốc gia có thu nhập thấp lên một quốc gia có thu nhậptrung bình cao trong vòng chưa đầy một thế hệ Nền kinh tế Thái Lan tăng trưởng vớitốc độ trung bình hàng năm là 7,5% trong những năm bùng nổ 1960-1996 và 5%trong giai đoạn 1999 - 2005 sau cuộc Khủng hoảng Tài chính Châu Á
Trong những năm gần đây, tăng trưởng kinh tế chậm lại từ 4,2% năm 2018xuống 2,4% năm 2019 Các động lực chính khiến tăng trưởng chậm lại là nhu cầuxuất khẩu yếu hơn phản ánh tác động của căng thẳng thương mại Mỹ - Trung, đầu tưcông chậm lại và hạn hán, ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp
Tăng trưởng kinh tế ở Thái Lan giảm xuống 6,1% vào năm 2020 do nhu cầu bênngoài giảm ảnh hưởng đến thương mại và du lịch, gián đoạn chuỗi cung ứng và tiêudùng nội địa suy yếu Sự bùng phát COVID-19 đã tạo ra thêm một số thách thức trên
Trang 11thị trường lao động Tác động chính là tỷ lệ thất nghiệp tăng đột biến, tăng gấp đôi từ1% trong quý đầu tiên của năm 2019 lên 2% trong quý thứ hai năm 2020.
Theo các số liệu của UN, IMF và Ngân hàng Thế giới; tính cho đến hết năm
2020, GDP danh nghĩa của Thái Lan được ước tính vào khoảng 130.9 USD hoặc
17287 USD nếu xét theo GDP sức mua tương đương GDP bình quân đầu người theosức mua tương đương đạt mức 6094.43 USD/người Thái Lan là nền kinh tế lớn thứ 2tại Đông Nam Á, đứng thứ 8 châu Á và xếp hạng 22 trên thế giới theo danh nghĩahoặc thứ 7 châu Á và 20 toàn cầu nếu xét theo sức mua- đây là vị trí mà quốc gia này
đã nắm giữ và duy trì trong nhiều năm qua
Một số ngành kinh tế được Thái Lan xác định là trọng điểm gồm: du lịch, nôngngư nghiệp (xuất khẩu gạo đứng thứ nhất thế giới, xuất khẩu hải sản đứng thứ ba thếgiới), tự động hóa và phụ tùng ô tô, điện tử, thực phẩm và kinh doanh nông phẩm Tổng giá trị xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ của Thái Lan là 258,07 tỷ USD vàonăm 2020 theo số liệu mới nhất từ Ngân hàng thế giới Giá trị xuất khẩu của Thái Langiảm -65,70 tỷ USD so với 2019 Một số mặt hàng xuất khẩu chính của Thái Lan baogồm lúa gạo; hải sản; ôtô và phụ tùng ôtô; đá quý và trang sức; sản phẩm từ cao su;nhiên liệu; phụ tùng máy móc, linh kiện; sắt và thép Các thị trường xuất khẩu chínhlà: Trung Quốc, Nhật Bản, EU,…
Tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ của Thái Lan là 233,33 tỷ USDvào năm 2020 theo số liệu mới nhất từ Ngân hàng thế giới Giá trị nhập khẩu của TháiLan giảm -39,58 tỷ USD so với 2019 Các mặt hàng nhập khẩu: máy móc thiết bị, sảnphẩm điện và điện tử, xăng dầu, sắt thép và sản phẩm, xe cộ, ngọc và trang sức, đồnhựa,… với các thị trường chính là Nhật Bản, Trung Quốc, EU,…
1.3 Điều kiện thuận lợi để hợp tác thương mại và đầu tư giữa Việt Nam và Thái Lan
Trong bối cảnh các quốc gia trên thế giới đang tích cực, chủ động triển khaichiến lược, chính sách về hội nhập quốc tế, trong đó chú trọng thúc đẩy kinh tế số vàcác thỏa thuận, thương mại quốc tế thế hệ mới
Và trong khu vực, các quốc gia cùng tham gia vào hiệp hội các quốc gia ĐôngNam Á (ASEAN) ASEAN tạo môi trường và không khí thuận lợi để Việt Nam vàThái Lan thúc đẩy quan hệ láng giềng, giải quyết các vấn đề trong quan hệ songphương
Trang 12Mái nhà chung Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) tiếp thêm độnglực cho quan hệ song phương Việt Nam - Thái Lan mở rộng và phát triển mạnh mẽsau khi Việt Nam chính thức trở thành thành viên của tổ chức khu vực này vào ngày28/7/1995 Sau thời điểm đó, quan hệ hai bên không ngừng được vun đắp, ngày càngtăng cường và củng cố về mọi mặt.
Hai bên đã nâng cấp quan hệ lên Đối tác chiến lược nhân chuyến thăm của Tổng
Bí thư Nguyễn Phú Trọng tới Thái Lan tháng 6/2013 và hiện có hơn 50 hiệp định,thỏa thuận hợp tác trên nhiều lĩnh vực cùng 13 cặp tỉnh/thành kết nghĩa và đặt quan hệhữu nghị
Chính bối cảnh thế giới và khu vực cùng với quan hệ ngoại giao giữa hai nước
đã tạo điều kiện thuận lợi cho hợp tác thương mại và đầu tư giữa Việt Nam và TháiLan
II Cơ hội hợp tác thương mại và đầu tư giữa Việt Nam và Thái Lan (1995 – nay)
1 Cơ sở hình thành mối quan hệ hợp tác thương mại, đầu tư giữa Việt Nam và Thái Lan.
Xét về nhiều mặt, Thái Lan có một vị trí đặc biệt trong chính sách của Việt Namđối với Đông Nam Á Việt Nam và Thái Lan là hai quốc gia lớn của Đông Nam Á lụcđịa Sự gần gũi về địa lý khiến Thái Lan nhạy cảm nhất với những diễn biến ở ĐôngDương mà Việt Nam đặc biệt coi trọng Bên cạnh đó, mối quan hệ giữa Việt Nam vàThái Lan luôn là thước đo của mối quan hệ giữa Việt Nam và các nước ASEAN, đặcbiệt là trước khi Việt Nam gia nhập Hiệp hội Maisrikrod lưu ý rằng “Trật tự khu vực
ở Đông Nam Á trong hầu hết những năm 1980 đều tập trung vào mối quan hệ Việt.”
Thái-Cơ sở quan hệ hợp tác thương mại, đầu tư giữa Việt Nam và Thái Lan được hìnhthành thông qua 3 sự kiện có ý nghĩa quan trọng
Thứ nhất là sự kiện Việt Nam và Thái Lan thiết lập quan hệ ngoại giao vào ngày
6 tháng 8 năm 1976, thông qua cuộc gặp mặt và ký kết giữa ông Pichai Rattakul - Bộtrưởng Ngoại giao Thái Lan và ông Nguyễn Duy Trinh – Bộ trưởng ngoại giao ViệtNam ngay sau khi Chiến tranh Việt Nam kết thúc Đây là cơ sở và tiền đề quan trọngcho việc thúc đẩy mối quan hệ hữu nghị, hợp tác nhiều mặt giữa Việt Nam và TháiLan
Trang 13Tuy nhiên, quan hệ giữa hai nước đã rơi vào tình trạng thù địch khi Thái Lan trởthành quốc gia bình phong của ASEAN để phản đối cái gọi là “Việt Nam chiếm đóngCampuchia ” Kể từ khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, quan hệ giữa Việt Nam và TháiLan đã phản ánh xu hướng chung hướng tới hợp tác khu vực nhiều hơn
Thế nhưng vào năm 1979, quyết định đưa quân vào Campuchia và sự phát triểnquan hệ thân thiết với Liên Xô của Việt Nam khiến Thái Lan cho rằng sẽ gây ảnhhưởng xấu tới an ninh của quốc gia này lại khiến mối quan hệ Việt Nam – Thái Lantrở nên không “hòa thuận”
Sự kiện quan trọng thứ hai là tháng 9/1988, thủ tướng mới của Thái Lan – ôngChatichai Choonhavan tuyên bố chính sách “Biến Đông Dương từ chiến trường thànhthị trường, đồng thời điều chỉnh chính sách ngoại giao thì mối quan hệ giữa hai quốcgia mới khôi phục hoàn toàn Điều này mở ra một thời kì mới trong quan hệ kinh tế,thương mại và đầu tư giữa Thái Lan và Việt Nam Kể từ đó quan hệ hợp tác giữa hainước đã từng bước được cải thiện trên nhiều lĩnh vực khác nhau Hai quốc gia bắt đầuxây dựng lại một mối quan hệ vẹn tròn, được phía Việt Nam mô tả là “thân thiện vàtốt đẹp hơn bao giờ hết”, còn phía Thái Lan là “đôi bên cùng có lợi” dựa trên “tìnhhữu nghị, sự tin cậy và sự tôn trọng lẫn nhau”
Sang đến những năm 1990, cả hai quốc gia đã rất nỗ lực để cùng nhau phát triểnthông qua một số hoạt dộng thăm hỏi và ký kết hợp tác Điển hình như tháng 9 năm
1991, Việt Nam và Thái Lan thống nhất ký thiết lập “Ủy ban Hợp tác về thương mại
và kinh tế” nhân chuyến thăm Việt Nam của Bộ trưởng Ngoại giao Arsa Sarasin Tiếp
đó đến tháng 10 năm 1991, quan hệ hai bên lại tiến thêm một bước khi thủ tướng ViệtNam Võ Văn Kiệt sang thăm Thái Lan và ký kết văn kiện “Hiệp định thúc đẩy và bảo
vệ đầu tư” và “Bản ghi nhớ về hợp tác năng lượng và dầu mỏ” giữa hai nước Bêncạnh đó vẫn còn rất nhiều những hoạt động thể hiện rõ sự nỗ lực gắn kết quan hệngoại giao nhằm tạo sự thuận tiện cho việc hợp tác thương mại và đầu tư giữa haiquốc gia
Sự kiện thứ ba cũng là sự kiện nổi bật nhất tạo cơ sở cho việc hình thành quan hệhợp tác thương mại và đầu tư giữa Việt Nam và Thái Lan chính là việc Việc ViệtNam gia nhập ASEAN vào tháng 7/1995 Nó đã mở ra những triển vọng mới cho hợptác kinh tế giữa Việt Nam và các nước ASEAN khác, trong đó có Thái Lan Nó giúpmối quan hệ giữa Việt Nam và Thái Lan lần nữa được thắt chặt Hơn thế nữa, cộngđồng kinh tế AEC với các hiệp định kinh tế như ATISA, ATIGA,… lại càng tạo điềukiện thuận lợi cho hai quốc gia tiếp tục hợp tác về thương mại và đầu tư
Trang 142 Thực trạng quan hệ hợp tác thương mại, đầu tư giữa Việt Nam và Thái Lan (1995 – nay)
Do tính tương đồng về cơ cấu mặt hàng xuất khẩu của hai nước cho nên các mặthàng của Việt Nam nói chung và nông sản nói riêng khó thâm nhập vào thị trườngThái Lan Những mặt hàng chính Việt Nam xuất khẩu sang Thái Lan như nhiên liệu(dầu thô, than đá); máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện; thuỷ sản; nông sản; dệtmay, giày dép Từ năm 1995, Thái Lan luôn là bạn hàng lớn thứ hai của Việt Namtrong ASEAN Việt Nam đã đề nghị Thái Lan tạo điều kiện thuận lợi cho hàng hoáxuất khẩu của Việt Nam sang Thái Lan, như: dành ưu đãi thuế quan đặc biệt với một
số mặt hàng nông sản đang bịáp dụng hạn ngạch thuế quan nhằm giảm cán cânthương mại do Việt Nam nhập siêu từ Thái Lan
Theo số liệu thống kê của Trung tâm Công nghệ Thông tin, Bộ Thương mại TháiLan, xuất khẩu từ Việt Nam sang Thái Lan tăng mạnh liên tục từ 43,06 triệu USD lênđến 345,07 triệu USD
Trang 15(Xuất khẩu của Việt Nam sang Thái Lan giai đoạn từ 1995 – 2000).
Từ năm 2000 đến năm 2011, tình hình xuất khẩu hàng hóa từ Viêt Nam sangThái Lan cũng rất khả quan
Thái Lan nhập khẩu từ Việt Nam khoảng 20 mặt hàng với giá trị khoảng 388,9triệu USD Kể từ 2000 so với 1996, xuất khẩu của Việt Nam sang Thái Lan tăng gấp
6 lần Vào năm 2002 quan hệ thương mại Việt Nam –Thái Lan đạt 1.18 tỷ USD, năm
2003 đạt 1,6 tỷ USD và tăng mạnh vào năm 2004 đạt 2,3 tỷ USD Việt Nam ưu tiênđưa vấn đề hợp tác kinh tế thương mại với Thái Lan lên hàng đầu và luôn đánh giácao tiềm năng kinh tế của Thái Lan
Việt Nam xuất khẩu sang Thái Lan trong năm 2008 so với 1996 tăng gần 23 lần(1450,5 so với 62,5 triệu USD) Năm 2019, do tác động của cuộc khủng hoảng tàichính toàn cầu, Việt Nam xuất khẩu sang Thái Lan chỉ 1,226 tỷ USD
Quan hệ kinh tế - thương mại tăng trưởng nhanh, trước hết là do tác động tíchcực của chính sách mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam Nhiều mặt hàngcủa Việt Nam sản xuất, Thái lan cũng có, nhưng vẫn thâm nhập được vào thị trườngnước này Thứ hai, các doanh nghiệp Việt Nam đã có những thay đổi trong hoạt độngtìm kiếm thị trường Thứ ba, vai trò của các cơ quan Nhà nước hữu quan đã hỗ trợtháo gỡ khó khăn trong chính sách và hỗ trợ xúc tiến xuất khẩu của cả hai nước
Từ 2011 đến 2015, xuất khẩu Việt Nam sang Thái Lan chỉ tăng ở giai đoạn đầu
và có dấu hiệu chững lại sau năm 2013, đồng thời vẫn còn ở mức thấp
Giai đoạn 2005-2015, nhóm hàng nhiên liệu chiếm tỷ trọng tương đối lớn trongkim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Thái Lan là: dầu thô và than đá chiếm, cácmặt hàng chiếm tỷ trọng đáng kể trong kim ngạch xuất khẩu hai nước bao gồm: máy
vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện, thủy sản, nông sản
Trang 16(Trị giá xuất khẩu hàng hóa sang Thái Lan của Việt Nam 1995-2015)
Nhìn chung, giai đoạn 1995-2015, hai quốc gia đã đạt được nhiều thành tựutrong kinh tế, xuất khẩu từ Việt Nam sang Thái Lan ngày một tăng, đưa Thái Lan trởthành một trong những đối tác quan trọng về kinh tế của Việt Nam
b Giai đoạn 2016 - nay
Từ năm 2016 đến nay trị giá xuất khẩu hàng hóa từ Việt Nam sang Thái Lan tiếptục tăng và có sự giảm nhẹ vào năm 2019 và 2020 do ảnh hưởng của dịch covid 19.Tháng 8/2016, xuất khẩu của Việt Nam đạt trị giá 341,97 triệu USD, tăng 8,9 %
so với tháng 7/2016; đưa tổng kim ngạch xuất khẩu sang Thái Lan trong 8 tháng đầunăm 2016 lên 2,42 tỷ USD, tăng trưởng 10,6% so với cùng kỳ năm 2015 Nhữngnhóm hàng của Việt Nam xuất khẩu sang thị trường Thái Lan chủ yếu gồm: điện thoại
và linh kiện; máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện; phương tiện vận tải phụ tùng;hàng thủy sản; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng; sắt thép các loại…Máy vi tính,sản phẩm điện tử và linh kiện là mặt hàng đứng thứ hai về kim ngạch, đạt 266,63 triệuUSD, tăng 55,6% so với cùng kỳ năm ngoái, chiếm 11,0% tổng kim ngạch xuất khẩusang thị trường Thái Lan Xếp thứ ba trong bảng xuất khẩu là nhóm hàng phương tiệnvận tải và phụ tùng, kim ngạch xuất khẩu đạt 213,53 triệu USD, chiếm 8,8% tổng kimngạch xuất khẩu sang thị trường này, giảm 8,6% so với cùng kỳ năm 2015, chiếm8,8% tổng kim ngạch xuất khẩu sang thị trường này Đáng chú ý là nhóm hàng thức
ăn gia súc và nguyên liệu, mặc dù kim ngạch chỉ đạt 34,98 triệu USD nhưng so vớicùng năm ngoái lại có mức tăng vượt trội với 366,2% Bên cạnh đó, một số nhómhàng có kim ngạch xuất khẩu tăng trưởng cao trong 8 tháng đầu năm nay gồm: hóachất tăng 76,4%; hàng dệt may tăng 68,0%; sản phẩm từ sắt thép tăng 59,2%; hàngrau quả tăng 28,2% Ngược lại, một số nhóm hàng xuất khẩu sang thị trường Thái Lanlại có kim ngạch sụt giảm trong 8 tháng qua so với cùng kỳ như: phân bón các loại
Trang 17Năm 2016, xuất khẩu đạt 3,69 tỷ USD, tăng 15,9% so với năm 2015 và tăng hơn
31 lần so với năm 1996; nhập khẩu năm 2016 đạt 8,85 tỷ USD, tăng 6,9% so với năm
2015, và tăng 16,7 lần so với năm 1996 Thái Lan cũng là thị trường có thâm hụtthương mại lớn nhất với Việt Nam trong khối ASEAN, tới 5,16 tỷ USD, gấp 1,4 lầnkim ngạch xuất khẩu sang thị trường này
Các mặt hàng xuất khẩu chính của Việt Nam sang Thái Lan trong năm 2017gồm: điện thoại các loại và linh kiện (1.231 triệu USD, tăng 72%); máy vi tính, sảnphẩm điện tử và linh kiện (479 triệu USD, tăng 15,5%); dầu thô (445 triệu USD, tăng182%); phương tiện vận tải và phụ tùng (333 triệu USD, tăng 3,9%); máy móc, thiết
bị, dụng cụ phụ tùng (331 triệu USD, tăng 10,5%); thủy sản (246 triệu USD, tăng1,4%).Việt Nam đứng thứ 12 trong các nước và vùng lãnh thổ xuất khẩu vào TháiLan, nước này chủ yếu nhập khẩu từ Trung Quốc, Nhật Bản, Hoa Kỳ, Malaysia, HànQuốc, Đài Loan, Singapore, Indonesia, các Tiểu vương quốc Ả Rập, Đức, Ả Rập Xê
út và Việt Nam
Quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Thái Lan ngày càng phát triển, kim ngạchxuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang Thái Lan liên tục tăng trưởng Theo số liệuthống kê của Tổng cục Hải quan, xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trườngThái Lan trong tháng 7/2017 đạt trị giá 442,92 triệu USD, tăng 9,2% so với tháng6/2017; nâng tổng kim ngạch xuất khẩu sang Thái Lan trong 7 tháng đầu năm 2017lên 2,64 tỷ USD, tăng trưởng 26,9 % so với cùng kỳ năm 2016
Năm 2018, hàng hóa Việt xuất sang Thái đạt 5,5 tỷ USD, tăng 14,79% so vớinăm 2017 Trước đó, năm 2017, kim ngạch xuất khẩu sang Thái cũng đạt 4,8 tỷ USD,tăng 29% so với năm 2016.Trong nhóm hàng nông sản, các sản phẩm như thuỷ sản,rau quả, hạt điều, cà phê, hạt tiêu cũng đã tiếp cận được thị trường này Nhiều mặthàng nông sản trái cây tươi đến nay Thái Lan vẫn đang phụ thuộc vào nhập khẩu từViệt Nam
Năm 2019, giá trị xuất khẩu của Việt Nam sang Thái Lan đạt 5,3 tỷ USD, giảm3,4% so với năm 2018
Và đến năm 2020,do ảnh hưởng của đại dịch Covid19, xuất khẩu hàng hóa củaViệt Nam sang thị trường Thái Lan trong 10 tháng đầu năm đạt 4,05 tỷ USD, giảm10,12% so với cùng kỳ năm 2019 Tính riêng tháng 10/2020 kim ngạch xuất khẩu đạt431,66 triệu USD, giảm 2,33% so với tháng trước đó
Trong số rất nhiều nhóm hàng xuất khẩu sang thị trường Thái Lan, đứng đầu vềkim ngạch là nhóm hàng điện thoại và linh kiện với 628,78 triệu USD, chiếm 15,50%
Trang 18trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa các loại sang thị trường này, giảm 43,21%
so với cùng kỳ năm trước Đứng thứ 2 về kim ngạch là nhóm máy vi tính, sản phẩmđiện tử và linh kiện đạt 376,56 triệu USD, tăng 1,43%, chiếm 9,28% Tiếp đến nhómhàng máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác đạt 343,94 triệu USD, tăng 1,99%,chiếm 8,48% Trong 10 tháng đầu năm 2020, một số mặt hàng xuất khẩu sang thịtrường Thái Lan tăng trưởng mạnh: xuất khẩu sắt thép các loại tăng 78,56%; xuấtkhẩu rau quả tăng tới 174,99%; xuất khẩu đá quý và kim loại quý tăng 32,59%; phânbón tăng 28,88% Một số mặt hàng xuất khẩu giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước:xuất khẩu sản phẩm từ sắt thép giảm 34,93%; xăng dầu các loại giảm 79,59%; hạt tiêugiảm 28,32%
Và theo số liệu từ tổng cụ thống kê, trong 6 tháng đầu năm 2021, dẫn đầu kimnghạch xuất khẩu là nhóm hàng điện thoại các loại và linh kiện, đạt 403,2 triệu USD,tăng 18,1% so với cùng kỳ năm trước, chiếm 13,3% tỷ trọng xuất khẩu Xuất khẩunhóm mặt hàng máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác trong tháng 6 đạt trên 44,8triệu USD, tăng 47% so với tháng trước, nâng tổng kim ngạch 6 tháng đạt trên 274,2triệu USD, tăng 47% so với cùng kỳ năm trước, chiếm 9% tỷ trọng xuất khẩu Hànghóa xuất khẩu sang Thái Lan 6 tháng đầu năm 2020 nhìn chung tăng kim ngạch so với
6 tháng đầu năm 2020 Trong đó, xuất khẩu tăng khá ở các nhóm hàng như: sắt thépcác loại tăng 49,8%; kim loại thường khác và sản phẩm tăng 443,4%; dây điện và dâycáp điện tăng 72,3%; hóa chất tăng 92,%; thức ăn gia súc và nguyên liệu tăng 99,9%.Ngược lại nhóm mặt hàng xuất khẩu giảm: Hàng rau quả giảm 20,5%; phân bón giảm35,5%; đá quý, kim loại quý và sản phẩm giảm 49,49%; quặng và khoáng sản giảm70,8%
(Trị giá xuất khẩu hàng hóa sang Thái Lan của Việt Nam 2016- sơ bộ 2020)