1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tài liệu Luận văn "Những biện pháp nhằm phát triển thị trường hàng hóa của doanh nghiệp thương mại nước ta trong thời gian tới" docx

82 422 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Những biện pháp nhằm phát triển thị trường hàng hóa của doanh nghiệp thương mại nước ta trong thời gian tới
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh tế thương mại
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 0,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thương mại Việt Nam rất phát triển từ sau thời kỳ đổi mới 1986 và đạt được nhiều thành tựu to lớn trong phát triển thị trường hàng hóa của doanh nghiệp thương mại góp phần nâng cao hiệu

Trang 1

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

thị trường hàng hóa của doanh nghiệp thương

Trang 2

MỤC LỤC

Lời nói đầu 1

Chương 1 Những vấn đề lý luận cơ bản về phát triển thị trường 2

hàng hóa ở doanh nghiệp thương mại 2

1.1 thị trường và vai trò của thị trường hàng hóa 2

1.1.1 Khái niệm về thị trường hàng hóa 2

1.1.2 Các yếu tố thị trường 3

1.1.3 Các quy luật của thị trường 3

1.1.4 Các chức năng của thị trường 4

1.1.5 Vai trò của thị trường hàng hóa trong nền kinh tế quốc dân 6

1.1.6 Phân loại thị trường hàng hóa 7

1.2 Doanh nghiệp thương mại (DNTM) 9

1.3 thị trường hàng hóa của doanh nghiệp thương mại .13

Chương 2 Phát triển thị trường hàng hóa của doanh nghiệp 19

thương mại nước ta trong thời gian qua 19

2.1 Đặc điểm của thị trường hàng hóa nước ta .19

2.1.1 Những đặc trưng cơ bản của thị trường hàng hóa nước ta 19

2.1.2 Hệ thống các doanh nghiệp thương mại nước ta hiện nay 20

2.2 Những thành tựu đạt được trong việc phát triển thị trường hàng hóa của doanh nghiệp thương mại nước ta 21

2.2.1 Thị trường trong nước phát triển mạnh .22

2.2.2 Thị trường ngoài nước được mở rộng và phát triển 27

2.3 Những nguyên nhân đạt được thành tựu trên .33

2.3.1 Sự chuyển đổi nền kinh tế 33

2.3.2 Sự phát triển của các ngành sản xuất .34

2.3.3 Xóa bỏ độc quyền của Nhà nước đối với hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa .35

2.3.4 Quản lý Nhà nước về thị trường được tăng cường .36

2.3.5 Đẩy mạnh hội nhập quốc tế và khu vực .37

2.3.6 Các doanh nghiệp thương mại nâng cao chất lượng phục vụ, chủ động tìm kiếm thị trường 37

2.4 Những vấn đề đặt ra trong quá trình phát triển thị trường hàng hóa của doanh nghiệp thương mại nước ta 37

2.4.1 Tuy tổng mức lưu chuyển nội thương và ngoại thương đều tăng nhưng hàng hóa của Việt Nam có khả năng cạnh tranh thấp cả ở thị trường trong và ngoài nước .37

2.4.2 Các DNTM chưa làm tốt vai trò hướng dẫn tiêu dùng và tổ chức thông tin thị trường để định hướng cho sản xuất 38

2.4.3 Thị trường nước ngoài mới phát triển được bề rộng chưa phát triển được bề sâu .38

81 2.4.4 Tình hình buôn lậu và gian lận thương mại diễn ra thường xuyên và ngày càng tinh vi 39

Trang 3

2.4.5 Khung pháp lý cho hoạt động thương mại bước đầu đã thông

thoáng nhưng thể chế kinh tế thị trường còn chưa hoàn chỉnh 39

Chương 3 Những biện pháp nhằm phát triển thị trường hàng hóa của doanh nghiệp thương mại nước ta trong thời gian tới 41

3.1 Mục tiêu và phương hướng 41

3.1.1 Thúc đẩy thương mại Việt Nam phát triển 41

3.1.2 Nâng cao hiệu quả kinh doanh cho các doanh nghiệp thương mại .41

3.1.3 Tăng xuất khẩu, giảm thiểu nhập khẩu .42

3.1.4 Phục vụ tiêu dùng cá nhân và công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước .45

3.2 Những biện pháp nhằm phát triển thị trường hàng hóa của doanh nghiệp thương mại nước ta trong thời gian tới 46

3.2.1 Nâng cao năng lực sản xuất hàng hóa ở các doanh nghiệp sản xuất trong nước .46

3.2.2 Tổ chức mạng lưới thu mua hợp lý 47

3.2.3 Đẩy mạnh công tác nghiên cứu thị trường và xúc tiến thương mại ở các DNTM .47

3.2.4 Hạn chế nguy cơ rủi ro, tổn thất trong kinh doanh thương mại quốc tế 48

3.2.5 Xác định loại hình kinh doanh quyết định chiến lược thị trường của các doanh nghiệp thương mại bán lẻ .49

3.2.6 Hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách cho hoạt động thương mại .55

3.2.7 Phát triển các trung tâm thương mại ở Việt Nam 55

3.2.8 Thâm nhập sâu, hiệu quả vào từng thị trường nước ngoài 57

3.3 Dự báo cung cầu và giá cả một số mặt hàng chủ yếu đến 2010 .68

3.3.1 Hàng nông sản 68

3.3.2 Nhóm hàng nguyên liệu thô 71

3.3.3 Nhóm hàng năng lượng .71

3.3.4 Hàng thủy sản 72

3.3.5 Hàng dệt may và giày dép .73

3.3.6 Các mặt hàng đã qua chế biến 73

3.3.7 Mặt hàng phân bón .74

3.3.8 Kim loại .75

3.3.9 Các mặt hàng có hàm lượng vốn và công nghệ cao .75

Kết luận 77

Danh mục tài liệu tham khảo 79

Trang 4

LỜI NÓI ĐẦU

Thương mại là một ngành của nền kinh tế quốc dân, là lĩnh vực trao đổi hàng hóa thông qua mua bán trên thị trường Thương mại Việt Nam rất phát triển từ sau thời kỳ đổi mới (1986) và đạt được nhiều thành tựu to lớn trong phát triển thị trường hàng hóa của doanh nghiệp thương mại góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp thương mại trong việc lưu thông hàng hóa phục vụ tiêu dùng và sản xuất

Để tăng cường sự hội nhập quốc tế, đẩy mạnh hơn công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đặc biệt sau khi gia nhập AFTA vào năm

2006 thì phát triển thị trường hàng hóa cho các doanh nghiệp thương mại nước ta là yêu cầu khách quan, cấp thiết

Trong bài viết này, em xin trình bày về "Những biện pháp nhằm phát

triển thị trường hàng hóa của doanh nghiệp thương mại nước ta trong thời gian tới" nhằm mục đích nhận thức đúng đắn hơn về thực trạng phát triển thị

trường hàng hóa của các doanh nghiệp thương mại nước ta trong thời gian qua từ đó nêu ra những biện pháp đúng đắn nhằm phát triển thị trường hàng hóa của doanh nghiệp thương mại nước ta trong thời gian tới

Trong bài viết này em xin trình bày các vấn đề sau:

+ Những vấn đề lý luận cơ bản về phát triển thị trường hàng hóa ở doanh nghiệp thương mại

+ Phát triển thị trường hàng hóa của doanh nghiệp thương mại nước ta trong thời gian tới

+ Những biện pháp nhằm phát triển thị trường hàng hóa của doanh nghiệp thương mại nước ta trong thời gian tới

Em xin chân thành cám ơn thầy: ThS Nguyễn Văn Tuấn và PGS.TS

Đặng Đình Đào đã hướng dẫn và giúp đỡ em rất nhiều trong quá trình hoàn

thành bài viết này!

Trang 5

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN THỊ

TRƯỜNG HÀNG HÓA Ở DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI

1.1 THỊ TRƯỜNG VÀ VAI TRÒ CỦA THỊ TRƯỜNG HÀNG HÓA

1.1.1 Khái niệm về thị trường hàng hóa

Thị trường là một phạm trù của kinh tế hàng hóa Thị trường được nhiều nhà kinh tế định nghĩa khác nhau Có người coi thị trường là cái chợ, là nơi mua bán hàng hóa Hội quản trị khoa học Hoa Kỳ coi: "thị trường là tổng hợp các lực lượng và các điều kiện, trong đó người mua và người bán thực hiện các quyết định chuyển hàng hóa và dịch vụ từ người bán sang người mua" Có nhà kinh tế lại quan niệm: "thị trường và lĩnh vực trao đổi mà ở đó người mua

và người bán cạnh tranh với nhau để xác định giá cả hàng hóa và dịch vụ", hoặc đơn giản hơn: thị trường là tổng hợp các số cộng của người mua về một sản phẩm hàng hóa hay dịch vụ Gần đây có nhà kinh tế lại định nghĩa: "thị trường là nơi mua bán hàng hóa, là một quá trình trong đó người mua và người bán một thứ hàng hóa tác động qua lại nhau để xác định giá cả và số lượng hàng, là nơi diễn ra các hoạt động mua bán bằng tiền trong một thời gian và không gian nhất định"

Các định nghĩa trên đây về thị trường có thể nhấn mạnh ở địa điểm mua bán, vai trò của người mua, người bán hoặc chỉ người mua, coi người mua giữ vai trò quyết định trong thị trường, chứ không phải người bán, mặc dù không

có người bán, không có người mua, không có hàng hóa và dịch vụ, không có thoả thuận thanh toán bằng tiền hoặc bằng hàng thì không thể có thị trường, không thể hình thành thị trường Cho dù thị trường hiện đại, có thể một trong vài yếu tố trên không có mặt trên thị trường thì thị trường vẫn chịu tác động của các yếu tố ấy và thực hiện trao đổi hàng hóa thông qua thị trường Vì vậy

đã nói đến thị trường phải nói đến các yếu tố sau:

Trang 6

Một là, phải có khách hàng, không nhất thiết phải gắn với địa điểm

xác định

Hai là, khách hàng phải có nhu cầu chưa được thỏa mãn Đây chính là

cơ sở thúc đẩy khách hàng mua hàng hóa và dịch vụ

Ba là, khách hàng phải có khả năng thanh toán, tức là khách hàng phải

có khả năng trả tiền để mua hàng

1.1.2 Các yếu tố thị trường

Các yếu tố của thị trường gồm: cung, cầu và giá cả thị trường

Tổng hợp các nhu cầu của khách hàng (người mua) tạo nên cầu về hàng hóa Tổng hợp các nguồn cung ứng sản phẩm cho khách hàng trên thị trường tạo nên cung hàng hóa

Sự tương tác giữa cung và cầu, tương tác giữa người mua và người mua, người bán với người bán và người bán với người mua hình thành giá cả thị trường Giá cả thị trường là một đại lượng biến động do sự tương tác của cung

và cầu trên thị trường của một loại hàng hóa, ở địa điểm và thời điểm cụ thể

1.1.3 Các quy luật của thị trường

* Quy luật giá trị:

Đây là quy luật kinh tế của kinh tế hàng hóa Khi nào còn sản xuất và lưu thông hàng hóa thì quy luật giá trị còn phát huy tác dụng Quy luật giá trị yêu cầu sản xuất và lưu thông hàng hóa phải dựa trên cơ sở giá trị lao động

Xã hội, cần thiết trung bình để sản xuất và lưu thông hàng hóa và trao đổi ngang giá Việc tính toán chi phí sản xuất và lưu thông bằng giá trị là cần thiết bởi đòi hỏi của thị trường, của xã hội với nguồn lực có hạn phải sản xuất được nhiều của cải vật chất cho xã hội nhất, hay là chi phí cho một đơn vị sản phẩm

là ít nhất với điều kiện chất lượng sản phẩm cao nhất Người sản xuất hoặc kinh doanh nào có chi phí lao động xã hội cho một đơn vị sản phẩm thấp hơn, trung bình thì người đó có lợi, ngược lại người nào có chi phí cao thì khi trao đổi thì sẽ không thu được giá trị đã bỏ ra, không có lợi nhuận và phải thu hẹp sản xuất, người kinh doanh phải tiết kiệm được chi phí, phải không ngừng cải

Trang 7

tiến kỹ thuật công nghệ, đổi mới sản phẩm, đổi mới kinh doanh, dịch vụ để thỏa mãn tốt nhất nhu cầu của khách hàng, để bán được nhiều hàng hóa và dịch vụ

* Quy luật cung cầu

Cung cầu hàng hóa dịch vụ không tồn tại độc lập, riêng rẽ mà thường xuyên tác động qua lại với nhau trên cùng một thời gian cụ thể Trong thị trường, quan hệ cung cầu là quan hệ bản chất, thường xuyên lắp đi lắp lại, khi tăng, khi giảm tạo thành quy luật trên thị trường Khi cung cầu gặp nhau, giá

cả thị trường được xác lập Đó là giá cả bình quân, gọi là giá cả bình quân nghĩa là ở mức giá đó cung và cầu ăn khớp với nhau Tuy nhiên mức giá đó lại không đứng yên, nó luôn luôn giao động trước sự tác động của lực cung, lực cầu trên thị trường Khi cung lớn hơn cầu, giá sẽ hạ xuống, ngược lại khi cầu lớn hơn cung giá lại tăng lên Việc giá ở mức bình quân cân bằng chỉ là tạm thời, việc mức giá thay đổi là thường xuyên Sự thay đổi trên là do hàng loạt các nguyên nhân trực tiếp và gián tiếp tác động đến cầu, đến cung, cũng như kỳ vọng của sản xuất, người kinh doanh và cả của khách hàng

* Quy luật cạnh tranh

Trong nền kinh tế nhiều thành phần kinh tế, có nhiều người mua, người bán với lợi ích kinh tế khác nhau thì việc cạnh tranh giữa người mua và người mua, người bán với người bán và cạnh tranh giữa người mua và người bán tạo nên sự vận động của thị trường và trật tự của thị trường Cạnh tranh trong kinh tế là cuộc chạy đua không đích cuối cùng cạnh tranh trong kinh tế là cuộc thi đấu không phải với một đối thủ mà đồng thời với hai đối thủ Đối thủ thứ nhất là giữa hai phe của hệ thống thị trường và đối thủ thứ hai là giữa các thành viên của cùng một phía với nhau.Tức là cạnh tranh giữa người mua và người bán và cạnh tranh giữa người bán với nhau, không thể lẫn tránh cạnh tranh mà phải chấp nhận cạnh tranh, đón trước cạnh tranh và sẵn sàng sử dụng

vũ khí cạnh tranh hữu hiệu

1.1.4 Các chức năng của thị trường

Trang 8

* Chức năng thừa nhận

Doanh nghiệp thương mại mua hàng hóa về để bán Hàng hóa có bán được hay không phải thông qua chức năng thừa nhận của thị trường, của khách hàng, của doanh nghiệp

Nếu hàng hóa bán được, tức là được thị trường thừa nhận, doanh nghiệp thương mại mới thu hồi được vốn có nguồn thu trang trải chi phí và có lợi nhuận Ngược lại, nếu hàng hóa đưa ra bán nhưng không có ai mua, tức là không được thị trường thừa nhận Để được thị trường thừa nhận, doanh nghiệp thương mại phải nghiên cứu nhu cầu của khách hàng, hàng hóa phải phù hợp với nhu cầu của khách hàng, phù hợp ở đây là phù hợp về số lượng, chất lượng, sự đồng bộ, quy cách, cỡ loại, mầu sắc, bao bì, giá cả, thời gian và địa điểm thuận tiện cho khách hàng

* Chức năng thực hiện

Chức năng này đòi hỏi hàng hóa và dịch vụ phải được thực hiện giá trị trao đổi: hoặc bằng tiền hoặc bằng hàng, bằng các chứng từ có giá trị khác Người bán hàng cần tiền, còn người mua cần hàng Sự gặp gỡ giữa người bán

và người mua được xác định bằng giá hàng Hàng hóa bán được tức là có sự dịch chuyển hàng hóa từ người bán sang người mua

* Chức năng điều tiết và kích thích

Qua hành vi trao đổi hàng hóa và dịch vụ trên thị trường, thị trường điều tiết và kích thích sản xuất và kinh doanh phát triển hoặc ngược lại Đối với doanh nghiệp thương mại, hàng hóa và dịch vụ bán hết nhanh sẽ kích thích doanh nghiệp đẩy mạnh hoạt động tạo nguồn hàng, thu mua hàng hóa để cung ứng ngày càng nhiều hơn hàng hóa và dịch vụ cho thị trường Ngược lại, nếu hàng hóa và dịch vụ không bán được, doanh nghiệp sẽ hạn chế mua, phải tìm khách hàng mới, thị trường mới, hoặc chuyển hướng kinh doanh mặt hàng khác đang hoặc sẽ có khả năng có khách hàng Chức năng điều tiết kích thích này luôn điều tiết sự gia nhập ngành hoặc rút ra khỏi ngành của một số doanh nghiệp Nó khuyến khích các nhà kinh doanh giỏi và điều chỉnh theo hướng

Trang 9

đầu tư vào lĩnh vực kinh doanh có lợi, các mặt hàng mới, chất lượng cao, có khả năng bán được khối lượng lớn

* Chức năng thông tin

Thông tin thị trường là những thông tin về nguồn cung ứng hàng hóa dịch vụ, nhu cầu hàng hóa và dịch vụ Đó là những thông tin kinh tế quan trọng đối với mọi nhà sản xuất, kinh doanh, cả người mua và người bán, cả người cung ứng và người tiêu dùng, cả người quản lý và người nghiên cứu sáng tạo Có thể nói đó là những thông tin được sự quan tâm của toàn xã hội Thông tin thị trường là những thông tin kinh tế quan trọng, không có thông tin thị trường không thể có quyết định đúng đắn trong sản xuất, kinh doanh, cũng như các quyết định của các cấp quản lý Việc nghiên cứu thị trường và tìm kiếm các thông tin có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với việc ra quyết định đúng đắn trong kinh doanh Nó có thể đưa đến thành công, cũng như có thể đưa đến thất bại bởi sự xác thực của các thông tin được sử dụng

1.1.5 Vai trò của thị trường hàng hóa trong nền kinh tế quốc dân

* Vị trí:

Trong nền kinh tế thị trường, thị trường có vị trí trung tâm Thị trường vừa là mục tiêu của người sản xuất kinh doanh vừa là môi trường của hoạt động sản xuất và kinh doanh hàng hóa Thị trường cũng là nơi chuyển tải các hoạt động sản xuất kinh doanh Trên thị trường người mua, người bán và người trung gian gặp nhau trao đổi hàng hóa - dịch vụ

Quá trình sản xuất xã hội có 4 khâu: sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu dùng, thì thị trường gồm hai khâu phân phối và trao đổi Đó là khâu trung gian cần thiết, là cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng Vì vậy nó có tác động nhiều mặt đến sản xuất, đến tiêu dùng xã hội

* Tác dụng của thị trường

Một là, bảo đảm điều kiện cho sản xuất phát triển liên tục với quy mô

ngày càng mở rộng và bảo đảm hàng hóa cho người tiêu dùng phù hợp với thị hiếu (sở thích) và sự tự do lựa chọn một cách đầy đủ, kịp thời, thuận lợi với

Trang 10

dịch vụ văn minh

Hai là, nó thúc đẩy nhu cầu, gợi mở nhu cầu, đưa đến cho người tiêu

dùng sản xuất và tiêu dùng cá nhân những sản phẩm mới Nó kích thích sản xuất ra sản phẩm chất lượng cao và gợi mở nhu cầu hướng tới các hàng hóa chất lượng cao văn minh và hiện đại

Ba là, dự trữ hàng hóa phục vụ sản xuất và tiêu dùng sản xuất, giảm bớt

dự trữ ở các khâu tiêu dùng, bảo đảm việc điều hòa cung cầu

Bốn là, phát triển các hoạt động dịch vụ phục vụ tiêu dùng sản xuất và

tiêu dùng cá nhân ngày càng phong phú, đa dạng, văn minh Giải phóng con người khỏi các công việc không tên trong gia đình, vừa nặng nề vừa mất thời gian Con người được nhiều thời gian tự do hơn

Năm là, thị trường hàng hóa dịch vụ ổn định có tác dụng to lớn để ổn

định sản xuất, ổn định đời sống của nhân dân

1.1.6 Phân loại thị trường hàng hóa

1.1.6.1 Căn cứ vào công dụng của hàng hóa

* Thị trường hàng tư liệu sản xuất

Đó là những sản phẩm dùng để sản xuất Thuộc về hàng tư liệu sản xuất có: các loại máy móc, thiết bị như máy tiện, phay, bào các loại nguyên vật liệu, các loại nhiên liệu, các loại hóa chất, các loại dụng cụ, phụ tùng Người

ta con gọi thị trường hàng tư liệu sản xuất là thị trường yếu tố đầu vào của các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh

* Thị trường hàng tư liệu tiêu dùng

Đó là những sản phẩm dùng để phục vụ cho tiêu dùng cá nhân của con người Ví dụ: lương thực, quần áo, giày dép, thuốc chữa bệnh, các sản phẩm hàng tiêu dùng cho cá nhân người tiêu dùng Các sản phẩm này ngày càng nhiều theo đà phát triển của sản xuất và nhu cầu đa dạng, nhiều vẻ của con người

1.1.6.2 Căn cứ vào nguồn sản xuất ra hàng hóa

* Thị trường hàng công nghiệp

Thị trường hàng công nghiệp bao gồm sản phẩm hàng hóa do các xí nghiệp công nghiệp khai thác, chế biến sản xuất ra

Trang 11

Công nghiệp khai thác tạo ra sản phẩm là nguyên liệu Nguyên liệu trải qua một hoặc một vài công đoạn chế biến thì thành vật liệu Công nghiệp chế biến tạo các nguyên vật liệu thành các sản phẩm hàng công nghiệp Đó là các loại hàng hóa có tính chất kỹ thuật cao, trung bình hoặc thông thường, có đặc tính cơ, lý, hóa học và trạng thái khác nhau Nhìn chung các loại hàng hóa này

có hàm lượng kỹ thuật khác nhau và thường là vật chất (không phải sinh vật)

* Thị trường hàng nông nghiệp (nông, lâm, hải sản)

Thị trường hàng nông nghiệp là thị trường hàng hóa có nguồn gốc từ sinh vật (động vật hoặc thực vật) Những sản phẩm có nguồn gốc nông nghiệp mới sơ chế (chưa qua công nghiệp chế biến), ví dụ như thóc, gạo,ngô, khoai

cá, lợn, gà, vịt có thể ở dạng ngủ nghỉ hoặc còn tươi sống muốn bảo quản được lâu phải có phương tiện kỹ thuật Nói chung chúng dễ bị ảnh hưởng bởi môi trường bên ngoài Sản phẩm có tính chất địa phương (rau, quả, củ) giá trị không cao nếu không được chế biến và không đưa đến các thị trường xa bằng phương tiện vận tải thông thường

1.1.6.3 Căn cứ vào nơi sản xuất

* Hàng sản xuất trong nước

Hàng sản xuất trong nước là do các doanh nghiệp trong nước sản xuất ra Hàng sản xuất trong nước ngày càng nhiều chứng tỏ trình độ phát triển của lực lượng sản xuất trong nước đến mức độ nào đó nhu cầu của thị trường Hàng sản xuất trong nước cũng phải hướng theo tiêu chuẩn quốc tế vừa để thỏa mãn tiêu dùng trong nước vừa có khả năng xuất khẩu Không có một quốc gia nào trên thế giới lại hoàn toàn dùng hàng trong nước Ngược lại nếu sản phẩm sản xuất trong nước chất lượng quá thấp thì việc sử dụng nguồn lực

để sản xuất hàng hóa đó là lãng phí và không thể đứng vững trên thị trường trong nước khi có hàng ngoại nhập vào Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thực chất là phát triển sản xuất hàng trong nước Có như vậy mới chủ động, tạo nhiều công ăn việc làm, đất nước phát triển và mới có hàng hóa để trao đổi với nước ngoài

* Hàng nhập ngoại

Trang 12

Hàng nhập ngoại là hàng cần thiết phải nhập từ nước ngoài do nguồn hàng trong nước chưa sản xuất đủ hoặc do kỹ thuật công nghệ, chưa thể sản xuất được Nhập hàng ngoại (kể cả kỹ thuật, công nghệ tiên tiến) là một yếu

tố không thể thiếu được và là một tác nhân kích thích cho sản xuất tiến lên Trên thế giới ngày nay, không có một quốc gia nào lại không có ngoại thương, không có xuất nhập hàng hóa Xuất nhập khẩu hàng hóa là lợi dụng được ưu thế tương đối và tuyệt đối của mỗi quốc gia và là yếu tố cho cả hai bên có quan hệ xuất nhập khẩu

1.2 Doanh nghiệp thương mại (DNTM)

1.2.1 Khái niệm

Doanh nghiệp thương mại là một đơn vị kinh doanh được thành lập hợp pháp nhằm mục đích thực hiện hoạt động kinh doanh thương mại, tổ chức lưu chuyển hàng hóa, mua hàng hóa ở nơi sản xuất và đem bán ở nơi có nhu cầu nhằm thu lợi nhuận

Đặc thù của DNTM là hoạt động trong lĩnh vực phân phối lưu thông, thực hiện lưu chuyển hàng hóa từ nơi sản xuất đến nơi tiêu dùng chứ không sản xuất ra các hàng hóa đó, mua để bán chứ không phải để tiêu dùng

DNTM là một tổ chức, một đơn vị kinh doanh có đủ các điều kiện mà pháp luật qui định và cho phép kinh doanh những mặt hàng pháp luật không cấm DNTM phải có tổ chức, đảm bảo những điều kiện về vốn, về tư cách pháp nhân và chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi kinh doanh và hàng hóa kinh doanh của mình

1.2.2 Các loại hình doanh nghiệp thương mại

1.2.2.1 Căn cứ vào tính chất của mặt hàng kinh doanh

* Doanh nghiệp kinh doanh chuyên môn hóa: đó là các doanh nghiệp chuyên kinh doanh một hoặc một số mặt hàng có cùng công dụng, trạng thái hoặc tính chất nhất định

* Các doanh nghiệp kinh doanh tổng hợp: là các doanh nghiệp kinh doanh nhiều mặt hàng có công dụng, trạng thái, tính chất khác nhau

* Các doanh nghiệp kinh doanh đa dạng hóa (hỗn hợp): các doanh

Trang 13

nghiệp kinh doanh cả sản xuất, cả kinh doanh hàng hóa và thực hiện các hoạt động dịch vụ thương mại

1.2.2.2 Theo quy mô của doanh nghiệp

* Doanh nghiệp thương mại có quy mô nhỏ

* Doanh nghiệp thương mại có quy mô vừa

* Doanh nghiệp thương mại có quy mô lớn

Để xếp loại doanh nghiệp người ta thường căn cứ vào hệ thống các tiêu thức khác nhau Đối với DNTM tiêu thức để xếp loại là số vốn kinh doanh, số lượng lao động, doanh số hàng hóa lưu chuyển hàng năm, phạm vi kinh doanh

1.2.2.3 Theo phân cấp quản lý

* Các DNTM do các bộ, các ngành của Trung ương quản lý

* Các DNTM do địa phương quản lý như các DNTM thuộc tỉnh (thành phố), thuộc huyện, quận, thị trấn, thị xã quản lý

1.2.2.4 Theo chế độ sở hữu tư liệu sản xuất

* Doanh nghiệp thương mại nhà nước: là DNTM được nhà nước đầu tư hoặc cấp 100% vốn kinh doanh

* Doanh nghiệp thương mại tập thể: là DNTM mà vốn kinh doanh do tập thể người lao động tự nguyện góp vào để kinh doanh

* Các công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty liên doanh

* Doanh nghiệp tư nhân: do các tư nhân trong nước và nước ngoài bỏ vốn kinh doanh

* Hệ thống người buôn bán nhỏ: là hộ cá thể có các cửa hàng, quầy hàng kinh doanh các hàng hóa phục vụ nhu cầu tiêu dùng của nhân dân

1.2.3 Chức năng của DNTM

Chức năng của DNTM là những nhiệm vụ chung nhất gắn liền với sự tồn tại, phát triển của DNTM và là tiêu thức để phân biệt DNTM với các doanh nghiệp công nghiệp, doanh nghiệp xây dựng và các doanh nghiệp của các ngành khác trong nền kinh tế quốc dân Trong nền kinh tế thị trường DNTM

có các chức năng:

DNTM phát hiện nhu cầu về hàng hóa, dịch vụ trên thị trường và tìm mọi

Trang 14

cách để thỏa mãn các nhu cầu đó DNTM trở thành bộ phận trung gian độc lập giữa sản xuất với tiêu dùng DNTM cần nghiên cứu nhu cầu thị trường để phát hiện, tìm ra những chủng loại hàng hóa, dịch vụ mà thị trường có nhu cầu và tìm mọi cách tạo ra chúng nhằm đáp ứng, thỏa mãn nhu cầu đó của khách hàng Chức năng thứ hai: là DNTM phải không ngừng nâng cao trình độ thỏa mãn nhu cầu của khách hàng để nâng cao hiệu quả kinh doanh DNTM phải là người hậu cần tốt của sản xuất và tiêu dùng, đem đến cho người tiêu dùng những hàng hóa đủ về số lượng, tốt về chất lượng, đồng bộ về cơ cấu, kịp thời gian với giá cả hợp lý

Chức năng thứ ba: giải quyết tốt các mối quan hệ bên trong nội bộ doanh nghiệp và quan hệ giữa doanh nghiệp với bên ngoài Vì giải quyết tốt các mối quan hệ bên trong và bên ngoài là việc cần thiết để tạo ra sự phối hợp nhịp nhàng trong kinh doanh Giải quyết các mối quan hệ bên trong doanh nghiệp

là giải quyết tốt các mối quan hệ giữa các thành viên trong doanh nghiệp với nhau, làm cho mọi người thân thiện, hiểu biết lẫn nhau, hiểu biết được mục tiêu nhiệm vụ của doanh nghiệp từ đó đoàn kết, phấn đấu vì mục tiêu chung Giải quyết mối quan hệ bên trong là cơ sở, là nền tảng để giải quyết mối quan

hệ bên ngoài DNTM Đó là quan hệ với bạn hàng, người cung ứng, với cơ quan cấp trên, với cơ quan quản lý, với khách hàng tạo nền văn hóa doanh nghiệp, quyết định thành bại trong kinh doanh

Trang 15

có bán được hàng hóa thì DNTM mới thu được vốn và lãi để từ đó tiếp tục mua hàng hóa khác để kinh doanh

DNTM có nhiệm vụ thực hiện phân phối theo lao động và chăm lo đời sống cho cán bộ công nhân viên Có như vậy nhân viên trong doanh nghiệp mới hoạt động hiệu quả, gắn bó với doanh nghiệp Để làm được điều này DNTM phải phát triển kinh doanh, tạo mở đầy đủ việc làm, tăng thêm thu nhập cho cán bộ công nhân viên, thực hiện phân phối công bằng quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi Điều đó sẽ tạo động lực để DNTM có đội ngũ nhân viên nhiệt tình, phục vụ tốt nhất cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thúc đẩy doanh nghiệp phát triển

Nhiệm vụ thứ tư là DNTM thực hiện đầy đủ trách nhiệm xã hội Trước hết DNTM chỉ kinh doanh những hàng hóa bảo đảm tiêu chuẩn chất lượng đã đăng ký để bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng, bảo vệ môi trường sinh thái, không gây ô nhiễm hay hủy hoại môi trường

Nhiệm vụ thứ năm là DNTM phải tuân thủ nghiêm chỉnh pháp luật nhà nước DNTM thực hiện nộp thuế đầy đủ và các nghĩa vụ khác của pháp luật Thực hiện tốt các chính sách và chế độ quản lý kinh tế của nhà nước

về thương mại

1.2.5 Vai trò của DNTM

Doanh nghiệp thương mại là hợp phần tất yếu, quan trọng đối với nền kinh tế quốc dân, là nơi thể hiện đầy đủ, tập trung nhất các mối quan hệ lớn trong xã hội: quan hệ giữa sản xuất với tiêu dùng; giữa cung và cầu; giữa tiền

và hàng; giữa xuất khẩu với nhập khẩu; giữa thu và chi ngân sách, đồng thời cũng là nơi diễn ra cuộc đấu tranh gay gắt, quyết liệt giữa cơ chế quản lý cũ chưa bị xóa bỏ hoàn toàn với cơ chế quản lý mới chưa hoàn chỉnh cùng đan xen tồn tại với nhau Bởi vậy DNTM phải phát huy vai trò là cầu nối, là trung gian cần thiết giữa sản xuất với tiêu dùng Hoạt động của các DNTM góp phần tạo ra các điều kiện vật chất cần thiết để phát triển sản xuất, nâng cao đời sống của nhân dân; điều chỉnh tỷ lệ cân đối trong sự phát triển của các

Trang 16

ngành, các lĩnh vực trong nền kinh tế, phát huy vai trò chỉ đạo, điều tiết thị trường, xứng đáng là công cụ chủ yếu của Nhà nước trong việc điều tiết và quản lý vĩ mô

Doanh nghiệp thương mại có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sản xuất, mở rộng lưu thông tạo điều kiện không ngừng nâng cao hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp, tích cực góp phần tăng tích lũy xã hội nhằm thực hiện thắng lợi công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập mau chóng vào nền kinh tế thế giới

Doanh nghiệp thương mại thông qua hoạt động kinh doanh của mình đã làm tốt việc phân phối hàng hóa từ nơi thừa đến nơi thiếu qua đó nâng cao mức hưởng thụ của người dân Và khi mức sống của người dân được tăng lên thì vai trò của doanh nghiệp thương mại càng quan trọng

DNTM có vai trò quan trọng trong việc mở rộng thị trường, đặc biệt là thị trường nước ngoài thông qua hoạt động xuất nhập khẩu, đưa hàng hóa trong nước ra nước ngoài và nhập hàng hóa, thiết bị kỹ thuật

1.3 thị trường hàng hóa của doanh nghiệp thương mại

1.3.1 Khái niệm

Thị trường hàng hóa của DNTM là một hay nhiều nhóm khách hàng với các nhu cầu về hàng hóa, có khả năng thanh toán và những người bán cụ thể nào đó mà ở đó DNTM có thể mua hàng hóa, dịch vụ để cung cấp và làm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng

Đối với DNTM, thị trường hàng hóa bao gồm các nhân tố: khách hàng

có nhu cầu và khả năng thanh toán, các doanh nghiệp cung cấp hàng hóa bao gồm bản thân doanh nghiệp và các đối thủ cạnh tranh, hàng hóa và giá cả Thị trường hàng hóa của DNTM bao gồm: thị trường nguồn hàng và thị trường bán hàng

Thị trường nguồn hàng của DNTM là nơi cung cấp toàn bộ khối lượng

và cơ cấu hàng hóa mà doanh nghiệp thương mại cần mua

Thị trường bán hàng của DNTM là tất cả các khách hàng có nhu cầu, có

Trang 17

khả năng thanh toán về hàng hóa mà doanh nghiệp kinh doanh

1.3.2 Vai trò của thị trường hàng hóa đối với DNTM

Thị trường hàng hóa có vai trò quan trọng đối với DNTM Nó vừa là mục tiêu vừa là môi trường kinh doanh của DNTM, quyết định thành công hay thất bại đối với DNTM

1.3.2.1 Thị trường nguồn hàng: cung cấp hàng hóa mà DNTM cần mua để

kinh doanh, để đáp ứng yêu cầu của khách hàng Thị trường nguồn hàng của DNTM gồm có: thị trường nguồn hàng trong nước và thị trường nguồn hàng nước ngoài Nhiều mặt hàng thị trường trong nước không có hoặc giá thành cao, chất lượng thấp thì DNTM phải thực hiện hoạt động nhập khẩu hàng hóa

đó từ thị trường nước ngoài

Thị trường nguồn hàng là khâu hoạt động nghiệp vụ kinh doanh đầu tiên,

mở đầu cho hoạt động lưu thông hàng hóa (T - H) Mua hàng là một hoạt động nghiệp vụ cơ bản của DNTM Nếu không mua được hàng hoặc mua hàng không đáp ứng được yêu cầu của kinh doanh thì DNTM không có hàng

để bán Nếu DNTM mua phải hàng xấu, hàng giả, chất lượng kém hoặc không mua đúng số lượng, chất lượng hàng hóa, đúng thời gian yêu cầu, DNTM sẽ

bị ứ đọng hàng hóa, vốn lưu động không lưu chuyển được, doanh nghiệp sẽ không bù đắp được chi phí, sẽ không có lãi Điều này chỉ rõ vị trí quan trọng của thị trường nguồn hàng có ảnh hưởng đến các nghiệp vụ kinh doanh khác

và kết quả kinh doanh của DNTM

Một vấn đề quan trọng đối với DNTM là tạo được nguồn hàng có giá rẻ, chất lượng tốt và phù hợp với yêu cầu của khách hàng Nếu DNTM mua hàng hóa có giá cao thì khách hàng sẽ không mua DNTM khó tiêu thụ hàng hóa DNTM phải mua hàng với giá thấp hơn giá thị trường và bán với giá mà khách hàng có thể chấp nhận được Tuy nhiên chất lượng hàng hóa cũng rất quan trọng Nếu cùng một giá mà DNTM bán hàng hóa có chất lượng tốt hơn thì khách hàng sẽ ưa thích hơn Như vậy thị trường nguồn hàng có vai trò quyết định hiệu quả kinh doanh của DNTM, quyết định DNTM có lãi hoặc lỗ

Trang 18

khi bán hàng hóa Nhưng điều này chỉ đúng với một số hàng hóa thông thường còn một số hàng hóa có giá trị cao thì lợi nhuận phụ thuộc vào độ tin cậy về chất lượng và công tác dịch vụ

Ví dụ: để mua một chiếc xe máy trị giá 25 triệu VND thì khách hàng sẽ hết sức chú ý tới chất lượng của xe còn giá cả chênh lệch 1 triệu đến 2 triệu thì không quan trọng miễn là chất lượng xe tốt

Thị trường nguồn hàng thuận lợi, cách thu mua phù hợp sẽ giúp cho DNTM đạt hiệu quả cao trong kinh doanh Thị trường nguồn hàng càng gần DNTM hoặc điều kiện giao thông vận tải thuận lợi thì sẽ giúp cho DNTM mua được hàng nhanh chóng, kịp thời, giảm chi phí cho vận chuyển, làm cho giá thành của sản phẩm giảm đáng kể Còn cách thu mua hợp lý tránh cho DNTM những khoản chi phí không cần thiết mà vẫn mua được hàng hóa đạt yêu cầu

DNTM có thể áp dụng các hình thức thu mua sau:

Mua theo đơn đặt hàng và hợp đồng kinh tế ký trước Hình thức mua này giúp cho DNTM ổn định được nguồn hàng, có nguồn hàng chắc chắn để đáp ứng nhu cầu của khách hàng

Mua hàng không theo hợp đồng: đây là hình thức mua đứt bán đoạn và mua hàng trôi nổi (vãng lai) trên thị trường Với hình thức này thì người mua hàng cần có một nghiệp vụ mua hàng thông thạo, có kỹ năng mua hàng để bảo đảm hàng mua về có thể bán được

Mua qua đại lý: áp dụng khi nguồn hàng không tập trung, không thường xuyên Mua hàng bằng hình thức liên doanh liên kết: DNTM có thể lợi dụng ưu thế của mình về vốn, nguyên vật liệu hoặc thị trường tiêu thụ cùng các doanh nghiệp khác liên doanh liên kết để nâng cao chất lượng sản phẩm, nâng cao sản lượng sản phẩm sản xuất ra và tiêu thụ sản phẩm trên thị trường

Nhận bán hàng ủy thác hoặc ký gửi: DNTM sẽ nhận được chi phí ủy thác hoặc chi phí ký gửi Với hình thức này DNTM có thể lợi dụng được vốn kinh doanh và làm phong phú thêm nguồn hàng của doanh nghiệp

Trang 19

Gia công hoặc bán nguyên liệu thu mua thành phẩm: DNTM đưa nguyên vật liệu đến xí nghiệp gia công, trả phí gia công hoặc bán nguyên vật liệu cho doanh nghiệp sản xuất và mua thành phẩm theo hợp đồng và tiêu thụ sản phẩm trên thị trường

Hình thức cuối cùng là tự sản xuất, khai thác hàng hóa: với hình thức này đòi hỏi vốn của DNTM phải có vốn lớn, có đủ năng lực sản xuất, áp dụng tốt khoa học công nghệ, kỹ thuật để đạt được hàng hóa có chất lượng tốt, giá thành rẻ

DNTM cần phải lựa chọn các hình thức thu mua trên hoặc xen kẽ các hình thức thu mua để giảm được chi phí, có được hàng tốt, giá phù hợp với nhu cầu của khách hàng DNTM cần coi trọng vai trò của thị trường nguồn hàng thì mới có thể đạt hiệu quả cao trong kinh doanh Nhưng để bán được hàng thì DNTM phải có thị trường bán

1.3.2.2 Thị trường bán hàng

Thị trường nguồn hàng có vai trò quan trọng trong việc tạo nguồn hàng cho DNTM để DNTM làm thỏa mãn kịp thời nhu cầu của khách hàng nhưng điều quan trọng nhất đối với DNTM là bán được hàng hóa mình đã mua để thu vốn và lợi nhuận để tiếp tục quá trình kinh doanh, có như vậy DNTM mới tiếp tục phát triển, tức là DNTM phải có thị trường bán

Thị trường bán của DNTM gồm: thị trường bán trong nước và thị trường bán nước ngoài (xuất khẩu)

Vai trò của thị trường bán đối với DNTM được thể hiện ở các mặt sau: + Thị trường bán là nơi tiêu thụ hàng hóa cho DNTM mà ở đó DNTM bán hàng, thu hồi vốn và lợi nhuận có thị trường bán hàng tức là có khách hàng và có nhu cầu về hàng hóa mà DNTM bán Vấn đề đối với DNTM không chỉ là bán được hàng mà còn phải làm cho khách hàng thỏa mãn, hài lòng Có như vậy DNTM mới tạo được niềm tin với khách hàng, tạo được bạn hàng lâu dài, đảm bảo lợi ích lâu dài đối với DNTM

+ Thị trường bán quyết định hàng hóa kinh doanh, phương thức phục vụ

Trang 20

của DNTM DNTM kinh doanh những hàng hóa mà khách hàng đang có nhu cầu lớn, chưa được thỏa mãn Nếu DNTM kinh doanh hàng hóa không có nhu cầu thì sẽ không bán được hàng Khi đời sống của nhân dân được cải thiện thì nhu cầu của họ càng tăng lên và những đòi hỏi về chất lượng hàng hóa, phương thức phục vụ của DNTM ngày càng tăng cao DNTM phải có phương thức phục vụ tốt nhất, xem khách hàng là "thượng đế" để khách hàng được thỏa mãn tốt nhất Khách hàng có xu hướng mua hàng hóa của những DNTM

có phương thức phục vụ nhiệt tình, có uy tín, đảm bảo chất lượng hàng hóa + Thị trường bán hàng trở thành vấn đề sống còn đối với DNTM Nếu DNTM có thị trường bán ổn định, tiêu thụ được hàng hóa và thu được lợi nhuận cao thì DNTM có điều kiện tiếp tục phát triển, tiếp tục mở rộng kinh doanh Còn nếu DNTM không bán được hàng, bị thua lỗ thì DNTM có thể phải ngừng hoạt động hoặc phải chuyển sang kinh doanh mặt hàng khác DNTM có thể áp dụng các phương thức bán hàng sau:

Căn cứ vào địa điểm giao hàng cho khách hàng có hình thức bán tại kho của người cung ứng, tại kho của DNTM, bán qua cửa hàng quầy hàng và bán tại đơn vị tiêu dùng

Hình thức bán tận đơn vị tiêu dùng, bán tại nhà theo yêu cầu của khách hàng là hình thức bán tạo thuận lợi cho người mua và là phương thức chủ yếu nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng và cạnh tranh lẫn nhau, đang được các DNTM áp dụng hiệu quả

Theo khâu lưu chuyển hàng hóa có bán buôn và bán lẻ Bán buôn là khối lượng lớn, theo hợp đồng và thanh toán không dùng tiền mặt, giá bán rẻ hơn

và doanh số thường cao hơn so với bán lẻ

Bán lẻ là bán theo yêu cầu nhỏ lẻ của người tiêu dùng, đáp ứng yêu cầu kịp thời của khách hàng thanh toán ngay Vì hàng hóa phải qua khâu bán buôn, lưu kho, chi phí cho bán hàng nên giá bán lẻ thường cao hơn, việc tăng doanh số của DNTM chậm hơn nhưng lại được nhiều thông tin trực tiếp từ người tiêu dùng

Trang 21

Theo phương thức bán theo hợp đồng và đơn hàng, thuận mua vừa bán, bán đấu giá và xuất khẩu hàng hóa

Bán theo hợp đồng đối với hàng hóa có khối lượng lớn Bán đấu giá với hàng khó tiêu chuẩn hóa, hàng chuyên dùng Khối lượng lớn để tìm người mua với giá cao nhất Xuất khẩu cần tuân thủ theo quy định xuất nhập khẩu của Chính phủ và chỉ có các đơn vị được phép kinh doanh xuất nhập khẩu thực hiện

Theo mối quan hệ thanh toán, có mua đứt bán đoạn và sử dụng các hình thức tín dụng trong thanh toán như bán trả chậm, bán trả góp

Hình thức bán trả chậm, bán trả góp đối với những hàng hóa có giá trị lớn mà người mua hàng không đủ khả năng trả hết tại thời điểm mua

Hình thức bán hàng trực tiếp, bán hàng từ xa qua điện thoại, bán qua người môi giới, qua nhân viên tiếp thị và bán qua mạng Internet

DNTM cần kết hợp các hình thức bán để tiêu thụ hàng hóa tốt nhất

Trang 22

CHƯƠNG 2 PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG HÀNG HÓA CỦA DOANH NGHIỆP

THƯƠNG MẠI NƯỚC TA TRONG THỜI GIAN QUA

2.1 ĐẶC ĐIỂM CỦA THỊ TRƯỜNG HÀNG HÓA NƯỚC TA

2.1.1 Những đặc trưng cơ bản của thị trường hàng hóa nước ta

Thị trường hàng hóa dựa trên cơ sở nền kinh tế nhiều thành phần Cơ sở khách quan của sự tồn tại nhiều thành phần đó là do còn nhiều hình thức sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất Đại hội Đảng IX đã khẳng định tiếp tục thực hiện nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp và công dân đầu tư và phát triển sản xuất kinh doanh, tập trung sửa đổi, bổ sung cơ chế, chính sách, pháp luật, đổi mới công tác chỉ đạo thực hiện để bảo đảm các thành phần kinh

tế đều được khuyến khích phát triển lâu dài, hợp tác cạnh tranh lành mạnh

đó là kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể và tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài

Thị trường hàng hóa có sự quản lý, điều tiết của nhà nước Thông qua

hệ thống các chính sách, chiến lược, quy hoạch, nhà nước quản lý, dự báo

và định hướng thị trường trong và ngoài nước, giải quyết các vấn đề về thị trường hàng hóa

Thị trường hàng hóa phát triển trên cơ sở tự do lưu thông hàng hóa dịch

vụ theo quy luật kinh tế thị trường và theo pháp luật Đây là điều kiện nhất thiết phải có vì nếu không được tự do lưu thông hàng hóa dịch vụ thì hàng hóa sẽ không được chuyển đến người tiêu dùng có nhu cầu, không được phân phối theo đúng quy luật thị trường thì thị trường hàng hóa không phát triển được

Giá cả được hình thành trên cơ sở giá trị và quy luật cung - cầu trên thị trường Giá cả thị trường được hình thành trên cơ sở giá trị thị trường, nó là giá trị trung bình và là giá trị cá biệt của những hàng hóa chiếm phần lớn trên

Trang 23

thị trường Mua bán theo giá cả thị trường tạo ra động lực để thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển, tạo cơ hội để doanh nghiệp vươn lên

Tất cả các mối quan hệ được tiền tệ hóa, tuân theo các quy luật của lưu thông hàng hóa của kinh tế thị trường

2.1.2 Hệ thống các doanh nghiệp thương mại nước ta hiện nay

2.1.2.1 Doanh nghiệp thương mại nhà nước

Doanh nghiệp thương mại nhà nước được nhà nước đầu tư hoặc cấp vốn 100% để kinh doanh, phục vụ những mục tiêu chiến lược của nhà nước Khi chuyển sang nền kinh tế thị trường các doanh nghiệp thương mại nhà nước đã

có sự thay đổi về số lượng và hiệu quả kinh doanh Về số lượng các doanh nghiệp thương mại nhà nước đã giảm đáng kể Tính đến thời điểm 31/12/1999 nước ta có khoảng 1576 doanh nghiệp thương mại nhà nước Các doanh nghiệp thương mại nhà nước chưa đạt được hiệu quả cao trong kinh doanh, còn thua lỗ Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp thương mại nhà nước còn thấp Tuy nhiên doanh nghiệp thương mại nhà nước có vai trò quan trọng trong việc định hướng, điều tiết thị trường hàng hóa ở nước ta

2.1.2.2 Doanh nghiệp thương mại tập thể

Loại doanh nghiệp này vốn do tập thể người lao động góp, tạo nên theo nguyên tắc tự nguyện hoặc một phần vốn tập thể, một phần vốn do Nhà nước bảo đảm Hình thức tổ chức kinh doanh là các hợp tác xã hoặc tổ hợp tác, các cửa hàng hợp tác xã mua bán còn tồn tại ở các vùng nông thôn, thị xã, thành phố Nó có đóng góp tích cực vào việc bảo đảm đời sống của dân cư và giao lưu hàng hóa công nghiệp với nông nghiệp, thành thị với nông thôn Trong những năm đổi mới, tổng giá trị sản lượng của khu vực hợp tác xã đã tăng liên tục Năm 1998, tổng sản phẩm trong nước do khu vực kinh tế hợp tác xã tạo

ra đạt 32.979 tỷ đồng, tăng 17% so với năm 1997 Năm 1999 đạt khoảng 35.100 tỷ đồng, tăng 6,6% so với năm 1998 và chiếm 9% GDP của cả nước Doanh số bán của các hợp tác xã thương mại năm 1998 tăng 6%

2.1.2.3 Các doanh nghiệp thương mại tư nhân

Đây là các doanh nghiệp do tư nhân trong nước bỏ vốn thành lập và tổ

Trang 24

chức kinh doanh Các doanh nghiệp này phải tự bỏ vốn, bảo toàn vốn, tự tìm kiếm thị trường Các doanh nghiệp tư nhân lớn ở nước ta chưa nhiều nhưng tiềm năng và sức mạnh của nó không phải là nhỏ

2.1.2.4 Các doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài

Đây là các doanh nghiệp thuộc sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài thành lập tại Việt Nam Doanh nghiệp thương mại 100% vốn đầu tư nước ngoài được thành lập theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn, có tư cách pháp nhân theo pháp luật Việt Nam Các doanh nghiệp thương mại 100% vốn đầu tư nước ngoài thường là các chi nhánh của các doanh nghiệp nước ngoài thành lập tại Việt Nam để tiêu thụ các sản phẩm của các hãng nước ngoài tại Việt Nam

2.1.2.5 Các công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn

Đây là hình thức biểu hiện sự kết hợp và giao lưu các thành phần kinh tế các doanh nghiệp này có đặc điểm là chế độ sở hữu vốn, tài sản không thuần nhất Đơn giản nhất là các doanh nghiệp liên doanh giữa các thành phần kinh

tế hoặc giữa các bên của Việt Nam và các bên nước ngoài Ở nước ta, công ty trách nhiệm hữu hạn có hai loại: Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên

và công ty trách nhiệm hữu hạn từ hai thành viên trở lên

Xu hướng các doanh nghiệp thương mại là Công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn sẽ ngày càng phát triển

2.1.2.6 Hệ thống tiểu thương

Đây là hệ thống cửa hàng, quầy hàng, điểm bán hàng của cá nhân Lực lượng này rất đông đảo và rất khó quản lý Thành phần tham gia rất đa dạng: cán bộ nhân viên Nhà nước về hưu, mất sức và các tầng lớp dân cư Kinh doanh hàng hóa dịch vụ rất đa dạng và nhiều người trong số họ không có đăng ký kinh doanh

Ưu thế của tiểu thương thể hiện trong việc đáp ứng tốt các yêu cầu nhỏ

lẻ, không thường xuyên, nhanh nhạy đáp ứng yêu cầu của thị trường Là lực lượng đáng kể, hệ thống tiểu thương cần mẫn đáp ứng nhu cầu của dân cư và điều tiết hàng hóa giữa các vùng Một số tiểu thương kinh doanh có hiệu quả, có thể tích lũy mở rộng kinh doanh và chuyển thành các doanh nghiệp tư nhân

2.2 NHỮNG THÀNH TỰU ĐẠT ĐƯỢC TRONG VIỆC PHÁT TRIỂN THỊ

Trang 25

TRƯỜNG HÀNG HÓA CỦA DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI NƯỚC TA

2.2.1 Thị trường trong nước phát triển mạnh

2.2.1.1 Quy mô ngày càng tăng

Trong những năm qua quy mô thị trường trong nước đã tăng liên tục, trước hết phải kể đến sự gia tăng nhanh chóng về số lượng các đơn vị tham gia hoạt động thị trường, bao gồm các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế và đông đảo hộ kinh doanh cá thể Mạng lưới chợ, các điểm bán hàng hóa và kinh doanh dịch vụ phát triển rộng khắp trên phạm vi cả nước Đặc biệt, các loại hình thị trường "văn minh" như trung tâm thương mại, siêu thị

và các loại khách sạn, nhà hàng đạt tiêu chuẩn cao cũng được hình thành và phát triển trong những năm vừa qua Tình hình này được thể hiện qua các số liệu dưới đây:

Về số lượng doanh nghiệp tham gia hoạt động thương mại dịch vụ: Năm

1991 có 1.774 doanh nghiệp nhà nước, năm 1995 có 10.806 doanh nghiệp và năm 1999 có 16.226 doanh nghiệp Trong số hơn 12.000 doanh nghiệp mới được thành lập của năm 2.000 có tới 3.000 doanh nghiệp thương mại, dịch vụ, nâng tổng số doanh nghiệp thương mại, dịch vụ, nâng tổng số doanh nghiệp thương mại dịch vụ đến cuối năm 2000 lên đạt 19.226 doanh nghiệp, gấp 10,8 lần năm 1991 Như vậy, trong 10 năm 1991 - 2000 số lượng doanh nghiệp thương mại, dịch vụ đã tăng 17.457 doanh nghiệp Tỷ lệ doanh nghiệp thương mại, dịch vụ trong tổng số doanh nghiệp của cả nước cũng tăng lên nhanh chóng, từ chỗ chỉ chiếm 12% năm 1990 đã tăng lên chiếm 46% vào năm 1999

Số điểm bán hàng hóa và kinh doanh các dịch vụ phục vụ đời sống cũng tăng lên đáng kể Năm 1991 cả nước có 26.909 điểm, nhưng đến năm 1999 đã

có 38.000 điểm bán hàng và kinh doanh dịch vụ Nếu kể cả hộ kinh doanh thì con số này còn lớn hơn nhiều

Số hộ cá thể tham gia hoạt động thương mại, dịch vụ gia tăng nhanh chóng Năm 1991 cả nước có 631 ngàn hộ kinh doanh, năm 2000 đã tăng lên đạt 1,1 triệu hộ, gấp 2 lần năm 1991 Nếu so với tổng số hộ sản xuất kinh

Trang 26

doanh (trừ hộ sản xuất nông nghiệp) thì hộ cá thể kinh doanh thương mại, dịch vụ chiếm trên 60%

Mạng lưới chợ (hình thức truyền thống của thị trường) đã được củng cố

và phát triển rộng khắp trên phạm vi cả nước Năm 1994 cả nước có 4.763 xã

có chợ thì đến năm 1999 toàn quốc có 8.231 chợ, bình quân 0,8 chợ/xã

Hệ thống siêu thị, trung tâm thương mại, hội chợ và triển lãm hàng hóa cũng được hình thành và phát triển Tại các tỉnh và thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng loại hình phục vụ mới, văn minh, lịch sự và hiện đại đang trở nên phổ biến

Về tình hình phát triển thương mại ở các vùng trong nước thì vùng Đông Nam Bộ có số doanh nghiệp thương mại, dịch vụ nhiều nhất với 5571 doanh nghiệp vào cuối 1999, thứ nhì là đồng bằng sông Hồng với 3075 doanh nghiệp Theo số liệu thống kê thì số doanh nghiệp thương mại, dịch vụ tại thời điểm 31/12/1999 phân theo địa phương như sau:

Các loại doanh nghiệp

Vùng

Tổng số DNTMDV

Trang 27

+ DTNN: Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Số người tham gia hoạt động thương mại, dịch vụ tăng lên đáng kể theo các vùng trong cả nước Tính đến năm 1999 cả nước có 1501,6 nghìn người tham gia thì đến năm 2000 đã tăng lên 1584,8 nghìn người tham gia, tăng 83,2 nghìn người Đồng bằng sông Hồng có 262,1 nghìn người tham gia năm

2000 chiếm 16,54% số người tham gia hoạt động thương mại, dịch vụ trong

cả nước Đông Nam Bộ có số người tham gia là lớn nhất với 431,7 nghìn người (năm 2000) chiếm 27,24% cả nước

Theo số liệu thống kê thì số người kinh doanh thương mại, dịch vụ phân theo địa phương như sau:

Quy mô ngày càng tăng không thể tính đến sự gia tăng nhanh chóng tổng mức lưu chuyển hàng hóa, dịch vụ Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ ngày càng tăng, năm 2000 đã đạt 219.400 tỷ đồng, gấp 11,52 lần năm

1990 và 565,8 lần năm 1986, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 216.300

tỷ đồng (gồm khu vực nhà nước 40.000 tỷ đồng, ngoài quốc doanh 176.300 tỷ

Trang 28

đồng và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 3100 tỷ đồng

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tăng liên tục trong 10 năm qua với mức tăng bình quân hàng năm là 27.7% (nếu loại trừ yếu tố tăng giá thì tăng 10,3%/năm)

Mức bán lẻ bình quân đầu người/năm cũng tăng đáng kể, từ 0,3 triệu đồng năm 1990 lên 1,7 triệu đồng năm 1995 và 2,8 triệu đồng năm 2000

Dưới đây là một số chỉ tiêu về quy mô thị trường giai đoạn 1991 - 2000 của nước ta

Tỷ trọng hồ TMDV trong tổng số hộ (%)

Số điểm bán hàng

và cung cấp dịch vụ (Nghìn điểm)

Tổng mức (Nghìn tỷ đồng)

Chỉ số phát triển so với năm trước

2.2.1.2 Các loại hình dịch vụ gắn liền với lưu thông hàng hóa phát triển mạnh

Trong những năm gần đây các doanh nghiệp thương mại đã tăng cả về số lượng, chất lượng phục vụ do áp dụng nhiều hình thức dịch vụ thương mại cả trước, trong và sau khi bán hàng và đã phục vụ mọi nhu cầu của khách hàng, chiếm lĩnh được thị trường nội địa, là thị trường quan trọng của doanh nghiệp

Trang 29

thương mại nước ta

Nhiều hình thức dịch vụ thương mại tiến bộ trên thế giới được các doanh nghiệp thương mại vận dụng như việc tổ chức các hội chợ, quảng cáo, tiếp thị, khuyến mại, bán hàng qua điện thoại, fax, bán và chuyển hàng tận nơi theo yêu cầu của khách hàng

Các doanh nghiệp thương mại nước ta phát triển rộng khắp đất nước, thâm nhập vào các thị trường, đặc biệt là các thành phố khác với mọt hệ thống các chi nhánh, đại lý phân phối hợp lý, đội ngũ nhân viên được đào tạo chuyên ngành thương mại, phần lớn có bằng đại học dùng phương tiện xe máy, ô tô chuyển hàng đến tận các đại lý nhỏ hơn, các cửa hàng bán lẻ hoặc đến tận người tiêu dùng Cách phân phối này đã giúp cho doanh nghiệp thương mại nắm bắt được tình hình thị trường, thu nhập được các yêu cầu về sản phẩm của người tiêu dùng và trở thành cầu nối giữa người sản xuất và người tiêu dùng

Các doanh nghiệp thương mại nước ta còn mở các chi nhánh, đại lý phân phối đến tận các thị trấn, xã, khu vực nông thôn nhằm khai thác tiềm năng ở thị trường này Bởi vì nước ta phần lớn là làm nông nghiệp (chiếm 80% dân số), thu nhập của người dân được tăng lên đáng kể do đó nhu cầu về hàng hóa cũng tăng lên Thị trường nông thôn cần các loại hàng hóa giá rẻ, chất lượng trung bình Đồng thời các doanh nghiệp thương mại có thể thu mua hàng nông sản ở thị trường này và đem bán ở các thành phố hoặc xuất khẩu Nhìn chung DNTM nước ta đã nâng cao được hiệu quả kinh doanh thông qua chiếm lĩnh thị trường nội địa

2.2.1.3 Hình thành được thị trường cạnh tranh theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ ngoài 3 lực lượng truyền thống là doanh nghiệp nhà nước, hợp tác xã mua bán và hộ tư thương đã xuất hiện thêm nhiều thành phần kinh tế khác như doanh nghiệp tư nhân, Công ty trách nhiệm hữu hạn, Công ty cổ phần và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Trang 30

Số lượng các loại hình doanh nghiệp ngày càng tăng, trong đó tăng nhanh nhất là doanh nghiệp tư nhân và công ty trách nhiệm hữu hạn Năm 1993, hai loại hình này mới có 3415 doanh nghiệp, đến năm 1999 đã có 14.149 doanh nghiệp Số lượng doanh nghiệp nhà nước tuy có giảm từ 1799 doanh nghiệp năm 1993 xuống còn 1576 doanh nghiệp năm 1999 nhưng doanh nghiệp nhà nước vẫn giữ vai trò chủ đạo, trước hết là định hướng phát triển

Khái niệm "cạnh tranh" cũng chỉ mới được sử dụng dè dặt trong những năm đầu của thập kỷ 90, nhưng đến nay đã trở thành phổ biến và được chấp nhận như một tất yếu Có thể nói thị trường cạnh tranh đã được tạo dựng trong giai đoạn này, nhờ đó đã tạo ra được luồng sinh khí mới, động lực mới cho thương mại Việt Nam Đây là một thành tựu to lớn và có ý nghĩa quan trọng trong những năm qua đối với nền kinh tế nói chung và đối với thương mại Việt Nam nói riêng Tuy nhiên thị trường cạnh tranh trong lĩnh vực thương mại ở nước ta có đặc điểm khác với nhiều nước trên thế giới, đó là thành phần kinh tế nhà nước vẫn giữ vai trò chủ đạo trong bán buôn và chi phối bán lẻ Nhà nước quan tâm đếnd miền núi, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, can thiệp vào thị trường trong trường hợp cần thiết để bình ổn thị trường và luôn đóng vai trò quan trọng là dẫn đến các thành phần kinh tế khác phát triển

2.2.2 Thị trường ngoài nước được mở rộng và phát triển

2.2.2.1 Tăng tổng mức lưu chuyển ngoại thương

Đường lối đổi mới và mở cửa của Đảng và Nhà nước đã đem lại những kết quả kỳ diệu cho nền kinh tế nói chung và cho hoạt động xuất nhập khẩu trong thời kỳ 1991 - 2000 nói riêng Tổng mức lưu chuyển ngoại thương năm

2000 ước tính đạt 29,5 tỷ USD, gấp 6,5 lần năm 1989 Tổng mức lưu chuyển hàng hóa xuất nhập khẩu bình quân mỗi năm những năm 1990 - 2000 đạt 14,3

tỷ USD, gấp 215 lần mức bình quân thời kỳ 1981 - 1990

Mức lưu chuyển ngoại thương và cán cân thương mại hàng hóa

1990 - 2000 Chia ra

Trang 31

1990 -

1995 1996 - 2000

1 Mức lưu chuyển ngoại thương bình quân năm (tỷ

2 Cán cân thương mại hàng hóa (xuất-nhập) (Tỷ

Số lượng đơn vị tham gia xuất nhập khẩu đã tăng lên nhanh chóng qua các thời kỳ Năm 1985 chỉ có 40 đơn vị do Nhà nước quản lý trực tiếp xuất nhập khẩu, năm 1990 có 270 đơn vị nhưng đến nay đã có trên 12000 đơn vị thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia, trong đó có cả các doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

Quan hệ quốc tế những năm vừa qua đã có những thay đổi thông qua việc tham gia tổ chức quốc tế và khu vực như hiệp hội các nước Đông Nam Á

(ASEAN-1995) Diễn đàn Kinh tế các nước Châu Á - Thái Bình Dương (APEC-1998), nối lại quan hệ ngoại giao với Hoa Kỳ và trở thành quan sát viên của WTO (1995), Ký hiệp định thương mại với 61 nước trong đó có Mỹ (tháng 7/2000)

Năm 1990 nước ta mới có quan hệ buôn bán với trên 50 nước và vùng lãnh thổ, năm 1995 con số này là 100 và đến nay đã là trên 170 Quan hệ thương mại ngày càng mở rộng tới các Châu lục, các khối kinh tế khu vực và quốc tế Hoạt động xuất nhập khẩu đã dần tạo được chỗ đứng vững chắc, mở

ra những tiềm năng mới trong tương lai

2.2.2.2 Hoạt động nhập khẩu được tăng cường theo hướng tích cực

Cùng với tăng trưởng kinh tế, nhập khẩu đã tăng trưởng với tốc độ khá Những mặt tích cực của hoạt động nhập khẩu thời kỳ 1991 - 2000 thể hiện ở một số điểm sau:

Trang 32

* Nhập khẩu đã hướng vào mục tiêu chủ yếu là phục vụ chiến lược phát triển xuất khẩu và đáp ứng yêu cầu thiết yếu của sản xuất,tiêu dùng trong nước

* Cơ cấu nhập khẩu thay đổi theo hướng tăng nhập khẩu tư liêu sản xuất, giảm nhập khẩu hàng tiêu dùng

* Thị trường nhập khẩu mở rộng, chất lượng hàng nhập khẩu được nâng cao, góp phần đổi mới trang thiết bị kỹ thuật và công nghệ sản xuất, nâng cao sức cạnh tranh của hàng Việt Nam

Thời kỳ 1990 - 2000 nhập khẩu đạt tốc độ tăng bình quân là 17.5% mỗi năm Riêng nhập khẩu của khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 1994 -

2000 tăng bình quân 39% mỗi năm và chiếm 20,7% tổng kim ngạch nhập khẩu của cả nước, khu vực trong nước tăng 22% và chiếm 79,3%

Hiện nay nước ta đã nhập khẩu hàng hóa với trên 130 nước và vùng lãnh thổ Thị phần chủ yếu là các nước châu Á, trong đó Nhật Bản và Hàn Quốc chiếm vị trí quan trọng Nhập khẩu từ các nước ASEAN tăng lên nhanh chóng, cơ cấu thị trường đã thay đổi phần nào thể hiện đường lối tăng cường hội nhập khu vực phù hợp với đặc điểm sản xuất, tiêu dùng, khả năng đầu tư

và vận tải của nước ta) Tỷ trọng thị trường nhập khẩu chủ yếu thời kỳ 1990 - 1995: châu Á chiếm 66,9%, Đông Âu 10,5%; EU 10,2% và Mỹ 0,7% sang thời kỳ 1996 - 2000: Châu Á 71,95, Đông Âu 2,2%, EU 10% và Mỹ 2,4%

Tỷ trọng một số thị trường nhập khẩu chủ yếu những năm 1999 - 2000

Trang 33

4 Mỹ 0,7 2,4

Về cơ cấu hàng nhập khẩu: thay đổi theo hướng tăng nhập khẩu tư liệu sản xuất, máy móc, thiết bị kỹ thuật, giảm hàng tư liệu tiêu dùng Năm 1990 thiết bị toàn bộ và máy móc dụng cụ chiếm 27,4% tổng kim ngạch nhập khẩu, năm 2000 tăng lên gần 40% Nguyên nhiên vật liệu phục vụ sản xuất luôn chiếm tỷ trọng cao và tăng hàng năm, từ 59,4% năm 1990 tăng lên 63,8% năm 2000 Hàng tiêu dùng giảm tương đối, năm 1990 chiếm 13,2% tổng kim ngạch nhập khẩu, năm 1995 là 15,2% và năm 2000 còn 5,3%

Tỷ trọng một số mặt hàng nhập khẩu chủ yếu theo các năm

Trang 34

2.2.2.3 Thị trường xuất khẩu được mở rộng theo hướng đa dạng hóa và đa phương hóa các quan hệ kinh tế

Kết quả nổi bật của hoạt động xuất khẩu những năm vừa qua thể hiện trên các mặt sau:

* Tăng trưởng xuất khẩu cao và liên tục

* Sự tham gia của các ngành, các thành phần kinh tế trong đó có sự đóng góp tích cực của khu vực kinh tế có vốn đầu tư trực tiếp với nước ngoài

* Thị trường xuất khẩu mở rộng

* Cơ cấu hàng xuất khẩu thay đổi theo hướng tăng tỷ trọng sản phẩm c chỉ biến

* Một số mặt hàng chủ lực, đóng góp lớn cho tăng trưởng xuất khẩu dần dần được khẳng định

Đường lối phát triển kinh tế của Đảng đã được cụ thể hóa bằng nhiều chính sách kinh tế vĩ mô, trực tiếp và gián tiếp khuyến khích xuất khẩu Nếu lấy năm 1989 làm gốc thì tốc độ tăng trưởng bình quân thời kỳ 1990 - 2000 của xuất khẩu cao gấp 2,6 lần tốc độ tăng GDP Tỷ trọng xuất khẩu trong GDP và kim ngạch xuất khẩu bình quân đầu người ngày càng tăgng, năm

2000 đã đạt mức xuất khẩu bình quân 184USD/người, đưa nước ta ra khỏi danh sách các nước có nền ngoại thương kém phát triển

Xuất khẩu bình quân đầu người so với GDP

Từ đầu những năm 90, một số ngành công nghiệp khai thác và chế biến

đã phát triển mạnh hơn Cơ cấu hàng xuất khẩu theo ngành kinh tế quốc dân

đã thể hiện xu hướng đó Bình quân thời kỳ 1995 - 2000, trong tổng trị giá

Trang 35

xuất khẩu, sản phẩm nông nghiệp chiếm tỷ trọng 14,5%, công nghiệp khai thác 20,3%, công nghiệp chế biến 63,3% Đáng chú ý là trong 3 nhóm sản phẩm xuất khẩu trên thì sản phẩm công nghiệp chế biến có tốc độ bình quân cao nhất (34%), tiếp theo là công nghiệp khai thác (29%) và nông lâm sản 14%

Thời kỳ 1991 - 2000 cũng đánh dấu bước tiến quan trong của một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực Đó là sự xuất hiện và gia tăng nhanh chóng của một

số mặt hàng mới như gạo, hàng điện tử, máy tính, hàng dệt may, giày dép, hàng thủ công mỹ nghệ, thuỷ sản, cà phê, hạt điều Nếu như năm 1989 mới chỉ có 2 mặt hàng có trị giá xuất khẩu trên 200 triệu USD thì đến nay có 10 mặt hàng, trong đó 4 mặt hàng vượt qua mức 1 tỷ USD vào năm 2000 là dầu thô, hàng may mặc, giày dép và thuỷ sản Trước đây xuất khẩu các mặt hàng chủ lực này chiếm 60% hiện nay chiếm 75 - 80%

Chất lượng hàng xuất khẩu được nâng lên đáng kể, một số mặt hàng đã

có sức cạnh tranh trên thị trường thế giới và có tác động tích cực tới chất lượng sản phẩm trong nước Hiện nay các mặt hàng gạo, dầu thô, thuỷ hải sản hàng dệt may, giày dép, cà phê, nhân điều, hạt tiêu của nước ta đã được thừa nhận đạt hoặc xấp xỉ chất lượng quốc tế

Trang 36

1989 xuất khẩu tới khu vực này chưa vượt qua con số 1 triệu USD, hiện nay Châu Phi đạt gần 70 triệu USD và Châu Đại dương đạt trên 1,1 tỷ USD

Sự thay đổi cơ cấu thị trường xuất khẩu đã góp phần đưa kinh tế nước ta vượt qua những giai đoạn khó khăn khi thế giới diễn ra những biến động lớn

về chính trị đầu những năm 90, hoặc khủng hoảng kinh tế khu vực 1997 -

1998 Ngoài ra trong hai năm gần đây chúng ta đã thực hiện chủ trương khôi phục thị trường Đông Âu, là thị trường truyền thống của ngoại thương nước

ta Thị trường này cần nhập khẩu hàng nông sản, nông sản chế biến, thủ công

mỹ nghệ, hàng may mặc, giày dép mà những mặt hàng này lại là thế mạnh của nước ta

2.3 NHỮNG NGUYÊN NHÂN ĐẠT ĐƯỢC THÀNH TỰU TRÊN

2.3.1 Sự chuyển đổi nền kinh tế

Công cuộc đổi mới toàn diện nền kinh tế - xã hội nước ta mở đầu từ Đại hội VI đến nay đã trải qua hơn 16 năm Từ đó đến nay, nước ta đã có những thay đổi to lớn và sâu sắc Đại hội VI đánh dấu một bước ngoặt trong đổi mới

cơ chế, chính sách và quản lý kinh tế nói chung, thị trường và thương mại,

Trang 37

dịch vụ nói riêng Công cuộc đổi mới chuyển nền kinh tế nước ta từ nền kinh

tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế hàng hóa phát triển theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Chuyển việc mua bán hàng hóa từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang mua bán theo cơ chế thị trường, khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển

Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp thương mại được tự do buôn bán, tự do kinh doanh, bảo đảm quyền tự chủ trong kinh doanh, thực hiện tốt hơn chức năng lưu thông hàng hóa của mình trên cơ sở có sự quản lý của nhà nước, hướng theo chủ nghĩa xã hội Nhiều doanh nghiệp thương mại

ra đời: doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tập thể (hợp tác xã), công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty liên doanh liên kết với nước ngoài, doanh nghiệp tư nhân

Thị trường chuyển từ trạng thái chia cắt khép kín theo kiểu địa giới hành chính sang tự do lưu thông theo quy luật kinh tế thị trường và theo pháp luật, nhu cầu của người dân được đáp ứng kịp thời, giá cả được hình thành trên giá trị và quan hệ cung - cầu

Trong thời gian qua, thị trường hàng hóa của doanh nghiệp thương mại nước ta rất phát triển, đặc biệt là sau nghị quyết 12 của Bộ Chính trị về "Tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động thương nghiệp, phát triển thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa (1996) Trong 16 năm đổi mới (1986 - 2002) tình hình thị trường và hoạt động thương nghiệp đã đạt được những thành tựu quan trọng góp phần tạo nên sự biến đổi sâu sắc trên thị trường trong nước và

vị thế mới trên thị trường nước ngoài

2.3.2 Sự phát triển của các ngành sản xuất

Trong mấy năm gần đây, ở nước ta đã xây dựng và phát triển nhiều khu công nghiệp, nhiều nhà máy, xí nghiệp ra đời sản xuất hàng hóa đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người dân Nhiều nhà máy được xây dựng trước đây nay cũng được đầu tư, nâng cấp để sản xuất ra hàng hóa chất lượng tốt hơn với giá

Trang 38

thành hạ Vì vậy lượng hàng hóa do các cơ sở sản xuất trong nước cung cấp là rất dồi dào, nhiều chủng loại, cả hàng công nghiệp và hàng nông nghiệp Nhằm đẩy nhanh tốc độ công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hình thành liên doanh liên kết với nước ngoài được phát triển giúp cho các cơ sở sản xuất trong nước áp dụng được kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất với công nghệ dây chuyền, sản xuất hàng loạt nâng cao năng suất lao động, chất lượng hàng hóa tốt hơn, đẹp hơn Hàng công nghiệp được cải tiến mẫu

mã, tăng độ bền, giá cả phù hợp Nhiều mặt hàng công nghiệp, đặc biệt hàng công nghiệp nhẹ được thị trường trong và ngoài nước ưa chuộng Hàng nông sản được chế tạo thành những mặt hàng có giá trị hơn như nước trái cây, đồ hộp trái cây Nhìn chung các cơ sở sản xuất trong nước đã cung cấp một lượng hàng khá lớn đáp ứng được phần lớn nhu cầu của người dân và làm phát triển thị trường nguồn hàng trong nước cho doanh nghiệp thương mại Doanh nghiệp thương mại có thị trường nguồn hàng trong nước ổn định sẽ giúp cho doanh nghiệp giảm được chi phí so với nhập khẩu và đáp ứng đầy

đủ, kịp thời hơn cho người tiêu dùng

Hiện nay nhiều mặt hàng Việt Nam chất lượng cao phù hợp với mức thu nhập của người dân (80% làm nông nghiệp) Vì vậy dễ tiêu thụ hơn so với hàng ngoại Nhiều doanh nghiệp thương mại kinh doanh hàng Việt Nam đã đạt được hiệu quả cao

Nâng cao năng lực sản xuất trong nước, phát triển nguồn hàng trong nước còn là chủ trương, chiến lược của Đảng và Nhà nước ta

2.3.3 Xóa bỏ độc quyền của Nhà nước đối với hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa

Việc xóa bỏ độc quyền của Nhà nước đối với hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa đã tạo điều kiện cho nhiều thành phần kinh tế tham gia xuất nhập khẩu hàng hóa, trong đó có khu vực tư nhân Do đó số lượng các đơn vị xuất nhập khẩu tăng lên nhanh chóng Những quy định, thủ tục rườm rà từng bước được xóa bỏ Đầu những năm 90, các đơn vị muốn tham gia xuất khẩu còn phải đáp ứng các điều kiện về vốn tối thiểu(200 nghìn USD), về giấy phép

Trang 39

kinh doanh về giấy phép xuất nhập khẩu, giấy phép nhập khẩu chuyến Những đến năm 1996 Nhà nước bãi bỏ giấy phép nhập khẩu chuyến (Nghị định 89/CP ngày 15/12/1995)

Năm 1997 Chính phủ khuyến khích các doanh nghiệp xuất khẩu cả những hàng hóa ngoài đăng ký, các hàng hóa mua của đơn vị khác (Quyết định 28/TTg ngày 13/1/1997)

Năm 1998 Quyết định 55/1998/QĐ-TTg cho phép các doanh nghiệp được xuất khẩu hàng hóa thuộc đăng ký kinh doanh của mình mà không cần giấy phép xuất nhập khẩu, trừ một số mặt hàng cần quản lý đặc biệt của Nhà nước Các chính sách khác như hỗ trợ vốn tín dụng cho người xuất khẩu, thưởng cho các đơn vị có xuất nhập khẩu mặt hàng mới, giao quyền tự chủ sản xuất kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm cho người sản xuất

Nhà nước đã từng bước thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô nhằm tạo thông thoáng cho hoạt động xuất nhập khẩu, trước hết là chính sách giá cả, tỷ giá hối đoái, chính sách thuế

Những hoạt động trên đã có các tác động tích cực trong việc xuất nhập khẩu hàng hóa, phát triển thị trường nước ngoài, tăng mặt hàng ngoại phục vụ tiêu dùng và phục vụ công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

2.3.4 Quản lý Nhà nước về thị trường được tăng cường

Trước hết là đã dần dần phân định rõ chức năng quản lý nhà nước về thương mại và chức năng quản lý kinh doanh của doanh nghiệp Từ đó sắp xếp lại các doanh nghiệp thương mại nhà nước theo hướng tự chủ và tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh, còn Bộ Thương mại và các Sở Thương mại chỉ làm chức năng quản lý nhà nước về thương mại Các doanh nghiệp Nhà nước vẫn giữ được vai trò chủ đạo trong lưu chuyển bán buôn và xuất nhập khẩu

Thứ hai là Nhà nước tạo môi trường pháp lý nhằm nâng cao vai trò quản

lý thị trường như luật thương mại, luật doanh nghiệp, luật thuế có những chính sách, biện pháp quản lý nguồn hàng lưu chuyển trên thị trường để ngăn

Trang 40

chặn, phát hiện và loại bỏ hàng giả, hàng kém chất lượng, chống buôn lậu, gian lận thương mại

2.3.5 Đẩy mạnh hội nhập quốc tế và khu vực

Đẩy mạnh hội nhập quốc tế và khu vực không những đã mở rộng được thị trường xuất nhập khẩu mà còn làm cho chính sách thương mại được tiến hành theo tiến trình minh bạch hóa và nhất quán, nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm thông qua lịch trình giảm thuế, loại bỏ hạn chế định lượng theo khuôn khổ CEPT/AFTA cũng như các hiệp định khác Và việc thực hiện tiến trình này đã đưa kim ngạch xuất khẩu gia tăng trong những năm vừa qua

2.3.6 Các doanh nghiệp thương mại nâng cao chất lượng phục vụ, chủ động tìm kiếm thị trường

Các doanh nghiệp thương mại nước ta đã nâng cao chất lượng phục vụ,

áp dụng những hình thức dịch vụ thương mại tiến bộ trên thế giới như tổ chức các hội chợ, quảng cáo, tiếp thị, khuyến mại và các dịch vụ trước, trong và sau khi bán hàng, bán và chuyển hàng đến tận nơi theo yêu cầu của khách hàng Vì vậy số lượng hàng hóa bán được tăng lên

Ngoài ra doanh nghiệp thương mại chủ động tìm kiếm thị trường sẽ tạo điều kiện tiêu thụ hàng hóa tốt hơn

2.4 NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG HÀNG HÓA CỦA DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI NƯỚC TA

2.4.1 Tuy tổng mức lưu chuyển nội thương và ngoại thương đều tăng nhưng hàng hóa của Việt Nam có khả năng cạnh tranh thấp cả ở thị trường trong và ngoài nước

Đây là nguyên nhân cơ bản làm cho sự phát triển thị trường và thương mại chưa vững chắc và hiệu quả kinh doanh thấp Mặc dù doanh nghiệp thương mại có nhiệm vụ trong lưu thông hàng hóa, có thể thực hiện xuất nhập khẩu để có hàng ngoại tốt phục vụ nhu cầu trong nước nhưng chất lượng hàng hóa trong nước có ảnh hưởng rất lớn đối với doanh nghiệp thương mại nước

ta Nếu hàng hóa nước ta có chất lượng tốt, có khả năng cạnh tranh cao so với hàng ngoại thì các DNTM nước ta sẽ có nguồn hàng trong nước tốt, giảm được chi phí so với việc nhập khẩu và các DNTM xuất khẩu hàng hóa thuận

Ngày đăng: 21/01/2014, 04:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Kinh tế đối ngoại - Võ Thanh Thu - NXB Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế đối ngoại
Tác giả: Võ Thanh Thu
Nhà XB: NXB Thống kê
7. Tạp chí Kinh tế và phát triển số 51 tháng 9/2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Kinh tế và phát triển
Năm: 2001
9. Tạp chí Kinh tế và phát triển số 57 năm 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Kinh tế và phát triển
Năm: 2002
11. Tạp chí Những vấn đề Kinh tế thế giới số 2 (70) 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề Kinh tế thế giới
Nhà XB: Tạp chí Những vấn đề Kinh tế thế giới
Năm: 2001
1. Giáo trình Kinh tế thương mại - PGS.TS Đặng Đình Đào - NXB Thống kê năm 2001 Khác
2. Giáo trình Quản trị doanh nghiệp thương mại - PGS.TS Hoàng Minh Đường - NXB Giáo dục năm 1998 Khác
4. Luật thương mại - NXB Chính trị quốc gia năm 1997 Khác
5. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX Khác
6. Niên giám thống kê 2000 - NXB Thống kê Khác
8. Tạp chí Kinh tế và phát triển số 52 tháng 10/2001 Khác
10. Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc số 1/2000 Khác
12. Tạp chí Những vấn đề Kinh tế thế giới số 5 (73) 2001 Khác
13. Tạp chí Nghiên cứu Châu Âu số 42 tháng 6/2001 Khác
14. Tạp chí Thương mại số 11 năm 2001 Khác
15. Tạp chí Thương mại số 17 năm 2001 Khác
16. Tạp chí Nghiên cứu kinh tế số 126/2000 Khác
17. Tạp chí thị trường giá cả số 10 năm 2000 Khác
18. Tạp chí Thương nghiệp - thị trường số tháng 5/2002 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w