Cùng là hai nền kinh tế thành viên của Diễn đàn hợp tác quốc tế châu Á-Thái BìnhDương APEC, Việt Nam và Brunei có nhiều thế mạnh để hợp tác phát triểnnhanh chóng và sâu rộng trên tất cả
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠIKHOA QUẢN TRỊ NHÂN LỰC
BÀI THẢO LUẬN
Môn: Kinh tế khu vực và ASEAN
Đề tài: Tìm hiểu cơ hội hợp tác thương mại, đầu tư và lao động giữa Việt Nam và Brunei
Giáo viên hướng dẫn : Nguyễn Ngọc Diệp Nhóm thảo luận : 07
Mã lớp học phần : 2169FECO2031
Hà Nội, 10/2021
Trang 2MỤC LỤC
A-PHẦN MỞ ĐẦU: 1
B-NỘI DUNG 2
I T ỔNG QUAN VỀ KINH TẾ BRUNEI VÀ VIỆT N AM 2
1.1 Tổng quan về kinh tế Việt Nam 2
1.2 Tổng quan về kinh tế Brunei 3
1.3 Điều kiện thuận lợi để hợp tác thương mại, đầu tư, lao động giữa Việt Nam và Brunei 4
II C Ơ HỘI HỢP TÁC THƯƠNG MẠI , ĐẦU TƯ VÀ LAO ĐỘNG GIỮA VIỆT NAM VÀ BRUNEI 5
2.1 Cơ sở hình thành mối quan hệ hợp tác thương mại, đầu tư và lao động giữa Việt Nam – Brunei 5
2.2 Hợp tác về thương mại 6
2.2.1 Xuất, nhập khẩu 6
2.2.2 Kim ngạch xuất, nhập khẩu 8
2.2.3 Đánh giá tiềm năng của thị trường 9
2.3 Hợp tác về đầu tư 10
2.3.1 Hình thức đầu tư 10
2.3.2 Quy mô đầu tư 10
2.3.3 Lĩnh vực đầu tư 11
2.3.4 Đánh giá 12
2.4 Hợp tác về lao động 12
III C Ơ HỘI CHO TƯƠNG LAI VỀ MỐI QUAN HỆ HỢP TÁC THƯƠNG MẠI , ĐẦU TƯ VÀ LAO ĐỘNG GIỮA VIỆT NAM VÀ BRUNEI 13
3.1 Thuận lợi 13
3.2 Khó khăn 13
3.3 Dự báo về quan hệ hợp tác thương mại 14
3.4 Dự báo về quan hệ hợp tác đầu tư 15
3.5 Dự báo về quan hệ hợp tác lao động 15
IV G IẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUAN HỆ THƯƠNG MẠI , ĐẦU TƯ , LAO ĐỘNG GIỮA VIỆT NAM VÀ BRUNEI 16
4.1 Giải pháp chung 16
4.1.1 Hoàn thiên hành lang pháp lý và cải cách thủ tục hành chính 16
4.1.2 Nâng cao cơ sở hạ tầng 17
4.2 Giải pháp đối với quan hệ hợp tác thương mại 17
4.2.1 Phát triển các ngành hàng xuất khẩu chủ lực 17
Trang 34.2.2 Đẩy mạnh xúc tiến thương mại 18
4.2.3 Đẩy mạnh áp dụng thương mại điện tử trong kinh doanh 18
4.2.4 Đẩy mạnh hợp tác biển 18
4.2.5 Nghiên cứu thị trường Brunei 19
4.3 Giải pháp đối với quan hệ hợp tác đầu tư 19
4.4 Giải pháp đối với quan hệ hợp tác lao động 19
4.5 Tiểu kết 20
C – KẾT LUẬN 20
Trang 4CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
BIÊN BẢN HỌP NHÓM 7
(Lần 1)
I Thời gian: 21h00 ngày 15/10/2021.
II Địa điểm: Google Meet
III Thành viên tham gia:
V Nội dung cuộc họp
- Nhóm trưởng đưa dàn ý và phân công công việc đến từng thành viên
- Thống nhất thời gian thực hiện và nộp tài liệu
Trang 5CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
BIÊN BẢN HỌP NHÓM 7
(Lần 2)
I Thời gian: 21h00 ngày 18/10/2021.
II Địa điểm: Google Meet
III Thành viên tham gia:
V Nội dung cuộc họp
- Nhóm trưởng và các thành viên chốt bản word
- Thống nhất powerpoint và thuyết trình
VI Kết thúc cuộc họp
- Tất cả thành viên đều có mặt
- Mọi thành viên đều đồng ý với bản thảo luận
Cuộc họp kết thúc lúc: 22 giờ cùng ngày
Ngày 18 tháng 10 năm 2021
Nhóm trưởng Mỵ Đinh Thị Mỵ
Trang 6BẢNG PHÂN CÔNG NHIỆM VỤ
phần 1.1 ,1.2, 1.3
Trang 7A-Phần mở đầu:
Hiện nay, quan hệ thương mại và đầu tư đóng một vai trò vô cùng quan trọngtrong việc gắn kết quan hệ và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế giữa các quốc gia, đưacác quốc gia cùng nhau đi lên cùng nhau vững mạnh Việt Nam và Brunei cũngvậy Việt Nam và Brunei chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao và ngày 29-2-
1992 Trong suốt 25 năm qua, mối quan hệ hữu nghị và truyền thống giữa hai nướcluôn được lãnh đạo và nhân dân hai nước không ngừng xây dựng và vun đắp Cùng
là hai nền kinh tế thành viên của Diễn đàn hợp tác quốc tế châu Á-Thái BìnhDương (APEC), Việt Nam và Brunei có nhiều thế mạnh để hợp tác phát triểnnhanh chóng và sâu rộng trên tất cả các lĩnh vực, đem lại lợi ích thiết thực cho cảhai nước Việt Nam và Brunei đang tiếp tục để đưa ra các biện pháp nhằm tăngcường hợp tác trên các lĩnh vực kinh tế - thương mại, đầu tư, quốc phòng an ninh,dầu khí, nông nghiệp và văn hóa giáo dục Bài tiểu luận này sẽ cung cấp thông tin
về cơ sở hình thành mối quan hệ thương mại, điện tử giữa hai quốc gia và phân tíchmối quan hệ này xuyên suốt quá trình từ năm 1992 đến nay Sau đó là những dựbáo và giải pháp giúp thắt chặt và phát triển quan hệ thương mại và điện tử giữaViệt Nam và Brunei trong tương lai
Trang 8B-Nội Dung
I Tổng quan về kinh tế Brunei và Việt Nam
1.1 Tổng quan về kinh tế Việt Nam
Việt Nam nằm ở rìa phía đông của bán đảo Đông Dương tiếp giáp Biển Đônggần trung tâm Đông Nam Á, trên các đường hàng hải, đường bộ và đường hàngkhông quốc tế Việt Nam nằm trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương, khu vực
có hoạt động kinh tế sôi động nhất thế giới Khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa cùng với
sự da dạng về tài nguyên thiên nhiên (đất, sinh vật, biển,…) và tài nguyên khoángsản (dầu khí, than đá, apatit, đất hiếm, đá vôi, quặng titan,…) rất thuận lợi cho việcchăn nuôi trồng trọt, phát triển nông nghiệp, đánh bắt, nuôi trồng thủy hải sản và
mở rộng dịch vụ du lịch…
Kinh tế Việt Nam là một nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩađang phát triển, phụ thuộc lớn vào nông nghiệp, du lịch, xuất khẩu thô và đầu tưtrực tiếp nước ngoài Chính phủ Việt Nam tự nhận rằng kinh tế Việt Nam là mộtnền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường, nhiều nước và khối kinh tế bao gồm cảmột số nền kinh tế thị trường tiên tiến cũng công nhận Việt Nam là nền kinh tế thịtrường Tuy nhiên, cho đến nay Hoa Kỳ, EU và Nhật Bản vẫn chưa công nhận kinh
tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường Tổ chức Thương mại Thế giới công nhậnViệt Nam là nền kinh tế đang phát triển ở trình độ thấp và đang chuyển đổi Xét vềmặt kinh tế, Việt Nam là quốc gia thành viên của Liên Hợp Quốc (UN), Tổ chứcThương mại Thế giới (WTO), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Nhóm Ngân hàng Thếgiới, Ngân hàng Phát triển châu Á, Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á – Thái BìnhDương, Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương, ASEAN Đổi mới kinh tế và chính trị từ năm 1986 đã thúc đẩy phát triển kinh tế, nhanhchóng đưa Việt Nam từ một trong những quốc gia nghèo nhất trên thế giới trởthành quốc gia thu nhập trung bình thấp Từ 2002 đến 2018, GDP đầu người tăng2,7 lần, đạt trên 2.700 USD năm 2019, với hơn 45 triệu người thoát nghèo
Do hội nhập kinh tế sâu rộng, nền kinh tế Việt Nam chịu ảnh hưởng nặng nềbởi đại dịch COVID-19, nhưng cũng thể hiện sức chống chịu đáng kể Tăng trưởngGDP ước đạt 2,9% năm 2020 Việt Nam là một trong số ít quốc gia trên thế giớităng trưởng kinh tế dương
Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, năm 2020, quy mô nền kinh tế Việt Nam đạtkhoảng 343 tỷ USD, đứng trong top 40 nền kinh tế lớn nhất thế giới và đứng thứ tưASEAN; GDP bình quân đầu người đạt 3.521 USD đứng thứ 6 ASEAN Một sốngành kinh tế trọng điểm của Việt Nam: nông ngư nghiệp (xuất khẩu gạo đứng thứ
Trang 9hai thế giới năm 2020 chỉ sau Ấn Độ), ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, côngnghiệp hóa chất, phân bón, du lịch.
Tổng giá trị xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ của Việt Nam là 287,76 tỷ USD vàonăm 2020 theo số liệu mới nhất từ Ngân hàng thế giới Giá trị xuất khẩu của ViệtNam tăng 8,04 tỷ USD so với 2019 Các mặt hàng xuất khẩu chính là máy mócthiết bị, phụ tùng, máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện, gỗ và sản phẩm gỗ,sắt thép, dệt may, giày dép, xăng dầu,… Các thị trường chính là Hoa Kỳ, TrungQuốc, ASEAN,…
Tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ của Việt Nam là 279,84 tỷUSD vào năm 2020 theo số liệu mới nhất từ Ngân hàng thế giới Giá trị nhập khẩucủa Việt Nam tăng 8,47 tỷ USD so với 2019 Các mặt hàng nhập khẩu chính là:máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện, nguyên phụ liệu dệt may, phế liệu sắtthép,… Thị trường chính là Trung Quốc, Hàn Quốc,…
1.2 Tổng quan về kinh tế Brunei
Brunei (gia nhập ASEAN ngày 7-1-1984) là nước sản xuất dầu mỏ lớn thứ 3 ởĐông Nam Á, trung bình 180.000 thùng/ngày; đồng thời là nhà sản xuất khí hóalỏng lớn thứ 4 thế giới Sản xuất dầu thô và khí thiên nhiên đóng góp khoảng 90%GDP quốc gia Brunei có nền kinh tế quy mô nhỏ song thịnh vượng
Là một nền kinh tế có quy mô nhỏ, song Brunei là một trong những quốc giathịnh vượng nhất trên thế giới Với nguồn tài nguyên phong phú về dầu lửa và khíđốt, Brunei có một nền kinh tế vững mạnh là một trong những nước giàu nhất ởchâu Á Brunei cũng là nước sản xuất dầu mỏ lớn thứ ba ở Đông Nam Á, sauIndosia và Malaysia, sản xuất khí đốt hóa lỏng thứ tư thế giới Dầu hỏa và khí đốtchiếm 80% tổng thu nhập trong nước và 90% thu nhập về xuất khẩu
Nhờ tài nguyên dầu mỏ, vàng, người dân Brunei được cấp nhà miễn phí, miễnphí tiền học, bệnh viện Cơ cấu nền kinh tế gồm công nghiệp chiếm 46%, nôngnghiệp 5% và dịch vụ 49% GDP Brunei phụ thuộc nặng vào nhập khẩu các mặthàng như nông sản, ô tô và sản phẩm điện tử
Hàng nhập khẩu đáp ứng 60% nhu cầu lương thực của Brunei, trong đó khoảng75% đến từ các quốc gia ASEAN Brunei nằm trong top 10 nước có thu nhập bìnhquân đầu người cao nhất thế giới với 80.335USD/người GDP năm 2019 củaBrunei ước tăng 6,67%
Trang 10Brunei có số ca mắc Covid-19 tương đối thấp, một phần do nước này đóng cửabiên giới sớm vào năm 2020 Do ít chịu tác động của dịch bệnh nên Brunei là mộttrong số ít quốc gia có nền kinh tế không bị suy giảm vào năm 2020.
Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Brunei vào năm 2020 là 12,02 tỷ USD theo
số liệu mới nhất từ Ngân hàng thế giới Theo đó tốc độ tăng trường GDP củaBrunei là 1.20% trong năm 2020, giảm 2.67 điểm so với mức tăng 3.87 % của năm
2019. Dù tăng trưởng GDP vẫn giữ nguyên, nhưng nước này chỉ tăng 15% ngânsách quốc phòng trong năm 2020, thấp hơn mức 24% trong năm 2019
Trong khi đó, năm 2021, mặc dù đã lấy lại được đà tăng trưởng kinh tế nhưngBrunei vẫn công bố kế hoạch cắt giảm 16% ngân sách quốc phòng Brunei đãkhông thực hiện hoạt động mua sắm quốc phòng nào kể từ thương vụ mua trựcthăng Black Hawk vào năm 2011
1.3 Điều kiện thuận lợi để hợp tác thương mại, đầu tư, lao động giữa Việt Nam
và Brunei
Thương vụ Việt Nam tại Brunei cho biết, mặc dù khác nhau về diện tích, dân
số, văn hóa nhưng Việt Nam và Brunei có quan điểm tương đồng trong các vấn đềquốc tế và khu vực Đây là tiền đề thuận lợi để đẩy mạnh quan hệ hợp tác giữa 2nước Cùng với đó, hai nước đều là thành viên của Hiệp hội các quốc gia ĐôngNam Á (ASEAN)
Việt Nam và Brunei cũng đã tham gia tích cực, chủ động, có nhiều đóng gópquan trọng trên tất cả các lĩnh vực hợp tác của ASEAN cũng như trong việc xácđịnh tương lai phát triển phương hướng hợp tác và các quyết sách lớn của ASEAN.Điều này góp phần tăng cường đoàn kết, nâng cao vai trò, vị thế của ASEAN trongkhu vực và trên trường quốc tế
Theo Đại sứ Việt Nam tại Brunei Đỗ Anh Tuấn, chuyến thăm Việt Nam củaQuốc vương Brunei lần này sẽ là một cột mốc mới trong 27 năm quan hệ ngoạigiao giữa hai nước, góp phần củng cố và tăng cường quan hệ hợp tác trên tất cả cáclĩnh vực, tiếp tục sự ủng hộ lẫn nhau tại các diễn đàn đa phương và tổ chức quốc tếcũng như góp phần tạo dựng tiếng nói chung về vấn đề đoàn kết và duy trì vai tròtrung tâm của ASEAN trong vấn đề an ninh khu vực, đồng thời góp phần duy trì vàthúc đẩy hòa bình, an ninh, ổn định, an toàn và tự do hàng hải và hàng không ở khuvực
Trang 11Chính bối cảnh thế giới và khu vực cùng với quan hệ ngoại giao giữa hai nước
đã tạo điều kiện thuận lợi cho hợp tác thương mại đầu tư và lao động giữa ViệtNam và Brunei
II Cơ hội hợp tác thương mại, đầu tư và lao động giữa Việt Nam và Brunei
2.1 Cơ sở hình thành mối quan hệ hợp tác thương mại, đầu tư và lao động giữa Việt Nam – Brunei
Thiết lập quan hệ ngoại giao từ năm 1992, quan hệ hữu nghị và hợp tác nhiềumặt giữa Việt Nam và Brunei đang phát triển tốt đẹp Là thành viên của Hiệp hộicác quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Việt Nam và Brunei cùng nhau tham gia tíchcực, chủ động, có nhiều đóng góp quan trọng trên tất cả các lĩnh vực hợp tác củaASEAN cũng như trong việc xác định tương lai phát triển, phương hướng hợp tác
và các quyết sách lớn của ASEAN Qua đó, hai bên góp phần tăng cường đoàn kết,nâng cao vai trò, vị thế của ASEAN trong khu vực và trên trường quốc tế, duy trìhòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển tại khu vực
Trong quan hệ chính trị, hai bên thường xuyên trao đổi chuyến thăm và tiếpxúc cấp cao Trong đó việc trao đổi các đoàn cấp cao được hai nước đặc biệt quantâm Chủ tịch nước Trần Đức Lương thăm Brunei năm 2001, Thủ tướng NguyễnTấn Dũng thăm vào năm 2007, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang thăm vào năm2012
Trong năm 2016 Chủ tịch nước Trần Đại Quang đã sang thăm chính thứcBrunei và hai bên đã ký Tuyên bố chung, trong đó khẳng định cam kết tăng cườnghợp tác kinh tế giữa Việt Nam và Brunei với mục tiêu đạt được kim ngạch thươngmại song phương là 500 triệu USD vào năm 2025 và tạo điều kiện thuận lợi chocác cơ hội đầu tư và kinh doanh giữa hai nước Quốc vương Hassanal Bolkiahthăm Việt Nam và tham dự các Hội nghị Diễn đàn hợp tác Á-Âu (ASEM), Diễnđàn hợp tác kinh tế châu Á-Thái Bình Dương (APEC)
Năm 2017, hai nước đã tổ chức các hoạt động kỷ niệm 25 năm thiết lập quan
hệ ngoại giao, trong đó có Kỳ họp lần thứ I Ủy ban hợp tác song phương ViệtNam-Brunei (26-27/2/2017) Kỳ họp lần thứ hai được tổ chức vào năm 2019 tạiBrunei
Trong khuôn khổ ASEAN và cơ chế đa phương, Brunei ủng hộ Việt Namtham gia các diễn đàn quốc tế như Hội đồng Chấp hành UNESCO 2015-2019; Hội
Trang 12đồng kinh tế Xã hội của Liên hợp quốc (ECOSOC) nhiệm kỳ 2016-2018; thànhviên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc 2020-2021 Hai nước cũnghợp tác tốt trong khuôn khổ ASEAN và các diễn đàn khu vực, quốc tế khác.
Brunei là quốc gia có diện tích và dân số khiêm tốn, thu nhập bình quân đầungười cao thứ hai trong khối ASEAN, là thị trường tiềm năng cho các sản phẩmtiêu dùng, nông sản và thực phẩm của Việt Nam bởi Brunei không tự sản xuất đượccác sản phẩm này ở trong nước
Hàng hóa của Việt Nam như cà phê, nước hoa quả, hoa quả sấy khô đang dầnthâm nhập vào thị trường Brunei Các doanh nghiệp xây dựng Việt Nam cũng trúngnhiều gói thầu có giá trị cao xây dựng cơ sở hạ tầng tại Brunei như là cầu-đường,nhà máy dầu khí và phân bón Việt Nam và Brunei đang phấn đấu đưa kim gạchthương mại 2 nước sớm đạt 500 triệu USD, thông qua các biện pháp xúc tiếnthương mại, đầu tư, tăng cường kết nối doanh nghiệp vừa và nhỏ, đẩy mạnh traođổi thông tin về chính sách, thị trường
Để thúc đẩy hợp tác kinh tế, hai bên đã ký nhiều nhiều hiệp định, thỏa thuận
và bản ghi nhớ như: Hiệp định thương mại, Thỏa thuận hợp tác giữa Phòng Thươngmại và Công nghiệp Việt Nam và Phòng Thương mại và Công nghiệp Quốc giaBrunei Darussalam, Bản ghi nhớ về Hợp tác Dầu khí và Hiệp định tránh đánh thuếhai lần, Bản ghi nhớ về hợp tác Nông nghiệp và Thủy sản, Bản ghi nhớ về hợp tác
du lịch Đây là những văn kiện tạo cơ sở pháp lý thuận lợi cho việc tăng cườngquan hệ hợp tác song phương trong các lĩnh vực thương mại, dầu khí và nôngnghiệp
Brunei cam kết tạo điều kiện và hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam sản xuất hànghóa đạt tiêu chuẩn ha-la (halal) quốc tế để tiếp cận các thị trường Hồi giáo, nhất là các mặt hàng thế mạnh của Việt Nam như gạo và nông - thủy sản
Trang 13Nhập khẩu 101,974 47,153 61,894 44,206 23,970
Nguồn:Trademap,ITC,Geneva
- Các mặt hành xuất khẩu chính năm 2019:
Việt Nam xuất khẩu đi
Việt Nam nhập khẩu dầu thô tăng mạnh lên gần 145 triệu USD Khiến tổng giátrị xuất nhập khẩu của các mặt hàng tăng mạnh, kim ngạch thương mại hai chiềucủa Việt Nam và Brunei tăng gần 239% so với 2018 và đạt mức 244 triệu USD
Trang 14Một số mặt hàng xuất khẩu chính của Việt Nam sang Brunei như: hàng thủy sản,sản phẩm từ sắt thép, máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác, gạo.
Chi tiết các loại hàng hóa Việt Nam xuất khẩu sang Brunei tháng 4/2020 và lũy kế
4 tháng đầu năm 2020:
Mặt hàng chủ yếu
Xuất khẩu tháng 4/2020 Lũy kế 4 tháng/2020 Lượng
(Tấn)
Trị giá (USD)
Lượng (Tấn) Trị giá (USD)
Trang 15Dầu thô là mặt hàng chính Việt Nam nhập từ Brunei, đạt kim ngạch hơn 66,8 triệuUSD trong 4 tháng đầu năm nay.
Chi tiết các loại hàng hóa Việt Nam nhập khẩu từ Brunei tháng 4/2020 và lũy kế 4 tháng đầu năm 2020;
(USD)
Lượng (Tấn)
Trị giá (USD)
2.2.2 Kim ngạch xuất, nhập khẩu
Quan hệ thương mại và đầu tư giữa 2 nước đạt ở mức rất thấp, chưa tươngxứng với quan hệ chính trị tốt đẹp giữa hai nước Kim ngạch buôn bán hai chiềunăm 1999 đạt 500,000 USD; năm 2000 đạt trên 2 triệu USD, năm 2005 đặt 4.5 triệuUSD Đến năm 2012, kim ngạch buôn bán hai chiều giữa Việt nam và Brunei đãđạt trên 627.4 triệu USD Năm 2015 sụt giảm mạnh xuống còn 76 triệu USD
Đến năm 2018, kim ngạch hai chiều đạt hơn 54 triệu USD, trong đó Việt Namnhập khẩu đạt 36 triệu USD và xuất khẩu đạt 18,4 triệu USD Năm 2017, kimngạch hai chiều đạt hơn 73 triệu USD, trong đó Việt Nam xuất khẩu 21,5 triệuUSD và nhập khẩu gần 51,6 triệu USD
Năm 2019, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và Brunei đạt 244triệu USD, tăng 342,6% so với năm 2018 Trong đó, kim ngạch xuất khẩu từ ViệtNam sang Brunei đạt 66,6 triệu USD, tăng 260,9% so với năm 2018 và kim ngạchnhập khẩu của Việt Nam từ Brunei đạt 177,4 triệu USD, tăng 383,7% so với năm2018
Trang 16Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, trong tháng 4/2020 Việt Namnhập siêu từ Brunei, kim ngạch nhập khẩu lớn gấp 9 lần so với kim ngạch xuấtkhẩu Cụ thể, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa sang Brunei đạt 1,05 triệu USD, nhậpkhẩu đạt 9,5 triệu USD Cán cân thương mại thâm hụt gần 8,5 triệu USD Lũy kế từđầu năm đến hết tháng 4, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 139,3 triệu USD,trong đó nhập khẩu đạt 129,9 triệu USD và xuất khẩu hơn 9,4 triệu USD.
So với thị trường Đông Nam Á năm 2020, kim ngạch xuất khẩu Việt Nam sang Brunei chỉ đạt 0,1%, nhập khẩu Brunei vào Việt Nam đạt 0,9% Cụ thể kim ngạch xuất khẩu đạt 23,2 triệu USD và kim ngạch nhập khẩu đạt 274,5 triệu USD
Mặc dù thị trường Brunei có sức mua không lớn do dân số ít, hầu hết là người
theo đạo Hồi nên thói quen và tập quán tiêu dùng có phần khác với ta, nhưng thị trường Brunei có nhiều tiềm năng cho hàng hóa của Việt Nam ở các lĩnh vực:
- Lương thực (rất có nhu cầu đảm bảo an ninh lương thực, hầu hết gạo bán trên thịtrường hiện nay phải nhập khẩu từ Thái Lan, Campuchia, Úc… do thổ nhưỡng
Brunei không thuận lợi để trồng lúa Từng có thời gian nhập gạo từ Việt Nam nhưng gần đây không thấy nhập nữa).
- Thực phẩm (Halal, cà phê, nước ép hoa quả và hoa quả sấy Rất thích cà phê Việt
Nam)
- Dệt may (ưa chuộng vải, lụa may đồ cho nữ của Việt Nam)
Trang 17- Hóa chất (xử lý nguồn nước bị nhiễm phèn nặng).
- Đầu tư, hợp tác trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản để xuất khẩu (Brunei có môi
trường biển trong sạch, quy hoạch tốt còn Việt Nam có kinh nghiệm và kỹ thuật cao)
2.3 Hợp tác về đầu tư
2.3.1 Hình thức đầu tư
Qua 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới, Việt Nam đã đạt được nhiều thànhtựu quan trọng, từng bước hội nhập khu vực và thế giới Trong thành tựu trên lĩnhvực kinh tế, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đóng vai trò quan trọng, trở thànhmột trong những động lực tăng trưởng kinh tế đất nước Vốn đầu tư trực tiếp nướcngoài là nguồn lực quan trọng góp phần đẩy nhanh sự phát triển của nền kinh tế đấtnước FDI bổ sung nguồn vốn đáng kể cho tăng trưởng, chuyển giao công nghệ,tăng cường khả năng xuất khẩu các sản phẩm cũng như tạo thêm nhiều việc làm vànâng cao mức sống của người dân
Các quốc gia ASEAN đầu tư chủ yếu vào Việt Nam phải kể đến Singapore,Malaysia và Thái Lan Theo số liệu của Tổng cục Thống kê đến hết năm 2016 có 8nước ASEAN (gồm Singapore, Malaysia, Thái Lan, Brunei, Indonesia, Philippines,Lào, Campuchia) đã đầu tư vào 19/21 ngành kinh tế của Việt Nam Tính lũy kế quacác năm, đến hết năm 2016 Brunei với tổng vốn đăng ký đạt 432,1 triệu USD,chiếm 2,29%
Về xu thế thành lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam: ViệtNam hiện nay là một trong những nước đang phát triển, có môi trường đầu tư kinh
tế hấp dẫn với nhiều lợi thế cạnh tranh và nguồn lao động dồi dào Vì thế, vốn đầu
tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI) vào Việt Nam ngày càng tăng qua mỗi năm Cácnhà đầu tư vào Việt Nam đến từ hơn 100 quốc và các lãnh thổ, trong đó có nhữngtập đoàn kinh tế xuyên quốc gia hàng đầu thế giới
Theo danh sách 100 doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam củaCục Đầu tư nước ngoài - Bộ Kế hoạch đầu tư vào đầu năm 2014 Công ty TNHHNew City Việt Nam của Brunei đầu tư, với tổng vốn đầu tư là gần 4.5 tỷ USD, vốnđiều lệ là 800 triệu USD Địa điểm thực hiện tại Phú Yên với mục tiêu hoạt động:Kinh doanh bất động sản, dịch vụ du lịch, resort, khách sạn, nhà hàng, văn phòng,nhà ở, biệt thự cho thuê
Trang 182.3.2 Quy mô đầu tư:
Đến năm 2007:
Việt Nam và Brunei thiết lập quan hệ ngoại giao ngày 29-2-1992 Quan hệ hữunghị và hợp tác nhiều mặt giữa Việt Nam và Brunei ngày càng phát triển hết sức tốt đẹp trong thời gian qua, đặc biệt trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa,thể dục, thể thao, giáo dục và đào tạo Đến năm 2007, Brunei mới có khoảng 40 dự
án đầu tư vào Việt Nam với tổng số vốn 130 triệu USD
Đến năm 2011:
Về đầu tư, Brunei (tính đến năm 2011) có 124 dự án đầu tư tại Việt Nam với
tổng số vốn 4.85 tỷ USD, đứng thứ 4 trong ASEAN và thứ 12 trong tổng số hơn 90quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam
Dệt may:
Dệt may cũng là một trong các lĩnh vực mà các nước ASEAN còn nhiều dự
án Đặc điểm chung của các dự án trong lĩnh vực này là quy mô nhỏ (bình quânkhoảng 6 triệu USD/dự án), thường tập trung tại các địa phương như Đồng Nai,Bình Dương, TP.HCM, Long An Tuy số lượng cũng như quy mô không cao bằnglĩnh vực điện tử, song các dự án dệt may cũng góp phần giải quyết việc làm cho laođộng tại địa phương và thúc đẩy tạo ra các sản phẩm tiêu dùng chất lượng Tronglĩnh vực dệt may, Singapore, Thái Lan và Brunei là những quốc gia có nhiều dự ánhơn cả
Kinh doanh bất động sản: