Nguồn lao động là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động theo quy định của pháp luật có khả năng lao động và những người ngoài độ tuổi lao động đang làm việctrong các ngành kinh tế quốc d
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA QUẢN TRỊ NHÂN LỰC DOANH NGHIỆP
Trang 2BIÊN BẢN CHIA CÔNG VIỆC VÀ ĐÁNH GIÁ NHÓM 5
33 20D210104 Dương Thị Hương
Nhóm trưởng1.11.22.4
39 20D210182 Đỗ Thị Thanh Huyền 2.22.3
40 20D210103 Nguyễn Thị ThanhHuyền Làm word
Trang 4MỞ ĐẦU
Indonesia là đất nước hiện nay có nền kinh tế đứng đầu khu vực ASEAN và đứng thứ
tư Châu Á và có triển vọng còn tiến xa và phát triển vượt bậc trong trong tương lai.Kinh tế Indonesia là nền kinh tế duy nhất của Đông Nam Á đạt mốc nghìn tỷ USDcũng như góp mặt trong G-20 Quốc gia này hiện có hơn 164 công ty sở hữu quốcdoanh, hoạt động kinh doanh các mặt hàng cơ bản như dầu mỏ, gạo, và điện lực Đểđạt được những thành tựu này không thể không kể đến vai trò to lớn của lao động vàcác chính sách lao động của nhà nước Bài thảo luận nhóm em phân tích về thực trạnglao động của Indonesia – yếu tố tác động to lớn với sự phát triển của nền kinh tế Dựatrên sự so sánh với Singapore để đưa ra những nhận xét đánh giá và giải pháp cải thiện
NỘI DUNG PHẦN 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1.1 Một số khái niệm căn bản
1.1.1 Khái niệm lao động, nguồn lao động
Lao động được hiểu là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người nhằm
thay đổi các vật thể tự nhiên phù hợp với nhu cầu của con người Thực chất là sự vậnđộng của sức lao động trong qua trình tạo ra của cải vật chất cho xã hội, lao động cũngchính là quá trình kết hợp của sức lao động và tư liệu sản xuất để sản xuất ra sản phẩmphục vụ nhu cầu con người
Nguồn lao động là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động theo quy định của
pháp luật có khả năng lao động và những người ngoài độ tuổi lao động đang làm việctrong các ngành kinh tế quốc dân
1.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng tới số lượng lao động và chất lượng lao động.
a Nhân tố ảnh hưởng tới số lượng lao động
- Dân số: được coi là yếu tố cơ bản quyết định số lượng lao động, quy mô và cơcấu dân số có ý nghĩa quyết định đến quy mô và cơ cấunguồn lao động
- Thất nghiệp và tỉ lệ thất nghiệp: thất nghiệp gồm những người không có việclàm nhưng đang tích cực tìm kiếm việc làm Số người không có việc làm sẽ ảnhhưởng tới tỷ lệ thất nghiệp và số lượng của lao động và ảnh hưởng tới kết quảcủa nền kinh tế
- Tỉ lệ tham gia lực lượng lao động: là số phần trăm của dân số trong độ tuổi laođộng tham gia lực lượng lao động trong trong nguồn nhân lực
- Nhân tố cơ bản tác động đến tỷ lệ tham gia lao động là bộ phận dân số trong độtuổi lao động không có nhu cầu làm việc vì đang đi học, đang làm công việc nộitrở hoặc ở trong tình trạng khác nghỉ hưu trước tuổi
- Thời gian lao động: Xu hướng chung của các nước là giảm thời gian làm việckhi trình độ phát triển nền kinh tế được nâng cao
Trang 5b Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng lao động
Số lượng lao động mới chỉ phản ánh một mặt sự đóng góp của lao động vàophát triển kinh tế Mặt khác cần được xem chất lượng lao động, đó là yếu tố làm chonăng suất cao hơn Chất lượng lao động có thể nâng cao nhờ giáo dục, đào tạo, nhờsức khỏe của người lao động, nhờ việc bố chí điều kiện lao động tốt hơn
Giáo dục làm tăng lực lượng lao động có trình độ cao tạo khả năng thúc đẩynhanh quá trình đổi mới công nghệ
Giống như giáo dục, sức khỏe làm tăng chất lượng nguồn lao động cả hiện tại
và tương lai, người lao động có sức khỏe tốt có thể mang lại lợi nhuận trực tiếp bằngviệc nâng cao sức bền bỉ dẻo dai và khả năng tập trung trong khi làm việc
1.2 Tổng quan về kinh tế của Indonesia.
Indonesia là đất nước có nguồn tài nguyên thiên nhiên rất dồi dào và phong phúvới trữ lượng lớn dầu lửa, khí đốt, thiếc, đồng và vàng…Indonesia cũng là một đấtnước đông dân, chiếm 3,51% dân số thế giới và đứng thứ tư trên thế giới Và đây làhai lợi thế không nhỏ trong chiến lược phát triển của Indonesia
Nhờ dầu mỏ và chính sách khuyến khích đầu tư từ nước ngoài, trong thập kỷ
90, Inđônêsia đã có những bước phát triển mạnh Vào giữa năm 1997, Inđônêsia lâmvào cuộc khủng hoảng tài chính Kinh tế đi xuống, giảm 12,2% nền chính trị mất ổnđịnh Năm 1998, tổng thống Xu-hác-to phải từ chức, Phó tổng thống đương nhiệmHa-bi-bi lên thay Đất nước vẫn ở tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng Sang năm1999-2000, do có những chính sách hữu hiệu của Chính phủ do Tổng thống A Oa-hítđứng đầu, kinh tế đã phục hồi khá nhanh, tăng trưởng GDP đã đạt 3,2% vào sáu thángđầu năm 2000 Tháng Bảy năm 2000, Chính phủ đã công bố chương trình cải cáchkinh tế nhằm đẩy nhanh tiến trình phục hồi kinh tế Sau nhiều năm nỗ lực Năm 2016,ước tính GDP bình quân đầu người danh nghĩa là 3,362 đô la, và GDP trên đầu ngườitheo sức mua tương đương (PPP) là 12,422 (đô la quốc tế) Năm 2019, Tổng sản phẩmquốc nội (GDP) của Indonesia ước khoảng 1.112 tỷ đô la (3.585 tỷ đô la theo PPP),đứng thứ 16 thế giới, đứng thứ 5 châu Á và đứng số 1 Đông Nam Á
Thị trường xuất khẩu chính của Indonesia là Nhật Bản, Trung Quốc, Singapore,Hoa Kỳ với các mặt hàng xuất khẩu là Dầu thô và khí gas, xi măng, thực phẩm, thiết
bị điện, xây dựng, ván ép, dệt may, cao su Giá trị xuất khẩu năm 2012 đạt 199,1 tỉUSD
Đối tác nhập khẩu chính của Indonesia là Trung Quốc, Singapore, Nhật Bản,Malaysia với các mặt hàng máy móc và thiết bị, hóa học,nhiên liệu, thực phẩm Giá trịnhập khẩu năm 2012 là 185 tỷ USD Năm 2020, nền kinh tế Indonesia có quy mô lớnnhất khu vực Đông Nam Á, xếp thứ 15 toàn cầu hoặc hạng 4 châu Á và thứ 7 toàn cầutheo GDP sức mua tương đương (ước tính 2020) Tuy nhiên, do dân số quá đông (hơn274,1 triệu người) nên GDP bình quân đầu người của nước này vẫn ở mức trung bìnhthấp Quốc gia này có chỉ số phát triển con người (HDI) ở mức cao và được công nhận
là một cường quốc ở khu vực Đông Nam Á cũng như cường quốc bậc trung trên thếgiới
Trang 71.3 Tổng quan về lao động của Indonesia
Vào năm 2021 số lượng người có việc làm ở Indonesia đã tăng lên 131 triệu laođộng từ 128,5 triệu lao động vào năm 2020
Bảng số lượng người lao động của Indonesia qua từng năm
1.3.2 Chất lượng lao động
Đối với chất lượng lao động, Indonesia đang trong một cơn khát nguồn nhân lựcchất lượng cao trầm trọng mặc dù đã có những cải tiến lớn trong giáo dục lao động,lực lượng, trình độ học vấn chung tương đối thấp, nơi hầu như 54% lực lượng laođộng có chứng chỉ tiểu học trở xuống, tỷ lệ lực lượng lao động có trình độ trung học là41%, trong khi tỷ lệ này với bằng tốt nghiệp hoặc bằng đại học chỉ là 5 phần trăm.Như một sự kém phát triểnvấn đề có thể dẫn đến vấn đề sử dụng lao động ít hơn,chẳng hạn nhưthất nghiệp và thiếu việc làm
Nguồn cung lao động sinh viên hầu hết ở trình độ thấp, yếu kém làm tăng tỉ lệ thấtnghiệp:
Hầu hết các trường đại học có chất lượng đào tạo kém, cung cấp các dịch vụ giáodục không đạt chuẩn, từ đó cho ra những sinh viên tốt nghiệp chất lượng kém Đây làmột trong những lý do chính khiến tỷ lệ thất nghiệp của sinh viên tốt nghiệp tạiIndonesia tiếp tục tăng cao từ gần 375.000 người năm 2016 lên hơn 463.000 trongnăm 2017 Thực trạng đáng báo động này buộc Bộ Nghiên cứu, Công nghệ và Giáodục đại học Indonesia phải công bố kế hoạch đóng cửa hoặc sáp nhập 1.000 cơ sở đàotạo tư nhân vào năm 2019
Phần lớn đội ngũ lao động của Indonesia không đáp ứng được những công việc đòihỏi yêu cầu trình độ chuyên sâu do trình độ thấp Đồng thời Indonesia chi trả mức
Trang 8lương rất cao cho lao động nước ngoài với những công việc đòi hỏi trình độ cao nhằmkhắc phục tình trạng lao động kém chất lượng
Có sự khác biệt đáng kể về mức độ mà nam giới và phụ nữ tham gia vào lực lượnglao động ở các giai đoạn khác nhau của cuộc đời họ:
Theo Điều tra Lực lượng Lao động Quốc gia Indonesia (NLFS), tỷ lệ tham gia lựclượng lao động của nam giới từ 25 đến 54 tuổi ởIndonesia tương đối cao, khoảng 98%vào năm 2006, trong độ tuổi 15-24 tương đối thấp, khoảng 61,56% Điều thú vị là đốivới nam giới trong độ tuổi 55-59, lực lượng lao động tham gia tỷ lệ này tương đối caokhoảng 91% Trong khi đó, tỷ lệ nam giới tham gia vào nhóm 60 tuổi trở lên là66,95%
Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của phụ nữ từ 25 đến 54 tuổi ở Indonesia tương đốithấp so với nam giới Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của nữ thanh niên trong độtuổi 15-24 nhóm tuổi khoảng 43,84%, trong khi tỷ lệ tham gia lực lượng lao động củaphụ nữ ở 4 nhóm tuổi 55-59 khoảng 53,22% Ngoài ra, tỷ lệ tham gia cho phụ nữ từ
60 tuổi trở lên khoảng 32,49%
Trong nửa đầu năm 2021, số lượng phụ nữ tích cực tìm kiếm và khám phá các
cơ hội việc làm tăng 89% so với trước năm 2020, dựa trên phân tích số liệu đối vớicác công việc chuyên môn từ trung đến cao cấp do Ciel HR Services thực hiện
(Nguồn: aecvcci.vn)
PHẦN 2: THỰC TRẠNG LAO ĐỘNG CỦA INDONESIA
2.1 Phân tích thực trạng lao động của Indonesia và so sánh với Singapore 2.1.1 Số lượng lao động
Indonesia:
Số lượng lao động có việc làm tại Indonesia đầu năm 2021 đạt 131 triệu người.Indonesia-nền kinh tế lớn nhất Đông Nam Á đang lâm vào trình trạng thiếu hụt tới50,4% lực lượng lao động có tay nghề cao Trong khi đó, theo dữ liệu thống kê mớinhất của Ngân hàng Thế giới (WB), hiện tại tỷ lệ thanh niên thất nghiệp tại quốc gianày ở mức 15%, cao nhất khu vực (nguồn: quandoinhandan.vn)
Theo số liệu của Bộ Lao động Indonesia, tính đến hết tháng 2 năm 2020, số ngườithất nghiệp tại Indonesia là 6,8 triệu người Chỉ sau 2 tháng bùng phát dịch Covid-19,con số này đã tăng thêm hơn 2 triệu người tại quốc gia vạn đảo này Con số trên baogồm số nhân viên bị sa thải và chấm dứt hợp đồng từ hơn 116.000 công ty bị ảnhhưởng do dịch Covid-19
Singapore:
Số lượng người có việc làm ở Singapore giảm xuống còn 3597,70 nghìn người vàonăm 2020 từ 3778 nghìn người vào năm 2019 Trong khi người có việc làm tạiIndonesia có xu hướng tăng lên 131 triệu người vào năm 2021 từ 128,5 triệu ngườivào năm 2020
Số người có việc làm ở Singapore dự kiến sẽ đạt 3700.00 nghìn người vào cuốinăm 2021, theo các mô hình vĩ mô toàn cầu của Trading Economics và kỳ vọng củacác nhà phân tích Về dài hạn, số người có việc làm ở Singapore được dự báo sẽ có xu
Trang 9hướng vào khoảng 3800.00 nghìn người vào năm 2022, theo các mô hình kinh tế
lượng
Tính đến năm 2018 Singapore có 5.5 triệu lao động (kể cả dân nhập cư và du học
sinh) Là một quốc gia ít dân chính phủ Singapore đưa ra nhiều chính sách đãi ngộ thu
hút nguồn nhân lực trẻ nước ngoài do đó trong số 5,5 triệu lao động có tới 25% là
người nước ngoài
Triệu IDR/ tháng
Bảng so sánh số liệu giữa Indonesia và Singapore
Chú thích: **Indonesia ** Singapore(Nguồn: Trading economics)
2.1.2 Chất lượng lao động
Indonesia
Giới quan sát nhận thấy rằng người lao động Indonesia đang thiếu hụt một lượng
lớn lao động có trình độ cao Indonesia vẫn luôn nhấn mạnh rằng nước này đang rơi
vào tình trạng thiếu hụt nhân tài (50,4%), thiếu hụt nguồn lao động chất lượng cao để
phục vụ việc phát triển kinh tế trong nước
Một bài viết mới đây trên trang The ASEAN Post đã phân tích về cơn khát nguồn
nhân lực chất lượng cao của Indonesia, và khẳng định hệ thống giáo dục yếu kém
không bảo đảm chất lượng đầu ra chính là nguyên nhân khiến lực lượng lao động trẻ
Trang 10của quốc gia vạn đảo thất nghiệp tràn lan Mặc dù sở hữu hệ thống trường đạihọc khá đồ sộ với gần 4.500 trường và hơn 25.500 chuyên ngànhđào tạo, tuy nhiên các tổ chức giáo dục bậc đại học của Indonesiavẫn xếp ở hạng kém trong bảng đánh giá chất lượng giáo dục toàncầu Ví dụ điển hình là vào cuối năm 2017, chỉ có 65 trong số gần4.500 trường đại học được công nhận là trường hạng A Đặc biệt, vềviệc dạy và sử dụng tiếng Anh tại Indonesia đã được nâng lên thành chínhsách Tuy nhiên, Bộ giáo dục Indonesia xác định rằng, không phải sau này ai cũng làmthầy Ví dụ, trong 100 học sinh sau này ra trường sẽ đảm đương nhiều công việc, vị trí
xã hội khác nhau Vậy nên chỉ cần đặt ra mục tiêu đơn giản là giao tiếp, nghe – nói –đọc – viết căn bản chứ không nhất thiết sử dụng 4 kỹ năng một cách hàn lâm
Năm 2020, cuộc khảo sát tại các công ty Nhật Bản về môi trường kinh doanh ở 20quốc gia ở châu Á và châu Đại Dương cho thấy năng suất lao động ở các nhà máy sảnxuất của Indonesia chỉ đạt 74,4 điểm trên thang điểm 100 Mức này là thấp hơn so vớiPhilippines (Phi-líp-pin 86,3), Singapore (Xin-ga-po 82,7), Thái Lan (80,1) và ViệtNam (80), đồng thời thấp hơn so với Lào (76,7) và Malaysia (Ma-lai-xi-a 76,2)
Giới tinh hoa bảo thủ tại Indonesia cho rằng thà chấp nhận để giớitrẻ không thực sự xuất sắc, không phát triển quá mức để dễ bề kiểmsoát cho mục đích chính trị của quốc gia Theo Viện Lowy, vấn đềnày rất nghiêm trọng Ngoài việc đào tạo ra một thế hệ hoặc nhiềuthế hệ thanh niên Indonesia thiếu hụt kiến thức, kỹ năng làm việc,lối tư duy này cũng sẽ kéo theo nạn tham nhũng, quan liêu, cửaquyền và đương nhiên chất lượng giáo dục mãi luôn dậm chân tạichỗ Theo đánh giá trong hồ sơ xếp hạng quốc gia của RGF, ngườiIndonesia muốn ra nước ngoài làm việc chủ yếu vì muốn tìm kiếm cơhội việc làm tốt hơn với mức lương cao hơn trong nước Tuy nhiên, sốlượng người Indonesia đáp ứng được các yêu cầu của thị trưởngtuyển dụng lao động nước ngoài không thực sự nhiều Chỉ số HCI năm
2017 của Indonesia là 0 535 NA
Indonesia là một trong những quốc gia có dân số trẻ nhất trên thếgiới Đến năm 2035, 64% sẽ trong độ tuổi lao động, mang lại choIndonesia một lợi thế kinh tế tự nhiên về nguồn nhân lực
Singapore
Là nước đào tạo đội ngũ lao động cấp cao hàng đầu thế giới,
có thái độ làm việc tích cực, thành thạo về chuyên môn và tạo ranăng suất vô cùng lớn, thúc đẩy đào tạo tiếng Anh trở thành ngônngữ thông dụng tiện cho tiếp cận thị trường toàn cầu Đặc biệt độingũ lãnh đạo Singapore rất trong sạch, hầu như không có sự xuấthiện của tham nhũng tại đây Chỉ số nhân lực 2013 (HCI) do Diễn đàn thế giớiđánh giá đã xếp hạng Singapore đứng thứ ba toàn cầu và nhất châu Á Năm 2017 chỉ
Trang 11số HCI là 0.884 NA với việc phát triển và sử dụng được 73% vốn nhân lực của mình,Singapore đã được Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) xếp hạn thứ nhất tại Châu Á,đứng thứ 11 trên tổng số 130 quốc gia Trong khi đó, chỉ số HCI năm 2017 củaIndonesia là 0 535 NA, thấp hơn khá nhiều so với Singapore
Theo Tổ chức lao động quốc tế (ILO) 2019 năng suất lao động củaSingapore cao nhất Châu Á, con số này gấp 5 lần Trung Quốc và gấp khoảng 15 lầnViệt Nam Năng suất lao động theo giờ của Singapore đạt con số ấn tượng 54,9 USD
So sánh: Vấn đề chất lượng lao động của Indo là hoàn toàn cách
xa Singapore trong khi hệ thống giáo dục của Indo còn yếu kémthì Sing đã trở thành nước đào tạo đội ngũ lao động cấp cao hàngđầu thế giới và không có sự xuất hiện của tham nhũng Cùng với
đó, Indonesia chưa thực sự đề cao sự cần thiết của việc học tiếng Anh Điều nàygây trở ngại rất lớn đến việc gia nhập thị trường thế giới, nâng cao năng suất laođộng
2.1.3 Thu nhập
Indonesia
Với thu nhập bình quân đầu người ở mức 3.846 USD vào năm
2017, Indonesia đang tiến gần lên nhóm quốc gia có thu nhập trêntrung bình (UMIC) Ngân hàng Thế giới (WB) đã xếp Indonesia vàonhóm các nước có thu nhập trung bình cao kể từ ngày 1/7/2020 khitổng thu nhập quốc dân (GNI) bình quân đầu người của quốc giaĐông Nam Á này tăng lên 4.050 USD vào năm 2019 từ mức 3.840USD trước đó
Bộ Tài chính Indonesia nhấn mạnh rằng việc nâng xếp hạngtrên là bằng chứng cho thấy khả năng phục hồi kinh tế và tăngtrưởng bền vững của Indonesia luôn được duy trì trong những nămgần đây Chính phủ Indonesia sẽ thúc đẩy hàng loạt chính sách cảicách cơ cấu tập trung vào năng lực cạnh tranh kinh tế, như nhân lực
và năng suất, khả năng sản xuất để gia tăng xuất khẩu và giảmthâm hụt tài khoản vãng lai, và nền kinh tế kỹ thuật số nhằmkhuyến khích trao quyền kinh tế rộng rãi Ngoài ra, Chính phủIndonesia sẽ tiếp tục nâng cao nhận thức của các nhà đầu tư, cácđối tác thương mại, các đối tác phát triển song phương về an ninhkinh tế của Indonesia
Trang 12(Nguồn:
https://solieukinhte.com/gdp-binh-quan-dau-nguoi-cua-indonesia/#bang)GDP bình quân đầu người (GDP/người) của Indonesia là 3.870USD/người vào năm 2020 Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đầungười của Indonesia đạt -3.11% trong năm 2020, giảm -265USD/người so với con số 4.135 USD/người của năm 2019 GDP bìnhquân đầu người của Indonesia năm 2021 dự kiến sẽ đạt 3.622USD/người nếu nền kinh tế Indonesia vẫn giữ nguyên tốc độ tăngtrưởng GDP và mức dân số như năm vừa rồi
Trang 13 Singapore
Thu nhập danh nghĩa của lao động toàn thời gian giảm 0,6% từ4.563 đô la năm 2019 xuống còn 4.534 đô la vào năm 2020 Sauđiều chỉnh lạm phát, thu nhập trung bình thực tế giảm 0,4% năm
2020, so với mức 2,2% năm 2019 Thu nhập trung bình trong vòngnăm năm từ 2015 đến năm 2020 là 2,7%/năm cao gần bằng so vớigiai đoạn từ năm 2010 đến 2015 (3,1% / năm)
So sánh: Có thể nói thu nhập của Indo ổn định và sánh ngang với
Sing mặc dù chất lượng lao động của Indo là thấp hơn nhiều
2.1.4 Cơ cấu lao động
Indonesia
Là một trong những quốc gia đông dân nhất thế giới (chỉ đứngsau Trung Quốc, Ấn Độ và Mỹ), Indonesia có lợi thế là lực lượng laođộng trẻ (68%, theo thống kê của Ngân hàng Thế giới năm 2018)
Hiện có khoảng 4,5 triệu người Indonesia đang làm việc ở nướcngoài, đa số là công việc giúp việc gia đình và 70% trong số họ là phụ
nữ Di cư lao động Indonesia ở nước ngoài tạo ra một đóng góp lớn cho cuộc sốngcủa nhiều người bình thường người lao động, gia đình của họ và nền kinh tế như toàn
bộ Hơn 9 triệu người Indonesia đang hiện đang làm việc ở nước ngoài, tương đươngvới gần 7% tổng lực lượng lao động của Indonesia là nước có số người lao động xuấtkhẩu cao nhất Đông Nam Á Chỉ sau Trung Quốc và Philippines có nhiều người di cưhơn làm việc ở nước ngoài hơn Indonesia ở khu vực Đông Á
Di cư quốc tế đóng vai trò quan trọng đóng góp cho nền kinh tế; năm 2016,người di cư công nhân đã gửi hơn 118 nghìn tỷ IDR (8,9 tỷ USD) trở về Indonesiabằng kiều hối Ngoài ra, gần đây nghiên cứu 2 chỉ ra mức độ di chuyển lao động gópphần trực tiếp vào việc cải thiện cuộc sống của mọi người.Nhiều người trong sốnhững người không có việc làm ở Indonesia đã tìm được việc làm hiệu quả ở nướcngoài, thường là lần đầu tiên trong đời của họ Khoảng 56% lao động nhập cư chủ yếutham gia vào dọn phòng hoặc làm việc không công trước khi di cư, chỉ để lại 44% cókinh nghiệm công việc được trả lương trước khi làm việc ở nước ngoài Lợi ích củaviệc di cư là có thu nhập cao hơn Người lao động Indonesia đã có việc làm trongnước trước khi di cư thường kiếm được tới bốn gấp sáu lần khi làm việc ở nước ngoài
Dữ liệu khảo sát gần đây cho thấy lao động nhập cư đang có thể kiếm được mứclương trung bình hàng tháng là 3,7 triệu IDR (281 đô la Mỹ), gấp bốn lần mức lươngtrung bình của họ trước khi di cư Trong khi đó, lao động nữ nhập cư đi làm các quốcgia châu Á phát triển mạnh (Đài Bắc Trung Hoa, Đặc khu hành chính Hồng Kông,Singapore, v.v.) có thể kiếm được tiền gấp sáu lần số tiền họ kiếm được trong côngviệc trước đây của họ ở Indonesia Người lao động có kỹ năng thấp có được những kỹnăng và kinh nghiệm mới khi làm việc ở nước ngoài và kết quả là thường tìm đượcviệc làm tốt hơn khi họ trở về nước Phần lớn lao động nhập cư trước đây (77 phần
Trang 14cent) nói rằng họ đã đạt được các kỹ năng mới trong quá trình di chuyển Hơn nữa,trong số những người đã công việc không được trả lương trước khi di cư, hơn một nửatìm được việc làm được trả lương khi trở lại Indonesia, giảm căng thẳng tài chính chocác hộ gia đình
Kiều hối từ lao động nhập cư Indonesia góp phần quan trọng vào giảm bớt tìnhtrạng nghèo đói Nghiên cứu cho thấy rằng kiều hối làm giảm khả năng các hộ giađình Indonesia nghèo 28% (Adams và Cuecuecha, 2011) Gia đình ở nhà được hưởnglợi về tài chính bằng cách trang trải các chi phí cho các nhu cầu cơ bản, bao gồm thựcphẩm, nhà ở, giáo dục và y tế Trên 80 phần trăm hộ gia đình công nhân nhập cư đượckhảo sát cho biết “nhu cầu hàng ngày” là một trong những ba mục đích sử dụng hàngđầu cho thu nhập từ chuyển tiền Điều này làm giảm bớt căng thẳng cho các gia đìnhnghèo Trong trường hợp di cư nữ, giúp giảm thiểu tình trạng tham gia lao động trẻ em
Bên cạnh lao động trong nước và xuất khẩu lao động, tính đến cuối năm 2017,
có gần 86.000 lao động nước ngoài làm việc tại Indonesia Con số này vào các năm
2016 và 2015 lần lượt là hơn 80.000 và 77.000 người Indonesia cũng đã dỡ bỏ cáchạn chế và thuế đối với việc sử dụng người lao động nước ngoài Gần đây, Nhà nước
đã quy định bất kỳ người nước ngoài nào phải đóng thuế xuất cảnh thì được khấu trừvào thuế thu nhập Việc này giúp thu hút lao động nước ngoài và tạo điều kiện thuậnlợi để họ làm việc tại Indonesia Tuy nhiên, theo số liệu năm 2018 tổng số lao độngnước ngoài được cấp phép ở Indonesia chưa đến 100.000 người, bao gồm lao độngphổ thông, giám sát viên, các nhà quản lý, giám đốc điều hành và các nhà tư vấn Con
số này là không đáng kể so với lực lượng lao động của cả nước là 125 triệu người
Về độ tuổi, tính đến đầu năm 2017, Indonesia có phân bố các
độ tuổi lao động như sau: có 27.3% thanh thiếu niên dưới 15 tuổi,66.5% người từ 15 đến 64 tuổi, 6,1% người trên 64 tuổi Có thểthấy người trong độ tuổi lao động rất nhiều (chiếm hơn nửa dânsố), điều này tạo ra nguồn nhân lực dồi dào nhưng kèm với đó là tỷ
lệ thất nghiệp tăng cao
Singapore:
Hầu hết những người Singapore ở nước ngoài là người nước ngoài đi cùng giađình hoặc sinh viên của họ đi du học Theo Bộ Kinh tế và Xã hội của Liên hợp quốcvào năm 2019, dân số của cộng đồng người Singapore hải ngoại là 340.751 và theothống kê chính thức từ chính phủ Singapore, 217.200 người Singapore ở nước ngoàivẫn giữ quốc tịch của họ Phần lớn cộng đồng người Singapore hải ngoại sống ởMalaysia, Úc , Vương quốc Anh , Hoa Kỳ và Indonesia
Singapore đặc biệt chú trọng phát hiện và tuyển dụng các sinh viên tài năng nướcngoài thông qua kênh giáo dục Hiện tại, Singapore có 35.000 sinh viên nước ngoàitheo học tại các trường đại học ở đây Tại các trường như Đại học Quốc gia Singapore(NUS), Đại học Kỹ thuật Nanyang, Đại học Quản lý Singapore, số sinh viên nướcngoài chiếm 20% Sinh viên nước ngoài theo học dưới dạng vay tiền của Chính phủSingapore và đổi lại sau khi tốt nghiệp các sinh viên này có nghĩa vụ làm việc cho mộtcông ty của Singapore (tại Singapore hoặc bất kỳ nước nào khác) trong thời gian tốithiểu ba năm để trả nợ Với cách làm này, Chính phủ Singapore luôn có nguồn lao
Trang 15động chất lượng cao được bổ sung hàng năm để làm việc cho các công ty Singapore.Chính sách và đường lối táo bạo như vậy đã dẫn đến sự thay đổi mang tính đột phátrong con số thống kê nhân khẩu học Trong số 5,5 triệu lao động Singapore có tới25% là người nước ngoài
Theo thống kê năm 2017, dân số trong nhóm từ 15 đến 64 tuổichiếm 77%, trên 64 tuổi chiếm 8,01% điều này phần nào đáp ứngđược nhu cầu về lao động trong các ngành nghề, công việc khácnhau Tuy nhiên cơ cấu dân số Singapore cũng đang có xu hướng giàhóa
So sánh: Nhóm trong độ tuổi lao động của Indo có phần ổn
định hơn so với Singapore, tuy nhiên cả 2 quốc gia đều có khảnăng bị già hóa dân số trong tương lai vì thế Chính phủ cần đưa
ra những chính sách hợp lý để ổn định nguồn lao động, pháttriển kinh tế
2.1.5 Tỉ lệ việc làm
Indonesia
Tỷ lệ việc làm của Indonesia ở mức 63,72% vào năm 2020, giảm
so với mức 65,54% của năm trước
Thống kê cho thấy sự phân bổ việc làm ở Indonesia theo khu vựckinh tế từ năm 2009 đến năm 2019 Năm 2019, 28,5% nhân viên ởIndonesia hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, 22,36% trong côngnghiệp và 49,14% trong lĩnh vực dịch vụ
Tỷ trọng việc làm bình thường đã tăng cao nhất trong ngành côngnghiệp, tiếp theo là nông nghiệp và ít nhất trong các dịch vụ Nhìnchung, tình hình việc làm ở Indonesia đã được cải thiện với việc giảm