1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ảnh hưởng của facebook và game online đến hoạt động học tập của sinh viên năm thứ nhất trường đại học sư phạm kỹ thuật thành phố hồ chí minh

146 49 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 146
Dung lượng 2,74 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1. TỔNG QUAN (12)
    • 1.1 Lý do chọn đề tài (12)
    • 1.2 Mục tiêu nghiên cứu (14)
    • 1.3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu (0)
    • 1.4 Nhiệm vụ nghiên cứu (0)
    • 1.5 Giả thuyết nghiên cứu (0)
    • 1.6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu (15)
    • 1.7 Phương pháp nghiên cứu (15)
    • 1.8 Cấu trúc của luận văn (16)
  • Chương 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA FACEBOOK VÀ GAME ONLINE ĐẾN HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN (17)
    • 2.1. Tổng quan lịch sử vấn đề nghiên cứu (17)
      • 2.1.1. Các nghiên cứu trên thế giới (17)
      • 2.1.2. Các nghiên cứu ở Việt Nam (18)
    • 2.2. Các khái niệm cơ bản (19)
      • 2.2.1 Ảnh hưởng (19)
      • 2.2.2 Internet (20)
      • 2.2.3 Mạng xã hội (20)
      • 2.2.4 Facebook (21)
      • 2.2.5 Game online (21)
      • 2.2.6 Hoạt động học tập (22)
    • 2.3. Đặc điểm tâm lý SV (23)
      • 2.3.1 Đặc điểm về sự phát triển nhận thức và học tập (23)
        • 2.3.1.1 Đặc điểm về sự phát triển nhận thức (23)
        • 2.3.1.2 Đặc điểm về động cơ học tập của SV (23)
      • 2.3.2 Đặc điểm về nhân cách (24)
        • 2.3.2.1 Sự phát triển về nhu cầu (24)
        • 2.3.2.2 Sự phát triển về tự đánh giá, tự ý thức và tự giáo dục (25)
        • 2.3.2.3 Sự phát triển về định hướng giá trị - định hướng lối sống (26)
    • 2.4. Hoạt động học tập của SV (27)
      • 2.4.1 Đặc điểm hoạt động học tập của SV (27)
      • 2.4.2 Hoạt động học tập của SV trong giờ học trên lớp (29)
      • 2.4.3 Hoạt động tự học của SV (31)
        • 2.4.3.1 Khái niệm hoạt động tự học (31)
        • 2.4.3.2 Biểu hiện của hoạt động tự học ở SV (33)
    • 2.5 Ảnh hưởng của facebook và game online đến hoạt động học tập của SV (35)
      • 2.5.1 Ảnh hưởng của facebook đến hoạt động học tập của SV (35)
        • 2.5.1.1 Đặc điểm sử dụng facebook của SV (35)
        • 2.5.1.2 Ảnh hưởng tích cực của facebook đến hoạt động học tập của SV (37)
        • 2.5.1.3 Ảnh hưởng tiêu cực của facebook đến hoạt động học tập của SV (38)
      • 2.5.2 Ảnh hưởng của game online đến hoạt động học tập của SV (40)
        • 2.5.2.1 Đặc điểm hoạt động chơi game online của SV .................................... 29 2.5.2.2 Ảnh hưởng tích cực của game online (40)
        • 2.5.2.3 Ảnh hưởng tiêu cực của game online đến hoạt động học tập của SV (41)
  • Chương 3: THỰC TRẠNG ẢNH HƯỞNG CỦA FACEBOOK VÀ GAME ONLINE ĐẾN HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN NĂM NHẤT TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM KỸ THUẬT TP HỒ CHÍ MINH (44)
    • 3.1 Giới thiệu tổng quan về Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật (44)
    • 3.2 Khảo sát thực trạng ảnh hưởng của facebook và game online đến hoạt động học tập của SV năm thứ nhất trường ĐH Sư phạm kỹ thuật Tp Hồ Chí Minh (48)
      • 3.2.1 Mục tiêu khảo sát (48)
      • 3.2.2 Nội dung khảo sát (48)
      • 3.2.3 Đối tượng khảo sát (0)
      • 3.2.4 Phương pháp khảo sát (49)
      • 3.2.5 Phương pháp xử lý số liệu (50)
      • 3.2.6 Tính hệ số tin cậy Cronbach’s alpha bằng spss (51)
      • 3.2.7 Ý nghĩa giá trị trung bình trong thang đo khoảng (51)
    • 3.3 Thực trạng ảnh hưởng của facebook và game online đến hoạt động học tập của SV năm thứ nhất trường ĐH Sư phạm kỹ thuật Tp Hồ Chí Minh (52)
      • 3.3.1 Thực trạng ảnh hưởng của facebook đến hoạt động học tập của SV (52)
        • 3.3.1.1 Sự tiếp cận của SV tới MXH facebook (52)
        • 3.3.1.2 Ảnh hưởng tích cực của facebook đến hoạt động học tập của SV (57)
        • 3.3.1.3 Ảnh hưởng tiêu cực của facebook đến hoạt động học tập của SV ......................................................... 50 . 3.3.2 Thực trạng ảnh hưởng của game online (61)
        • 3.3.2.1 Sự tiếp cận của SV tới game online (65)
        • 3.3.2.2 Ảnh hưởng tích cực của game online đến hoạt động học tập của SV (71)
        • 3.3.2.3 Ảnh hưởng tiêu cực của game online đến hoạt động học tập của SV (74)
  • Chương 4: ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP HẠN CHẾ ẢNH HƯỞNG TIÊU CỰC CỦA FACEBOOK VÀ GAME ONLINE ĐẾN HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CỦA SV NĂM THỨ NHẤT TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP HỒ CHÍ MINH (81)
    • 4.1 Cơ sở khoa học để đề xuất biện pháp (81)
    • 4.2 Biện pháp hạn chế ảnh hưởng tiêu cực, phát huy tích cực của facebook và game online đến hoạt động học tập của SV (0)
      • 4.2.1 Nâng cao nhận thức cho SV về hành vi sử dụng facebook, game online (82)
      • 4.2.2 Tăng cường tổ chức các loại hình hoạt động ngoại khóa (83)
      • 4.2.3 Tăng cường, lồng ghép giáo dục kỹ năng sử dụng internet MXH, game online trong giờ dạy học trên lớp (85)
      • 4.2.4 Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa người học (86)
    • 4.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp (87)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (16)
  • PHỤ LỤC (16)

Nội dung

Ảnh hưởng của facebook và game online đến hoạt động học tập của sinh viên năm thứ nhất trường đại học sư phạm kỹ thuật thành phố hồ chí minh Ảnh hưởng của facebook và game online đến hoạt động học tập của sinh viên năm thứ nhất trường đại học sư phạm kỹ thuật thành phố hồ chí minh Ảnh hưởng của facebook và game online đến hoạt động học tập của sinh viên năm thứ nhất trường đại học sư phạm kỹ thuật thành phố hồ chí minh Ảnh hưởng của facebook và game online đến hoạt động học tập của sinh viên năm thứ nhất trường đại học sư phạm kỹ thuật thành phố hồ chí minh

TỔNG QUAN

Lý do chọn đề tài

Hơn một thập kỷ qua Kinh tế - Văn hóa - Xã hội Việt Nam ngày càng được phát triển một cách toàn diện Đặc biệt, trong bối cảnh toàn cầu hóa với sự phát triển vượt bậc của khoa học kĩ thuật, mạng internet đã ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin, liên lạc ngày càng cao của con người Internet là nguồn dự trữ thông tin vô cùng lớn với khả năng thông tin liên lạc nhanh chóng đã trở thành nhân tố quan trọng trong sự phát triển của mỗi cá nhân Thực tế mà ai cũng nhận ra, đó là internet ngày nay đang phục vụ mọi nhu cầu của con người từ khoa học kỹ thuật cho đến kinh tế thương mại, từ y học cho đến giáo dục, giải trí, v.v…Với hàng loạt các tiện ích được con người khai thác trên internet thì MXH facebook và game online đang trở thành những tiện ích có sức lan tỏa khủng khiếp trong thời gian gần đây

Đến tháng 1 năm 2015, Việt Nam có khoảng 30 triệu người dùng Facebook trên mạng xã hội, trong đó 27 triệu người dùng hoạt động trên di động Mỗi ngày có khoảng 20 triệu người dùng Facebook, trong đó 17 triệu người dùng di động Lượng người dùng Facebook mỗi ngày đã tăng 43% so với cùng kỳ năm 2014 Với game online, Việt Nam hiện có hơn 12 triệu người chơi và con số này tiếp tục gia tăng Đối tượng sử dụng Facebook và chơi game online không giới hạn ở độ tuổi nào; khi tiếp cận các điểm internet siêu tốc và một số địa điểm khác, số lượng bạn trẻ chiếm đa số, đây là nhóm tiếp cận và sử dụng Facebook và game online nhanh nhất và phổ biến nhất.

Sinh viên là một bộ phận của giới trẻ với đặc thù năng động sáng tạo, có học vấn và tuổi trẻ, nên dễ dàng tiếp cận Facebook và tham gia chơi game online Việc sử dụng Facebook và game online nhằm đáp ứng nhu cầu học tập và giải trí của sinh viên được xem là xu thế tất yếu trong bối cảnh toàn cầu hóa, khi mạng xã hội và trò chơi trực tuyến trở thành công cụ kết nối, trao đổi thông tin và hỗ trợ quá trình học tập.

Facebook mang lại nhiều lợi ích cho sinh viên và người dùng, ví dụ thời gian trên Facebook có thể giúp các bạn thư giãn, giảm căng thẳng và mệt mỏi sau nhiều giờ học tập và làm việc, đồng thời mở rộng các mối quan hệ bạn bè, hỗ trợ kinh doanh và tìm việc làm Tuy nhiên, mặt trái của mạng xã hội này là tiêu tốn thời gian, có nguy cơ lộ thông tin cá nhân và ảnh hưởng đến đời sống thực nếu sử dụng không cân nhắc.

Tiện ích thứ hai có sức hút SV không kém facebook đó là game online Game online mang lại cho SV nhiều cảm xúc rõ rệt khi chơi đó là giúp SV giải trí, thư giãn sau giờ học mệt nhọc, linh hoạt trong xử lý tình huống và có được kỹ năng giải quyết vấn đề Nhưng đổi lại, với những ảnh hưởng tích cực đó luôn kèm theo những ảnh hưởng tiêu cực, về bản chất game online không hoàn tiêu cực nhưng chính sự làm dụng quá mức sẽ dẫn đến những hệ lụy không mong muốn đó là: SV mất ngủ, mất nhiều thời gian, đầu óc không tỉnh táo, quên ăn, quên học, đầu óc u mê trong thế giới ảo vì game…

Với những ảnh hưởng tiêu cực của game online gây ra, Ngày 7/4/2011 Bộ

GD & ĐT đã ban hành Quyết định số 1387/QĐ-BGDĐT về chương trình hành động về phòng, chống tác hại của game online có nội dung bạo lực và không lành mạnh đối với học sinh SV giai đoạn 2011-2015 Đồng thời 3/8/2015 Bộ GĐ&ĐT đã có văn bản số 3894/BGDĐT-CTHSSV yêu cầu các sở GD&ĐT; các học viện, trường đại học, cao đẳng, trung cấp báo cáo đánh giá thực trạng tình hình triển khai thực hiện chương trình hành động giai đoạn 2011-2015 Văn bản ban hành cho thấy cần có những đánh giá mức độ nghiêm trọng của game online đang có những ảnh hưởng tiêu cực đối với SV hiện nay

Facebook và game online ảnh hưởng đến hoạt động học tập của sinh viên như thế nào và việc sử dụng quá mức chúng có thể gây ra hậu quả gì cho kết quả học tập là hai câu hỏi trọng tâm của bài viết Nghiên cứu và quan sát cho thấy thời lượng dành cho Facebook và game online có thể làm giảm sự tập trung, kéo dài thời gian làm bài và làm suy giảm chất lượng học tập, từ đó ảnh hưởng đến điểm số và quá trình tiếp thu kiến thức Tuy nhiên, khi được quản lý hiệu quả và cân bằng giữa giải trí và học tập, các hoạt động này có thể hỗ trợ giao tiếp xã hội và phát triển một số kỹ năng, thay vì chỉ mang lại tác động tiêu cực Vấn đề là ở mức độ sử dụng, tính tự giác và khả năng tự quản lý thời gian của từng sinh viên; vì vậy, thiết lập kế hoạch học tập, giới hạn thời gian truy cập và thúc đẩy các hoạt động học tập tích cực là các biện pháp quan trọng để tối ưu hóa tác động của Facebook và game online đối với hoạt động học tập.

Để trả lời các câu hỏi nghiên cứu, người làm khoa học đã chọn làm đề tài luận văn tốt nghiệp: “Ảnh hưởng của Facebook và game online đến hoạt động học tập của sinh viên năm thứ nhất Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh” Mục tiêu của nghiên cứu là xác định mức độ, các dạng ảnh hưởng và cơ chế tác động của việc sử dụng Facebook và trò chơi online đối với sự chú ý, quá trình tự học và kết quả học tập của sinh viên năm nhất tại trường, từ đó đề xuất giải pháp nhằm tối ưu hoá hiệu quả học tập và quản lý thời gian trực tuyến cho sinh viên.

Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu nhằm phân tích ảnh hưởng tích cực và tiêu cực của Facebook và game online đối với hoạt động học tập của sinh viên (SV) Kết quả cho thấy cả hai yếu tố trên có thể tích cực hỗ trợ tương tác, tiếp nhận thông tin và giải trí lành mạnh khi được sử dụng đúng mức, nhưng cũng dễ gây xao nhãng, trì hoãn bài vở và giảm hiệu quả học tập nếu lạm dụng Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất các biện pháp nâng cao nhận thức và định hướng hành vi cho SV nhằm hạn chế những hậu quả tiêu cực và tối đa hóa lợi ích từ Facebook và game online Các biện pháp tập trung vào quản lý thời gian, thiết lập giới hạn sử dụng, phát triển kỹ năng tự quản lý và rèn luyện thói quen học tập, cũng như tích hợp công cụ hỗ trợ và xây dựng môi trường học tập tích cực trên nền tảng số Mục tiêu cuối cùng là giúp SV sử dụng Facebook và game online một cách hợp lý phục vụ cho mục đích học tập và rèn luyện, nâng cao hiệu quả học tập và phát triển kỹ năng quan trọng của bản thân.

1.3 Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu:

1.3.1 Đối tƣợng nghiên cứu: Ảnh hưởng của facebook và game online đến hoạt động học tập của SV

Hoạt động học tập của SV trường Đại học sư phạm kỹ thuật Tp Hồ Chí Minh

- Hiện nay, SV có nhận thức, thái độ, hành vi sử dụng facebook và chơi game online chưa hợp lý

Việc sinh viên lạm dụng quá mức hai tiện ích này sẽ gây ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động học tập, thể hiện bằng lãng phí thời gian, giảm sự tập trung và chú ý trong quá trình học, suy giảm kỹ năng giao tiếp trực diện với bạn bè và giảng viên, đồng thời có nguy cơ nghiện cao khiến hiệu quả học tập suy giảm.

Nhiệm vụ 1: Nghiên cứu cơ sở lý luận về ảnh hưởng của facebook và game online đến hoạt động học tập của SV

Chủ đề Nhiệm vụ 2 là khảo sát thực trạng ảnh hưởng của Facebook và game online đến hoạt động học tập của sinh viên năm thứ nhất Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Tp Nghiên cứu nhằm đo lường mức độ tiếp xúc với Facebook và thời gian dành cho game online, từ đó phân tích ảnh hưởng của chúng tới sự tập trung, tham gia học tập và kết quả học tập của sinh viên năm nhất Dữ liệu được thu thập thông qua phương pháp khảo sát và phân tích định lượng, định tính để làm rõ mối quan hệ giữa thói quen trực tuyến và hiệu quả học tập Kết quả kỳ vọng sẽ cung cấp bằng chứng thực tế và gợi ý cho các biện pháp quản lý và can thiệp giáo dục nhằm nâng cao chất lượng đào tạo tại trường.

Để hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của Facebook và game online đến hoạt động học tập của sinh viên Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật, cần triển khai đồng bộ các biện pháp như nâng cao nhận thức và quản lý thời gian học tập, áp dụng giới hạn thời gian cho các ứng dụng xã hội và trò chơi, đồng thời thiết kế chương trình giảng dạy nhiều hoạt động tương tác nhằm tăng tính tự lập và sự tập trung Bên cạnh đó, sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng để theo dõi tiến độ học tập, tư vấn học tập và hỗ trợ kỹ năng tự học là rất quan trọng; đồng thời khuyến khích tham gia hoạt động ngoại khóa mang tính học thuật và kỹ năng mềm Các công cụ quản lý thiết bị và giám sát truy cập, cùng với theo dõi định kỳ của giảng viên, có thể giúp kiểm soát thời lượng sử dụng Facebook và game online trong thời gian học tập và giảm xao nhãng Cuối cùng, nâng cao năng lực công nghệ thông tin cho sinh viên sẽ giúp họ phân tích nguồn tin, nhận diện thông tin sai lệch và tối ưu hóa quá trình học, từ đó nâng cao hiệu quả học tập tại trường.

4 thuật Tp Hồ Chí Minh có nhận thức, định hướng hành vi tốt hơn khi sử dụng facebook và game online

1.6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu:

1.6.1 Nội dung nghiên cứu: Đề tài sẽ đi sâu vào mô tả thực trạng những ảnh hưởng tích cực, tiêu cực của facebook và game online đến hoạt động học tập của SV năm nhất trong phạm vi nhà trường, bao gồm: Ảnh hưởng tích cực Ảnh hưởng tiêu cực

- Dễ dàng kết bạn, chia sẻ thông tin, duy trì các mối liên hệ

-Đáp ứng nhu cầu giải trí

- Cập nhật thông tin nhanh chóng

- Giảm chú ý trong học tập

- Giảm khả năng giao tiếp trực diện

- Linh hoạt, năng động, hình thành các kỹ năng giải quyết vấn đề

- Gây ham mê quá độ

1.6.2 Đối tƣợng khảo sát: Đề tài nghiên cứu 360 SV năm thứ nhất của 3 khoa:

- 128 SV khoa Điện - Điện tử

- 118 SV khoa Cơ khí chế tạo máy

- 114 SV khoa Cơ khí động lực

1.7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận:

Tham khảo các công trình nghiên cứu, sách, báo và tạp chí chuyên ngành về các vấn đề liên quan như MXH, Facebook, game online và hoạt động học tập để đảm bảo bài viết có căn cứ khoa học và cập nhật xu hướng Việc tổng hợp nguồn từ nhiều tài liệu giúp làm rõ tác động của mạng xã hội và trò chơi trực tuyến tới động lực học tập, quản lý thời gian và kết quả học tập của người dùng Các nội dung này cung cấp khung lý thuyết, phương pháp nghiên cứu và bằng chứng thực nghiệm có thể vận dụng vào cách thiết kế chương trình giáo dục, đánh giá ảnh hưởng của trò chơi trên nền tảng số và tối ưu hóa trải nghiệm học tập Nhờ vậy, bài viết sẽ có tính đồng nhất, thuyết phục người đọc và đạt hiệu quả SEO nhắm tới các từ khóa như MXH, Facebook, game online và hoạt động học tập.

SV…Từ đó hệ thống và khái quát hóa các khái niệm công cụ làm cơ sở lý luận cho đề tài

1.7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Sử dụng phiếu điều tra, khảo sát thực trạng nhận thức, thái độ, hành vi sử dụng facebook và game online của SV năm thứ nhất trong hoạt động học tập

Phương pháp quan sát được triển khai bằng cách theo dõi thái độ và hành vi học tập của sinh viên năm thứ nhất trong phạm vi nhà trường nhằm xác định ảnh hưởng của Facebook và game online đến hoạt động học tập Quá trình này được kết hợp với ghi chép và nhận xét về các kết quả thu được nhằm bổ sung tư liệu thực tiễn cho nghiên cứu.

Phương pháp trò chuyện được triển khai thông qua các buổi trò chuyện với sinh viên năm nhất của trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP Hồ Chí Minh, nhằm khám phá sâu các khía cạnh liên quan đến quá trình điều tra như nhận thức, thái độ và hành vi của sinh viên khi sử dụng Facebook và chơi game online, từ đó làm rõ những vấn đề đã được điều tra và cung cấp dữ liệu có giá trị cho phân tích.

1.7.3 Phương pháp thống kê toán học:

Lập bảng biểu, phân tích, xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS 20.0 và Microsoft Exel giúp đánh giá vấn đề chính xác, khách quan và khoa học

1.8 Cấu trúc của luận văn: Luận văn chia thành 5 chương chính:

Chương 2: Cơ sở lý luận về ảnh hưởng của facebook và game online đến hoạt động học tập của sinh viên

Chương 3: Thực trạng ảnh hưởng của facebook và game online đến hoạt động học tập của SV năm thứ nhất Trường Đại học sư phạm kỹ thuật Tp Hồ Chí Minh

Chương 4: Đề xuất biện pháp hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của facebook và game online đến hoạt động học tập của SV năm thứ nhất Trường Đại học sư phạm kỹ thuật Tp Hồ Chí Minh

Chương 5: Kết luận – Kiến nghị

Giới hạn phạm vi nghiên cứu

1.6.1 Nội dung nghiên cứu: Đề tài sẽ đi sâu vào mô tả thực trạng những ảnh hưởng tích cực, tiêu cực của facebook và game online đến hoạt động học tập của SV năm nhất trong phạm vi nhà trường, bao gồm: Ảnh hưởng tích cực Ảnh hưởng tiêu cực

- Dễ dàng kết bạn, chia sẻ thông tin, duy trì các mối liên hệ

-Đáp ứng nhu cầu giải trí

- Cập nhật thông tin nhanh chóng

- Giảm chú ý trong học tập

- Giảm khả năng giao tiếp trực diện

- Linh hoạt, năng động, hình thành các kỹ năng giải quyết vấn đề

- Gây ham mê quá độ

1.6.2 Đối tƣợng khảo sát: Đề tài nghiên cứu 360 SV năm thứ nhất của 3 khoa:

- 128 SV khoa Điện - Điện tử

- 118 SV khoa Cơ khí chế tạo máy

- 114 SV khoa Cơ khí động lực.

Phương pháp nghiên cứu

1.7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận:

Tham khảo các công trình nghiên cứu, sách, báo và tạp chí chuyên ngành về các vấn đề liên quan như MXH, Facebook, game online và hoạt động học tập của người dùng nhằm xây dựng nền tảng lý thuyết và dữ liệu thực nghiệm cho bài viết; việc tổng hợp và so sánh các nguồn tin sẽ làm rõ tác động của mạng xã hội và trò chơi online đến sự tập trung, quản lý thời gian và kết quả học tập, đồng thời cung cấp căn cứ có tính thuyết phục cho nội dung tối ưu SEO thông qua các từ khóa liên quan như MXH, Facebook, game online và hoạt động học tập.

SV…Từ đó hệ thống và khái quát hóa các khái niệm công cụ làm cơ sở lý luận cho đề tài

1.7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Sử dụng phiếu điều tra, khảo sát thực trạng nhận thức, thái độ, hành vi sử dụng facebook và game online của SV năm thứ nhất trong hoạt động học tập

Phương pháp quan sát được áp dụng để theo dõi thái độ và hành vi học tập của sinh viên năm thứ nhất trong phạm vi nhà trường, nhằm xác định mức độ ảnh hưởng của Facebook và game online đến quá trình học tập Quá trình quan sát được kết hợp với ghi chép hệ thống và nhận xét chi tiết về kết quả thu được nhằm bổ sung tư liệu thực tiễn cho nghiên cứu.

 Phương pháp trò chuyện: Qua trò chuyện với SV năm thứ nhất trường Đại học sư phạm kỹ thuật Tp Hồ Chí Minh, nhằm tìm hiểu rõ các vấn đề liên quan đến quá trình điều tra như: nhận thức, thái độ, hành vi của SV khi sử dụng facebook và chơi game online, từ đó chính xác hóa những vấn đề đã điều tra

1.7.3 Phương pháp thống kê toán học:

Lập bảng biểu, phân tích, xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS 20.0 và Microsoft Exel giúp đánh giá vấn đề chính xác, khách quan và khoa học.

Cấu trúc của luận văn

Chương 2: Cơ sở lý luận về ảnh hưởng của facebook và game online đến hoạt động học tập của sinh viên

Chương 3: Thực trạng ảnh hưởng của facebook và game online đến hoạt động học tập của SV năm thứ nhất Trường Đại học sư phạm kỹ thuật Tp Hồ Chí Minh

Chương 4: Đề xuất biện pháp hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của facebook và game online đến hoạt động học tập của SV năm thứ nhất Trường Đại học sư phạm kỹ thuật Tp Hồ Chí Minh

Chương 5: Kết luận – Kiến nghị

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA FACEBOOK VÀ GAME ONLINE ĐẾN HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN

Tổng quan lịch sử vấn đề nghiên cứu

Hiện nay, có nhiều nghiên cứu về Facebook và trò chơi trực tuyến, trong đó một số nghiên cứu đi sâu vào ảnh hưởng của mạng xã hội Facebook và một số khác phân tích vấn đề chơi game trực tuyến cùng mức độ tác động của chúng đến hoạt động học tập của sinh viên Mục đích của bài nghiên cứu này là đi sâu vào ảnh hưởng của hai tiện ích trên đến hoạt động học tập của sinh viên.

2.1.1 Các nghiên cứu trên thế giới:

Nghiên cứu tại Mỹ của Sushma Bagavadi Ellore & Suman Niranjan & Ulysses

J Brown (2014) về ảnh hưởng của sử dụng internet đến kết quả học tập và giao tiếp trực diện của SV tại các trường đại học ở Mỹ Mục đích nghiên cứu là điều tra số liệu xem lượng thời gian online có ảnh hưởng đến kết quả học tập cũng như khả năng giao tiếp trực diện trong SV Cụ thể nghiên cứu cho biết về lượng thời gian dành cho facebook, online trực tuyến đối với giáo dục và phi giáo dục [32]

Nghiên cứu tại trường đại học Khartoum của tác giả Daffalla A'lamElhuda &

D A.Dimetry (2014) về “Tác động của việc sử dụng facebook và các MXH khác đến kết quả học tập và đời sống xã hội giữa các SV y khoa” Kết quả của nghiên cứu này cho thấy MXH Facebook chiếm tỷ lệ sử dụng cao nhất trong tất cả các tiện ích có trên internet Tần suất sử dụng facebook là ít nhất 1 lần/ tuần và nhiều nhất 5 lần/ ngày Một số SV y khoa sử dụng facebook đã từng cúp học, cắt giảm thời gian làm bài tập và giảm các hoạt động xã hội của các nhân [31]

Nghiên cứu tại Malaysia của các tác giả đến từ trường Đại học Putra (2014) về

“Nghiện facebook trong số SV Đại học” Ba chủ đề được các nhà nghiên cứu xác

Phân tích dữ liệu khảo sát cho thấy ba dấu hiệu nổi bật ở một số sinh viên sử dụng Facebook với tần suất cao: tần suất sử dụng Facebook cao, áp lực bắt buộc kiểm tra Facebook thường xuyên, và sử dụng Facebook để né tránh trách nhiệm Các nhà nghiên cứu cho biết những người tham gia nghiên cứu sẵn sàng dành nhiều giờ, thậm chí cả ngày trên Facebook, khiến nền tảng này dường như chi phối hoạt động hàng ngày của họ [34].

Nghiên cứu tại Trung Quốc của các tác giả Zhaojun Teng & Yujie Li & Yanling Liu (2014) về “game online, nghiện internet và tình trạng bạo lực của nam

SV Trung quốc” Mục đích của nghiên cứu nhằm làm rõ mối quan hệ giữa tình trạng bạo lực trường học trong SV có xu hướng gia tăng khi chơi game online và nghiện mạng, khả năng tự kiểm soát bản thân thấp dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng Phát hiện này đã hỗ trợ cho các chương trình giáo dục và xây dựng các biện pháp nhằm tăng cường năng lực tự chủ của SV và giảm thiểu bạo lực học đường khi chơi game online bạo lực [33]

2.1.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam:

Tại Việt Nam nghiên cứu về internet gần đây đã trở thành mối quan tâm của các nhà xã hội học, tâm lý học và các nhà giáo dục Đặc biệt các nghiên cứu về hai tiện ích facebook và game online đang được giới trẻ yêu thích cụ thể là SV sử dụng cũng được quan tâm khá nhiều Có thể thống kê một số nghiên cứu như sau:

Nghiên cứu của tác giả Đào Lê Hòa An (2013) về “ hành vi sử dụng facebook của con người”, với xu hướng gia tăng sử dụng facebook như hiện nay, tuổi vị thành niên nói chung và SV nói riêng là một trong những đối tượng cần được quan tâm Bởi vì, đối với nhiều bạn trẻ thì facebook là niềm đam mê để tìm hiểu xã hội Nhưng mê facebook thái quá lại trở thành tiêu cực, ảnh hưởng không ít đến thời gian học tập [2]

Nghiên cứu của các tác giả Nguyễn Thị Châu Anh & Nguyễn Kim Loan

Trong bài viết năm 2013 về tác động của Internet đối với việc học tập của học sinh và sinh viên, tác giả phân tích cả tác động tích cực lẫn các hiện tượng tiêu cực liên quan đến việc sử dụng mạng trong học tập Internet mở rộng nguồn tài nguyên giáo dục, giúp tra cứu tài liệu nhanh chóng, tham gia học trực tuyến, làm việc nhóm từ xa và phát triển kỹ năng tự học, tư duy phản biện và khả năng đánh giá nguồn tin đáng tin cậy Tuy nhiên, sự phụ thuộc quá mức vào thiết bị và mạng xã hội có thể gây xao nhãng, giảm tập trung và tiếp nhận thông tin không chất lượng Bài viết nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đánh giá nguồn tin, quản lý thời gian học tập và ứng dụng giáo dục trực tuyến một cách có hệ thống, đồng thời đề xuất các giải pháp nâng cao nhận thức về an toàn thông tin, đạo đức số và kỹ năng số cho học sinh-sinh viên để tận dụng Internet một cách hiệu quả và bền vững trong quá trình học tập.

8 cực xuất phát từ MXH qua internet, đặc biệt là facebook đến học tập của HS-SV và đồng thời đề ra một số giải pháp khắc phục [3]

Nghiên cứu “Sử dụng MXH trong SV Việt Nam” của Trần Minh Đức và Bùi Thị Hồng Thái (2014) dựa trên bảng hỏi với 4.205 sinh viên ở 6 thành phố lớn Các tác giả cho thấy mức độ phổ biến và cách thức sử dụng mạng xã hội của sinh viên Việt Nam, đồng thời chỉ ra những đặc điểm và xu hướng nổi bật khi tham gia các MXH Kết quả này cung cấp cái nhìn tổng quan về vai trò của MXH trong đời sống sinh viên ở các đô thị lớn và gợi ý hướng khai thác MXH hiệu quả cho hoạt động học tập, giao tiếp và kết nối với cộng đồng sinh viên.

Trong nghiên cứu, sinh viên cho thấy Facebook được sử dụng nhiều nhất, chiếm 86,6% lượng thời gian dùng mạng xã hội Thời gian sử dụng Facebook của sinh viên trải dài từ 1 giờ đến dưới 5 giờ mỗi ngày Sinh viên dùng Facebook chủ yếu để đáp ứng nhu cầu tương tác xã hội và giải trí [7, tr 50-60].

Hiện tượng nghiện game online được Nguyễn Thị Hậu (2009) đề cập như một thực trạng phổ biến ở thanh thiếu niên hiện nay Kết quả khảo sát điều tra xã hội học cho thấy có ba yếu tố chính mà game online ảnh hưởng tới người chơi: tốn thời gian, chi phí tốn kém và dễ gây nghiện Những yếu tố này cho thấy game online tác động đáng kể đến thói quen hàng ngày, mức chi tiêu và khả năng kiểm soát thời gian của thanh thiếu niên, đồng thời đặt ra thách thức cho gia đình và nhà trường trong công tác quản lý và can thiệp Nguồn tham khảo: [10, tr 1-6].

Nghiên cứu của tác giả Huỳnh Văn Sơn (2014): “ Mê game - Hội chứng thời đại số” đã đề cập một số mặt tích cực và tiêu cực của game online Về tác động tích cực, tác giả cho biết game online có thể làm cho các bạn trẻ trong đó có SV tập trung thính thị và chú ý trong trò chơi Về tiêu cực, nếu người chơi vẫn đang trong giai đoạn ổn định dần dần nhân cách khi tiếp xúc với những game online bạo lực quá mức dễ dàng làm cho cá nhân chơi bị ảnh hưởng [21]

Tổng quan những công trình nghiên cứu trên thế giới và trong nước cho thấy rằng, ảnh hưởng của MXH facebook và game online đến học tập của SV đã là một vấn đề được quan tâm mạnh mẽ Các nghiên cứu đã bước đầu làm sáng tỏ các lý luận và thực tiễn về nguyên nhân dẫn tới nghiện facebook và game online, ảnh hưởng của chúng đến cuộc sống của SV đại học Đề tài này tập trung nghiên cứu các ảnh hưởng tích cực và tiêu cực của facebook và game online đến hoạt động học tập của SV.

Các khái niệm cơ bản

Theo từ điển tiếng việt: Ảnh hưởng là tác dụng đối với người hoặc sự vật nào đó [24]

Theo từ điển trực tuyến: Ảnh hưởng là tác động (từ người, sự việc hoặc hiện tượng) có thể làm dần dần có những biến đổi nhất định trong tư tưởng, hành vi, hoặc trong quá trình phát triển ở sự vật hoặc người nào đó [37]

Khái niệm ảnh hưởng trong đề tài này được hiểu là sự tác động của một sự vật, hiện tượng hoặc con người lên sự vật, hiện tượng khác và dẫn tới một kết quả nhất định Ảnh hưởng có thể mang tính tự phát hoặc tự giác, tùy theo hoàn cảnh cụ thể Ảnh hưởng tự phát thường mang tính tự nhiên, không được bố trí hay sắp đặt và đối tượng chịu ảnh hưởng có thể không nhận thức được Ngược lại, nếu mang tính tự giác, quá trình ảnh hưởng được hiểu là giáo dục hoặc sự ảnh hưởng có chủ đích Ảnh hưởng có thể là một chiều hoặc hai chiều, tức là có sự tương tác giữa các yếu tố tác động và bị tác động.

Internet là hệ thống thông tin toàn cầu được kết nối với nhau bằng giao thức truyền thông Internet (TCP/IP) và sử dụng một hệ thống địa chỉ thống nhất trên phạm vi toàn cầu để cung cấp các dịch vụ ứng dụng khác nhau cho người dùng Nhờ cơ chế định danh và định tuyến thống nhất, Internet cho phép các thiết bị và máy chủ ở khắp nơi trao đổi dữ liệu một cách nhanh chóng, an toàn và hiệu quả, đáp ứng các nhu cầu từ duyệt web, gửi email đến truyền tải video, âm thanh và nhiều ứng dụng trực tuyến khác.

Một cách khái quát nhất, internet được định nghĩa như sau: “Internet là mạng máy tính toàn cầu sử dụng giao thức TCP/IP để trao đổi thông tin giữa các máy tính với nhau” Mạng internet kết nối nhiều mạng máy tính của nhiều quốc gia trên thế giới, cho nên internet là một mạng máy tính ( network of network ) [28, tr 4-5]

Khái niệm MXH (Social network sites), MXH trên internet, MXH trực tuyến, hay còn gọi là MXH ảo là khái niệm mới được hình thành trong thập niên cuối thế kỷ XX với hàng loạt các trang mạng khác nhau như MySpace, Facebook, Twitter

Vào năm 2004, mạng xã hội bắt đầu hình thành và tại Việt Nam sự xuất hiện của Zing Me vào năm 2009 đánh dấu một bước chuyển biến quan trọng Với sự phát triển nhanh chóng của hình thức xã hội ảo này, MXH được định nghĩa theo nhiều hướng tiếp cận khác nhau, phản ánh sự đa dạng về chức năng, cách thức tương tác và tác động của mạng xã hội đối với đời sống người dùng cũng như xã hội Việt Nam.

Theo hướng tiếp cận xã hội học, MXH hay mạng xã hội ảo là các dịch vụ kết nối các thành viên có cùng sở thích trên Internet, tạo thành mạng lưới liên kết giữa người dùng để giao lưu và hợp tác Những nền tảng này phục vụ nhiều mục đích khác nhau và không bị giới hạn bởi không gian hay thời gian [11].

Theo cách tiếp cận toán học, Trần Minh Đức (2012) cho rằng mạng xã hội (MXH) là một hệ thống gồm nhiều đỉnh (node) được liên kết với nhau để hình thành một mạng lưới các liên kết (hoặc cung).

Theo hướng tiếp cận xã hội, nhấn mạnh yếu tố con người, MXH được nghiên cứu trên quan hệ cá nhân - cộng đồng để tạo thành mạng lưới xã hội Tác giả Nguyễn Thị Lệ Uyên cho rằng: MXH là một tập hợp các mối quan hệ giữa các thực thể xã hội gọi chung là “actor” Các thực thể xã hội này không nhất thiết chỉ là các cá nhân mà còn là các nhóm xã hội…Khi mạng lưới xã hội này được thiết lập và phát triển thông quan phương tiện truyền thông internet, nó được hiểu là MXH ảo”

Tóm lại, trong đề tài nghiên cứu này MXH có thể hiểu là: Một dịch vụ kết nối các thành viên cùng sở thích trên internet lại với nhau, với nhiều mục đích khác nhau Không phân biệt không gian, thời gian, giới tính, độ tuổi….Nhờ có những ưu thế này mà MXH đang có tốc độ lây lan chóng mặt và có sức hút với người dùng ở mọi lứa tuổi, đặc biệt là thanh niên trên toàn thế giới Những người sử dụng MXH được gọi là cư dân mạng

Hiện nay trên thế giới có rất nhiều mạng xã hội (MXH) như Facebook, Twitter, Google+, Instagram và Myspace Tuy nhiên, phổ biến và thành công nhất vẫn là Facebook, với lượng người dùng đông đảo và sức ảnh hưởng toàn cầu, được xem là nền tảng tối ưu để kết nối bạn bè, chia sẻ nội dung và xây dựng thương hiệu cá nhân hoặc doanh nghiệp.

Facebook là một mạng xã hội miễn phí do công ty Facebook, Inc điều hành Người dùng có thể tham gia các mạng lưới được tổ chức theo thành phố, nơi làm việc, trường học và khu vực để kết nối và giao tiếp với người khác Người dùng cũng có thể kết bạn, gửi tin nhắn cho nhau, và cập nhật hồ sơ cá nhân để thông báo cho bạn bè về bản thân mình.

Trò chơi trực tuyến hay game online là các trò chơi được sản xuất bởi các công ty và nhà cung cấp dịch vụ trò chơi, và được chơi thông qua mạng máy tính cũng như trên internet nhờ hạ tầng đường truyền Người dùng có thể tham gia từ xa, cạnh tranh hoặc hợp tác với người chơi khác, với đa dạng thể loại từ hành động, nhập vai đến chiến thuật và thẻ bài Điểm đặc trưng của trò chơi trực tuyến là sự kết nối giữa người chơi thông qua các máy chủ từ xa, cho phép chơi multiplayer, cập nhật nội dung và sự kiện mới một cách liên tục Các nền tảng phân phối game trực tuyến cung cấp công cụ truy cập, quản lý tài khoản và tối ưu hoá trải nghiệm người dùng để người chơi có thể tìm kiếm và tham gia trò chơi bất cứ lúc nào, ở bất cứ đâu.

Người chơi có thể chơi game online tại nhà qua máy tính có kết nối mạng hoặc đến các điểm dịch vụ để chơi cùng bạn bè Các thể loại game online rất đa dạng, từ các trò dựa trên mã hóa cho đến những game lồng ghép đồ họa phức tạp và các thế giới ảo mà nhiều người chơi có thể tham gia cùng lúc Nhiều game online được gắn với cộng đồng ảo, biến chúng thành một hình thức hoạt động xã hội vượt ra khỏi các trò chơi dành cho một người chơi.

2.2.6 Hoạt động học tập: Đối với mỗi con người thì học tập là một trong những hoạt động không thể thiếu nhằm tiếp thu, lĩnh hội những thành tựu, tri thức và kinh nghiệm lịch sử - xã hội Học cũng là một khái niệm chủ đạo trong giáo dục Đã có nhiều quan điểm khác nhau, nhiều cách lý giải phong phú và đa dạng tùy vào cách tiếp cận của các nhà nghiên cứu về hoạt động học tập

Đặc điểm tâm lý SV

2.3.1 Đặc điểm về sự phát triển nhận thức và học tập:

2.3.1.1 Đặc điểm về sự phát triển nhận thức:

Hoạt động nhận thức của sinh viên vừa kế thừa vừa cập nhật các thành tựu của khoa học đương đại, gắn với hoạt động học tập như một lao động trí óc Bản chất của hoạt động nhận thức là nghiên cứu chuyên sâu một chuyên ngành, đòi hỏi sinh viên có trình độ phát triển nhận thức tương ứng và các kỹ năng phân tích và tổng hợp, cùng khả năng đánh giá và nhận xét các tình huống liên quan đến chuyên ngành Hoạt động học tập mang tính độc lập và sáng tạo, đòi hỏi sinh viên tự đào tạo và tự hoạch định mục tiêu học tập phù hợp với năng lực và yêu cầu của nhà trường; họ phải nhạy bén, linh hoạt trong từng hoàn cảnh, vận dụng kiến thức để xử lý các tình huống mới, sáng tạo trong việc phát hiện và giải quyết vấn đề dưới nhiều góc độ khoa học khác nhau.

2.3.1.2 Đặc điểm về động cơ học tập của SV: Động cơ học tập là những lý do khiến SV tham gia vào các hoạt động học, là nội dung tâm lý của hoạt động học tập Động cơ học tập có thể bị chi phối bởi nhiều yếu tố, dựa trên nguồn gốc xuất phát có thể chia thành ba yếu tố sau [20]

- Các yếu tố xuất phát từ chính chủ thể như hứng thú, niềm tin, lý tưởng, tâm thế, mục đích

- Các yếu tố xuất phát từ phía xã hội (ngoài chủ thể) như danh vọng, mong muốn của gia đình và xã hội

- Các yếu tố xuất phát trong chính hoàn cảnh học tập như nội dung, phương pháp dạy học, nhân cách của giảng viên, các thiết bị dạy học

Chính vì thế, lĩnh vực động cơ học tập của SV rất phong phú và thường bộc lộ rõ tính hệ thống Hoạt động học tập của SV diễn ra không phải đơn thuần chịu sự chi phối của một loại mà bao gồm nhiều loại động cơ Đó có thể là động cơ có tính chất nhận thức, động cơ có tính chất xã hội và động cơ học tập của SV cũng chịu sự chi phối khá mạnh bởi hoạt động và cách thức tổ chức giảng dạy của giảng viên Nhìn chung, động cơ học tập của thanh niên SV rất đa dạng và mang tính hệ thống, việc học của họ bị chi phối bởi nhiều loại động cơ

Động cơ nhận thức thể hiện qua sự khao khát trau dồi tri thức và hứng thú với các vấn đề khoa học, thúc đẩy tư duy phân tích, khám phá và liên hệ giữa lý thuyết và thực tiễn Đồng thời, động cơ nghề nghiệp là mong muốn có nghề nghiệp ổn định và thành đạt trong lĩnh vực chuyên môn, nhằm định hình tương lai và nâng cao giá trị bản thân trên thị trường lao động Hai động cơ này phối hợp giúp cá nhân vừa mở rộng kiến thức vừa xây dựng sự nghiệp bền vững với định hướng rõ ràng.

+ Động cơ xã hội: đáp ứng yêu cầu của xã hội

+ Động cơ tự khẳng định: về năng lực và phẩm chất cá nhân

+ Động cơ cá nhân: tương lai ổn định, thu nhập cao

Tóm lại, chính do tính đặc thù của hoạt động học tập trong môi trường Đại học, Cao đẳng sẽ giúp SV phát triển mạnh về mặt nhận thức và trí tuệ để đáp ứng được yêu cầu học tập Đây sẽ là một ưu điểm lớn để SV trưởng thành hơn khi bước chân vào cuộc sống thực sự

2.3.2 Đặc điểm về nhân cách:

2.3.2.1 Sự phát triển về nhu cầu:

Trong sự phát triển chung về nhu cầu của người trưởng thành trẻ tuổi thì nhu cầu xã hội phát triển về chất rất đặc biệt [20] Việc SV không có những cơ hội giao lưu và tiếp xúc cũng ảnh hưởng khá nhiều đến kỹ năng sống cũng như dễ dẫn đến những triệu chứng rối nhiễu tinh thần Mặt khác, điều này cũng ảnh hưởng quan

Trong bối cảnh phát triển nhân cách, bài viết nhấn mạnh trọng tâm là hình thành và tôn trọng nhân cách cá nhân Nhu cầu được tôn trọng ngày càng phát triển sâu hơn trên bình diện các mối quan hệ và chuyển biến thành bình đẳng thực sự trong từng tình huống Bên cạnh đó, nhu cầu tự thể hiện thúc đẩy thanh niên, đặc biệt là sinh viên, tự khẳng định mình một cách quyết đoán và “bung” cái tôi của mình trong các hoàn cảnh khác nhau của đời sống cá nhân cũng như đời sống xã hội.

2.3.2.2 Sự phát triển về tự đánh giá, tự ý thức và tự giáo dục:

Ở lứa tuổi sinh viên, quá trình tự đánh giá phát triển mạnh với những biểu hiện phong phú và sâu sắc: sinh viên không chỉ đánh giá hình ảnh bản thân ở bề mặt hình thức mà còn đi sâu vào nội dung các phẩm chất và giá trị của nhân cách Tự đánh giá không chỉ trả lời câu hỏi “Tôi là ai?” mà còn giúp nhận thức rõ “tôi là người thế nào?”, “tại sao tôi lại như thế?” và “tôi có những phẩm chất nào?”, do đó mang tính phê phán rõ rệt và có ý nghĩa tự ý thức và tự giáo dục Bên cạnh đó, quá trình tự đánh giá được thể hiện qua đối chiếu, so sánh và học hỏi từ người khác, những người được xem như tấm gương để sinh viên soi chiếu nhân cách và từ đó điều chỉnh cho phù hợp với yêu cầu của xã hội.

Tự ý thức là trình độ phát triển cao của ý thức, đóng vai trò như cặp mắt giúp mỗi sinh viên nhìn nhận sâu sắc bản thân để điều chỉnh tư duy và hành vi, nhận diện những khuyết điểm và bổ sung các phẩm chất cá nhân thiết yếu cho phù hợp với yêu cầu và sự phát triển của xã hội Quá trình này tăng cường khả năng tự nhận xét, tự điều chỉnh và tự hoàn thiện, từ đó hỗ trợ sinh viên xây dựng nền tảng vững chắc cho sự nghiệp và đóng góp tích cực vào cộng đồng.

Mức độ phát triển của những phẩm chất nhân cách có liên quan đến trình độ học lực cũng như kế hoạch sống trong tương lai của SV Những SV có thành tích học tập tốt thường chủ động và tích cực trong việc nhìn nhận, đánh giá về thái độ cũng như hành vi của mình trong cuộc sống để ngày càng hoàn thiện Khi thanh niên SV tự nhìn nhận đánh giá bản thân khá chính xác, họ sẽ có kế hoạch học tập, rèn luyện bản thân hướng tới các thành tựu khoa học, lập kế hoạch học tập và nghiên cứu một cách hiệu quả Ngược lại, những SV có kết quả học tập thấp thường dễ dàng đánh giá bản thân không chính xác theo hướng hoặc đánh giá quá cao hoặc

15 đánh giá quá thấp về mình vì vậy cần lưu ý hỗ trợ về mặt tâm lý cho những SV này một cách thiết thực và hợp lý

Tóm lại, tự đánh giá, tự ý thức là cơ sở của sự tự giáo dục ở SV, tạo điều kiện cho SV đáp ứng được yêu cầu học tập và các loại hình hoạt động trong môi trường Đại học Điều này cũng góp phần định hình và hoàn thiện dần nhân cách SV chỉ có thể tự giáo dục chính mình một khi họ hiểu rõ về bản thân mình Từ đó, họ phải phấn đấu và rèn luyện những phẩm chất nhân cách cần thiết để đáp ứng yêu cầu của xã hội

2.3.2.3 Sự phát triển về định hướng giá trị - định hướng lối sống: Định hướng giá trị là những giá trị được chủ thể nhận thức, ý thức và đánh giá cao, có ý nghĩa định hướng điều chỉnh thái độ, hành vi, lối sống của chủ thể nhằm vươn tới những giá trị đó Cấu trúc của định hướng giá trị được cấu thành bởi các yếu tố tâm lý cơ bản sau: sự nhận thức, thái độ và hành động lựa chọn

Theo Nguyễn Thạc [23] trong hệ thống các giá trị chung, SV Việt Nam đánh giá cao 5 giá trị: học vấn, niềm tin, nghề nghiệp, sống có mục đích, tự trọng

Lứa tuổi sinh viên là giai đoạn quan trọng, nơi hình thành và hoàn thiện bộ mặt nhân cách trước bối cảnh thế giới biến động về quan niệm và hệ thống giá trị Sinh viên cần có tầm nhìn rộng và trải nghiệm thực tế để định hướng lối sống cho bản thân, đồng thời quá trình tự lựa chọn phương cách thể hiện các đặc điểm nhân cách và con đường đạt tới các giá trị xã hội mà mình hướng tới sẽ phản ánh rõ nét nội dung của từng cá nhân Chính cách thể hiện này giúp người khác nói chung và dư luận xã hội nhận xét, đánh giá về họ dựa trên những hình ảnh và hành động thể hiện của mỗi sinh viên.

Xu hướng biến đổi định hướng giá trị của SV như sau [22]

Thứ nhất: Bộc lộ những khuynh hướng mới, năng động của nhân cách phù hợp xu thế biến đổi của xã hội

Thứ hai: Định hướng giá trị khẳng định cái tôi cá nhân

Thứ ba: Hệ thống định hướng giá trị có sự đan xen hệ giá trị truyền thống và hiện đại

Từ các xu hướng trên cho thấy tính đa dạng của nhân cách SV, tạo những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển xã hội Có thể kết luận rằng trong sự phát triển nhân cách của thanh niên SV, những nét cấu tạo tâm lý mới nổi trội được mô tả như sau:

- Sự hoàn thiện cái tôi (sự tự ý thức)

- Sự hoàn thiện thế giới quan khoa học

- Lập các kế hoạch cuộc đời, chuẩn bị nghề nghiệp cho tương lai

- Thiết lập cuộc sống độc lập hoàn toàn

- Dần dần xâm nhập sâu vào các lĩnh vực khác nhau của cuộc sống

Hoạt động học tập của SV

Hoạt động học tập ở trường đại học và cao đẳng là một loại hoạt động tâm lý được tổ chức một cách độc đáo của SV nhằm mục đích có ý thức là chuẩn bị trở thành người chuyên gia phát triển toàn diện sáng tạo và có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao Hoạt động học tập của SV bao gồm hoạt động học tập trong giờ học trên lớp và hoạt động tự học Mỗi hoạt động có cấu trúc khác nhau hình thành nên hoạt động học tập của SV [9]

2.4.1 Đặc điểm hoạt động học tập của SV

Khác với hoạt động học tập ở tiểu học, trung học thì hoạt động học tập của

SV ở bậc đại học có sự liên hệ trực tiếp với nhu cầu chuyên nghiệp, có thứ bậc cao

Hoạt động học tập của sinh viên không chỉ phản ánh các đặc điểm chung của quá trình học mà còn thể hiện những đặc điểm riêng biệt Sinh viên có tính chủ động và tích cực trong các hoạt động học tập như lên kế hoạch học tập, tự tổ chức thời gian và tự chọn phương pháp phù hợp Ngoài các đặc điểm chung ấy, hoạt động học tập của SV còn mang những đặc trưng riêng như khả năng tự đánh giá và điều chỉnh tiến độ, tinh thần hợp tác và giao tiếp khi làm việc nhóm, ý thức trách nhiệm với kết quả học tập và khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn Những đặc điểm này giúp SV nắm bắt kiến thức sâu hơn, thích nghi với yêu cầu đổi mới của giáo dục và nâng cao hiệu quả học tập.

- Tính chuyên nghiệp: Được thể hiện trong nhiệm vụ của hoạt động học tập ở

SV là nắm vững tri thức lý luận chuyên nghiệp và phương pháp kỹ năng cơ bản làm chủ yếu Vì vậy học tập ở bậc đại học có sự khác biệt so với học tập ở bậc tiểu học, trung học đó là mang tính đặc trưng của hoạt động nghề nghiệp tương lai Hoạt động học tập của SV là tiếp thu tri thức lý luận chuyên nghiệp cao, sâu và tri thức mũi nhọn của ngành nghề mà SV theo học

- Tính độc lập: Do yêu cầu nghề nghiệp nhất định trong tương lai đòi hỏi SV cần có trình độ chuyên môn cao, cho nên hoạt động học tập của SV đòi hỏi tính độc lập, ý thức được việc học tập của bản thân Trong hoạt động học tập, SV phải tự mình là người định hướng, tổ chức, kiểm tra và đánh giá dưới sự trợ giúp, hướng dẫn của giảng viên Tính độc lập trong hoạt động học tập của SV được thể hiện ở việc giải quyết các nhiệm vụ học tập đến việc tìm kiếm tài liệu cho việc học tập Tóm lại, tính độc lập trong hoạt động học tập là SV phải độc lập nắm vững lý luận về phương pháp học tập, bồi dưỡng năng lực độc lập học tập, độc lập công tác, độc lập đi sâu trong nghiên cứu khoa học

- Tính sáng tạo: Trong hoạt động học tập của SV được thể hiện ở việc SV theo đuổi hoạt động tìm tòi nghiên cứu khoa học, tìm tòi những tri thức khoa học mới và nắm vững tri thức lý luận chuyên nghiệp đã được tích lũy bởi thế hệ trước

Tính thực tiễn được thể hiện rõ qua việc sinh viên vận dụng hiệu quả kiến thức lý luận trừu tượng vào các hoạt động thực tiễn và tư duy cụ thể, từ đó phát huy kỹ năng ứng dụng và năng lực cải tạo thế giới Mục đích này chỉ có thể đạt được khi có bước nhảy từ nhận thức lý thuyết sang thực tiễn cảm tính, từ hiểu biết khái quát đến hành động có tác động Trong quá trình học tập, tính thực tiễn không chỉ là áp dụng kiến thức vào bài tập mà còn là sự kết nối liên tục giữa lý luận và thực tiễn, rèn luyện tư duy phản biện, giải quyết vấn đề và sáng tạo để đáp ứng yêu cầu của cuộc sống và nghề nghiệp.

Sinh viên thể hiện rõ sự đáp ứng các đòi hỏi của xã hội trong quá trình đào tạo một lực lượng lao động có trình độ chuyên môn cao, phục vụ cho xã hội trong tương lai Quá trình đào tạo được thiết kế để nâng cao năng lực nghề nghiệp và kiến thức chuyên môn, đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động và góp phần vào sự phát triển bền vững của cộng đồng Nhờ đó, sinh viên không chỉ trang bị kiến thức mà còn rèn luyện kỹ năng thực tiễn để sẵn sàng cho nghề nghiệp tương lai và đóng góp tích cực vào sự tiến bộ xã hội.

Như vậy, ngoài những đặc điểm riêng đã được trình bày ở trên, trong hoạt động học tập của SV đã tạo sự thay đổi lớn về nội dung, phương pháp, điều kiện học tập ở bậc Đại học Học tập của SV được diễn ra không chỉ trong giờ lên lớp mà còn ở ngoài giờ lên lớp, không chỉ được tiến hành dưới sự hướng dẫn của giảng viên mà còn được SV sắp xếp, tổ chức thực hiện và kiểm tra đánh giá những nội dung tiếp nhận về kiến thức, kỹ năng và thái độ một cách độc lập và chuyên nghiệp Chính sự thay đổi về tính chất, mục tiêu học tập ở Đại học so với học tập ở Phổ thông đã dẫn đến hoạt động học tập của SV mang tính chuyên nghiệp, độc lập, sáng tạo và thực tiễn

2.4.2 Hoạt động học tập của SV trong giờ học trên lớp:

Hoạt động học trên lớp của SV là hoạt động trung tâm của quá trình dạy học trên lớp ở bậc đại học, trong đó SV tham gia và gắn kết với các nhiệm vụ học tập trên cả ba bình diện bao gồm nhận thức, thái độ và hành vi

Theo quan niệm dạy học hiện đại, hoạt động học trên lớp của SV có thể được hiểu là sự gắn kết của họ vào các nhiệm vụ học tập trên lớp, biểu hiện ở ba khía cạnh bao gồm nhận thức, thái độ và hành vi Trong môi trường đào tạo theo học chế tín chỉ, với những giờ học được giảng viên thực hiện một cách hợp lý theo tiếp cận sư phạm tương tác, bên cạnh hoạt động tự học, mức độ gắn kết vào hoạt động học tập của SV trên lớp có thể được xem là yếu tố quan trọng nhất trong việc quyết định chất lượng của giờ học

Theo đó, sự gắn kết học tập của sinh viên trong giờ học trên lớp được hình thành từ ba khía cạnh cốt lõi: nhận thức, thái độ và hành vi Khía cạnh nhận thức liên quan đến mức độ tiếp thu, hiểu bài và khả năng liên hệ kiến thức mới với nền tảng đã có Khía cạnh thái độ thể hiện động lực, sự quan tâm và thái độ tích cực đối với môn học và các hoạt động trên lớp Khía cạnh hành vi phản ánh sự tham gia tích cực, sự tham gia đầy đủ và việc thực hiện các nhiệm vụ được giao Nhận diện và phát triển đồng thời ba khía cạnh này giúp nâng cao sự gắn kết của sinh viên với bài học và tối ưu hóa kết quả học tập.

Về mặt nhận thức, đây là khía cạnh khó quan sát nhưng lại là thành phần cốt lõi trong hoạt động học tập của sinh viên trên lớp Khái niệm này tương đồng với tích cực nhận thức, một khía cạnh được nghiên cứu rộng rãi trong tâm lý học và giáo dục hiện nay Sinh viên thể hiện tính tích cực nhận thức bằng cách huy động các quá trình tâm lý như tư duy, tưởng tượng, trừu tượng hoá, tổng hợp, phân tích và sáng tạo vào hoạt động học tập, nhằm xây dựng chiến lược học tập hiệu quả và tự chủ trong quá trình học Nhận thức được vai trò của nhận thức giúp người học nâng cao động lực, cải thiện kết quả học tập và cho phép giáo viên thiết kế các hoạt động giảng dạy phù hợp để tối ưu hoá quá trình tiếp thu kiến thức.

19 đáp ứng những yêu cầu, đòi hỏi của giảng viên về bài học và cố gắng vượt qua các thử thách do vấn đề học thuật mang lại Như vậy, sự gắn kết về mặt nhận thức là sự tổng hợp của 2 thành phần chính: tâm lý và nhận thức Thành tố tâm lý bao gồm mục tiêu, động cơ học, và khả năng tự quản lý của người học liên quan đến những vấn đề như tâm thế sẵn sàng, nỗ lực cố gắng để thông hiểu các vấn đề khoa học trừu tượng cũng như hình thành và rèn luyện các kỹ năng nghề nghiệp phức tạp Thành tố nhận thức liên quan đến khả năng tự quản lý của người học về đến những vấn đề như ý thức học tập, vận dụng các phương pháp học phù hợp cũng như có chiến lược trong tư duy và học tập Nói cách khác, các khía cạnh biểu hiện hoạt động học tập của

Sinh viên có thể được phân loại thành các mức độ tham gia khác nhau, cho thấy người học tích cực, thụ động và thậm chí có những biểu hiện tiêu cực trong việc thực hiện các thao tác học tập trên lớp Việc nhận diện những mức độ này giúp giảng viên điều chỉnh phương pháp giảng dạy, tăng cường tương tác và nâng cao hiệu quả học tập cho cả lớp.

Thái độ học tập của sinh viên là yếu tố quyết định tới tính tích cực, chủ động và sáng tạo trong quá trình học tập Thái độ này được thúc đẩy bởi các động cơ có cấu trúc khác nhau, trong đó động cơ thực tiễn và động cơ nhận thức đóng vai trò chủ đạo, kế đến là ý nghĩa của môn học và một số động cơ cụ thể khác Tuy nhiên, không ít sinh viên thể hiện thái độ học tập tiêu cực trên lớp như buồn chán, ủ rũ, cáu kỉnh hoặc dè bỉu giáo viên Ngược lại, có stuị rất tích cực và tập trung với những môn học họ yêu thích, nhưng lại sao nhãng các môn khác hoặc học chỉ cho qua mà không thi lại Thái độ học tập có ý thức góp phần thúc đẩy sự phát triển tính chủ động của quá trình nhận thức và năng lực tự điều khiển bản thân trong hoạt động học tập.

Ảnh hưởng của facebook và game online đến hoạt động học tập của SV

Chúng ta thường dành một khoảng thời gian cố định cho mạng xã hội Facebook mỗi ngày, khiến Facebook dần lấn át cuộc sống thật; nếu dùng đúng mức và có sự điều độ, Facebook là công cụ hữu ích, là cầu nối để mọi người trao đổi, chơi game, chia sẻ và kết nối thông tin trong đời sống hàng ngày Ngược lại, việc lạm dụng hoặc sử dụng không điều độ có thể gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đến học tập và sinh hoạt của các SV Phần tiếp theo của nghiên cứu này sẽ làm rõ các mặt lợi và hại của Facebook đối với hoạt động học tập của sinh viên.

2.5.1.1 Đặc điểm sử dụng facebook của SV:

Sự đơn giản và thông minh của Facebook đã tạo nên thành công của mạng xã hội này trên toàn cầu và đặc biệt ở Việt Nam; hiện nay, sinh viên Việt Nam ưa dùng Facebook nhất với tỷ lệ chiếm 86,6% [18, tr 104], cho thấy mức độ phổ biến và tác động lớn của nền tảng này đối với giới trẻ Việt Khi SV sử dụng Facebook, họ có những đặc điểm như tiếp cận thông tin nhanh, dễ dàng kết nối với bạn bè và cộng đồng, cũng như hình thành thói quen tiêu thụ nội dung ngắn gọn, trực quan; từ đó ảnh hưởng đến cách học tập, giao tiếp và nhận thức xã hội của họ.

 Về mục đích sử dụng:

Trước hết, sinh viên tham gia Facebook chủ yếu bị lôi kéo bởi bạn bè hoặc theo phong trào, sau đó mới nhận thấy tính tiện ích của mạng xã hội này Chỉ có một số ít sinh viên chọn MXH cho mục đích học tập, cụ thể là để nhận thông báo từ ban cán sự lớp và tải tài liệu do thầy cô và các bạn chia sẻ Về mục đích sử dụng, đa số sinh viên dùng Facebook để liên lạc và cập nhật thông tin lớp, trong khi một nhóm nhỏ tận dụng nền tảng này như nguồn tài liệu và kênh thông báo học tập.

25 phần lớn các bạn SV cho rằng ban đầu mình tham gia Facebook để giao lưu, kết bạn, gia nhập các nhóm và tham gia bình luận các chủ đề cũng như chia sẽ những hình ảnh, những câu chuyện xung quanh cuộc sống Nhưng sau quá trình sử dụng, thì các bạn thừa nhận rằng mình tham gia facebook cũng để chia sẻ tài liệu hoặc thông tin liên quan đến hoạt động học tập Như vậy, ý thức sử dụng MXH phục vụ việc học đã hình thành khá tốt trong SV, mặc dù thời gian đầu sử dụng thì mục đích đó không quá lớn

 Về địa điểm SV thường sử dụng facebook:

Sử dụng Facebook ở nhà hoặc ở phòng trọ là môi trường lý tưởng để sinh viên thoải mái lướt Facebook, và kết quả cho thấy 49,6% trong tổng số 86,6% thể hiện xu hướng này.

Sinh viên chủ yếu sử dụng Facebook làm mạng xã hội chính Tuy nhiên, dù tỷ lệ sinh viên dùng Facebook lên tới khoảng 86,6%, họ lại ít sử dụng Facebook tại trường học.

Ở trường, sinh viên thường không có nhiều thời gian và điều kiện để truy cập Facebook, nên phần lớn thời gian họ sử dụng Facebook ở ngoài trường thông qua các thiết bị di động Họ truy cập Facebook mọi lúc, mọi nơi bằng điện thoại di động và máy tính bảng, phù hợp với đặc điểm là những người trẻ tuổi năng động và thường di chuyển Sự phát triển của thị trường di động và hạ tầng internet ở Việt Nam hiện nay đã tạo điều kiện thuận lợi cho người dân nói chung và sinh viên nói riêng trong việc tiếp cận các dịch vụ trực tuyến tại nơi công cộng Hiện nay, tỉ lệ người dùng Internet qua nền tảng di động ở Việt Nam chiếm 34% trên tổng dân số 91 triệu người [1, tr 2].

 Về thời điểm và thời gian sử dụng facebook của SV:

59,1% sinh viên cho biết họ truy cập Facebook bất cứ lúc nào trong ngày khi có thời gian hoặc cảm thấy muốn, cho thấy thói quen sử dụng mạng xã hội này diễn ra liên tục khi có cơ hội Sinh viên thường dùng Facebook vào buổi tối và đêm, trong khi mức độ sử dụng ít đi vào buổi sáng, trưa và chiều, cho thấy hoạt động trên Facebook chủ yếu diễn ra ngoài giờ học chính tại trường Tuy nhiên, buổi tối là thời điểm nên dành cho việc học và nghỉ ngơi sau một ngày hoạt động, và SV vẫn dành phần lớn thời gian cho Facebook.

Việc sử dụng Facebook từ tối khuya đến rạng sáng được coi là một trong những tác hại của nghiện mạng xã hội nói chung và Facebook nói riêng, đặc biệt đối với sinh viên Thói quen này kéo dài liên tục từ 6 tháng trở lên và lên tới hơn 5 giờ mỗi ngày, làm tăng nguy cơ nghiện và gây ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe, giấc ngủ và kết quả học tập (Nguồn: [18, tr 122]).

Thời gian sử dụng Facebook của SV Việt Nam lên tới hơn 3 giờ mỗi ngày với hơn 50% SV, cho thấy sức hút rất lớn của Facebook đối với sinh viên; điều này thật đáng chú ý khi một ngày của SV thường được phân bổ 8 giờ nghỉ ngơi, 8 giờ học tập và làm việc, và 8 giờ cho các hoạt động khác, khiến thời gian dành cho MXH chiếm dụng đáng kể Bên cạnh các tác dụng giải trí, trò chuyện và tán gẫu, MXH và Facebook mang lại nhiều lợi ích như giúp SV kết nối thông tin về học tập với bạn bè trong lớp, tổ chức nhóm học tập và khai thác nguồn kiến thức phục vụ cho việc học tập và rèn luyện bản thân Tuy nhiên, hiệu quả của việc học hỏi trong môi trường ồn ào và dễ xao nhãng là một vấn đề cần được quan tâm.

2.5.1.2 Ảnh hưởng tích cực của facebook đến hoạt động học tập của SV:

SV sử dụng Facebook đúng cách mang lại nhiều lợi ích hơn bạn nghĩ; đây là kênh giao tiếp giúp kết nối dễ dàng với bạn bè, giảng viên và nhà tuyển dụng tiềm năng, đồng thời hỗ trợ trao đổi tài liệu, thảo luận nhóm và cập nhật bài tập nhanh chóng Facebook còn mở rộng mạng lưới nghề nghiệp, tăng cơ hội thực tập và tìm kiếm công việc, đồng thời rèn luyện các kỹ năng giao tiếp, viết bài và trình bày ý tưởng trên môi trường mạng Ngoài ra, người dùng có thể tiếp cận nguồn thông tin, tài nguyên học tập phong phú và nhận phản hồi từ cộng đồng học tập Tuy vậy, cần quản lý quyền riêng tư và nội dung để đảm bảo an toàn khi sử dụng nền tảng.

Facebook là mạng xã hội giúp dễ dàng kết bạn, chia sẻ thông tin và duy trì các mối liên hệ giữa con người, thể hiện rõ qua khẩu hiệu "connecting people" – kết nối mọi người Đối với sinh viên, nền tảng này cho phép theo dõi trạng thái của bạn bè và chia sẻ trạng thái của bản thân nhằm duy trì các mối quan hệ cá nhân và kích hoạt các liên hệ đã có hoặc chưa từng tồn tại trong thực tế Bên cạnh đó, Facebook còn hỗ trợ hình thành các mối quan hệ mới bằng cách kết nối với người dùng khác và hình thành một cộng đồng chia sẻ các mục tiêu khác nhau; các mối quan hệ mới này được xem như nguồn vốn xã hội của sinh viên khi sử dụng Facebook [18, tr 204].

- Đáp ứng nhu cầu giải trí: Hầu hết các MXH đều được khen ngợi vì tính năng cung cấp nguồn giải trí cho người sử dụng như xem phim, nghe nhạc, chơi game online…Dễ dàng sử dụng, facebook đáp ứng hoàn toàn sự tiện lợi này, đây cũng là lý do facebook được các bạn SV ưa chuộng Chỉ cần một chiếc máy tính hay điện thoại di động có kết nối internet, các bạn SV dễ dàng tha hồ “lướt” facebook nghe nhạc, xem phim, đọc truyện cười, chơi game….trong bất cứ thời gian và địa điểm nào [18, tr 205]

- Cập nhật thông tin nhanh chóng: Một điều không thể phủ nhận là MXH nói chung và facebook nói riêng cung cấp cho SV sử dụng nguồn thông tin, tri thức phong phú Các sự kiện trong đời sống thường nhật về mọi khía cạnh như văn hóa, pháp luật, khoa học… và các thông tin liên quan đến học tập luôn được cập nhật nhanh nhất, mới nhất trên facebook Điều này giúp cho SV có thể nhanh chóng nắm bắt kiến thức về khoa học, xã hội [18, tr 205]

2.5.1.3 Ảnh hưởng tiêu cực của facebook đến hoạt động học tập của SV:

Facebook mang lại sự tiện lợi và nhanh chóng cho cuộc sống của giới trẻ ngày nay, nhưng nó có hai mặt: lợi ích khi được sử dụng hợp lý và rủi ro khi bị thụ động hoặc phụ thuộc Nếu chỉ dùng để giải trí trong những khoảng thời gian nhất định và phù hợp với bản thân, Facebook có thể hỗ trợ giao lưu, cập nhật thông tin và kết nối xã hội Ngược lại, cách dùng thụ động và lệ thuộc vào nền tảng này có thể dẫn đến tác động tiêu cực đáng kể đến sức khỏe tinh thần, học tập và chất lượng các mối quan hệ Nghiên cứu này đề cập tới một số hệ quả tiêu cực, đồng thời nhấn mạnh sự cần thiết của việc nhận diện và điều chỉnh cách dùng Facebook sao cho tối ưu, có kiểm soát thời gian và duy trì thói quen sử dụng có ý thức và có mục đích.

THỰC TRẠNG ẢNH HƯỞNG CỦA FACEBOOK VÀ GAME ONLINE ĐẾN HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN NĂM NHẤT TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM KỸ THUẬT TP HỒ CHÍ MINH

ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP HẠN CHẾ ẢNH HƯỞNG TIÊU CỰC CỦA FACEBOOK VÀ GAME ONLINE ĐẾN HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CỦA SV NĂM THỨ NHẤT TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP HỒ CHÍ MINH

Ngày đăng: 26/11/2021, 11:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Công Thương & Cục thương mại điện tử và Công nghệ thông tin. (2014). Báo cáo thương mại điện tử trên nền tảng đi động việt nam. Hà Nội: Lấy từ http://www.vecita.gov.vn/anpham/228/Bao-cao-TMDT-tren-nen-tang-di-dong-Viet-Nam-nam-2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo thương mại điện tử trên nền tảng đi động việt nam
Tác giả: Bộ Công Thương & Cục thương mại điện tử và Công nghệ thông tin
Năm: 2014
2. Đào Lê Hòa An. (2013). Nghiên cứu về hành vi sử dụng facebook của con người - Một thách thức mới cho tâm lí học hiện đại. Tạp chí khoa học Đại học Sư phạm Tp, HCM, Số 49 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí khoa học Đại học Sư phạm Tp, HCM
Tác giả: Đào Lê Hòa An
Năm: 2013
3. Nguyễn Thị Châu Anh & Nguyễn Kim Loan. (2013). Tác động của internet đến việc học tập của học sinh - SV, Hội thảo khoa học nghiện internet - Những thách thức mới của xã hội hiện đại, Nxb Đại Học Quốc Gia Tp Hồ Chí Minh.Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động của internet đến việc học tập của học sinh - SV
Tác giả: Nguyễn Thị Châu Anh & Nguyễn Kim Loan
Nhà XB: Nxb Đại Học Quốc Gia Tp Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh
Năm: 2013
4. Hoàng Anh & Đỗ Thị Châu. (2008). Tự học của SV. Nxb Giáo Dục. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tự học của SV
Tác giả: Hoàng Anh & Đỗ Thị Châu
Nhà XB: Nxb Giáo Dục. Hà Nội
Năm: 2008
5. Lê Khánh Bằng.(1998). Tổ chức phương pháp tự học cho sinh viên Đại học sư phạm, Nxb Hà Nội. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức phương pháp tự học cho sinh viên Đại học sư phạm
Tác giả: Lê Khánh Bằng
Nhà XB: Nxb Hà Nội. Hà Nội
Năm: 1998
6. Đoàn Tiến Dũng.(2012). Đề xuất biện pháp nâng cao hoạt động tự học theo hình thức tín chỉ của sinh viên ngành sư phạm. Tạp chí Dạy và Học ngày nay, số 12, tr 53-56 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Dạy và Học ngày nay
Tác giả: Đoàn Tiến Dũng
Năm: 2012
7. Trần Minh Đức & Bùi Thị Hồng Thái.(2014). Sử dụng mạng xã hội trong sinh viên Việt Nam, tạp chí khoa học xã hội Việt Nam, số 8/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: tạp chí khoa học xã hội Việt Nam
Tác giả: Trần Minh Đức & Bùi Thị Hồng Thái
Năm: 2014
8. Trần Thị Minh Đức & Bùi Thị Hồng Thái (2013). Thanh thiếu niên chơi game bạo lực: những phân tích về tâm lí- xã hội và một số giải pháp quản lí - giáo dục định hướng. Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Nghiên cứu Giáo dục, 29(1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Khoa học ĐHQGHN
Tác giả: Trần Thị Minh Đức & Bùi Thị Hồng Thái
Năm: 2013
9. Trần Thị Minh Hằng. (2011). Tự học và yếu tố tâm lý cơ bản trong tự học của SV sư phạm. Nxb Giáo Dục Việt Nam. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tự học và yếu tố tâm lý cơ bản trong tự học của SV sư phạm
Tác giả: Trần Thị Minh Hằng
Nhà XB: Nxb Giáo Dục Việt Nam. Hà Nội
Năm: 2011
10. Nguyễn Thị Hậu. (2009). Hiện tượng nghiện game online . Kỉ yếu hội thảo: Nghiện internet - game online: Thực trạng và giải pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỉ yếu hội thảo
Tác giả: Nguyễn Thị Hậu
Năm: 2009
11. Nguyễn Thị Hậu . (2013). Mạng xã hội với giới trẻ thành phố Hồ Chí Minh. Nxb Văn Hóa - Văn Nghệ Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mạng xã hội với giới trẻ thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Nguyễn Thị Hậu
Nhà XB: Nxb Văn Hóa - Văn Nghệ Hồ Chí Minh
Năm: 2013
12. Lê Văn Hồng & Lê Ngọc Lan & Nguyễn Văn Thàng. (1998). Tâm lí học lứa tuổi và tâm lí học sư phạm. Nxb Đại học quốc gia Hà Nội. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lí học lứa tuổi và tâm lí học sư phạm
Tác giả: Lê Văn Hồng & Lê Ngọc Lan & Nguyễn Văn Thàng
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội. Hà Nội
Năm: 1998
13. Nguyễn Hoàng Đoan Huy. (2015). Hoạt động học tập của sinh viên dưới góc độ tiếp cận sự gắn kết của sinh viên vào giờ học trên lớp. Viện nghiên cứu sư phạm. Đại học sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động học tập của sinh viên dưới góc độ tiếp cận sự gắn kết của sinh viên vào giờ học trên lớp
Tác giả: Nguyễn Hoàng Đoan Huy
Năm: 2015
14. Lê Khanh. (2011). Nói không với game online. Nxb Phụ Nữ. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nói không với game online
Tác giả: Lê Khanh
Nhà XB: Nxb Phụ Nữ. Hà Nội
Năm: 2011
15. La Quốc Kiệt. (2003). Tu dưỡng đạo đức tư tưởng. Nxb Chính Trị Quốc Gia. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tu dưỡng đạo đức tư tưởng
Tác giả: La Quốc Kiệt
Nhà XB: Nxb Chính Trị Quốc Gia. Hà Nội
Năm: 2003
16. N.D. Lêvitov. (1970). Tâm lý học trẻ em và tâm lý học sư phạm. Nxb Giáo dục. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học trẻ em và tâm lý học sư phạm
Tác giả: N.D. Lêvitov
Nhà XB: Nxb Giáo dục. Hà Nội
Năm: 1970
17. Phạm Văn Luân & Lê Thành Hưng & Nguyễn Thị Phói & Kiều Thị Phương Loan. (2013). Game online và sinh viên bến tre .Hội thảo khoa học nghiện internet - Những thách thức mới của xã hội hiện đại, Nxb Đại Học Quốc Gia Tp Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội thảo khoa học nghiện internet - Những thách thức mới của xã hội hiện đại
Tác giả: Phạm Văn Luân & Lê Thành Hưng & Nguyễn Thị Phói & Kiều Thị Phương Loan
Nhà XB: Nxb Đại Học Quốc Gia Tp Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh
Năm: 2013
21. Huỳnh Văn Sơn. (2014). Mê game online - Hội chứng thời đại số. Lấy từ http://huynhvanson.vn/game/ Link
37. Theo ictnews, truy cập ngày 1/12/15 http://ictnews.vn/internet/nguoi-viet-bo-ra-2-5-gio-moi-ngay-de-luot-facebook-127010.ict Link
38. Theo Theo báo cáo của Pearl Research - Công ty tư vấn, nghiên cứu về Internet và công nghệ của Mỹ. truy cập ngày 22/2/2016 http://www.pearlresearch.com/ Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w