Mục đích của chương nhằm giới thiệu cho người đọc về nội dung và các yêu cầu cơ bản của chức năng lãnh đạo, một trong bốn chứ năng cơ bản của quản trị. Sau khi thực hiện công tác hoạch định chiến lược phát triển và thiết lập một cơ cấu tổ chức phù hợp để có thể hoạt động, thì lãnh đạo giúp đưa ra những tác động hướng con người vào việc thực hiện các mục tiêu với hiệu quả cao nhất. Thông qua chương giúp người đọc hiểu những nội dung sau: 1. Khái niệm vai trò của chức năng lãnh đạo 2. Các lý thuyết về động viên 3. Phương pháp và phong cách lãnh đạo của nhà quản trị.
Trang 1CHƯƠNG 6 CHỨC NĂNG LÃNH ĐẠO Mục đích yêu cầu:
Mục đích của chương nhằm giới thiệu cho người đọc về nội dung và các yêu cầu cơ bản của chức năng lãnh đạo, một trong bốn chứ năng cơ bản của quản trị Sau khi thực hiện công tác hoạch định chiến lược phát triển và thiết lập một
cơ cấu tổ chức phù hợp để có thể hoạt động, thì lãnh đạo giúp đưa ra những tác động hướng con người vào việc thực hiện các mục tiêu với hiệu quả cao nhất Thông qua chương giúp người đọc hiểu những nội dung sau:
1 Khái niệm vai trò của chức năng lãnh đạo
2 Các lý thuyết về động viên
3 Phương pháp và phong cách lãnh đạo của nhà quản trị
1 KHÁI NIỆM, VAI TRÒ VÀ CÁC NGUYÊN TẮC CỦA LÃNH ĐẠO 1.1 Khái niệm về lãnh đạo
Lãnh đạo là một hệ thống (hay một quá trình) những tác động nhằm thúc đẩy con người (hay một tập thể) để cho họ tự nguyện và nhiệt tình thực hiện các hành động cần thiết nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức
Mỗi một người làm việc trong hệ thống tổ chức của doanh nghiệp, của một cương vị và vị trí xác định, đều buộc phải thực hiện một số công việc nhất định thuộc về chức trách của mình Những phần việc phải hoàn thành này được đảm bảo thực hiện bằng các quy chế, văn bản nội quy
Tuy nhiên, con người không phải máy móc, con người làm việc với một nhận thức và tình cảm nhất định Một cách lý tưởng, cần đạt đến việc mỗi người không chỉ tự nguyện làm việc mà tự nguyện làm việc với sự sốt sắng và tin tưởng Sốt sắng là biểu hiện sự nhiệt tình nghiêm chỉnh và chăm chú trong thực hiện công việc, còn tin tưởng biểu hiện kinh nghiệm và trình độ chuyên môn (tay nghề).Có thể nói mức độ nhiệt tình, ý thức chăm lo quan tâm đến công việc chung của tập thể lao động là thước đo mức độ thành công của hoạt động lãnh đạo nói riêng và của quá trình quản trị nói chung
Những tác động được sử dụng trong lãnh đạo bao gồm: sự chỉ dẫn, điều khiển, ra lệnh, động viên, uốn nắn, kìm hãm, điều chỉnh và hành động trước (đi đầu)
Trang 21.2 Vai trò của lãnh đạo
Trên phương diện lý thuyết, sau hoạch định và tổ chức, nhà quản trị thực hiện chức năng lãnh đạo, nhằm tác động tới những người dưới quyền và qua đó đảm bảo cho mọi hoạt động diễn ra theo các mục tiêu đã xác định Nếu nói rằng, hoạch định là một hành động trong hiện tại nhưng hướng tới tương lai thì lãnh đạo là một hệ thống các hành động trong hiện tại để hiện thực hoá tương lai Vì thế chức năng lãnh đạo thể hiện những vai trò sau:
- Lãnh đạo là một chức năng quan trọng của quản trị, là hoạt động căn bản của nhà quản trị trong doanh nghiệp, nhằm biến “sản phẩm” của hoạch định
và tổ chức trở nên hiện thực thông qua việc tác động đến con người
- Lãnh đạo tốt còn tạo sự phấn khích của cả tập thể trong quá trình hành động thực hiện mục tiêu chung của tổ chức
- Bằng sự lãnh đạo có hiệu quả nhà quản trị sẽ khai thác được các động
cơ thúc đẩy cá nhân với động cơ chung của cả tập thể để tạo nên sức mạnh chung cho doanh nghiệp
- Lãnh đạo là cách truyền ý chí cho người khác nên giúp cho nhà quản trị rèn luyện và nâng cao được các phẩm chất, năng lực của nhân viên dưới quyền, tạo ra được đội ngũ lao động biết làm việc và hăng hái làm việc
- Lãnh đạo giúp cho nhà quản trị xây dựng, củng cố và hoàn thiện bầu không khí làm việc trong sạch, lành mạnh, tin tưởng và cởi mở với nhau giữa các thành viên trong doanh nghiệp, tạo ra “sức mạnh tinh thần ” của doanh nghiệp
1.3 Các nguyên tắc chính của lãnh đạo
Lãnh đạo là hoạt động hằng ngày của nhà quản trị, đồng thời tác động trực tiếp lên con người nên thiên về tính nghệ thuật nhiều hơn, mỗi nhà quản trị đều có nghệ thuật lãnh đạo riêng của mình Tuy vậy, có một số nguyên tắc lãnh đạo mà mọi nhà quản trị, nếu muốn thành công trong lãnh đạo, cần phải tuân thủ:
Nguyên tắc 1: Đảm bảo sự kết hợp hài hoà giữa các mục tiêu
Trong doanh nghiệp, mỗi cá nhân (mỗi nhân viên, mỗi quản trị viên) có mục tiêu riêng của mình Nhiệm vụ của nhà quản trị trong quá trình lãnh đạo là tìm ra mẫu số chung, tạo ra sự “giao thoa” hài hoà giữa các mục tiêu riêng của từng cá nhân và mục tiêu chung của doanh nghiệp Sự “giao thoa” càng lớn thì
Trang 3hoạt động quản trị nói chung và lãnh đạo nói riêng, càng có khả năng đạt hiệu quả cao
Muốn làm được điều đó, nhà quản trị (lãnh đạo) phải có hiểu biết tường tận về động cơ thúc đẩy của từng các nhân của nhóm Các động cơ thúc đẩy con người hành động thường khá phức tạp và mâu thuẫn, vì vậy, trong khoa học quản trị, thuật ngữ động lực thúc đẩy được hiểu là những yếu tố thúc đẩy con người hành động thực hiện ước mơ Chính động lực thúc đẩy là phương tiện giải toả mâu thuẫn của các động cơ thúc đẩy, theo hai hướng một là điều hoà, giải toả mâu thuẫn giữa các động cơ, hai là ưu tiên một nhu cầu nào đó so với các nhu cầu và mong muốn khác
Động cơ và động lực chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của môi trường và cộng đồng, bởi vì có những mơ ước, nguyện vọng nảy sinh từ nội tại con người, nhưng cũng có nhiều mơ ước và nguyện vọng của con người do ngoại cảnh đưa đến
Nhà quản trị nào cũng mong muốn sử dụng tất cả các động lực để thúc đẩy mọi người thực hiện nhiệm vụ một cách tốt nhất cho doanh nghiệp, nhưng
họ không nên hy vọng là mọi thành viên của đều “toàn tâm toàn ý” làm việc cho doanh nghiệp vì mỗi người đều có những “khoảng trời riêng”của mình Vấn đề đặt ra là cần phải kích thích, tạo điều kiện cho mỗi thành viên tự giác làm việc vì họ, và qua đó vì doanh nghiệp
Tóm lại, nhà quản trị phải am hiểu động cơ thúc đẩy hành động của các nhân viên, để sử dụng tối đa công suất của các động có đó Công việc lãnh đạo của nhà quản trị không phải phủ nhận động cơ thúc đẩy của cá nhân, xoá nhoà ranh giới giữa lợi ích doanh nghiệp với lợi ích của từng các nhân Nhiệm
vụ của lãnh đạo là tìm tòi, xác định và khuyếch trương những sự trùng hợp, đồng nhất giữa các mục đích, yêu cầu của từng các nhân với nhau và giữa các
cá nhân và doanh nghiệp
Sự thống nhất, hoà hợp về nguyện vọng về ước muốn sẽ tạo ra cơ sở bền vững cho sự thống nhất về nhận thức và hành động
Nguyên tắc 2: Người lãnh đạo phải đóng vai trò là “phương tiện” để thoả mãn nhu cầu và mong muốn của các nhân viên
Nguyên tắc này dựa trên cơ sở chính là : con người có xu hướng phục tùng những người đem lại quyền lợi thoả mãn các nhu cầu của họ
Trang 4Nếu nhà quản trị càng đem lại nhiều quyền lợi (cả quyền lợi vật chất
và tinh thần) và sự thoả mãn cho nhân viên thì uy tín của họ càng lớn Các nhân viên đặt long tin và sẵn sàng hành động theo mệnh lệnh của những người có khả năng đem lại cho họ nhiều điều tốt đẹp, đặc biệt là những điều họ đang mong muốn và ước ao Như thế, nhà quản trị không phải là người quản giáo, không phải là người giám thị Công việc quan trọng của nhà lãnh đạo là chỉ dẫn cho nhân viên biết cách thức phải hành động để thực hiện được nguyện vọng của bản thân Mối quan hệ giữa nhà lãnh đạo và nhân viên không phải là mối quan hệ đối nghịch, phương tiện giao tiếp giữa họ không phải là mệnh lệnh Một cách lý tưởng, mối quan hệ này là mối quan hệ ân nhân – ân nhân
Nguyên tắc 3: Làm việc theo chức trách và quyền hạn
Theo cơ cấu tổ chức và quy chế của doanh nghiệp, các bộ phận, các nhóm, mỗi nhân viên đều có trách nhiệm, quyền hạn, chức năng, cách thức phối hợp với nhau rõ rang qua việc phân công công việc
Nhà lãnh đạo, phải bằng uy lực và sức mạnh tổ chức của mình, buộc các nhân viên và các quản trị viên dưới quyền thực hiện các công việc trong phạm vi và chức trách theo những quy định và hướng dẫn thống nhất áp dụng trong doanh nghiệp, không phải là làm việc và giải quyết công việc tuỳ thuộc vào sở thích và ý muốn của cá nhân mình
Nguyên tắc 3 nhấn mạnh đến tính kỷ luật sắt trong quá trình quản trị Trước hết nhà quản trị phải duy trì nề nếp đó bằng kỷ luật, nội quy đã đề ra: kỷ luật là nhân tố đảm bảo sự phát triển của bất kỳ cá nhân nào tại bất ký xã hội nào, bất kể tuổi tác, chức vụ hoặc lĩnh vực chuyên môn của người đó
Trong thực tiễn hoạt động kinh doanh và quản trị luôn tồn tại song hành hai xu hướng trái ngược nhau : lạm dụng quyền lực và né tránh quyền lực
Nguyên tắc 4: Uỷ nhiệm và uỷ quyền
Uỷ nhiệm và uỷ quyền là một trong những vấn đề quan trọng của nhà quản trị Trong quá trình lãnh đạo, việc cấp dưới phải thực thi nhiệm vụ của cấp trên, giải quyết công việc của cấp trên là một tất yếu phổ biến Hơn nữa, nhà quản trị doanh nghiệp là một hoạt động rất phức tạp, vừa tỷ mỉ, mà tổng quát, mà nếu không uỷ nhiệm và uỷ quyền thì không thể giải quyết được
Trên thực tế, tồn tại song song hai xu hướng trái ngược nhau trong việc uỷ nhiệm và uỷ quyền
Trang 5Xu hướng 1: Cấp trên ôm đồm, không tin tưởng vào cấp dưới Với cách làm này, nhà quản trị thì mệt mỏi, công việc không hoàn thành, hiệu quả hoạt động của bộ máy quản lý thấp
Xu hướng 2: Cấp trên giao cho cấp dưới mà không kiểm soát hoặc cấp trên “ba phải”, “buông xuôi”, giao phó cho cấp dưới tự do hành động, dẫn dắt doanh nghiệp và dẫn dắt cả bản thân nhà quản trị cấp cao hành động theo chỉ dẫn Trong trường hợp này, nhà quản trị đã tự mình từ bỏ vị trí và cương vị, trốn tránh trách nhiệm lãnh đạo
Cả hai xu hướng trên đều không tốt và hậu quả đối với doanh nghiệp đều là nguy hiểm, thậm chí có thể đưa doanh nghiệp đến sự sụp đổ
Như vậy, lãnh đạo nói chung và uỷ nhiệm, uỷ quyền nói riêng vừa là một khoa học vừa là một nghệ thuật Muốn quản trị thành công, nhà quản trị cần nghiêm túc trong nghiên cứu và ứng xử trong qúa trình thực hành quản trị, cân nhắc kỹ việc gì cần uỷ quyền và việc gì không thể uỷ quyền
2 PHONG CÁCH LÃNH ĐẠO
2.1 Khái niệm và các nhân tố ảnh hưởng đến phong cách lãnh đạo
Phong cách lãnh đạo là tập hợp các phương pháp và cách thức mang tính đặc trưng mà nhà quản trị dùng để đưa ra những tác động đến người dưới quyền trong quá trình lãnh đạo, nhằm làm cho họ hoàn thành những công việc được giao
Để tạo ra sự tuân thủ, sự nghe theo hay những hành động nhằm thực hiện các công việc của những người dưới quyền, nhà quản trị có thể sử dụng các tác động khác nhau, bằng cách này hay cách khác, song ở một số nhà quản trị, các phương pháp hay cách thức hành động mang tính ổn định tương đối, phản ánh những đặc trưng tâm lý riêng của họ (như đặc điểm tâm lý cá nhân, các năng lực và phẩm chất cá nhân hoặc thói quen…) Chính vì vậy, “phong cách lãnh đạo” là thuật ngữ được dùng để nói lên vấn đề này, chứ không phải
là “phương pháp lãnh đạo” hay “cách thức lãnh đạo” Như vậy, phong cách lãnh đạo được hình thành chủ yếu bởi các yếu tố thuộc về cá nhân nhà quản trị, không thể cứ muốn là áp dụng phong cách này hay phong cách kia, không thể
dễ dàng thay đổi phong cách lãnh đạo, mà muốn vậy nhà quản trị phải có một thời gian nhất định
Trang 6Tuy nhiên, bằng khả năng nhận thức, bằng năng lực và phẩm chất cá nhân, nhà quản trị vẫn có thể điều chỉnh các tác động của mình theo một phong cách lãnh đạo nào đó sao cho phù hợp với mỗi “tình huống” hay “hoàn cảnh ” nhất định để đạt hiệu quả cao trong lãnh đạo Đó chính là kỹ năng lựa chọn phong cách lãnh đạo phù hợp, phản ánh tính nghệ thuật trong công tác lãnh đạo của nhà quản trị
Có hai nhóm yếu tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn hay điều chỉnh phong cách lãnh đạo của nhà quản trị là các yếu tố chủ quan và các yếu tố khách quan,
cụ thể như sau:
- Các yếu tố chủ quan: Đặc điểm tâm sinh lý cá nhân, năng khiếu bẩm sinh, trình độ và năng lực nhận thức, trạng thái tình cảm, cảm xúc, tình trạng sức khoẻ, giới tính, tuổi tác, cương vị công tác và chuyên môn nghề nghiệp… của nhà quản trị Ngoài ra, mục tiêu và kết quả mà nhà quản trị mong muốn đạt được cũng ảnh hưởng đến việc lựa chọn hay sử dụng phong cách lãnh đạo nào đó
- Các yếu tố khách quan: Tình huống lãnh đạo hay hoàn cảnh khách quan khi nhà quản trị đưa ra những tác động đến người dưới quyền, với các nhân tố cụ thể như trạng thái tâm lý của cá nhân hay tâm lý của xã hội của đối tượng nhận tác động, tuổi tác, giới tính, sức khoẻ, trình độ nhận thức, kinh nghiệm và năng lực chuyên môn… của đối tượng Bầu không khí làm việc, truyền thống, tập quán, thói quen và cách thức ứng xử giữa các thành viên cũng
là những yếu tố mang tính khách quan ảnh hưởng đến việc lựa chọn và điều chỉnh phong cách lãnh đạo của nhà quản trị
2.2 Các phong cách lãnh đạo
2.2.1 Phân loại theo cách thức sử dụng quyền lực
Mức độ sử dụng quyền lực có thể đi từ tập quyền đến tản quyền tức là
từ thái cực mà ở đó nhà quản trị sử dụng triệt để quyền lực mà mình có, không giao quyền cho cấp dưới, họ quyết định tất cả và chịu trách nhiệm tất cả, đến thái cực mà nhà quản trị không sử dụng quyền lực, để cho cấp dưới được tự do, đánh mất vai trò quản lý của mình Tuy nhiên cả hai thái cực này chỉ tồn tại trên lý thuyết Trên thực tế, nhà quản trị sử dụng quyền lực ít hoặc nhiều, tuỷ theo mức độ sử dụng mà hình thành 3 phong cách lãnh đạo: chuyên quyền, dân chủ và tự do
a Phong cách lãnh đạo chuyên quyền
Trang 7Phong cách lãnh đạo chuyên quyền có những đặc điểm sau:
-Thiên về sử dụng mệnh lệnh
- Luôn chờ đợi sự phục tùng của cấp dưới
- Nhà quản trị chuyên quyền thường chú trọng hình thức tác động chính thức, thông qua hệ thống tổ chức thứ nhất của doanh nghiệp
- Kiểm tra chặt chẽ, nghiêm khắc với mọi hoạt động của cấp dưới
- Ít quan tâm đến yếu tố con người trong quá trình lãnh đạo mà chủ yếu quan tâm đến kết quả công việc
Ưu điểm:
- Nhà quản trị chuyên quyền thường năng lực thực sự và tính quyết đoán cao
- Do có tính quyết đoán cao và dứt khoát khi đưa ra quyết định nên thường mang lại sự lãnh đạo thành công, nghĩa là giúp nhà quản trị đạt được kết quả như mong muốn, giải quyết các vấn đề một cách nhanh chóng, chớp được cơ hội kinh doanh…
- Nhà quản trị chuyên quyền thì dám chịu trách nhiệm cá nhân về các quyết định của mình, “dám làm, dám chịu” và do vậy phát huy được đầy đủ các năng lực và phẩm chất cá nhân tốt đẹp của bản thân
Nhược điểm :
- Có thể mắc sai lầm: Nhà quản trị chuyên quyền tài giỏi nhưng không
có nghĩa là không mắc sai lầm Các sai lầm của nhà lãnh đạo thường được sửa bởi người thực hiện nhưng với phong cách này không có người giúp họ sửa sai lầm đó Nhân viên dưới quyền biết nhưng không dám nói, nhân viên không được phép tự thay đổi các quyết định
- Không phát huy được sáng kiến và trí tuệ của tập thể Nhân viên dưới quyền phải làm việc theo mệnh lệnh nên mất đi tính sáng tạo và chủ động
- Quyết định của nhà quản trị thường ít được cấp dưới đồng tình ủng hộ
Vì không được tham gia vào quá trình quyết định, không bằng lòng với cách nhà quản trị chuyên quyền ra quyết định nên họ không ủng hộ mặc dù biết rằng
đó là quyết định đúng
- Cấp dưới không có điều kiện thể hiện khả năng của mình Về mặt tâm
lý, họ không thích hay ít nhất là không muốn thực hiện nếu không muốn nói là phản đối “anh không tin tôi thì tôi cũng không tin anh”
Trang 8b Phong cách lãnh đạo dân chủ
Phong cách lãnh đạo dân chủ có những đặc điểm sau:
- Thường sử dụng biện pháp tham khảo ý kiến khi đưa ra các quyết định
- Trong các quyết định, tính mềm dẻo, định hướng và hướng dẫn được chú ý nhiều (không cứng nhắc, gò bó…)
- Không đòi hỏi cấp dưới một sự phục tùng tuyệt đối mà lôi kéo họ vào quá trình ra quyết định, thực hiện quyết định (tuy nhiên quyền quyết định cuối cùng vẫn thuộc về nhà quản trị)
- Thường sử dụng các hình thức động viên, khuyến khích, hướng dẫn, uốn nắn… để tác động đến những người dưới quyền
- Thường sử dụng hình thức tổ chức thứ hai (tổ chức không chính thức)
Ưu, nhược điểm của phong cách lãnh đạo dân chủ:
Ưu điểm:
- Phát huy được năng lực và trí tuệ của tập thể, của cấp dưới, tạo điều kiện cho họ sự tự nguyện, nhiệt tình và sáng tạo trong công việc, qua đó đạt hiệu quả cao trong công tác lãnh đạo
- Thiết lập được mối quan hệ tốt đẹp giữa cấp trên và cấp dưới, tạo ra được
ê kíp làm việc trên cơ sở khai thác những ưu điểm của hệ thống tổ chức không chính thức trong doanh nghiệp
- Các quyết định thì được cấp dưới đồng tình, ủng hộ, chấp nhận và làm theo
Nhược điểm:
- Vì những tham khảo ý kiến của những người khác nên các quyết định quản trị có thể thiếu chính xác, thiếu sự quyết đoán, bỏ lỡ thời cơ hay cơ hội trong kinh doanh
- Nhà quản trị dân chủ dễ mắc căn bệnh “ba phải” thậm chí “theo đuôi” cấp dưới hay trở thành người “rao bán các quyết định”
- Mức độ dám chịu trách nhiệm cá nhân không cao nên có thể làm giảm lòng tin của cấp dưới
- Trên thực tế, có thể xảy ra tình trạng “dân chủ giả tạo” để lấy lòng cấp dưới
c Phong cách lãnh đạo tự do
Trang 9Phong cách lãnh đạo tự do có những đặc điểm sau:
- Phân tán quyền hạn cho cấp dưới, buông trôi quyền lực của mình và để cho cấp dưới sự độc lập cao và quyền tự do hành động rất lớn, ngay cả quyền quyết định thuộc phạm vi chức trách của mình
- Rất ít quan tâm đến công việc, không can thiệp vào tiến trình hoạt động của cấp dưới
- Mọi công việc của đơn vị đều đem ra bàn bạc trong ban lãnh đạo và biểu quyết tập thể
Ưu, nhược điểm của phong cách lãnh đạo tự do:
Ưu điểm: Trong chừng mực nhất định, các nhà quản trị chủ động sử dụng phong
cách lãnh đạo này sẽ tạo điểu kiện cho cấp dưới phát huy quyền chủ động, sáng tạo trong công việc, cho phép phát huy tối đa năng lực cá nhân
Nhược điểm: Thường dẫn đến việc nhà quản trị không kiểm soát được các nhân
viên, lệ thuộc vào cấp dưới, công việc có thể trì trệ do thiếu sự tác động, thúc đẩy và giám sát Sự lãnh đạo theo phong cách này sẽ không đạt kết quả và hiệu quả như mong muốn của nhà quản trị Trên thực tế, ngoại trừ trường hợp nhà quản trị chủ động áp dụng phong cách lãnh đạo này, còn đa phần là do họ hoặc
do chán nản, bất mãn, không muốn làm việc hoặc do lười nhác, bất tài vô dụng nhưng lại hám danh, thích địa vị…
2.2.2 Phân loại phong cách lãnh đạo theo “ô bàn cờ quản lý’
Theo cách tiếp cận này, phong cách lãnh đạo của nhà quản trị được hình thành từ sự kết hợp 2 yếu tố: sự quan tâm đến công việc và sự quan tâm đến con người (đây là hai mối quan tâm lớn nhất của nhà quản trị)
Theo mỗi hướng, chia độ quan tâm thành 9 cấp bậc khác nhau, từ cấp thấp đến cấp cao Sự kết hợp của 2 mối quan tâm trên đã hình thành nên các phong cách lãnh đạo khác nhau
Theo sơ đồ 6.1, một số phong cách lãnh đạo chủ yếu được mô tả như sau:
- A (1,9) Phong cách lãnh đạo chú ý đến yếu tố con người hay còn gọi
là phong cách lãnh đạo theo kiểu gia đình
Phong cách này thể hiện mức độ quan tâm cao đến con người và thấo với công việc nhằm tạo ra một bầu không khí thân thiện và thuận lợi cho công việc tại nơi làm việc Tại đây mọi người biết những gì họ cần phải làm với mức giám sát thấp
Trang 10- B (9,9) Phong cách lãnh đạo dựa trên tinh thần đồng đội
8
7
6
4
3
2
1 2 3 4 5 6 7 8 9 Mức độ quan tâm đến công việc
Sơ đồ 6.1: Phong cách lãnh đạo theo “ô bàn cờ quản lý”
Phong cách này thể hiện mức quan tâm cao đến cả con người và công việc Đây là những nhà quản trị thể hiện trong hành động của họ “sự hiến dâng cao nhất có thể được cho con người lẫn công việc ” Họ là “nhưng nhà quản trị đồng đội ” có khả năng kết hợp nhu cầu thực hiện công việc và nhu cầu cá nhân Mọi người đều có tinh thần hợp tác, tin tưởng và tôn trọng lẫn nhau Do đó phong cách này vừa tạo ra hiệu quả cao vừa đem lại sự thoả mãn trong công việc cho nhân viên
- C (5,5) Phong cách lãnh đạo trung dung
Phong cách này đặt ra mức độ quan trọng vừa phải đối với cả con người và công việc Với phong cách này, tinh thần làm việc của nhân viên cũng được thoả mãn và công việc được hoàn thành ở mức độ thích hợp nhưng không nổi bật
- D (1,1) Phong cách lãnh đạo suy giảm
Phong cách này thể hiện mức độ quan tâm thấp với cả con người và công việc Nhà quản trị theo phong cách lãnh đạo này thường có thái độ bất mãn, không quan tâm đến nhiệm vụ và những người đang làm việc dưới quyền, chỉ cố gằng ở mức tối thiểu để giữ cho công việc được hoạt động bình thường và giữ vị thế của mình trong tổ chức