Heriôt: “Cái gì còn lại khi tất cả những thứ khác bị quên đi - cái đó chính là văn hoá” Hồ Chí Minh: “Văn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà lo
Trang 1VĂN HÓA DOANH
NGHIỆP
Trang 2LỜI NÓI ĐẦU
Trong thời kỳ hiện nay, vai trò quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế trongmột quốc gia phải kể tên đến các doanh nghiệp Các doanh nghiệp phát triển mạnh, mởrộng mối quan hệ giao lưu buôn bán, tạo ra thật nhiều những sản phẩm, dịch vụ thoảmãn nhu cầu xã hội ngày càng cao, thu được hiệu quả tốt góp phần thúc đẩy kinh tế xãhội phát triển
Nước ta đang ở giai đoạn phát triển nền kinh tế thị trường có sự điều tiết và quản
lý của nhà nước, tiến tới hội nhập WTO, đòi hỏi các doanh nghiệp phải thực sự có sứcmạnh để có thể cạnh tranh tồn tại và phát triển, chịu đựng sự điều tiết của quy luật cungcầu không chỉ trong nước mà còn phải vươn ra thị trường nước ngoài
Để đạt được mục tiêu tăng trưởng bền vững, hiệu quả cao, các doanh nghiệp phảicủng cố, xây dựng và phát huy mọi nguồn lực và thế mạnh của mình Một trong nhữngyếu tố tạo nên sự ổn định bền vững cũng như ngày càng nâng cao chất lượng cung chothị trường đó là nhân tố văn hoá doanh nghiệp
Văn hoá doanh nghiệp có vai trò như thế nào, tại sao lại cần thiết phải xây dựngvăn hoá doanh nghiệp, những bài học quý giá từ các doanh nghiệp tên tuổi trên thế giớihình thành như thế nào đó là những điều về văn hoá doanh nghiệp mà tôi muốn đề cậpđến trong bài viết này thông qua bài giảng của các thày, các giáo sư truyền đạt trong
khoá học “Bồi dưỡng kiến thức giám đốc khoá 4”.
Xin giới thiệu bài viết của tôi.
Trang 3ĐỀ CƯƠNG:
Lời nói đầu
CHƯƠNG I: Những vấn đề lý luận về văn hoá doanh nghiệp
1 Bản chất, vai trò của vấn đề văn hoá
1.1 Các định nghĩa văn hoá
1.2 Những đặc trưng của văn hoá
1.3 Phân loại văn hoá: Vật thể, phi vật thể
2 Những nội dung cơ bản của vấn đề văn hoá doanh nghiệp
2.1 Khái niệm về văn hoá doanh nghiệp
2.2 Đòi hỏi khách quan trong việc xây dựng văn hoá doanh nghiệp
3 Các bộ phận cấu thành văn hoá doanh nghiệp
3.1 Triết lý hoạt động của doanh nghiệp
3.2 Đạo đức kinh doanh của doanh nghiệp
3.3 Hệ thống sản phẩm dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp cho thị trường
3.4 Phương thức tổ chức hoạt động
3.5 Phương thức giao tiếp với khách hàng
CHƯƠNG II: Xây dựng văn hoá doanh nghiệp tại Công ty Chứng khoán Hải Phòng.
1 Khái quát sự hình thành và phát triển của Công ty Chứng khoán Hải Phòng
1.1 Mục tiêu kinh doanh
1.2 Cơ cấu tổ chức
1.3 Hệ thống sản phẩm dịch vụ
1.4 Hệ thống thị trường
2 Thực trạng văn hoá doanh nghiệp tại Công ty Chứng khoán Hải Phòng
3 Phương hướng phát triển văn hoá doanh nghiệp ở Công ty Chứng khoán Hải Phòng
Trang 4Chương 1: Những vấn đề lý luận về văn hoá doanh nghiệp.
1 Bản chất, vai trò của vấn đề văn hoá:
1.1 Các định nghĩa văn hoá:
Văn hoá là một cái gì đó thật mênh mông vô tận, đến mức hầu như mỗi nhà vănhoá đều có một định nghĩa riêng về văn hoá
Sau đây là một số trong những định nghĩa đó
E Heriôt:
“Cái gì còn lại khi tất cả những thứ khác bị quên đi - cái đó chính là văn hoá”
Hồ Chí Minh:
“Văn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của
nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi sinh tồn” (Hồ Chí Minh tuyển tập, nhà xuất bản CTQG, Hà Nội 1995 T3, trang 431)
Unesco:
“Văn hoá phản ánh và thể hiện một cách tổng quát, sống động mọi mặt của cuộc sống (của mỗi cá nhân và của mỗi cộng đồng) đã diễn ra trong quá khứ cũng như đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao nhiêu thế kỷ nó đã cấu thành nên mọi hệ thống các giá trị, truyền thống, thẩm mỹ và lối sống, và dựa trên đó, từng dân tộc đã khẳng định bản sắc riêng của nước mình”.
Edward B.Taylor (1924):
“Văn hoá là một phức thể bao gồm kiến, niềm tin, nghệ thuật, đạo đức, tập quán
và tất cả những khả năng và tập tục khác cần thiết cho con người trong một xã hội”.
1.2 Những đặc trưng của văn hoá: Từ những định nghĩa về văn hoá có thể rút ra
được những đặc trưng sau đây của văn hoá.
1 Văn hoá là sản phẩm của con người, nhằm đáp ứng yêu cầu của con người trongmột xã hội nhất định
Với đặc trưng này, Herskovits đã nêu lên định nghĩa: Văn hoá là một bộ phận của môi trường mà bộ phận đó thuộc con người Tất cả những gì không thuộc về tự nhiên đều là văn hoá.
2 Văn hoá là một hệ thống các giá được chấp nhận, chia sẻ và đề cao bởi một nhómngười, một cộng đồng hoặc một đất nước mà qua đó cộng đồng người có được bảnsắc của mình (làm cho cộng đồng người này khác với cộng đồng người khác)
Về bản sắc văn hoá, R Targo đã nêu rõ: “Trách nhiệm của mỗi dân tộc là thể hiện rõ bản sắc của mình trước thế giới Nếu một dân tộc không mang lại cho thế giới điều gì, điều đó thật tệ hại, nó còn xấu hơn sự diệt vong, và sẽ không được lịch
sử loài người người tha thứ”.
Hệ thống văn hoá được một cộng đồng người chấp nhận, chia sẻ và đề cao trongđời sống cộng đồng, nên nó đã biến thành các chuẩn mực xã hội, thâm nhập và chiphối các quan niệm tập quán, trở thành nền tảng cho phong cách ứng xử của cộng
Trang 53 Văn hoá có thể học hỏi và lưu truyền từ đời này sang đời khác Nhờ đặc tính này
mà văn hoá của một cộng đồng, một bộ tộc, hoặc một quốc gia không bị mai một màngược lại, được phát triển nâng cao, thời đại sau phong phú đa dạng hơn thời đạitrước
1.3 Phân loại văn hoá.
Có nhiều cách phân loại văn hoá, mà sau đây là 2 cách phân loại phù hợp với chủ đềnày
Thứ nhất: Văn hoá được chia thành văn hoá vật thể và văn hoá phi vật thể:
a Văn hoá vật thể: đó là những yếu tố vật chất tạo nên ngôi đình, ngôi nhà, làm rachiếc xe, công nghệ xây cái cầu, những thứ tổng hợp lại để có một phi thuyền conthoi phóng vào vũ trụ, để có một doanh nghiệp hoạt động sinh lãi
b Văn hoá phi vật thể là trí tuệ, kĩ thuật để xây dựng nên ngôi đình, ngôi nhà, làm rachiếc xe, công nghệ xây cái cầu, những thứ tổng hợp lại để có một phi thuyền conthoi phóng vào vũ trụ, để có một doanh nghiệp hoạt động sinh lãi
Văn hoá vật thể và văn hoá phi vật thể quyện lẫn vào nhau, gắn bó với nhau
Thứ hai: Người ta còn chia nền văn hoá bối cảnh yếu và nền văn hoá bối cảnh mạnh.
Nền văn hoá bối cảnh yếu (Văn hoá phương Tây):
- Nét đặc trưng là luật pháp và văn bản được coi trọng
- Tiêu biểu là các nước Bắc Âu và Hoa Kỳ
Nền văn hoa bối cảnh mạnh (Văn hoá phương Đông):
- Nét đặc trưng là lệ được coi trọng (thí dụ: ở Nhật Bản và Hàn Quốc, ngườimua có quyền lực hơn người bán)
- Tiêu biểu là: Trung Quốc, Đài Loan
2 Văn hoá doanh nghiệp
2.1 Khái niệm về văn hoá doanh nghiệp
- Doanh nghiệp (Cơ sở kinh doanh) là một chế định xã hội - một bộ phận cấu
thành văn hoá
Một doanh nghiệp bao gồm cả yếu tố, từ cơ sở vật chất kỹ thuật như nhà xưởng,nhà văn phòng, trang thiết bị đến mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp, chỉ tiêu đánhgiá kết quả hoạt động, cách thức quản lý tài chính nhân viên, nghệ thuật lãnh đạo vàđiều hành, cách thức tổ chức nơi làm việc, điều kiện và các chế độ về an toàn laođộng, chế độ phúc lợi và hưu trí, các tổ chức xã hội trong doanh nghiệp
Trang 6Thực tiễn của thế giới cho thấy bản sắc văn hoá đã ảnh hưởng đến kết quả kinhdoanh của các doanh nghiệp Chẳng hạn sự thành công của nhiều doanh nghiệp ởcác nước Châu á phần lớn dựa trên quan hệ cá nhân của người lãnh đạo đó, trong lúc
đó, tại các nước phương Tây, sự thành công của các doanh nghiệp phần lớn dựa trênyếu tố tổng hợp như khả năng quản lý các nguồn lực, năng suất làm việc, tính năngđộng của các nhân viên, lãi suất của công ty, các quy định kích thích cạnh tranh, khảnăng hoàn thành kế hoạch, uy tín của Công ty
- Văn hoá doanh nghiệp
Hiện nay đã có rất nhiều phát biểu khác nhau về văn hoá doanh nghiệp từ phía cácnhà nghiên cứu và các hoạt động thực tiễn
Chẳng hạn, có thể xem phát biểu về văn hoá doanh nghiệp của ông Hồ Huy, TổngGiám đốc Công ty taxi Mai Linh (Xem báo Đại đoàn kết số 87, ngày 29/10/2002),hay tham khảo định nghĩa về văn hoá doanh nghiệp của Công ty “Phát triển phụ gia phẩm dầu mỏ” trong phần V thoả thuận tập thể ký ngày 23/3/2000 giữa đại diệntập thể người lao động - Giám đốc Công ty
Xét tổng quát, có thể nêu lên 2 khái niệm về văn hoá doanh nghiệp:
Xây dựng văn hoá doanh nghiệp là sử dụng các nhân tố văn hoá (các đặc điểm, yniệm bản chát của văn hoá và các bộ phận hợp thanh văn hoá) vào việc hình thành và
tổ chức vận hành một doanh nghiệp theo hướng phát triển bền vững
Văn hoá doanh nghiệp là một hệ thống các giá trị đặc trưng được xây dựng nên vàgìn giữ trong suốt quá trình tồn tại và phát triển doanh nghiệp, trở thành các quanniệm và tập quán, truyền thống ăn sâu vào hoạt động của doanh nghiệp ấy và tạothành hệ thống các chuẩn mực về tinh thần và vật chất chi phối tình cảm, nếu suynghĩ và các mỗi quan hệ, thái độ hành vi ứng xử của mọi thành viên của doanhnghiệp trong việc theo đuổi và thực hiện các mục tiêu đã đề ra
Theo ông Akihikô Urata, huyên viên kinh tế thuộc công ty TNHH dịch vụ pháttriển Nhật Bản, văn hoá doanh nghiệp có thể như nét đặc trưng của giá trị văn hoáhành vi ứng xử dựa trên một mục tiêu nào đó mà các thành viên của doanh nghiệpcung chia sẻ và gìn giữ Nó có thể được coi như những tiêu chuẩn và cách ứng xửphổ biến của doanh nghiệp đó
- Các đặc trưng của văn hoá doanh nghiệp
Qua những trình bày trên, có thể thấy rằng, cũng như văn hoá nói chung của mộtcộng đồng, văn hoá doanh nghiệp có những đặc trưng sau:
a Nó là một sản phẩm của chính những con người cùng làm việc trong doanhnghiệp nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển bền vững của doanh nghiệp (của bảnthân doanh nghiệp và chính những thành viên của doanh nghiệp)
b Nó xác lập nên một hệ thống các giá trị (dưới dạng vật thể và phi vật thể) đượctoàn thể những người trong doanh nghiệp chia sẻ, chấp nhận, đề cao và ứng xửtheo các giá trị đó nhằm đạt được mục tiêu của doanh nghiệp Hệ thống giá trị nàytrở thành động lực chủ yếu nhất để thúc đẩy mọi người làm việc, là hạt nhân liênkết mọi người trong doanh nghiệp với nhau, liên kết doanh nghiệp và xã hội
Trang 7c văn hoá doanh nghiệp phải tạo được nét bản sắc phân biệt doanh nghiệp này vớidoanh nghiệp khác, và chính nhờ bản sắc này mà doanh nghiệp được xã hội chấpnhận, mà doanh nghiệp có được sức mạnh và lợi thế cạnh tranh
d Nó trở thành truyền thống, tức là có giá trị lâu bền và được duy trì qua nhiều thế
hệ người làm việc trong doanh nghiệp
Tại Mỹ, các nhà nghiên cứu đã tìm hiểu mối quan hệ giữa hoạt động của doanh nghiệp,thành tựu của doanh nghiệp và nội dung văn hoá của doanh nghiệp đó Họ nhận thấyrằng hầu hết các Công ty thành công đều duy trì giữ gìn nền văn hoá doanh nghiệp củamình
2.2 Những đòi hỏi khách quan của việc xây dựng văn hoá doanh nghiệp.
a Sự đòi hỏi khách quan trong giai đoạn hiện nay của việc tạo lập thị trường văn minh.
Sau thời gian bắt đầu, những nước chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trungsang nền kinh tế thị trường như nước Nga đã khẳng định xây dựng nền kinh tế thịtrường văn minh Những yếu tố ngẫu nhiên của bước giao thời đã qua đi, quan điểmkinh doanh ngắn hạn gắn với biện pháp kinh doanh nhất thời không còn chỗ đứng, phảinhường chỗ cho quan điểm kinh doanh có tính chiến lược dài hạn với nền tảng văn hoásâu xa
b Sự đòi hỏi khách quan của việc bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng.
Trong nền kinh tế thị trường, tất cả mọi người thoả mãn nhu cầu của mình thông quaviệc mua và tiêu dùng các loại sản phẩm (hàng hoá và dịch vụ) của doanh nghiệp, và vìvậy, người tiêu dùng là cả xã hội
Lợi ích của người tiêu dùng phải được bảo vệ bằng hệ thống pháp luật và lương tâm,đạo đức của các nhà doanh nghiệp gắn với văn hoá doanh nghiệp
Ngày 9/5/1985, Đại hội đồng Liên hiệp quốc đã thông qua Nghị quyết số 39/248 về
“Các nguyên tắc chỉ đạo để bảo vệ người tiêu dùng”, trong đó công bố những quyền củangười tiêu dùng, đó là:
- Quyền được thoả mãn những nhu cầu cơ bản
- Quyền được cung cấp thông tin
- Quyền được lựa chọn
- Quyền được lắng nghe hay đại diện
- Quyền được giáo dục về tiêu dùng
- Quyền được sống trong một môi trường trong sạch và bền vững
Yêu cầu khách quan của quá trình nền kinh tế nước ta, một mặt phải thể hiện đượcbản sắc văn hoá của mình, đồng thời thích ứng với các nền văn hoá khác
c Tầm quan trọng của văn hoá doanh nghiệp
Alvin Tofler, trong cuốn sách “Thăng trầm quyền lực” đã viết: “Bất kỳ doanh nghiệp nào mà thiếu văn hoá, ngôn ngữ, tư liệu thông tin, nói chung là tri thức thì không sao có thể đứng vững được”.
Trang 8Học thuyết cơ sở nguồn lực (Resource-Based theory) dựa trên quan điểm cho rằng vịthế cạnh tranh của mỗi doanh nghiệp thường được quyết định bởi tổng hợp nhữngnguồn lực mà doanh nghiệp có được Trên thực tế, lợi thế cạnh tranh có được đối với cơ
sở nguồn lực lớn nhất, nhưng không phải nhất thiết phải là những nguồn lực vật chất.Trong điều kiện hiện nay, nguồn lực tạo nên vị thế cạnh tranh cho một doanh nghiệpgồm các loại sau đây:
3 Các bộ phận cấu thành của văn hoá doanh nghiệp
Việc xây dựng nền văn hoá doanh nghiệp trong thực tế đòi hỏi xác định được các bộphận cấu thành của nó Văn hoá doanh nghiệp gồm:
3.1 Triết lý hoạt động của doanh nghiệp
1 Khái niệm
Triết lý hoạt động của doanh nghiệp là tư tưởng chung chỉ đạo toàn bộ suy nghĩ vàhoạt động của doanh nghiệp từ người lãnh đạo, các bộ phận quản lý và những người laođộng trong doanh nghiệp
Thực tế của một số nước (thí dụ: Nhật Bản), mà ở đó đã hình thành rõ nét văn hoádoanh nghiệp, cho thấy mỗi doanh nghiệp thường đề xuất triết lý kinh doanh riêng củamình Cách thể hiện triết lý kinh doanh của từng doanh nghiệp có thể khác nhau, xongnhìn chung, triết lý hoạt động của doanh nghiệp có thể bao hàm trong nó:
a Mục tiêu của doanh nghiệp hướng tới sự phát triển lâu dài, bền vững
b Định hướng hoạt động của doanh nghiệp vào việc phục vụ lợi ích xã hội thôngqua phục vụ khách hàng
c Đề cao giá trị con người, đặt con người vào vị trí trung tâm trong toàn bộ mốiquan hệ ứng xử trong doanh nghiệp
2 Những thí dụ cụ thể:
a Triết lý của Công ty HITACHI
Triết lý kinh doanh của HITACHI dựa trên triết lý của người sáng lập Công ty gồm:
Tính dung hoà: Luôn tôn trọng ý kiến của mọi người và thảo luận với họ với thái
độ chân thành, công bằng và vô tư, sau cùng là làm việc với nhau để đạt mục đíchchung
Sự chân thành: Các thành viên trong công ty tránh chỉ trích lẫn nhau
Tinh thần tiên phong: Điểm xuất phát là sáng kiến có khát vọng, đam mê trởthành quân tiên phong trong trong công nghệ và đạt đỉnh cao trong kinh doanh
Trang 9b Triết lý kinh doanh của Suzuki: “Trao sản phẩm hoàn thiện đến người tiêu dùng” ,
đó chính là triết lý của Suzuki
Suzuki tin tưởng rằng sản phẩm hoàn thiện được tạo ra từ sự thấu hiểu người tiêudùng ngày càng đa dạng, và Suzuki luôn nỗ lực không ngừng bằng chính sự sángtạo không mệt mỏi nhằm đem đến cho người tiêu dùng những sản phẩm hoànthiện cho cuộc sống tốt đẹp hơn
c Triết lý kinh doanh của Taylor Woodrow – một công ty đa quốc gia hàng đầu thếgiới trong lĩnh vực xây dựng bất động sản và thương mại:
Trong phần “Khách hàng của chúng tôi”, Taylor Woodrow khẳng định: “Khách hàng là trên hết”.
Với nhân viên mình, Taylor Woodrow cho rằng: Tài sản lớn nhất của chúng tôi làcác thành viên Chính kỹ năng nghề nghiệp, tính năng động và sáng tạo của họ đãđem lại thành công cho các dự án.”
d Triết lý kinh doanh của Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn ViệtNam:
“Sự thịnh vượng và lớn mạnh của khách hàng là lợi ích của Ngân hàng Nôngnghiệp và phát triển Nông thôn”
e Triết lý kinh doanh của Bảo Việt: “Phục vụ khách hàng là một cách tốt nhất đểphát triển”
3.2 Đạo đức kinh doanh
1 Khái niệm về đạo đức
Từ hàng nghìn năm, người ta đã nghiên cứu và đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau vềđạo đức Tuy nhiên cần mang một định nghĩa mang tính chất thiết thực, vì nhờ nó màchúng ta có một khung tổng quát để định rõ các vấn đề đạo đức kinh doanh
Tiến sĩ Albert Schweitzer đã đưa ra một định nghĩa thực tiễn về đạo đức: “Xét tổngthể, đạo đức là cái tên mà chúng ta đặt cho những hành vi đúng đắn Chúng ta cảmthấy bắt buộc phải xem xét cái có lợi cho người khác và cho loài người nói chung”.Theo định nghĩa này, nếu doanh nghiệp hoạt động có lợi cho mình, đồng thời đem lạilợi ích cho người khác, cho xã hội thì hành động đó là có đạo đức
Về vấn đề này, cụ Lương Văn Can, một nhà giáo dục mở trường Đông Kinh nghĩathục đầu thế kỉ XX đã dạy trong cuốn “Kim cổ cách ngôn” như sau: “Của cải lấyđược từ trời đất, song phải được làm nên bởi tâm sức của mình Như đấng quân tửphải lao tâm mà được bổng lộc, kẻ nông phu phải đổ sức ra cấy lúa, trồng dâu, ngườithợ thủ công làm bách nghệ, kẻ gồng gánh bán buôn mà thu được tiền của thì ấy đếu
là nghĩa cả ” (Nguồn: “Muốn làm ăn phải có chữ tín”, nhà sử học Dương TrungQuốc)
2 Mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật
Đạo đức đòi hỏi cao hơn Luật pháp Đó là điểm rất cơ bản của đạo đức kinh doanh.Đơn thuần tuân thủ luật pháp thì không đủ để đảm bảo có những hành vi đạo đứctrong kinh doanh
Trang 10Lep Tolstoi, nhà văn Nga nổi tiếng, đã nói: “Trong xã hội, giỏi lắm cũng chỉ có 10%các hành vi được chi phối và kiểm soát bằng luật pháp, 90% còn lại phụ thuộc vàođạo đức và văn hoá”
Các quy tắc đạo đức đòi hỏi các nhà kinh doanh và các doanh nghiệp đặt ra nhữngchuẩn mực cao hơn yêu cầu của Luật pháp
3 Các khía cạnh cụ thể của đạo đức kinh doanh
Xuất phát từ định nghĩa nêu trên về đạo đức và từ việc xem xét mối quan hệ giữa đạođức và Luật pháp, có thể nêu lên các mặt cụ thể của đạo đức kinh doanh như sau:
a Xác định rõ mục tiêu kinh doanh
Mọi người đều biết, kinh doanh trước hết là theo đuổi lợi nhuận, nhà kinh doanh làmviệc vì lợi ích của mình để làm giàu Nhưng đạo đức kinh doanh nói rằng kinh doanhkhông thể chỉ vì lợi ích của mình mà quên đi lợi ích của người khác, của xã hội
Từ đó có thể khẳng định, mục tiêu kinh doanh là làm giàu thông qua phục vụ xã hội, chỉ
có thể trên cơ sở đóng góp cho xã hội phát triển, thì doanh nghiệp mới đứng vững vàphát triển bền vững
b Xác định rõ quan hệ giữa lợi ích của doanh nghiệp và của khách hàng
Đạo đức kinh doanh đòi hỏi nhà kinh doanh thay đổi suy nghĩ, từ bỏ quan điểm ngắnhạn, quan điểm thiển cận (đôi khi chop giật) để chấp nhận quan điểm dài hạn mang tínhchất chiến lược, mà theo quan điểm này thì doanh nghiệp phải giữ uy tín với kháchhàng, vì chính uy tín mới giúp doanh nghiệp phát triển bền vững
Về chữ tín, bà Trịnh Văn Bô, một nhà tư sản lớn ở Hà Nội đã có công đóng góp vớicách mạng từ những ngày đầu dựng nước, đã tâm sự rằng: “Tôi là một phụ nữ xuất thântrong gia đình nhà buôn Là nhà buôn chứ không phải con buôn Đã là nhà buôn phải có
uy tín làm ăn Chẳng dại gì mà mua danh ba vạn, bán danh ba đồng” (Nguồn:như trên)
Bỏ qua chữ tín, có thể giàu có nhưng sự giàu có ấy không bền
Trong kinh doanh, có rủi ro Khi gặp trục trặc, phải biết nhận phần thiệt về mình để lấychữ tín Ở đây tưởng là bị thiệt, nhưng một khi làm ăn có hậu thì doanh nghiệp sẽ giàu
có, giữ được chữ tín cộng với tài năng, nhất định doanh nghiệp sẽ trụ được và sẽ trườngtồn
Về điều này, một gương mặt đáng chú ý trong đội ngũ các doanh nhân trẻ hiện nay ởnước ta, chị Bùi Thị Thu Thuỷ (tỉnh Quảng Nam – một trong 300 nhà doanh nghiệp trẻgặp thủ tướng Phan Văn Khản trong năm 2002), đã nói: “Mình có thể chịu thiệt thòi mộtchút, nhưng không thể để khách hàng bị phiền hà Lúc nào cũng tâm niệm phảI giữ uytín thì mới mong làm ăn lâu dài được.”
c Đạo đức kinh doanh đòi hỏi doanh nghiệp và các nhà kinh doanh đảm bảo lợi ích củanhà nước, cụ thể là thực hiện các nghhĩa vụ của nhà nước theo luật
d Đạo đức kinh doanh đòi hỏi các nhà kinh doanh quan tâm đảm bảo lợi ích của nhữngngười làm việc trong doanh nghiệp, tôn trọng nhân phẩm của họ, tạo điều kiện cho họphát huy sáng kiến và tài năng
f Đạo đức kinh doanh đòi hỏi các nhà kinh doanh quan tâm giải quyết các vấn đề vềmôi trường
Về vấn đề này, ông Lê Tấn Hùng, Giám đốc công ty Trang vàng Việt Nam tâm sự: “Sựthành công hay thất bại của một doanh nghiệp là điều bình thường Nhưng tôi cho rằng
Trang 11trước khi nói đến sự thành đạt cần phải nói đến chữ tâm Điều mà tôi luôn tâm niệm khilập nghiệp là mình còn trẻ, con đường phía trước còn dài Do đó, đừng vì muốn đạtđược lợi ích trước mắt mà gây hậu quả xấu cho xã hội Khi còn chưa đóng góp được gìnhiều cho xã hội, thì đừng tán phá tài nguyên, gây ô nhiễm môi trường Sẽ không thểnào thành công, nếu chỉ biết vun vén cho chính mình.”
Trang 12g Đạo đức kinh doanh cũng khuyến khích các nhà kinh doanh quan tâm đến các vấn đề
xã hội – nhân đạo
h đạo đức kinh doanh cũng đòi hỏi các doanh nghiệp xây dựng phong cách giao tiếp – ứng xử có văn hoá với công chúng
Vấn đề đạo đức kinh doanh, như một bộ phận cấu thành nền văn hoá doanh nghiệp,không chỉ đang được quan tâm nhiều ở nước ta hiện nay, mà ngay ở các nước có nềnkinh tế thị trường phát triển, sau một loạt các vụ bê bối và tai tiếng về hệ thống kế toán –kiểm toán ở Mỹ vào cuối năm 2001, vấn đề đạo đức kinh doanh, trách nhiệm xã hội củadoanh nghiệp đang trở thành đề tài được quan tâm đặc biệt (Nguồn: Báo Đầu Tư sốxuân 2003, bài “Cần định hướng một văn hoá kinh doanh” của GS Tương Lai)
3.3 Hệ thống sản phẩm (hàng hoá và dịch vụ) mà doang nghiệp cung cấp chi thị trường
Hệ thống sản phẩm (hàng hoá và dịch vụ) mà doanh nghiệp cung cấp cho thị trường phải trở thành một giá trị văn hoá và một lợi thế trong cạnh tranh lâu bền Muốn vậy hệ thống sản phẩm phải đạt 2 yêu cầu
1 Phương thức đảm bảo bằng thương hiệu, nhãn mác
Thương hiệu là tài sản vô hình của doanh nghiệp Chẳng hạn các chuyên gia kiểm toán của VACO qua tính toán đã xác định giá trị thương hiệu HALIDA trị giá là 543.000USD
Thương hiệu có 2 mặt: thứ nhất đó là sự cam kết vững chác của doanh nghiệp đối với
sự đảm bảo chất lượng sản phẩm của mình, tức là đảm bảo chữ tín, uy tín Thứ hai là khách hàng đặt niềm tin vào sự cam kết của doanh nghiệp và chọn mua sản phẩm dịch vụ mang thương hiệu đó Người mua cấu thành yếu tố thị trường, nhiều khách hàng là có phần thị trường của mình Khách hàng và thị trường là tài sản vô hình của doanh nghiệp đó
Thương hiệu gồm 3 bộ phận:
- Biểu tương đặc trưng (LOGO)
- Tên viết tắt đặc trưn
- Màu sắc đặc trưng
- Thương hiệu phải giúp cho mọi người dễ nhớ, dễ phân biệt và gây ấn tượng
2 Sản phẩm dịch vụ phải có những đặc tính sau:
- Hiếm: chỉ có một hay một vài doanh nghiệp có nguồn lực sản phẩm dịch vụ đó
- Quý: phải tạo ra cho doanh nghiệp sở hữu có một phương tiện để khai thác một
cơ hội hay ngăn ngừa một mối đe doạ