Nghiên cứu thiết kế chế tạo thử nghiệm hệ thống ngắt xi lanh trên động cơ xăng Nghiên cứu thiết kế chế tạo thử nghiệm hệ thống ngắt xi lanh trên động cơ xăng Nghiên cứu thiết kế chế tạo thử nghiệm hệ thống ngắt xi lanh trên động cơ xăng Nghiên cứu thiết kế chế tạo thử nghiệm hệ thống ngắt xi lanh trên động cơ xăng Nghiên cứu thiết kế chế tạo thử nghiệm hệ thống ngắt xi lanh trên động cơ xăng
Trang 1TÓM TẮT
Việc nghiên cứu phát triển và ứng dụng công nghệ mới đang là xu hướng chung của nhiều hãng sản xuất ô tô trên thế giới nhằm đảm bảo sử dụng tiết kiệm nhất nguồn nhiên liệu hóa thạch và giảm ô nhiễm môi trường Các trạng thái tối ưu nhất
là việc điều khiển mô men xoắn phù hợp với từng điều kiện hoạt động khác nhau nhằm cải thiện mức tiêu thụ nhiên liệu trong động cơ Điều này được thực hiện bằng phương pháp ngắt một số xi lanh, do đó mang lại nhiều ưu điểm trong việc cải thiện khí thải và suất tiêu hao nhiên liệu ở các dải tải trọng khác nhau trong động cơ xăng Nghiên cứu đề xuất thiết kế cơ cấu điều khiển xú páp được cải tiến từ hệ thống phân phối khí truyền thống trên động cơ xăng 4 xi lanh thẳng hàng nhằm điều khiển ngắt xi lanh trên động cơ Trên thiết kế đề xuất có thể ngắt 1 hoặc 2 xi lanh phụ thuộc vào các chế độ hoạt động của xe
Kết quả thực nghiệm cho thấy, ngoài việc có thể điều khiển một cách linh hoạt công suất động cơ phát ra theo từng chế độ hoạt động, phương pháp điều khiển ngắt
xi lanh còn có thể giảm được khoảng 13% đến 15% lượng nhiên liệu tiêu hao so với động cơ thông thường Đồng thời lượng khí phát thải CO cũng giảm được khoảng 15%, hàm lượng khí HC sinh ra cũng giảm được khoảng 8%
Từ khóa: Điều khiển xi lanh chủ động (CDA); tải động cơ; hệ thống điều khiển
xú pap; khí thải; tiêu thụ nhiên liệu
Trang 2ABSTRACT
The research development and application of new technologies is a trend of many automobile manufacturers in the world To ensure the most economical use of fossil fuel resources and reduce environmental pollution The optimal strategies about driving torque at different operating conditions can improve the fuel consumption in engine This is performed by cylinder deactivation method that brings many advances in improving emissions and fuel consumption at various load ranges in SI engines The study proposes a design valve train, which is improved from the conventional valve train system in an inline SI engine with 4 cylinders, to control for deactivating cylinder The proposed design, which is improved on the conventional valve train in the engine, can deactivate one or two cylinder modes that depend on part or medium loads in vehicle
The results show that cylinder deactivation can reduce about 13% to 15% of fuel consumption compared with the conventional engine The concentration of CO reduces about 15%, whereas HC decreases about 8% when SI engine operates with different cylinder deactivation modes
Keywords: cylinder deactivation (CDA); engine load; valve train system;
emissions, fuel consumption
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN x
LỜI CẢM ƠN x
TÓM TẮT x
ABSTRACT x
MỤC LỤC x
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT xi
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU xiii
DANH MỤC HÌNH xiii
CHƯƠNG 1 1
TỔNG QUAN 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Các nghiên cứu trong nước 2
1.3 Các nghiên cứu ngoài nước 2
1.4 Tổng quan hệ thống điều khiển ngắt xi lanh 6
1.5 Mục đích nghiên cứu 19
1.6 Đối tượng nghiên cứu 19
1.7 Phạm vi nghiên cứu và giới hạn của đề tài 19
1.8 Phương pháp nghiên cứu 20
1.9 Nội dung nghiên cứu 21
1.10Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 21
CHƯƠNG 2 22
Trang 42.1 Lịch sử phát triển 22
2.2 Điều khiển ngắt giảm xi lanh chủ động 26
2.3 Thời điểm ngắt giảm xi lanh 28
2.4 Phương pháp điều khiển ngắt xi lanh của một số nhà sản xuất ô tô 29
2.5 Đề xuất cơ cấu điều khiển ngắt xi lanh trên động cơ Hyundai G4EK 38
2.6 Tổng quan cơ cấu điều khiển ngắt xi lanh 39
2.7 Kết luận 43
CHƯƠNG 3 44
NGHIÊN CỨU THIẾT KẾ HỆ THỐNG NGẮT XI LANH TRÊN ĐỘNG CƠ HYUNDAI G4EK 44
3.1 Khảo sát cơ cấu phân phối khí động cơ Hyundai G4EK 44
3.2 Hệ thống điều khiển động cơ Hyundai G4EK 45
3.3 Nghiên cứu thiết kế cơ cấu ngắt xi lanh trên động cơ 47
3.4 Chế tạo và lắp đặt lên động cơ hoàn chỉnh 58
CHƯƠNG 4 61
CHẾ TẠO BOARD MẠCH ĐIỀU KHIỂN NGẮT XI LANH ĐỘNG CƠ HYUNDAI G4EK 61
4.1 Thiết kế board mạch để điều khiển hệ thống 61
4.2 Lưu đồ thuật toán điều khiển cơ cấu ngắt xi lanh 74
4.3 Lắp đặt board mạch điều khiển ngắt xi lanh trên động cơ Hyundai G4EK 81
CHƯƠNG 5 83
THỰC NGHIỆM VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ 83
5.1 Thiết lập thử nghiệm 83
Trang 55.3 Kết luận 92
CHƯƠNG 6 93
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 93
6.1 Kết luận 93
6.2 Hướng phát triển của đề tài: 93
TÀI LIỆU THAM KHẢO 95
PHỤ LỤC 1 97
PHỤ LỤC 2 101
Trang 6DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
ANC Active Noise Control -Điều khiển tiếngồn chủ động AFM Active FuelManagement – Quản lý nhiên liệu chủ động ACC Active CylinderControl – Điều khiển xi lanh chủ động BMEP Brake Mean Effective Pressure - Áp suất hiệu dụng trung
bình cóích
CAI Controlled Auto Ignition – Điều khiển đánh lửa tự động
CDA Cylinder Deactivation- Công nghệ ngắt xi lanh chủđộng COD Cylinder On Demand- Hệ thống ngắt giảm xi lanh
DC Direct Current- Dòng điện mộtchiều
DSF Dynamic Skip Fire– Điều khiển ngắt đánh lửa
ECU Electronic Control Unit- Bộ điều khiển điệntử
ED Engine Displacement- Công nghệ thay đổi thể tích công
Trang 7MPI MultiPoint Injection – Hệ thống phun xăng đa điểm
MD Modulated Displacement – Thay đổi thểtích
Mivec Mitsubishi Innovative Valve timing Electronic Control
system– Thời điểm đóng mở xú páp được điều khiển bằng điệntử
MDS Multi Displacement System – Hệ thống xi lanh đa dung
tích
NEDC New European Driving Cycle – Chu trình thử nghiệm
châuÂu
i-VTEC Intelligent - Variable Valve Timing Lift Electronic Control
– Thời điểm đóng mở xú páp biến thiên được điều khiển bằng điệntử
IMEP Indicated Mean Effective Pressure – Áp suất hiệu dụng
trung bình chỉthị
TFSI Turbo Fuel Stratified Injection
Tengine Mô men xoắn động cơ[Nm]
SFC Specific Fuel Consumption – Đặc tính tiêu thụ nhiênliệu SOHC Single Overhead Camshaft – Động cơ chỉ có một trục cam
ở phía trên
VCM Variable Cylinder Management – Hệ thống quản lý xi lanh
chủ động
Vactive Thể tích của các xi lanh hoạtđộng
VVT Variable Valve Timing – Hệ thống điều khiển thời điểm xú
páp biến thiên
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Đặc tính tiêu hao nhiên liệu SFC: Specific Fuel Consumption 16
Bảng 4.1: Bảng thông số kỹ thuật của Arduino Uno R3 66
Bảng 4.2: Thông số kỹ thuật của Rotary Volume Encoder 72
Bảng 5.1 Thông số kỹ thuật của động cơ Hyundai Accent G4EK 83
Trang 9Hình Trang
Hình 1.1: Ngắt xi lanh trên động cơ thông thường 3
Hình 1.2: Ngắt xi lanh thông qua con đội thuỷ lực 4
Hình 1.3: Cơ cấu ngắt xi lanh của K J DOUGLAS 5
Hình 1.4: Điều khiển ngắt xi lanh trực tiếp bằng điện 6
Hình 1.5: Công nghệ ngắt xi lanh trên động cơ V6 7
Hình 1.6: Solenoid điều khiển các xú páp đóng hoàn toàn 8
Hình 1.7: (a) Không ngắt xi lanh, (b) ngắt xi lanh 9
Hình 1.8: Ngắt xi lanh bất kỳ trên động cơ V8 của hãng GM 10
Hình 1.9: Các chế độ hoạt động ngắt xi lanh động cơ 11
Hình 1.10: Sự tiết kiệm nhiên liệu khi ngắt xi lanh động cơ 12
Hình 1.11: So sánh hai chế độ làm việc của động cơ 13
Hình 1.12: So sánh tổn hao cơ giới trong 2 chế độ làm việc của động cơ 14
Hình 1.13: So sánh hiệu quả kinh tế nhiên liệu khi ngắt xi lanh 15
Hình 1.14: Biểu đồ đặc trưng cho hiệu suất của động cơ 17
Hình 1.15: Đồ thị công P-V của động cơ xăng 18
Hình 2.1: Động cơ bật – tắt (hit and miss engine) 22
Hình 2.2: Mẫu xe Cadillac Eldorado 1981 23
Hình 2.3: Mẫu xe Mitsubishi Lancer sử dụng công nghệ MD 24
Hình 2.4: Động cơ V6 3.5L của Honda Accord 25
Hình 2.5: Động cơ V6 của Honda Acura 25
Hình 2.6: Ngắt các xú páp bằng dầu thủy lực 26
Hình 2.7: Ngắt các xú páp bằng điện từ 27
Hình 2.8: Ngắt xi lanh bất kỳ trên động cơ V8 của hãng GM 27
Hình 2.9: Vị trí ngắt xi lanh trên đồ thị công 28
Hình 2.10: Đồ thị đặc tính công suất-mô men động cơ V6 3.5L của Honda 30
Trang 10Hình 2.11: Các chế độ hoạt động của xe 30
Hình 2.12: Mạch dầu điều khiển ngắt xi lanh 31
Hình 2.13: Chế độ xi lanh hoạt động bình thường 31
Hình 2.14: Chế độ ngắt xi lanh 32
Hình 2.15: Điều khiển ngắt xi lanh bằng điện của Audi 33
Hình 2.16: Các chế độ ngắt xi lanh của Audi 34
Hình 2.17: Ngắt phun xăng và đánh lửa trên xi lanh ngừng hoạt động 34
Hình 2.18: Động cơ V8 5.7L HEMI với hệ thống MD 36
Hình 2.19: Cấu tạo con đội thủy lực 37
Hình 2.20: Sơ đồ khối điều khiển ngắt xi lanh 39
Hình 2.21: Cơ cấu điều khiển ngắt xi lanh 40
Hình 2.22: Thiết kế phần cơ khí cơ cấu điều khiển ngắt xi lanh 40
Hình 2.23: Thiết kế sơ bộ cơ cấu điều khiển ngắt xi lanh 41
Hình 2.24: Mô phỏng hệ thống điều khiển sau khi lắp ghép 42
Hình 3.1: Động cơ Hyundai G4EK 44
Hình 3.2: Cơ cấu phân phối khí trên động cơ Hyundai G4EK 45
Hình 3.3: Sơ đồ hệ thống điều khiển động cơ 45
Hình 3.4: Cấu tạo bệ đỡ cơ cấu ngắt xi lanh 47
Hình 3.5: Gối đỡ trục cam, nắp đỡ trục cam 48
Hình 3.6: Nửa trục cam ngắt xi lanh số 1 49
Hình 3.7: Nửa trục cam ngắt xi lanh số 4 50
Hình 3.8: Cấu tạo các gối đỡ trục cò mổ 51
Hình 3.9: Cấu tạo cò mổ thứ cấp 51
Hình 3.10:Bánh vít và trục vít dẫn động trực tiếp trục cam 52
Hình 3.11:Gối đỡ trục vít dẫn động trực tiếp trục cam 52
Hình 3.12: Khoá bánh vít trên trục cam 53
Hình 3.13: Khớp trượt nối 2 bán trục cam 53
Hình 3.14: Càng chuyển hướng khớp trượt 54
Hình 3.15:Gối đỡ trục càng chuyển hướng 54
Trang 11Hình 3.17: Bánh vít và trục vít của bộ giảm tốc từ mô tơ điều khiển 55
Hình 3.18: Trục của bánh vít 56
Hình 3.19: Gối đỡ trục vít bộ truyền 56
Hình 3.20: Gối đỡ trục bánh vít bộ truyền 56
Hình 3.21: Hộp bộ truyền bánh vít, trục vít từ mô tơ 57
Hình 3.22: Cấu tạo nắp máy trung gian 57
Hình 3.23: Cơ cấu sau khi đã gia công 58
Hình 3.24: Cơ cấu sau khi đã lắp ráp lại 58
Hình 3.25:Động cơ điện 12V DC dùng để điều khiển cơ cấu ngắt xy lanh 59
Hình 3.26: Cơ cấu ngắt xi lanh được lắp lên động cơ 59
Hình 4.1: Nguyên lý hoạt động mạch cầu H sử dụng để điều khiển mô tơ 61
Hình 4 2: Mạch cầu H điều khiển động cơ – giả lập trên Proteus 62
Hình 4.3: Mạch nguồn 5V cho vi xử lí và cảm biến 63
Hình 4 4: Mạch điều khiển ngắt kim phun 63
Hình 4 5: Vi xử lý Arduino UNO R3 64
Hình 4 6: Các chân Analog và Digital trên Arduino UNO R3 68
Hình 4 7: Lập trình Arduino và xuất giá trị trên Arduino IDE 70
Hình 4 8: Rờ le 5 chân điều khiển nhấn xú páp 70
Hình 4 9: Rờ le 5 chân điều khiển gài khớp 71
Hình 4.10: Encoder quay 71
Hình 4.11: Encoder gắn trên trục cam 73
Hình 4.12: Mô phỏng mạch điều khiển ngắt xi lanh trên Proteus 74
Hình 4.13: Lưu đồ thuật toán điều khiển bướm ga 74
Hình 4.14: Lưu đồ thuật toán điều khiển nhấn xú páp 76
Hình 4.15: Lưu đồ thuật toán đo tốc độ động cơ 77
Hình 4.16: Lưu đồ thuật toán đếm xung từ Encoder 78
Hình 4.17: Lưu đồ thuật toán điều khiển ngắt kim phun 79
Trang 12Hình 4.19: Board mạch điều khiển gắn trên động cơ thực tế 82
Hình 5.1: Màn hình hiển thị và thiết bị đo khí thải Maha MGT5 84
Hình 5.2: Kết nối động cơ với thiết bị đo khí thải Maha MGT5 85
Hình 5.3: Kết nối thiết bị đo 85
Hình 5.4: Kết nối động cơ thiết bị đo tiêu hao nhiên liệu LPS 2000 86
Hình 5.5: Quá trình thử nghiệm xác định suất tiêu hao nhiên liệu ge 86
Hình 5.6: Kết quả thử nghiệm suất tiêu hao nhiên liệu ge 87
Hình 5.7: Diễn biến suất tiêu hao nhiên liệu ge tương ứng với các chế độ hoạt động khác nhau 87
Hình 5.8: Quá trình thử nghiệm đo nồng độ khí thải CO 88
Hình 5.9: Kết quả thử nghiệm nồng độ khí thải CO 89
Hình 5.10: Diễn biến phát thải khí CO tương ứng với các điều kiện hoạt động khác nhau 89
Hình 5.11: Kết quả thử nghiệm nồng độ khí thải HC 90
Hình 5.12: Diễn biến phát thải khí HC tương ứng với các điều kiện hoạt động khác nhau 91
Trang 13CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN 1.1 Đặt vấn đề
Ngày nay do sự phát triển của các ngành công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ trong cơ cấu kinh tế, dẫn tới nhu cầu về việc vận chuyển hàng hóa và con người ngày càng lớn Điều này buộc các ngành liên quan đến ngành giao thông vận tải phải phát triển để đáp ứng nhu cầu của xã hội Ngành công nghiệp
ô tô cũng là một trong những ngành như vậy
Những năm trở lại đây vấn đề ô nhiễm môi trường đang là một vấn đề nhức nhối và là mối quan tâm của toàn thế giới Khí thải các phương tiện giao thông với mật độ ngày càng lớn cũng là một trong những tác nhân chính ảnh hưởng đến sức khỏe con người và môi trường xung quanh Vấn đề hiện nay là làm thế nào để giảm lượng khí thải độc hại như: CO, CxHy,SOx, CO2, NOx, ,…thải ra môi trường Có rất nhiều nghiên cứu được các nhà khoa học thực hiện, một trong số đó là cơ cấu điều khiển xi lanh biến thiên trên động cơ Nghiên cứu này có ưu điểm giảm được công hao phí của động cơ, làm giảm lượng nhiên liệu tiêu hao và làm giảm lượng khí thải độc hại thải ra một trường, góp một phần nhỏ vào việc bảo vệ môi trường đang ngày càng trở nên cấp bách
Các công nghệ hiện đại đang khắc phục được nhiều nhược điểm của động cơ đốt trong như: Công nghệ Hybrid, công nghệ xi lanh biến thiên,….Vấn đề trước tiên nhất là giảm tiêu hao nhiên liệu, giảm lượng khí xả độc hại gây ra ô nhiễm môi trường, đảm bảocác chế độ tải khác nhau của động cơ
Vì vậy, nếu chúng ta có thể thiết kế được một hệ thống cơ điện tử sao cho có thể gắn vào động cơ, nhằm mục đích can thiệp vào quá trình vận hành của các xi lanh, nhằm ngắt tạm thời các xi lanh đang công tác, đây là một cách làm hiệu quả, đáp ứng được mục tiêu sao cho vừa tiết kiệm được nhiên liệu, vừa đáp ứng được mô
Trang 14men vận hành của ô tô ở những chế độ tải hoạt động khác nhau, và đây cũng là mục tiêu được tập trung nghiên cứu trong đề tài này
1.2 Các nghiên cứu trong nước
Hiện nay thì tình hình nghiên cứu thiết kế và thử nghiệm hệ thống điều khiển ngắt xi lanh trên động cơ ô tô ở trong nước là một hướng nghiên cứu còn khá mới
mẻ Tuy nhiên trước thực trạng ô nhiễm môi trường ngày càng trở nên trầm trọng cũng như nguồn nhiên liệu đang dần cạn kiệt thì đây là một đề tài cần thiết được nghiên cứu và thử nghiệm
Tình hình nghiên cứu trong nước tác giả Lê Nam Anh với công trình nghiên cứu “Thiết kế cơ cấu điều khiển ngắt xi lanh chủ động trên động cơ xăng” đã tạo tiền đề cho các công trình nghiên cứu tiếp theo nhằm nâng cao tính kinh tế nhiên liệu và hạn chế ô nhiễm môi trường Do đó để góp phần giảm bớt lượng khí thải độc hại ra môi trường cũng như giảm lượng nhiên liệu tiêu hao nên việc nghiên cứu thử nghiệm hệ thống ngắt xi lanh trên động cơ là rất cần thiết Đây cũng chính là lý do chủ nhiệm đề tài lựa chọn nghiên cứu này
1.3 Các nghiên cứu ngoài nước
Đối với các nhà sản xuất ô tô trên thế giới việc chế tạo ra một chiếc xe ô tô tiết kiệm nhiên liệu và ít gây ô nhiễm môi trường là mục tiêu cần đạt đến Vì vậy đã có khá nhiều các công trình nghiên cứu như sau:
Tác giả Gilbert Peters[2]với công nghệ “ CYLINDER DEACTIVATION ” ra
đời vào năm 2005, đã thực hiện ngắt các xú páp thông qua việc điều khiển dòng dầu thủy lực.Ở trạng thái hoạt động bình thường (deactivation off) dòng dầu thủy lực được cấp cho con đội để điều khiển các xú páp đóng mở theo góc phối khí Ở trạng thái vô hiệu hóa xi lanh (deactivation on) dòng dầu trong con đội được xả để các xú páp đóng hoàn toàn Cơ cấu điều khiển được mô tả như trên hình 1.1
Trang 15Hình 1.1: Ngắt xi lanh trên động cơ thông thường
Kết quả đạt được sau quá trình thử nghiệm như sau:
- Trên động cơ 4 xi lanh thẳng hàng (I4) ở chế độ không tải kết quả thử nghiệm cho thấy khi ngắt hai xi lanh có thể giảm từ 20% đến 30% lượng nhiên liệu tiêu hao
- Trên động cơ 6 xi lanh thẳng hàng khi thử nghiệm ở chế độ không tải theo chu trình thử nghiệm Châu Âu (NEDC: New European Driving Cycle) kết quả thử nghiệm cho thấy có thể giảm khoảng 25,4% lượng nhiên liệu tiêu hao ở chế độ không tải
- Trên động cơ V8 - 5.0L của Mercedes Benz khi thử nghiệm theo chu trình thử nghiệm Châu Âu (NEDC) kết quả thử nghiệm cho thấy ở chế
độ ngắt 4 xi lanh có thể giảm 6,5% lượng nhiên liệu tiêu hao và khi thử nghiệm theo chu trình Mỹ (American FTP: Federal Test Procedure) có thể giảm 10,3% lượng nhiên liệu tiêu hao
Tác giả Martni Rebbert, Gerhard Kreusenvà Sven Lauer[3] với công nghệ “ A
New Cylinder Deactivation ” ra đời vào năm 2008 Việc điều khiển các xú páp đóng
mở thông qua dòng dầu thủy lực, với cơ cấu điều khiển được thể hiện như trên hình 1.2
Trang 16Hình 1.2: Ngắt xi lanh thông qua con đội thuỷ lực
Kết quả thử nghiệm đạt đƣợc nhƣ sau:
- Trên động cơ V8 của hãng Daimler Chrysler’s ở chế độ tải thấp (2000rpm) kết quả thử nghiệm đạt được mức tiêu hao nhiên liệu là 325g/kwh và áp suất hiệu dụng trung bình có ích (BMEP: Brake Mean Effective Pressure) là 2 bar
- Khi thử nghiệm theo chu trình thử nghiệm Châu Âu (NEDC) kết quả thử nghiệm ở chế độ không tải lượng tiêu hao nhiên liệu giảm được khoảng 7%
- Ngoài việc giảm được lượng nhiên liệu tiêu hao công nghệ này còn giảm được đáng kể lượng CO2 ra môi trường
Các tác giả K J Douglas, N Milovanovic, J W G Turnervà D Blundell[4]với
công nghệ “Controlled Auto Ignition”điều khiển đánh lửa tự động kết hợp với (CAI:
Controlled Auto Ignition) điều khiển ngắt xi lanh chủ động (CDA: Cylinder Deactivation) ra đời vào năm 2008 Việc điều khiển các xú páp đóng mở thông qua dòng dầu thủy lực, với cơ cấu điều khiển được thể hiện như trên hình 1.3
Trang 17Hình 1.3: Cơ cấu ngắt xi lanh của K J DOUGLAS
Kết quả thử nghiệm đạt đƣợc nhƣ sau:
- Khi thử nghiệm theo chu trình thử nghiệm Châu Âu (NEDC) kết quả thử nghiệm cho thấy lượng tiêu hao nhiên liệu giảm được khoảng 10%
- Lượng khí thải CO2 sinh ra giảm cũng giảm được khoảng 10% và lượng khí thải NOXgiảm được khoảng 28%
Các tác giả Peter Kreuter, PeterHeuser, Joachim Reinicke[5]với công nghệ
“An Electro-Mechanical Cylinder and Valve Deactivation “ việc ngắt các xi lanh
được thực hiện thông qua các van điện từ (solenoid) điều khiển đóng hoặc mở các
xú páp Cơ cấu điều khiển được thể hiện như trên hình 1.4
Trang 18Hình 1.4: Điều khiển ngắt xi lanh trực tiếp bằng điện
Kết quả thử nghiệm đạt đƣợc nhƣ sau:
- Khi thử nghiệm theo chu trình thử nghiệm Châu Âu (NEDC) động cơ 4
xi lanh được điều khiển ngắt 2 xi lanh kết quả thử nghiệm cho thấy ở chế
độ tải thấp có thể giảm được từ 10% đến 40% lượng khí thải ra môi trường
- Khi thử nghiệm theo chu trình thử nghiệm Châu Âu (NEDC) động cơ V8 khi hoạt động ở tốc độ 60km/h có thể giảm được 18% lượng nhiên liệu tiêu hao, ở tốc độ 90km/h giảm được 15% lượng nhiên liệu tiêu hao và ở tốc độ 120km/h có thể giảm được 12,5% lượng nhiên liệu tiêu hao
1.4 Tổng quan về hệ thống điều khiển ngắt xi lanh
Thể tích công tác biến thiên (Variable Displacement) trên động cơ là công nghệ thay đổi thể tích công tác động cơ (Engine Displacement) bằng cách ngắt một
số xi lanh khi làm việc ở chế độ tải nhỏ hay còn gọi là Cylinder Deactvation (CDA) Ngoài ra hệ thống ngắt xi lanh còn có một số tên gọi khác nhau như: hệ thống quản
lý xi lanh chủ động thay đổi VCM (Variable Cylinder Management) trên Honda, hệ thống Active Fuel Management (AFM) trên GM, Active Cylinder Control (ACC) trên Mercedes hay Multi- displacement System (MDS) trên Chrysler, hệ thống quản
Trang 19lý xi lanh chủ động (ACM) Active Cylinder Management trên Wolkswagen và Audi
với công nghệ Cylinder on Demand [6]
Hình 1.5: Công nghệ ngắt xi lanh trên động cơ V6
Công nghệ ngắt xi lanh trên động cơ được thực hiện bằng cách giữ cho các
xú páp nạp và xả ở vị trí đóng đối với các chu kỳ làm việc của động cơ Đồng thời, ngắt hệ thống đánh lửa và nhiên liệu đến các xi lanh bị ngắt để tiết kiệm năng lượng, nhiên liệu và giảm khí xả gây ô nhiễm môi trường Bằng cách đóng các xú páp khi cần ngắt xi lanh, vì vậy xi lanh ngắt được xem như một lò xo không khí "air spring" Lò xo không khí này thực hiện quá trình nén và giãn nở có chu kỳ, điều này loại bỏ các công tổn thất và giúp cho động cơ được cân bằng tốt hơn
Công nghệ ngắt xi lanh chủ động trên động cơ ô tô (CDA), thường là từ động
cơ V6 trở lên, động cơ có thể chỉ làm việc với 4 hoặc 3 xi lanh để giảm 8 – 25% lượng nhiên liệu tiêu thụ Ở mức tải bằng 30% công suất tối đa, trên các động cơ cở lớn bướm ga gần như đóng hoàn toàn Điều này đã cản trở quá trình cấp khí cho các
Trang 20xi lanh, thiếu không khí, áp suất và nhiệt độ nén giảm khiến quá trình cháy kém hiệu quả, hiệu suất nhiệt thấp khi tải động cơ nhỏ
Thay vì để các máy tranh giành lượng khí ít ỏi, công nghệ điều khiển xi lanh biến thiên sẽ cho một số máy ngừng làm việc, để nhường khí nạp cho các xi lanh còn lại Một số buồng đốt nhận khí nhiều hơn làm tăng áp suất nén, vì thế hiệu suất nhiệt được cải thiện Theo tính toán, lượng nhiên liệu tiêu thụ có thể giảm 8-25% khi xe chạy trên đường cao tốc [6]
Hình 1.6: Solenoid điều khiển các xú páp đóng hoàn toàn
Trên các xi lanh tạm dừng làm việc, các xú páp xả và nạp đóng kín, hỗn hợp không khí trong buồng đốt bị cô lập với bên ngoài Lúc này, chúng có vai trò như một chiếc lò xo Nó sẽ bị nén khi pít tông đi từ điểm chết dưới (ĐCD) lên điểm chết trên (ĐCT), và giãn nở trong hành trình ngược lại từ ĐCT xuống ĐCD Quá trình giãn nở của khối khí cô lập tạo sự cân bằng tổng thể, đồng thời không gây ra phụ tải cho động cơ Ví dụ điển hình nhất cho công nghệ này là loại động cơ 4 xi lanh của Wolkswagen chỉ có 2 xi lanh làm việc khi tải trọng thấp [8]
Trang 21Hình 1.7: (a) Không ngắt xi lanh (b) Ngắt xi lanh
Quá trình chuyển đổi trạng thái được thực hiện bằng cách thay đổi đồng bộ
hệ thống đánh lửa, hệ thống phân phối khí, và vị trí bướm ga
Hiện nay có nhiều phương pháp để cải tiến hiệu suất động cơ, giảm suất tiêu hao nhiên liệu cũng như khí xả độc hại phát ra trên động cơ như: thay đổi thời điểm đóng mở xú páp (VVT), sử dụng công nghệ điều khiển xú páp bằng điện từ (EMV),
tỉ số nén thay đổi (VCR), phun xăng trực tiếp (GDI), tăng áp động cơ Hiệu quả sẽ cao hơn khi kết hợp các phương pháp khác nhau Ví dụ: sự kết hợp giữa VVT và CDA sẽ mang lại hiệu quả cao nhất, sự kết hợp này sẽ tiết kiệm nhiên liệu lên tới 14 – 16% Việc sử dụng công nghệ điều khiển xú páp bằng điện từ (EMV) cho phép điều khiển thời điểm đánh lửa, các sự kiện diễn ra trong quá trình hoạt động xú páp
và độ nâng xú páp được thực hiện một cách linh hoạt, hoàn toàn Hơn nữa, việc sử dụng EMV cho phép CDA thực hiện dễ dàng do đã loại bỏ xú páp trong động cơ Ngoài ra, VVT kết hợp với các công nghệ khác như tăng áp, công nghệ ngắt xi lanh (CDA), công nghệ thay đổi tỉ số nén (VCR)… sẽ cải thiện đáng kể suất tiêu hao nhiên liệu và ô nhiễm khí xả
Gần đây GM đã ứng dụng công nghệ ngắt xi lanh không cố định (các xi lanh được ngắt luân phiên nhau) với tên gọi Dynamic Skip Fire (DSF) trên xe GMC với
Trang 22Hình 1.8: Ngắt xi lanh bất kỳ trên động cơ V8 của hãng GM
Với công nghệ này các xi lanh được điều khiển ngắt biến thiên bất kỳ tuỳ theo điều kiện hoạt động trên đường không tuân theo thứ tự chẵn- lẻ, giúp động cơ
hoạt động êm ít rung động và nhiệt độ động cơ được phân tán đồng đều
1.4.1 Ƣu và nhƣợc điểm của hệ thống ngắt xi lanh trên động cơ
Ƣu điểm
Phương pháp ngắt giảm xi lanh khi động cơ làm việc theo cơ chế như sau:
- Ở chế độ tải động cơ nhỏ và tốc độ xe ở mức trung bình thì động cơ chỉ hoạt động với 3 xi lanh giúp giảm đáng kể lượng nhiên liệu tiêu hao cũng như lượng khí thải ra môi trường
- Hệ thống sẽ tự động điều khiển sang chế độ hoạt động 4 xi lanh khi có tín hiệu tăng ga (tín hiệu từ cảm biến vị trí bàn đạp ga) hoặc xe đang hoạt trong dãy tốc độ cao
- Ở chế độ khởi động hoặc xe đang lưu thông trên điều kiện mặt đường hỗn hợp, leo dốc động cơ sẽ làm việc với tất cả 6 xi lanh nhằm khắc phục lực cản
từ mặt đường giúp xe có thể chuyển động ổn định
Trang 23Hình 1.9: Các chế độ hoạt động ngắt xi lanh động cơ
Phương pháp ngắt giảm xi lanh giúp động cơ làm việc một cách tiết kiệm nhiên liệu nhất đồng thời giảm được lượng khí thải mà hiệu suất đạt được lại cao như kết quả đạt được trên động cơ V6 3.5L của Honda Accord, Honda Acura Hiệu quả của phương pháp này được thể hiện khi so sánh trong trường hợp ngắt 2 xi lanh lượng nhiên liệu tiêu thụ có thể giảm được khoảng 5 – 10% và khi ngắt 3 xi lanh lượng nhiên liệu tiêu thụ có thể giảm được khoảng 10 – 15 % Trong thời gian các
xi lanh bị ngắt tất cả các xú páp đều đóng kín đồng thời quá trình phun nhiên liệu và đánh lửa cũng bị ngắt trên các xi lanh đó giúp giảm đáng kể lượng nhiên liệu tiêu hao và khí thải ra môi trường, các xi lanh còn lại không bị cạnh tranh lượng khí nạp nên nạp được nhiều hơn giúp động cơ tăng được công suất [9]
Trang 24Hình 1.10: Sự tiết kiệm nhiên liệu khi thực hiện ngắt xi lanh ở các chế độ tải
khác nhau
Phương pháp ngắt giảm xi lanh khi động cơ làm việc ở chế độ tải nhỏ hoặc không tải nhằm giúp động cơ làm việc một cách tiết kiệm nhiên liệu nhất mà hiệu suất đạt được lại cao như kết luận của Osman Akin Kutlar Hiệu quả của phương pháp này được thể hiện ở hình 1.11 [9]
Trang 251Hình 1.11: So sánh hai chế độ làm việc của động cơ
Như trên hình cho thấy khi ở chế độ tải nhỏ hoặc không tải, nếu hai xi lanh làm việc thì phần công suất sinh ra ở mỗi xi lanh bằng 1/2 công suất yêu cầu của động cơ (IMEPgross_ phần công +) Nhưng đồng thời khi đó phần tổn thất công suất dành cho việc hút khí nạp và thải khí sẽ tăng lên (IMEPpumping_ phần công -) Như chúng ta đã biết, khi động cơ hoạt động ở chế độ tải nhỏ thì bướm ga đóng một phần, lượng khí được hút vào xi lanh trên đường ống nạp sẽ bị cản trở bởi cánh bướm ga, do đó cần tốn một công lớn dùng để hút không khí vào buồng đốt trong kì nạp Chính phần công này làm cho hiệu suất của động cơ giảm đi hay nói cách khác làm tổn thất công suất có ích của động cơ Để khắc phục sự tổn thất công khi ở tải thấp việc ngắt giảm bớt một xi lanh sẽ giúp cho động cơ làm việc với hiệu suất cao hơn nhưng lại tiết kiệm được nhiên liệu hơn Như được chỉ ra ở Hình 1.12, khi động
cơ làm việc với một xi lanh ở tải nhỏ, thể tích công tác giảm chỉ còn một nửa nhưng yêu cầu về công suất vẫn không đổi do đó bướm ga sẽ mở tối đa, điều này giúp cho
Trang 26bướm ga trên đường nạp Do đó phần công tiêu hao cho việc hút không khí nạp được giảm đi (IMEPpumping_ phần công -), mà phần công suất được sinh ra ở một
xi lanh lại cao hơn (IMEPgross_ phần công +), đồng nghĩa với việc làm tăng hiệu suất cho động cơ Ngoài ra dựa theo bảng so sánh ở hình 1.12 cũng cho thấy, cùng một chỉ số áp suất hiệu dụng chính ( IMEPnet) thì sự tiêu hao nhiên liệu khi hoạt động ở một xi lanh sẽ giảm xuống Một ví dụ trên động cơ V-6 3.5lít i-VTEC VCM mới của Honda dưới đây [6]
Hình 1.12: So sánh tổn hao cơ giới trong 2 chế độ làm việc của động cơ
Như trên hình 1.12 cho thấy, khi động cơ hoạt động ở điều kiện tải nhỏ với nhu cầu công suất đầu ra không lớn, thay vì cho tất cả 6 xi lanh cùng hoạt động thì mỗi xi lanh sẽ làm việc với công suất thấp và cánh bướm ga gần như đóng hoàn toàn Điều này dẫn tới sự tổn thất công suất cho động cơ rất lớn như được thể hiện trên hình 1.12, phần diện tích tổn hao công suất (pumping loss) của mỗi xi lanh khi
6 xi lanh cùng hoạt động là rất lớn Để tránh sự tổn thất công suất có ích của động
cơ trong trường hợp này số xi lanh được ngắt giảm phân nữa còn lại 3 xi lanh làm việc với công suất riêng lớn và bướm ga mở gần như tối đa nhằm đảm bảo công suất đầu ra đúng như yêu cầu khi cả 6 xi lanh làm việc Hình 1.12 cho thấy phần
Trang 27công tổn thất của mỗi xi lanh khi chỉ có 3 xi lanh làm việc là rất thấp đồng thời ở 3
xi lanh được ngắt giảm thì công tổn thất được giảm hoàn toàn [6]
Do đó việc ngắt giảm số xi lanh làm việc đem lại kết quả tốt hơn khi động cơ làm việc ở chế độ tải nhỏ Đặc biệt về mặt tiết kiệm nhiên nhiệu như được chỉ ra Hình 1.13, sự tiết kiệm nhiên liệu rất cao khi chỉ hoạt động 3 xi lanh ở chế độ tải nhỏ và 4 xi lanh ở tải trung bình thay vì hoạt động cả 6 xi lanh ở cùng điều kiện tải
Hình 1.13: So sánh hiệu quả kinh tế nhiên liệu khi ngắt xi lanh
Theo các số liệu thống kê của Gilbert Peters cho thấy khi động cơ hoạt động
ở tải thấp với hai xi lanh được ngắt giảm thì hiệu suất làm việc động cơ cải thiện được 20% Khi ở chế độ không tải, áp suất hiệu dụng đầu ra BMEP 2 bar, ở số vòng quay động cơ 2000 vòng/phút thì cải thiện hiệu suất động cơ là 16% Khi thử ở điều kiện BMEP thấp, phương pháp ngắt giảm xi lanh giúp làm giảm khí xả HC 10 - 40% do nhiệt độ trong xi lanh làm việc thường xuyên cao Nhưng khi BMEP cao thì
sự tiêu hao nhiên liệu và lượng khí xả HC đều tăng do làm giảm hiệu suất nạp [3]
Trang 28 Nhƣợc điểm
Động cơ làm việc ồn hơn bình thường do các xi lanh còn lại làm việc với công suất cao
Sự rung giật sẽ diễn ra khi động cơ hoạt động
Đòi hỏi độ bền chi tiết động cơ cao vì dễ bị mòn do va đập giữa các chi tiết nhất là với các chi tiết xú páp và liên quan đến xú páp trên động cơ điều khiển không trục cam (camless)
1.4.2 Các lợi ích của hệ thống điều khiển xi lanh biến thiên (ngắt xi lanh)
Giảm tiêu hao nhiên liệu
Khi ngắt giảm xi lanh thì trục cam không phải đội các xú páp của các xi lanh
đó dẫn đến giảm hao phí công suất và lực ma sát Ví dụ khảo sát trên xe được trang
bị động cơ 4 xi lanh dung tích 2.0 lít Giả sử động cơ hoạt động ở công suất không đổi là 6(Kw), tốc độ động cơ là 2300(vòng/phút), xe chạy ổn định ở tốc độ 80 Km/h
và moment xoắn sinh ra là 25 Nm Gọi W là đặc trưng cho tải động cơ [J/dm3
],
Tengine là moment xoắn động cơ [Nm] và Vactive là thể tích của các xi lanh hoạt động [dm3] Thì W được tính theo công thức sau [9]
2πT W=
V
engine active
Bảng 1.1: Đặc tính tiêu hao nhiên liệu SFC: Specific Fuel Consumption
Trang 29Bảng 1.1 cho thấy sự cải thiện hiệu suất và giảm tiêu hao nhiên liệu phụ thuộc vào số xi lanh hoạt động Các cuộc thử nghiệm cụ thể sẽ cho ta thấy rõ hơn lợi ích về tiêu hao nhiên liệu của việc ngắt giảm xi lanh Làm thử nghiệm sử dụng động cơ 4 xi lanh mà có 2 xi lanh bị ngắt giảm cho thấy khi chạy trên đường thì nó
có thể giảm suất tiêu hao nhiên liệu từ 20 – 30% Còn với một động cơ 6 xi lanh thẳng hàng được thử nghiệm theo chu trình NEDC (New European Driving Cycle)
nó có thể cải thiện được 25,4% suất tiêu hao nhiên liệu khi ngắt giảm 3 xi lanh, một trường hợp khác là động cơ V8 dung tích 5 lít của Mercedes-Benz nó giảm 6,5% khi thử nghiệm theo chu trình NEDC và 10,3% khi thử nghiệm theo chu trình American FTP (Federal Test Procedure) với 4 xylanh bị ngắt giảm [9]
Hình 1.14: (a) biểu đồ đặc trƣng cho hiệu suất của động cơ khi hoạt động ở các
chế độ 1,2,3 và 4 xi lanh
(b) sự thay đổi của đặc tính tiêu hao nhiên liệu theo tải động cơ
Biểu đồ hình 1.14 cho thấy mặc dù các điểm hoạt động không nằm trong vùng làm việc tối ưu nhưng sự thay đổi thể tích xi lanh làm các điểm hoạt động dịch chuyển dần về vùng làm việc tối ưu, nhờ đó cải thiện được mức tiêu hao nhiên liệu Bên cạnh đó, biểu đồ còn cho thấy với cùng dung tích động cơ, nếu sử dụng nhiều
xi lanh có thề tích nhỏ hơn (ví dụ như động cơ 5 hay 6 xi lanh) thì có khả năng cải thiện đặc tính tiêu hao nhiên liệu tốt hơn và đưa mức tải động cơ mong muốn đến gần mức tải lý tưởng của động cơ [9]
Trang 30 Giảm ô nhiễm môi trường
Nhờ việc ngắt bớt các xi lanh không cần thiết, nên lượng khí thải phát thải ra môi trường cũng giảm theo, góp phần giảm ô nhiễm môi trường Theo số liệu thống
kê cho thấy công nghệ điều khiển xi lanh biến thiên có thể giảm lượng khí CO2 từ 2.1% - 8.0% [3]
Nâng cao công suất động cơ nhờ vào việc giảm công hao phí (pumping loss)
Khi động cơ hoạt động ở chế độ tải nhỏ hoặc trung bình thì cánh bướm ga
mở nhỏ, làm tăng độ chân không phía sau cánh bướm ga, dẫn đến sự chênh lệch áp suất giữa đường ống nạp và buồng đốt là tương đối nhỏ Do đó, pít tông phải tiêu hao một phần năng lượng để hút hòa khí vào buồng đốt Bên cạnh đó, ở kỳ thải thì pít tông cũng tốn một phần năng lượng để đẩy khí cháy ra ngoài do sự cản trở của đường ống thải (tổn thất này là không đổi) Tổng năng lượng tiêu hao cho hai quá trình này được gọi là tổn thất bơm (hình 1.15) Tổn thất này nhỏ khi xe hoạt động ở tải lớn (cánh bướm ga mở lớn) và tăng dần khi xe hoạt động ở tải trung bình và thấp (cánh bướm ga mở nhỏ) do sức cản của cánh bướm ga Như vậy, khi ngắt giảm xi lanh thì những xi lanh còn lại phải hoạt động ở mức tải cao hơn (cánh bướm ga mở lớn hơn) để đảm bảo đủ công suất Mục đích là làm giảm tổn thất bơm, nâng cao công suất động cơ [2]
Hình 1.15: Đồ thị công P-V của động cơ xăng
Trang 311.5 Mục đích nghiên cứu
Chúng ta thấy rằng từ khi ra đời đến nay công nghệ xi lanh biến thiên đã thể hiện rõ nhiều ưu điểm Như đã trình bày trong phần tổng quan, ta đã thấy rõ ưu nhược điểm của từng loại hệ thống dùng để ngắt xi lanh Các công trình nghiên cứu
từ trước đến nay đã cố gắng giải quyết các nhược điểm của từng loại hệ thống ngắt
xi lanh theo những cách khác nhau, nhưng hầu hết là cải tiến thiết kế chế tạo những động cơ mới, do đó cấu trúc phức tạp và giá thành lại rất đắt Trong nội dung nghiên cứu của đề tài này chỉ giới hạn trong việc nghiên cứu thiết kế chế tạo và thử nghiệm trên động cơ đã có sẵn nên giảm được chi phí khi thực hiện đề tài
- Từ mô hình động cơ Hyundai G4EK thiết kế chế tạo hệ thống điều khiển ngắt xi lanh
- Tiến hành thử nghiệm thu thập các thông số về suất tiêu hao nhiên liệu
và nồng độ khí thải
- Từ kết quả thu thập được sau khi thử nghiệm đưa ra so sánh, phân tích, đánh giá ưu điểm, nhược điểm trong các chế độ ngắt 1 xi xanh, ngắt 2 xi lanh và không ngắt xi lanh
- Đề xuất phương án cải tiến tối ưu hơn có thể
1.6 Đối tƣợng nghiên cứu
- Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu chế tạo và thử nghiệm hệ thống điều khiển ngắt xi lanh trên động cơ Hyundai G4EK
- Tập trung nghiên cứu thu thập các tín hiệu đầu vào để điều khiển hệ thống ngắt 1 hoặc 2 xi lanh
- Thử nghiệm
1.7 Phạm vi nghiên cứu và giới hạn của đề tài
- Nghiên cứu thiết kế chế tạo và thử nghiệm hệ thống điều khiển ngắt xi lanh trên động cơ Hyundai G4EK
Trang 32- Sử dụng phần mềm vi điều khiển Arduino kết hợp với tín hiệu cảm biến
vị trí bàn đạp ga để điều khiển ngắt xi lanh theo từng chế độ hoạt động khác nhau
- Thực nghiệm đo đạc đánh giá lượng nhiên liệu tiêu hao và nồng độ khí thải trong từng chế độ ngắt xi lanh
- Chưa tối ưu hóa được tính năng cân bằng động cơ
- Chưa đánh giá được công suất động cơ phát ra trên băng thử công suất
1.8 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài đã kết hợp 2 phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Ngoài việc sử dụng cơ sở lý thuyết về động cơ đốt trong đề tài còn kết hợp lý thuyết về điều khiển ngắt xi lanh (Cylinder Deactivation) trên cơ sở các bài báo nước ngoài
- Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm: Dựa trên mô hình sau khi đã chế tạo tiến hành thử nghiệm, thu thập số liệu phân tích đánh giá
1.9 Nội dung nghiên cứu
Nội dung chủ yếu của đề tài này chính là nghiên cứu thiết kế chế tạo và thử nghiệm hệ thống điều khiển ngắt xi lanh, trong quá trình thực hiện đề tài có thể chia làm các nội dung cụ thể như sau:
- Dựa vào cách bố trí cơ cấu phân phối khí trên động cơ Hyundai G4EK tiến hành thiết kế chế tạo các bộ phận cơ khí để điều khiển các xú páp mở hoàn toàn khi ngắt xi lanh
- Dựa vào tín hiệu cảm biến vị trí bàn đạp ga, thu thập tín hiệu này làm tín hiệu đầu vào để điều khiển ngắt 1 hoặc 2 xi lanh
- Sử dụng phần mềm vi điều khiển Arduino lập trình để điều khiển 2 mô tơ của cơ cấu chấp hành
- Thử nghiệm đánh giá các chỉ số về suất tiêu hao nhiên liệu, nồng độ khí thải trong từng trường hợp ngắt 1 xi lanh, ngắt 2 xi lanh và khi không ngắt xi lanh
Trang 331.10 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Ý nghĩa khoa học:
Về mặt khoa học thì đề tài này đã ứng dụng thành công cơ sở lý thuyết về điều khiển ngắt xi lanh trên động cơ từ các nguồn tài liệu và các bài báo, tạp chí nước ngoài Thành công của đề tài sẽ là nền tản để thực hiện các bước nghiên cứu tiếp theo, đồng thời cũng là cơ sở cho nhà trường và các trung tâm nghiên cứu thiết kế chế tạo ô tô trong nước từng bước xây dựng phòng thí nghiệm, thiết kế, tính toán,
mô phỏng, thử nghiệm nhằm giảm lượng nhiên liệu tiêu hao cũng như hạn chế gây
ô nhiễm môi trường
Qua đó, đề xuất với cơ quan có thẩm quyền, các nhà sản xuất ô tô trong nước thực hiện các tính toán thiết kế theo tiêu chuẩn quốc tế đề ra Đây cũng chính là tính cấp thiết có ý nghĩa quan trọng cho ngành kỹ thuật ô tô trong nước nhanh chóng thực hiện cải tiến tính toán thiết kế tăng tính cạnh tranh nội địa hóa sản phẩm để hòa nhập với ngành kỹ thuật ô tô tiên tiến trên thế giới
Ý nghĩa thực tiễn:
Hiện nay ở nước ta ô tô là phương tiện giao thông quan trọng nó góp phần giải quyết nhu cầu đi lại của con người và hầu hết các lĩnh vực khác góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển Nhưng do ngành kỹ thuật ô tô nước ta còn hạn chế về kỹ thuật và công nghệ nên đa số các phương tiện giao thông như ( ô tô con, xe khách,
xe buýt,…) chủ yếu là nhập khẩu hoặc nhập các linh kiện từ các hãng sản xuất ô tô nước ngoài về lắp ráp
Tuy nhiên, trước vấn đề ô nhiễm môi trường do khí thải ô tô ngày càng trở nên trầm trọng, nguồn nhiên liệu hóa thạch ngày một cạn kiệt thì đây là một đề tài mang tính cấp thiết cần được thực hiện
Trang 34CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Lịch sử phát triển
Phát minh tiền thân cho công nghệ điều khiển xi lanh biến thiên là loại động
cơ bật – tắt (hit and miss engine) ở thế kỉ 19 Thay vì sử dụng bướm ga để thay đổi tốc độ quay trục khuỷu, thì động cơ này giảm tốc độ bằng cách ngừng làm việc, và khi muốn tăng duy trì tốc độ, động cơ sẽ làm việc trở lại [8]
Hình 2.1: Động cơ bật – tắt (hit and miss engine)
Cuộc thử nghiệm động cơ điều khiển xi lanh biến thiên đầu tiên được Cadillac thực hiện trên động cơ V8 vào năm 1981 và trở thành tiêu chuẩn cho các mẫu xe Cadillac trừ dòng xe Seville Việc hợp tác với Eaton Corporation đã giúp Cadillac phát triển hệ thống điều khiển động cơ V-8-6-4 sử dụng ECU đầu tiên cho phép chuyển đổi động cơ từ trạng thái 8 về 6 rồi về 4 xi lanh tùy thuộc vào công suất sử dụng Hệ thống này điều khiển tắt 2 xi lanh nằm đối diện, do đó động cơ có thể làm việc ở 3 chế độ khác nhau (8, 6 hoặc 4 xi lanh) Nhưng có một số vấn đề rắc rối xảy ra và những hỏng hóc không thể lường trước đã kìm hãm sự phát triển của công nghệ này [8]
Trang 35Hình 2.2: Mẫu xe Cadillac Eldorado 1981
Một năm sau đó, Mitsubishi phát triển hệ thống tương tự có tên MD (Modulated Displacement) trên động cơ 1.4L 4 xi lanh thẳng hàng Bởi vì hệ thống của Cadillac gặp trục trặc và không được sử dụng trên động cơ 4 xi lanh nên Mitsubishi tự hào là hãng đầu tiên trên thế giới áp dụng công nghệ này Hãng xe Nhật tiếp tục ứng dụng công nghệ MD lên động cơ V6 Năm 1993, một năm sau khi Mitsubishi phát triển công nghệ trục cam biến thiên, Mivec-MD được giới thiệu đã làm sống lại công nghệ MD lần 2 với bộ điều khiển điện tử cho phép chuyển đổi động cơ từ 4 xi lanh về 2 xi lanh một cách trơn tru Mivec-MD làm giảm mức tiêu thụ nhiên liệu từ 10-20%, dù bước phát triển này là do công nghệ điều khiển trục cam chứ không phải hệ thống điều khiển xi lanh biến thiên Vì thế, năm 1996, Modulated Displacement bị loại bỏ [8]
Trang 36Hình 2.3: Mẫu xe Mitsubishi Lancer sử dụng công nghệ MD
Cuối thập kỷ 90, Mercedes thử nghiệm công nghệ điều khiển xi lanh biến thiên lên động cơ V12, tiếp sau đó DaimlerChrysler, GM và Honda cũng giới thiệu những công nghệ tương tự Năm 1998, DaimlerChrysler đã giới thiệu lại công nghệ ngắt giảm xi lanh trên động cơ 5.0L V8 và 6.0L V12, được Mercedes- Benz sử dụng Hệ thống này có thể ngắt giảm 4 đến 6 xi lanh Hãng Honda cũng áp dụng công nghệ này nhưng với tên gọi là Variable Cylinder Management (VCM) vào năm 2005 trên động cơ xăng 3.5L V6, nhưng chỉ có thể ngắt được 1 trong 3 xi lanh nằm thẳng hàng Và đến năm 2008 công nghệ này một lần nữa được cải tiến và sử dụng trên dòng xe Honda Accord có thể ngắt xen kẻ 3 hoặc 4 xi lanh tương ứng với
Trang 37Hình 2.4: Động cơ V6 3.5L của Honda Accord
Năm 2014 công nghệ quản lý xi lanh biến thiên phiên bảng hai (Variable Cylinder Management II) ra đời và được Honda ứng dụng trên dòng xe sang Honda Acura, cho phép xi lanh được tắt ở tốc độ trung bình đồng thời độ ma sát giữa bạc piston và xi lanh được cải thiện rất nhiều nhờ được bôi trơn tốt hơn từ đó giúp tăng hiệu quả kinh tế nhiên liệu khi trên đường cao tốc [8]
Hình 2.5: Động cơ V6 của Honda Acura [8]
Trong những năm gần đây tình trạng ô nhiễm môi trường do khí thải ô tô, giá nhiên liệu liên tục tăng cao và nhằm giảm bớt sự lệ thuộc vào nguồn nhiên liệu hoá thạch, các nhà sản xuất ô tô cũng như người tiêu dùng đang tìm kiếm những loại động cơ tiết kiệm nhiên liệu đồng thời đảm bảo công suất hoạt động điển hình như: Ford Ecoboost I-3, Volvo Drive 3 xi lanh, Hyundai Kappa, các dòng xe 3 xi lanh
Trang 38của Audi, GM với công nghệ “bỏ lửa”…Điều này sẽ là một cơ hội để công nghệ điều khiển xi lanh biến thiên tiếp tục phát triển trong tương lai
2.2 Điều khiển ngắt giảm xi lanh chủ động (đóng các xú páp nạp và xả)
Việc ngắt giảm xi lanh làm cho các xú páp nạp và thải đóng lại ở tất cả các chu
kỳ của hoạt động của động cơ, hỗn hợp không khí trong buồng đốt bị cô lập với bên ngoài Lúc này, chúng có vai trò như một chiếc lò xo Nó sẽ bị nén khi pít tông đi từ ĐCD lên ĐCT và giãn nở trong hành trình ngược lại từ ĐCT xuống ĐCD Quá trình giãn nở của khối khí cô lập tạo sự cân bằng tổng thể, đồng thời không gây ra phụ tải cho động cơ Việc điều khiển ngắt xi lanh được thực hiện bởi một trong hai phương pháp phổ biến sau
2.2.1 Điều khiển ngắt xi lanh trên động cơ truyền thống
Hình 2.6: Vô hiệu hoá các xú páp bằng dầu thuỷ lực
Việc ngắt giảm xi lanh bằng cách sử dụng các van điện từ để thay đổi áp suất dầu làm vô hiệu hóa tác động của con đội đến xú páp Lúc này trục cam vẫn tác động lên con đội nhưng con đội không tác dụng lên xú páp, dẫn đến xú páp được giữ đóng kín Đồng thời lúc đó hệ thống điều khiển động cơ sẽ ngưng điều khiển phun xăng và đánh lửa đến các xi lanh này, khi đó pít tông chạy trơn và nén khí nên chúng không thể hoạt động [2]
Trang 392.2.2 Điều khiển ngắt xi lanh trên động cơ không trục cam (camless)
Đối với động cơ không trục cam thì rất đơn giản, chỉ cần ECU không điều khiển cho các xú páp mở ra và đồng thời ngắt nhiên liệu và không điều khiển đánh lửa thì việc ngắt giảm xi lanh được thực hiện [2]
Hình 2.7: Vô hiệu hoá các xú páp bằng điện từ 2.2.3 Điều khiển ngắt xi lanh biến thiên vô định trên động cơ
Hình 2.8: Điều khiển ngắt xi lanh biến thiên bất kỳ
Trang 40Với công nghệ này các xi lanh được điều khiển ngắt biến thiên bất kỳ tuỳ theo điều kiện hoạt động trên đường không tuân theo thứ tự chẵn- lẻ, giúp động cơ hoạt động êm ít rung động và nhiệt độ động cơ được phân tán đồng đều [8]
2.3 Thời điểm ngắt xi lanh
Theo nghiên cứu thì có 3 thời điểm được chọn để bắt đầu thực hiện việc ngắt làm việc của xi lanh :
- Trước kỳ xả
- Sau kỳ nạp
- Sau kỳ xả và trước kỳ nạp
Hình 2.9: Vị trí ngắt xi lanh trên đồ thị công
Việc chọn mỗi vị trí xi lanh đều có hiệu quả riêng cho quá trình làm việc của động cơ Khi chọn ngắt xi lanh tại vị trí 1 (trước kỳ xả) như trên hình 2.20, lúc này các xú páp đều được đóng lại trước kỳ xả vì thế toàn bộ lượng khí cháy bị giữ lại trong xi lanh, điều này sẽ tạo ra một lò xo khí với lực cản lớn hơn do khí thải có nhiệt độ cao và làm áp lực đầu kỳ nén cao hơn hai trường hợp còn lại
Xong ở trường hợp này lại đem đến hiệu quả cho hiệu suất của động cơ, do
xi lanh luôn được hâm nóng vì lượng khí xả với nhiệt độ cao bị giữ lại trong xi lanh.Trong trường hợp chọn thời điểm ngắt xi lanh ở vị trí 2 (sau kỳ nạp) như trên