1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA CÔNG ƯỚC QUỐC TẾ VỀ QUY CHẾ NGƯỜI KHÔNG QUỐC TỊCH

88 26 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 545 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số điều khoản chính của công ước 1954 Công ước được quy định thành 6 chương với 42 điều và kèm theo 01 phụlục với 13 mục, quy định các nội dung cơ bản: định nghĩa người không quốctịc

Trang 1

HỘI ĐỒNG PHỐI HỢP PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT TRUNG ƯƠNG

ĐẶC SAN TUYÊN TRUYỀN PHÁP LUẬT

Số: 8/2014

CHỦ ĐỀ

MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA CÔNG ƯỚC QUỐC TẾ

VỀ QUY CHẾ NGƯỜI KHÔNG QUỐC TỊCH

HÀ NỘI - NĂM 2014

Trang 2

CHỦ ĐỀ

MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA CÔNG ƯỚC QUỐC TẾ

VỀ QUY CHẾ NGƯỜI KHÔNG QUỐC TỊCH

Trang 3

Phần thứ nhất NỘI DUNG CÔNG ƯỚC 1954 VỀ QUY CHẾ

NGƯỜI KHÔNG QUỐC TỊCH

1 Bối cảnh ra đời và vai trò của công ước 1954

Trước giai đoạn 1950, không có sự phân biệt giữa những người khôngquốc tịch và người tị nạn Họ đều không nhận được sự bảo trợ từ quốc giagốc cũng như quốc gia mà họ tới cư trú sinh sống Cả hai đối tượng này đềunhận được sự bảo trợ quốc tế từ các tổ chức tị nạn quốc tế, đặc biệt là Cao ủyLiên hiệp quốc về người tị nạn (tiếng anh: United Nations HighCommissioner for Refugees, viết tắt là UNHCR) Sau năm 1951, với sự rađời của Công ước 1951 về Quy chế người tị nạn, khái niệm người tị nạn đãđược quy định cụ thể trong hệ thống luật pháp quốc tế và người tị nạn đãnhận được nhiều sự bảo hộ quốc tế hơn như đã được quy định trong Côngước năm 1951 Tuy nhiên sau chiến tranh Thế giới thứ II, hàng nghìn người

đã phải rời bỏ nhà cửa, đi lánh nạn tại các nước khác và vì nhiều lý do đãkhông chứng minh được mối liên hệ với nước gốc của mình Người khôngquốc tịch và quy chế dành cho người không quốc tịch chỉ được quy định cụthể trong hệ thống luật pháp quốc tế vào năm 1954 sau khi Công ước 1954 vềQuy chế người không quốc tịch được ký chính thức tại New York (trên thực

tế, Công ước 1954 ban đầu được dự thảo như là Nghị định thư của Công ước

1951 về Quy chế người tị nạn và nhằm mục đích thể hiện mối liên hệ giữangười tị nạn và những người không quốc tịch Trong thời gian này, do nhucầu cấp thiết là ổn định xã hội, bảo đảm an ninh công cộng và tái thiết sauChiến tranh Thế giới lần thứ II cũng như sự tan rã trong Tổ chức Quốc tế vềNgười tị nạn (tiền thân của UNHCR), vấn đề người tị nạn và người lánh nạn

đã được ưu tiên giải quyết trước)

Công ước 1954 về quy chế của người không quốc tịch được Liên hiệp

quốc thông qua ngày 28/9/1954, có hiệu lực từ ngày 06/6/1960 (Phụ lục 1:

Công ước 1954 về quy chế của người không quốc tịch) Đây là văn kiện quốc

Trang 4

tế đầu tiên được thông qua điều chỉnh và cải thiện tình trạng pháp lý củangười không quốc tịch và bảo đảm cho những người không quốc tịch có cácquyền cơ bản và quyền tự do mà không bị phân biệt đối xử.

Công ước 1954 về quy chế của người không quốc tịch đã được thôngqua tại Hội nghị của Liên hiệp quốc về tình trạng người không quốc tịch, tổchức tại trụ sở của Liên hiệp quốc tại New York từ ngày 13 đến ngày23/9/1954 Hội nghị đã được triệu tập theo Nghị quyết số 526A (XVII) ngày26/4/1954 của Hội đồng kinh tế và xã hội của Liên hiệp quốc Để phục vụcho luật cuối cùng, các ý kiến đóng góp và giải pháp đã được thông qua tạiHội nghị và được ghi nhận tại trang 117, quyển 360 hệ thống các hiệp ướccủa Liên hiệp quốc

Công ước về quy chế (tình trạng – vị thế) của người không quốc tịchnăm 1954, với mục đích cải thiện tình trạng pháp lý của người không quốctịch nhằm nâng cao vị thế của những người không quốc tịch quy định cácđiều khoản và các biện pháp để bảo vệ quyền và lợi ích của những ngườikhông quốc tịch hiện đang sinh sống tại các quốc gia trên thế giới

2 Một số điều khoản chính của công ước 1954

Công ước được quy định thành 6 chương với 42 điều và kèm theo 01 phụlục với 13 mục, quy định các nội dung cơ bản: định nghĩa người không quốctịch; đối tượng thuộc phạm vi điều chỉnh của công ước; địa vị pháp lý và tàisản của người không quốc tịch; các nguyên tắc áp dụng cho các quốc giathành viên tham gia Công ước để có những biện pháp thực hiện đối với ngườikhông quốc tịch, đảm bảo việc những người không quốc tịch được đối xửbình đẳng như những người có quốc tịch

Định nghĩa về người không quốc tịch: Điều 1 Công ước 1954 quy

định theo mục đích của Công ước, thuật ngữ “Người không quốc tịch” đượchiểu là một người không được bất kỳ quốc gia nào coi là công dân theo phápluật hiện hành của quốc gia đó

Trang 5

Đây là một định nghĩa pháp lý khá chặt chẽ và khái quát Nó không đisâu phân tích vào việc xác định thế nào là quốc tịch, đặc trưng của quốctịch, hay cách mà quốc tịch được cấp hoặc quyền được nhận quốc tịch; màchỉ hướng tới mô tả một thực tế pháp lý đơn giản, một hậu quả pháp luậttrong việc xác định ai là người có quốc tịch dựa theo quy định trong phápluật về quốc tịch hiện hành của các nước Tuy nhiên, các quy định trongCông ước cũng có những nguyên tắc liên quan đến việc xin, cho, mất và từchối quốc tịch – những nguyên tắc quan trọng trong việc xác định ai nênđược vào quốc tịch nếu áp dụng pháp luật.

Những người không được Công ước 1954 điều chỉnh: Công ước này

không áp dụng đối với:

- Những người mà vào thời điểm Công ước có hiệu lực, đang nhận sựgiúp đỡ của các cơ quan của Liên hợp quốc trừ Cao ủy Liên hợp quốc vềngười tỵ nạn;

- Những người đã có những quyền và nghĩa vụ gắn với việc có quốctịch ở nước mà họ cư trú Nói một cách khác, khi cá nhân đã có được quy chếpháp lý tối đa có thể (quy chế tương đương với quy chế của công dân), việctham gia Công ước của nước đó với những quy định kém rộng rãi hơn so vớiquy định người không quốc tịch được hưởng theo luật quốc gia, sẽ không làmhỏng các quyền này Tuy nhiên, phải nhận thức tầm quan trọng của chínhquốc tịch;

- Những người mà đối với họ có lý do để thực sự cho rằng:

+ Họ đã phạm tội ác chống lại hòa bình, tội ác chiến tranh hoặc tội ácchống nhân loại;

+ Họ đã phạm tội nghiêm trọng phi chính trị bên ngoài nước mà họđang cư trú trước khi họ vào cư trú ở nước này;

+ Họ đã có những hành vi sai trái đi ngược lại mục đích và cácnguyên tắc của Liên hợp quốc

Trang 6

Những người đủ tư cách: Việc quyết định xem liệu một người có

được quyền hưởng lợi ích của Công ước này hay không do mỗi quốc giathành viên định đoạt phù hợp với các thủ tục quy định của riêng họ và có thểđược đưa ra tùy thuộc vào việc cho phép cư trú hợp pháp Cao ủy Liên hợpquốc về người tỵ nạn, nếu được yêu cầu, sẵn sàng đóng vai trò tư vấn trongnhững thủ tục này, dựa trên kinh nghiệm của Văn phòng Cao ủy về nhữngvấn đề liên quan đến không quốc tịch và quốc tịch

Những điều khoản liên quan đến vị thế của người không quốc tịch:

Công ước gồm những điều khoản về quyền và nghĩa vụ của người khôngquốc tịch gắn với quy chế pháp lý của họ tại nước cư trú Những quyền nàygồm quyền khiếu nại tại tòa án, quyền sở hữu tài sản và quyền tự do thựchành tôn giáo Các nghĩa vụ bao gồm tuân thủ pháp luật và các quy định củanước cư trú Công ước còn đề cập đến nhiều vấn đề có ảnh hưởng quan trọngđến đời sống hàng ngày như làm việc có thu nhập, giáo dục phổ cập, đượccứu trợ xã hội, luật lao động và an sinh xã hội Các nước ký kết được khuyếnkhích dành cho người không quốc tịch cư trú hợp pháp trên lãnh thổ nướcmình tiêu chuẩn đối xử trong một số trường hợp ngang với tiêu chuẩn dànhcho công dân nước mình và trong những trường hợp khác ngang với côngdân nước ngoài hoặc người nước ngoài nói chung trong cùng hoàn cảnh

Căn cước và giấy thông hành: Công ước quy định rằng một cá nhân

được công nhận là người không quốc tịch theo quy định của Công ước phảiđược ký kết cấp căn cước và giấy thông hành Việc cấp giấy thông hànhkhông có nghĩa là cấp quốc tịch, không làm thay đổi quy chế của cá nhân đó,

và không trao cho sự bảo hộ quốc gia hoặc quyền được bảo hộ ở cơ quan đạidiện ngoại giao hoặc lãnh sự Tuy nhiên, các giấy tờ này đặt biệt quan trọngđối với những người không quốc tịch trong việc tạo thuận lợi cho họ khi điđến các nước khác để học tập, làm việc, chữa bệnh và nhập cư Phù hợp vớiPhụ lục của Công ước, mỗi nước ký kết cam kết công nhận giá trị của giấythông hành do các nước ký kết khác cấp Cao ủy Liên hợp quốc về người tỵnạn sẵn sàng cung cấp tư vấn kỹ thuật về việc cấp giấy tờ này

Trang 7

Trục xuất: Người không quốc tịch không thể bị trục xuất, trừ khi có lý

do về an ninh quốc gia và trật tự công cộng Việc trục xuất phải tuân theo đầy

đủ các quy trình pháp luật trừ khi có lý do bắt buộc về an ninh quốc gia Nghịquyết cuối cùng chỉ ra rằng nguyên tắc không đẩy trở lại khi có nguy cơ bịngược đãi là một nguyên tắc chung đã được chấp nhận Vì thế, các nhà soạnthảo đã không cảm thấy cần thiết phải khẳng định lại điều này trong các điềukhoản của một công ước được xây dựng để điều chỉnh Quy chế Người khôngquốc tịch theo pháp luật

Nhập quốc tịch: Quốc gia ký kết sẽ cố gắng tạo điều kiện thuận lợi

nhất có thể cho những người không quốc tịch hòa nhập và nhập quốc tịch Cụthể, Quốc gia ký kết sẽ nỗ lực hết mình để đẩy nhanh quá trình nhập quốctịch trong đó bao gồm cả việc giảm phí và lệ phí khi có thể

Giải quyết tranh chấp: Những tranh chấp giữa các Quốc gia thành

viên không giải quyết được bằng các biện pháp khác sẽ được đưa ra Tòa ánquốc tế khi một bên tranh chấp yêu cầu

Bảo lưu: Thừa nhận một số điều kiện đặc biệt tồn tại ở mỗi quốc gia

khi phê chuẩn hoặc gia nhập, Công ước cho phép các nước ký kết bảo lưumột số điều khoản nhất định Việc bảo lưu có thể được thực hiện đối với bất

cứ điều khoản nào của Công ước trừ những điều khoản mà các nhà soạn thảoxác định là có tính chất nên tảng của Công ước Vì vậy, không được bảo lưuđối với trường hợp ở Điều 1 (định nghĩa/loại trừ), Điều 3 (không phân biệt,đối xử), Điều 4 (tự do tôn giáo), Điều 16(1) (tự do liên hệ với tòa án), vàĐiều 33 đến Điều 42 (những điều khoản cuối cùng)

Nghị quyết cuối cùng: Nghị quyết cuối cùng khuyến nghị rằng mỗi

nước ký kết cần xem xét một cách cảm thông khả năng dành cho một ngườiđược đối xử như sự đối xử mà Công ước dành cho những người không quốctịch khi những người này công nhận những lý do mà người đó đưa ra để từ bỏ

sự bảo hộ của nước mà họ là công dân Khuyến nghị này được đưa thêm vàonhân danh những người không quốc tịch trên thực tế, những người về mặt kỹ

Trang 8

thuật vẫn còn giữ quốc tịch nhưng không được hưởng các quyền lợi gắn vớiquốc tịch, chẳng hạn như bảo hộ quốc gia.

3 Vai trò của Cao ủy của Liên hợp quốc về người tỵ nạn (UNHCR) đối với vấn đề không quốc tịch

Cao ủy của Liên hợp quốc về người tỵ nạn luôn có trách nhiệm đốivới những người tỵ nạn không có quốc tịch, theo như chức năng được quyđịnh của mình về việc cung cấp sự bảo hộ quốc tế cũng như theo Công ướcnăm 1951 về Địa vị của người tỵ nạn Hơn thế nữa, trong những năm gầnđây, Văn phòng cao ủy đã được khuyến khích tìm cách tiến hành nhữngbiện pháp phòng ngừa bằng việc giải quyết những nguyên nhân dẫn đếnviệc di cư không tự nguyện Rõ ràng, việc thực hiện một quốc tịch thật sự

và khả năng thực hiện những quyền gắn liền với quốc tịch đóng vai trò nhưnhững nhân tố ổn định trong việc ngăn ngừa những sự dịch chuyển không tựnguyện và do cưỡng ép giữa các quốc gia

Có một mối liên hệ giữa việc mất và việc từ chối sự bảo hộ quốc gia

và việc tình trạng không quốc tịch là một khía cạnh quan trọng trong việcbảo vệ những quyền của người thiểu số Trong khi những quyền con người

cơ bản của người không quốc tịch về nguyên tắc là phải được tôn trọng tạinước mà họ cư trú thực sự, rõ ràng là có những người không quốc tịchkhông thể nhận được sự bảo hộ quốc gia cần thiết để có được một cuộc sống

ổn định Việc ngăn ngừa và giảm tình trạng không quốc tịch và sự bảo hộđối với những người không quốc tịch là quan trọng cho việc ngăn ngừanguy cơ về tình trạng di cư trong tương lai

Cao ủy của Liên hợp quốc về người tỵ nạn được Đại hội đồng Liênhợp quốc trao cho nhiệm vụ hoàn thành chức năng được quy định theoĐiều 11 Công ước 1961 về giảm tình trạng không quốc tịch Khi Công ướcnăm 1961 có hiệu lực Cao ủy của Liên hợp quốc về người tỵ nạn được yêucầu tạm thời đảm nhiệm những nhiệm vụ theo quy định của Điều 11 “củamột cơ quan mà một người hưởng lợi ích từ Công ước này có thể đề nghị

Trang 9

giám sát những đòi hỏi và yêu cầu hỗ trợ của họ trong việc đưa vấn đề nàylên cơ quan có thẩm quyền thích hợp ” Như là một cơ quan được chỉ định

để hoạt động với vai trò trung gian giữa các Quốc gia và những ngườikhông quốc tịch theo như quy định Công ước năm 1961, Cao ủy của Liênhợp quốc về người tỵ nạn có nhiệm vụ cung cấp những ý kiến chuyên môntrong lĩnh vực luật quốc tịch của các Quốc gia thành viên Những nguyêntắc nêu trong Công ước năm 1961 có vai trò như một cơ sở thảm khảo đểxác định pháp luật quốc tế và đạt được sự đồng thuận quốc tế về vấn đềquốc tịch và đã được đưa vào một loạt các điều ước và văn kiện quốc tế,cũng như được đưa vào luật pháp quốc gia về quốc tịch

Do vậy, trong khi có một số lượng nhỏ các Quốc gia ký Công ước năm

1961, những nguyên tắc được nêu ra trong Công ước lại gắn liền với phápluật quốc gia về quốc tịch và thực hiện tại rất nhiều Quốc gia, và đóng vai trònhư một phương tiện để đạt được sự đồng thuận về những tiêu chuẩn pháp lýđược áp dụng trong lĩnh vực quốc tịch đối với vấn đề người không quốc tịch.Những tiêu chuẩn này bao gồm việc tránh tình trạng không quốc tịch và việctrao quốc tịch cho những người có mối liên hệ thực sự hay quan hệ thích hợpvới một Quốc gia

Cũng liên quan đến quan hệ của Cao ủy của Liên hợp quốc về người tỵnạn và các Quốc gia về vấn đề quốc tịch đó là Quyết định ngăn ngừa và giảmtình trạng không quốc tịch và Bảo vệ người không quốc tịch, được Ủy banđiều hành của Cao ủy và được Đại hội đồng Liên hợp quốc ủng hộ trongNghị quyết 50/152 ngày 09/02/1996 Đại hội đồng khuyến khích Cao ủy tiếptục các hoạt động của mình trong việc đại diện cho những người không quốctịch như là một phần của chức năng được quy định của mình trong việc cungcấp sự bảo hộ quốc tế và tìm kiếm những biện pháp phòng ngừa, cũng nhưnhững trách nhiệm theo như Nghị quyết của Đại hội đồng số 3274 (XXIV)ngày 10/12/1974 và số 31/36 ngày 30/11/1976, và giờ đây: “Yêu cầu vănphòng Cao ủy có cân nhắc đến số lượng hạn chế các Quốc gia tham gianhững văn kiện này, thúc đẩy việc gia nhập Công ước 1954 về Quy chế

Trang 10

người không quốc tịch và Công ước 1961 về giảm tình trạng không quốc tịch,cũng như cung cấp những dịch vụ kỹ thuật và tư vấn liên quan đến việcchuẩn bị và thực hiện luật pháp về quốc tịch của các Quốc gia liên quan”.

Để đạt được mục tiêu này, Cao ủy Liên hợp quốc về người tỵ nạn đãcung cấp những tư vấn và hỗ trợ cho chính phủ và các cá nhân trong vấn đềquốc tịch, trong đó bao gồm cả việc dự thảo và thực hiện luật pháp quốc gia

về quốc tịch Văn phòng sẽ tiếp tục cung cấp các dịch vụ kỹ thuật và tư vấn

và tăng cường việc thực hiện những Công ước về người không quốc tịch nhưmột phần trách nhiệm của mình theo quy định tại Điều 11 của Công ước năm1961,, cũng như trong việc đáp lại yêu cầu của Ủy ban điều hành của mình

để “cung cấp những dịch vụ kỹ thuật và tư vấn liên quan đến việc chuẩn bị vàthực hiện luật pháp quốc gia về quốc tịch”

Cao ủy Liên hợp quốc về người tỵ nạn quan tâm đến luật pháp quốc gia

về quốc tịch và tình trạng di cư Trong Nghị quyết năm 1996, Đại hội đồngthể hiện sự quan ngại của mình về việc “người không quốc tịch, bao gồm cảviệc không có khả năng xác minh quốc tịch của một người, có thể dẫn đếntình trạng di cư” Việc thiếu một quốc tịch hiệu quả bao gồm cả bảo hộ quốcgia cũng liên quan và có một loạt các án lệ trong đó tình trạng không quốctịch trên thực tế (de facto) được chỉ ra là có liên quan đến việc di cư dânchúng Trong khi một số người tỵ nạn là những người không quốc tịch theopháp luật (de jure), có rất nhiều người tỵ nạn là người không quốc tịch trênthực tế (de facto), làm loại người không quốc tịch này Hoặc nguy cơ hìnhthành nó, trở thành một khối quan ngại cho Văn phòng

4 Sự tham gia của các quốc gia trên thế giới đối với công ước 1954

Tính đến nay, ngoài 23 nước là thành viên sáng lập, hiện có thêm 62quốc gia gia nhập Trong số 23 nước là thành viên sáng lập, chỉ có 10 nướcsớm phê chuẩn công ước này là: Bỉ, Đan Mạch, Pháp, Isarel, Italia,Luxembourg, Hà Lan, Nauy và khối Liên hiệp Anh và Bắc Ai Len (từ năm

1954 đến 1964); một số nước phê chuẩn muộn hơn là: Thụy Sĩ, Thụy Điển,

Trang 11

Đức, Ecuador, Costarica (từ năm 1965 đến 1977); Brazil (năm 1996)Guatemala (năm 2000); Liechtenstein (năm 2009); Phillipin (năm 2011);Honduras (năm 2012) và có 03 quốc gia và vùng lãnh thổ chưa phê chuẩnCông ước là: Colombia, Elsavador, Holy See.

Có 16 nước được thụ hưởng từ các quy định của Công ước này là:Antigua và Barbuda; Barbados; Bosnia và Herzegovina; Botswana;Croatia; Fiji; Kiribati; Lesotho; Montenegro; Serbia; Slovenia; quần đảoSt.Vincent và the Grenadines; Cộng hòa Macedonia; Trinidad và Tobago;Zambia và Zimbabue

Tại Châu Á: Tính đến năm 2012, có 04 nước và vùng lãnh thổ tham giaCông ước là:

- Phillipines: tham gia ký kết công ước ngày 22/6/1955 và phê chuẩnngày 22/9/2011

- Hàn Quốc: Gia nhập Công ước ngày 22/8/1962

- Hồng Kông : Ngày 19/3/1962, với tư cách là vùng lãnh thổ thuộckhối liên hiệp Anh và Bắc Ailen, Hồng Kông đã tham gia Công ướcnày

- Singapore: với tư cách là vùng lãnh thổ thuộc khối liên hiệp Anh vàBắc Ailen cũng tham gia Công ước vào ngày 19/3/1962

Hiện nay, Việt Nam và Lào là hai nước Đông Nam Á đang nghiên cứukhả năng gia nhập Công ước 1954 về quy chế của người không quốc tịchnày

Trang 12

Danh sách các nước sáng lập, tham gia, thụ hưởng, phê chuẩn Công

ước 1954 về quy chế người không quốc tịch: 1

STT Thành viên Nước

sáng lập

(Signature)

Nước gia nhập

(Accession)

Nước được thừa

hưởng

(succession)

Nước phê chuẩn

Trang 16

Danh sách các vùng lãnh thổ tham gia Công ước 1954 về người không

quốc tịch 2

STT Thành viên Ngày

nhần được thông báo

Vùng lãnh thổ

1 Pháp 08/3/1960 - Một số khu vực thuộc Algeria,

Oases và Saoura

- Guadeloupe, Martinique và Guiana

- Năm vùng lãnh thổ ở nước ngoàibao gồm: New Caledonia và các vùngthuộc địa; khu vực Polynesia; khuvực Somali, Comoro Archipelago;Quần đảo St Pierre và Miquelon

2 Hà Lan 12/4/1962 New Guinea và Suriname

3 Khối liên

hiệp Anh và

14/4/1959 Quần đảo Channel và khu vực Isle of

Man07/12/1959 Vùng lãnh thổ toàn quyền của

2 Tham khảo thêm tại địa chỉ: https://treaties.un.org/pages/ViewDetailsII.aspx?

&src=UNTSONLINE&mtdsg_no=V~3&chapter=5&Temp=mtdsg2&lang=en#3

Trang 17

Bắc Ailen Basutoland, khu vực bảo hộ thuộc

Bechuanaland và Swaziland09/12/1959 Liên bang Rhodesia và Nyasaland19/3/1962 Bermuda; các khu vực thuộc vương

quốc Anh ở: Guiana, Honduras, quầnđảo Solomon được Anh bảo hộ, Quầnđảo Virgin; Thuộc địa Aden; Quầnđảo Falkland (Malvinas); Fiji;Gambia; Quần đảo Gilbert và Ellice;Hong Kong; Kenya; Malta;Mauritius; Bắc Borneo; Nam Borneo;

St Helena; Sarawak; Seychelles;Singapore; Uganda; Tây Ấn vàZanzibar

Trang 18

Phần thứ hai PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ NGƯỜI KHÔNG QUỐC TỊCH

I Khái niệm, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam đối với người không quốc tịch sống trên lãnh thổ Việt Nam.

1 Khái niệm người không quốc tịch ở Việt Nam

Theo quan niệm quốc tế, tình trạng không quốc tịch có 2 dạngchính: người không quốc tịch theo luật (du jure) nghĩa là một người khôngxin được xác nhận quốc tịch hoặc không được coi là công dân của mộtnước theo quy định của luật pháp nước đó và người không quốc tịch từthực tế (de factor) nghĩa là một người không thể có bất cứ giấy tờ gì đểchứng minh quốc tịch của mình

Khoản 2 Điều 2 Luật Quốc tịch Việt Nam 1998 đã giải thích cụm

từ “người không quốc tịch” là người không có quốc tịch Việt Nam và cũngkhông có quốc tịch nước ngoài Thuật ngữ này vẫn tiếp tục được sử dụng lạitại khoản 2 Điều 3 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 Quan điểm và chínhsách của Nhà nước ta về hạn chế tình trạng không quốc tịch được thể hiện tạiĐiều 8 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008: “Nhà nước Cộng hoà xã hội chủnghĩa Việt Nam tạo điều kiện cho trẻ em sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam đều

Trang 19

có quốc tịch và những người không quốc tịch thường trú ở Việt Nam đượcnhập quốc tịch Việt Nam theo quy định của Luật này”.

2 Chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam đối với người không quốc tịch sống trên lãnh thổ Việt Nam

Quyền có quốc tịch là một trong những quyền nhân thân cơ bản củacon người Ở Việt Nam, quyền này đã được ghi nhận tại Điều 17 Hiến phápnăm 2013: “Công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là người cóquốc tịch Việt Nam” Điều 45, Bộ luật Dân sự năm 2005 cũng khẳng định

“cá nhân có quyền có quốc tịch”

Đối với người không quốc tịch, chính sách nhất quán của Nhà nướcViệt Nam được thể hiện tại Điều 8 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 1998 và

tiếp tục được kế thừa trong Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008: “Nhà nước

Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tạo điều kiện cho trẻ em sinh ra trên lãnh thể Việt Nam đều có quốc tịch và những người không quốc tịch thường trú ở Việt Nam được nhập quốc tịch Việt Nam theo quy định của Luật này”.

Đối với trẻ em, quyền được khai sinh và có quốc tịch là một quyền cơbản đã được ghi nhận tại khoản 1 Điều 11 Luật giáo dục, bảo vệ và chăm sóc

trẻ em, theo đó, “trẻ em có quyền được khai sinh và có quốc tịch” Đặc biệt,

đối với những trẻ em khi sinh ra, vì một lý do nào đó mà quyền có quốc tịchnày có thể bị ảnh hưởng (do cha, mẹ hoặc cả cha và mẹ đều là người không

có quốc tịch; trẻ bị bỏ rơi…) thì pháp luật về quốc tịch cũng đã dự liệu cáctrường hợp này để đảm bảo mọi trẻ em khi sinh ra trên lãnh thổ Việt Namđều có quốc tịch Việt Nam Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 đã quy định:

“Trẻ em sinh ra trong hoặc ngoài lãnh thổ Việt Nam mà khi sinh ra có chahoặc mẹ là công dân Việt Nam còn người kia là người không quốc tịch hoặc

có mẹ là công dân Việt Nam con cha không rõ là ai thì có quốc tịch ViệtNam” (Khoản 1 Điều 16) Đối với trường hợp trẻ em sinh ra trên lãnh thổViệt Nam mà khi sinh có cha mẹ đều là người không quốc tịch hoặc có mẹ làngười không quốc tịch (còn cha không rõ là ai), nhưng có nới thường trú tại

Trang 20

Việt Nam thì có quốc tịch Việt Nam (Điều 17) Ngay cả trường hợp trẻ sơsinh bị bỏ rơi, trẻ em được tìm thấy trên lãnh thổ Việt Nam mà không rõ cha

mẹ là ai thì có quốc tịch Việt Nam (khoản 1 Điều 18) Những quy định nàyphù hợp với Công ước quốc tế về quyền trẻ em mà Việt Nam đã tham giađồng thời thể hiện chính sách nhất quán về quốc tịch của Nhà nước ta

Đối với người không quốc tịch, Luật năm 2008 đã có một điều luậtriêng (Điều 22) quy định trình tự, thủ tục và hồ sơ xin nhập quốc tịch ViệtNam đối với người không quốc tịch không có đầy đủ các giấy tờ về nhânthân nhưng đã cư trú ổn định trên lãnh thể Việt Nam từ 20 năm trở lên tínhđến ngày 01/7/2009 Quy trình này còn được quy định cụ thể tại các văn bảnhướng dẫn thi hành như: Điều 8 Nghị định số 78/2009/NĐ-CP ngày22/9/2009 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điềucủa Luật Quốc tịch Việt Nam; Điều 7 Thông tư liên tịch số05/2010/TTLT/BTP-BNG-BCA ngày 01/3/2010 Quy định về nhập quốc tịchcho người không quốc tịch thuộc diện tại Điều 22 Luật năm 2008 đã thể hiện

rõ sự quan tâm của Nhà nước Việt Nam tới những người không quốc tịch đãsinh sống ổn định lâu dài trên lãnh thổ Việt Nam Đây là những người khôngquốc tịch, không có bất cừ giấy tờ chứng minh quốc tịch gì Vì vậy, họ khôngthể đáp ứng các điều kiện để làm hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt Nam theodiện thông thường Vì vậy, mặc dù họ đã sống ở Việt Nam trong một thờigian dài nhưng họ vẫn không thể làm thủ tục xin nhập quốc tịch Việt Namtheo diện thông thường Vì vậy, mặc dù họ đã sống ở Việt Nam trong mộtthời gian dài nhưng họ vẫn không thể làm thủ tục xin nhập quốc tịch ViệtNam Chính điều này làm cho cuộc sống của họ gặp nhiều khó khăn Việc họkhông phải là công dân Việt Nam hay công dân nước ngoài đã khiến họ bịmất cơ hội có việc làm ổn định tại các cơ quan, tổ chức; con cái của họ sinh

ra gặp khó khăn trong việc học hành; bản thân những người này không đượcđứng tên sở hữu nhà, đất và không được tham gia bất cứ một hoạt động chínhtrị nào như bầu cử, ứng cử

Trang 21

Như vậy, có thể nói, hệ thống pháp luật về quốc tịch của Việt Nam đã

có nhiều quy định liên quan đến vấn đề người không quốc tịch Đặc biệt,Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 đã có những quy định về nhập quốc tịchtheo thủ tục đơn giản có người không quốc tịch đã thực sự có ý nghĩa đối vớicuộc sống của những người này Quy định về nhập quốc tịch tại Điều 22 LuậtQuốc tịch Việt Nam đã thực sự giúp thay đổi địa vị pháp lý của những ngườinày, từ chỗ không có quốc tịch họ đã được nhập quốc tịch và được hưởng đầy

đủ các quyền và nghĩa vụ của một công dân

II Tình hình người không quốc tịch trên lãnh thổ Việt Nam

Trong những năm qua, Bộ Tư pháp chủ động, tích cực trong việc giúpChính phủ thực hiện quản lý nhà nước về quốc tịch, phối hợp với các Cơquan đại diện ngoại giao, Cơ quan lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài, Uỷban nhân dân và Sở Tư pháp của các tỉnh, thành phố trực trung ương thụ lý,xem xét, giải quyết một khối lượng rất lớn hồ sơ xin nhập, xin thôi, xin trở lạiquốc tịch Việt Nam Tuy nhiên, việc giải quyết hồ sơ xin nhập quốc tịch ViệtNam trong nhiều năm qua chưa đáp ứng được nhu cầu của người dân, sốlượng người nước ngoài, đặc biệt là số người không quốc tịch được nhậpquốc tịch Việt Nam là quá ít Tính từ tháng 01 năm 1999 đến tháng 12 năm

2008, Bộ Tư pháp đã làm thủ tục trình Chủ tịch nước cho phép 296 trườnghợp được nhập quốc tịch Việt Nam, trong số đó chủ yếu là người Hoa hiệnđang sinh sống tập trung tại thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam vàngười Campuchia tị nạn; số lượng người không quốc tịch sống ổn định từnhiều năm trên lãnh thổ Việt Nam được nhập quốc tịch Việt Nam là rất hạnchế

Người không quốc tịch cư trú trên lãnh thổ Việt Nam vẫn còn tồn đọng

từ nhiều năm nay Theo nghiên cứu và báo cáo của các địa phương, có thểkhái quát nguời không quốc tịch ở Việt Nam thành 2 nhóm cơ bản là nhữngngười tị nạn, người di cư tự do từ Campuchia đến sinh sống tại các tỉnh phíaNam vànhững người từ Lào di cư tự do sang Việt Nam sống dọc 10 tỉnh biên

Trang 22

giới phía Tây Ngoài ra còn có những người không quốc tịch từ Trung quốc

di cư sang Việt Nam sống tại các tỉnh biên giới phía Bắc và một số người đãđược thôi quốc tịch Việt Nam để nhập quốc tịch nước ngoài nhưng vì nhiều

lý do khác nhau họ không nhập được quốc tịch của nước đó, nay họ đang rơivào tình trạng không quốc tịch, về Việt Nam sinh sống (trở về từ Hàn Quốc,Đài Loan, Đức, Tiệp…)

Những người tị nạn và di cư tự do từ Cam pu chia đến sinh sống tại cáctỉnh phía Nam:

Theo thống kê của các Sở Tư pháp các tỉnh phía Nam, từ những năm

1970 đến năm 1983 có hàng chục nghìn Việt kiều từ Campuchia, phụ nữCampuchia lấy chồng là bộ đội Việt Nam và khoảng 125.000 ngườiCampuchia tị nạn sang Việt Nam, tập trung chủ yếu tại một số địa phươngnhư: TP Hồ Chí Minh, Bình Dương, Bình Phước, Đồng Nai, An Giang, ĐồngTháp, Tây Ninh v.v… Chính phủ Việt Nam đã chỉ đạo các địa phương, cùngvới Cao ủy Liên hợp quốc về người tị nạn (UNHCR) đã thành lập một số trại

ở một số tỉnh phía Nam để quản lý và giúp đỡ số người lánh nạn này Sau khiPol Pốt bị lật đổ, với sự hỗ trợ của UNHCR, Chính phủ Việt Nam đã trao đổivới Chính phủ Campuchia thu xếp cho đa số người tị nạn nêu trên hồi hương

về Campuchia, đồng thời một số được thu xếp cho đi tái định cư ở nước thứ

ba Số còn lại khoảng 10.000 người chủ yếu là người gốc Việt Nam và gốcHoa vì không thể thu xếp đi định cư ở nước thứ ba nên họ đã ở lại Việt Namlàm ăn, sinh sống

Trong số người Campuchia tị nạn này, có rất ít người có thể xuất trìnhđược giấy tờ chứng minh quốc tịch Campuchia, còn hầu hết đều khồng cóbất cứ một loại giấy tờ pháp lý gì để chứng minh quốc tịch Campuchia hoặcquốc tịch nước khác Hiện tại quốc tịch của họ chỉ được xác định dựa trên

cơ sở giấy thường trú của người nước ngoài do cơ quan công an cấp và cáctài liệu tị nạn ghi lại lời khai là có quốc tịch Campuchia (kể cả người Hoa,người Đài Loan cũng khai là có quốc tịch Campuchia, đăng ký tại các trại tỵ

Trang 23

nạn để được hưởng trợ cấp của cơ quan Cao uỷ Liên hợp quốc về người tịnạn Có không ít trường hợp người tị nạn có bố, mẹ, vợ, chồng là công dânViệt Nam Hầu hết những người trong số họ đều đã có công ăn việc làm,giao tiếp bình thường bằng tiếng Việt, chấp hành tốt pháp luật Việt Nam, họđều có nguyện vọng xin nhập quốc tịch Việt Nam để ổn định, yên tâm, làm

ăn sinh sống lâu dài tại Việt Nam

Người không quốc tịch từ Lào di cư tự do sang Việt Nam: Vấn đềngười Lào, người Lào gốc Việt di cư tự do sang cư trú ở các tỉnh có biêngiới với Lào đã tồn tại từ nhiều năm nay và vẫn còn đang tiếp diễn Vấn đềdân di cư ở khu vực biên giới rất phức tạp Hầu hết đối tượng này đều cócuộc sống khó khăn về kinh tế, trình độ dân trí thấp, không có bất cứ giấy tờ

gì để làm căn cứ xác định nhân thân của họ; quan niệm về hôn nhân còn đơngiản, nặng về phong tục, tập quán; con sinh ra cũng không đăng ký khaisinh Theo số liệu thống kê được đưa ra trong Biên bản cuộc họp lần thứXVI giữa hai Đoàn đại biểu biên giới Việt Nam-Lào ký ngày 30/12/2006 tạithủ đô Viêng Chăn, thì tổng số dân Lào di cư tự do sang Việt Nam đượcthống kê sơ bộ là 5.188 người và 666 trường hợp kết hôn không giá thúsống trên đất Việt Nam; tổng số dân Việt Nam di cư tự do sang Lào là 4.251người và 992 trường hợp kết hôn không giá thú sống trên đất Lào

Nguyên nhân của tình trạng người Lào di cư tự do sang Việt Nam vàngười Việt Nam di cư tự do sang Lào là: dân cư hai bên biên giới có quan

hệ họ hàng, thân tộc, có tập quán du canh, du cư từ lâu đời; trình độ nhậnthức về biên giới quốc gia, chủ quyền lãnh thổ còn rất hạn chế; cơ sở hạtầng, điều kiện làm ăn sinh sống rất khó khăn, trong khi đó kinh tế, xã hộicủa Việt Nam và Lào đang ngày càng được cải thiện, phát triển Những yếu

tố đó đã tác động đến người dân của hai nước sống tại các tỉnh giáp biên di

cư tự do để làm ăn, sinh sống; mặt khác do thực hiện Hiệp định về Quy chếbiên giới Việt Nam – Lào dẫn đến việc dịch chuyển dân cư giữa một số địaphương hai nước, phần lớn người dân trước đây mà Việt Nam bàn giao choLào nay muốn quay trở lại Việt Nam cư trú ổn định lâu dài, xum họp với

Trang 24

dòng tộc và hưởng các chế độ ưu đãi của Việt Nam Riêng số dân di cư từLào sang Việt Nam hầu hết đều là những người lao động nghèo, có hoàncảnh kinh tế khó khăn, nói thông thạo tiếng Việt, tiếng địa phương Về cơbản họ đều chấp hành tốt chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng vàNhà nước Việt Nam cũng như các quy định của địa phương, cần cù lao độngsản xuất Trong số dân di cư tự do này có một số gia đình có công với cáchmạng, thuộc diện được hưởng chế độ chính sách của Nhà nước Việt Nam.Hầu hết số bà con di cư từ Lào sang Việt Nam cũng đều có nguyện vọngđược nhập quốc tịch Việt Nam để ổn định và làm ăn, sinh sống lâu dài tạiViệt Nam.

Những người di cư tự do từ Trung Quốc sang Việt Nam sống tại cáctỉnh biên giới phía Bắc Theo báo cáo sơ bộ của các tỉnh phía Bắc, trongnhững năm qua, số người di cư tự do từ Việt Nam sang Trung Quốc và từTrung Quốc sang Việt Nam đã và đang diễn ra tự phát, ngày một tăng vàphức tạp Có hàng trăm người Việt Nam sang Trung Quốc làm ăn sinh sống,

có con; nay họ trở về Việt Nam không có giấy tờ, rơi vào tình trạng khôngquốc tịch Bên cạnh đó, cũng có khá nhiều người từ Trung Quốc sang ViệtNam qua con đường kết hôn, làm thuê, kinh doanh, thương mại; họ không

có giấy tờ tùy thân, không quốc tịch; một số đã bị chính quyền các tỉnh trụcxuất về Trung Quốc nhưng một thời gian sau họ trở lại, cư trú lì tại địaphương Theo phản ánh của các cơ quan công an, hiện có hàng chục ngànphụ nữ Việt Nam vượt qua biên giới Việt – Trung bằng đường tiểu ngạch,chung sống với đàn ông Trung Quốc như vợ chồng, không đăng ký kết hôn,sinh sống, sinh con; nhiều người trong số họ không có giấy tờ tùy thân, đemcon về Việt Nam trong tình trạng trẻ em cũng không có giấy tờ quốc tịch,

hộ tịch, giấy tờ tùy thân

Những người đã thôi quốc tịch Việt Nam để nhập quốc tịch nướcngoài nhưng vì nhiều lý do khác nhau họ không nhập được quốc tịch củanước đó nay họ trở về Việt Nam sinh sống và rơi vào tình trạng không quốctịch Hàng trăm phụ nữ Việt Nam, lấy chồng Đài Loan, Hàn Quốc đã làm

Trang 25

thủ tục xin thôi quốc tịch Việt Nam để nhập quốc tịch Trung Quốc (ĐàiLoan), Hàn Quốc nhưng họ không được nhập vì nhiều lý do khác nhau(chồng chết, ly hôn, ly thân, kết hôn giả, phạm tội, để thẻ cư trú quá hạn…),

họ bị bỏ rơi vào tình trạng không quốc tịch Nhiều người trong số họ trở vềViệt Nam, đem theo những đứa trẻ không quốc tịch hoặc quốc tịch không rõràng Một số khác từ Đông Âu trở về, họ cũng đã thôi quốc tịch Việt Namnhưng vì nhiều lý do khác nhau, họ không được nhập quốc tịch của nước sởtại

III Sự cần thiết và ý nghĩa của việc gia nhập Công ước 1954

Ở Việt Nam, do các văn bản pháp luật chưa quy định đầy đủ các vấn đềliên quan đến người không quốc tịch, dẫn đến cuộc sống của những ngườinày gặp nhiều khó khăn Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008 quy định một sốđiều về việc nhập quốc tich cho người không quốc tịch là nhằm giải quyếttình trạn đã tồn tại nhiều năm ở nước ta đối với những người đã cư trú ổnđịnh từ 20 năm trở lên tính đến ngày Luật có hiệu lực Tuy nhiên, tình trạngngười không quốc tịch không phải sẽ được giải quyết dứt điểm, nhất là đốivới những người không rõ ràng về quốc tịch, những người không quốc tịchsống ổn định dưới 20 năm Do các nguyên nhân khác nhau như xung độtpháp luật, hoạch định biên giới, di cư tái phát, kết hôn không giá thú, nuôicon nuôi… mà tình trạng không quốc tịch không thể giải quyết một cách dứtđiểm

Do đó, Việt Nam nghiên cứu, xem xét việc gia nhập Công ước là cầnthiết và cũng phù hợp với chính sách của Đảng và Nhà nước ta về công tácnhân quyền trong thời gian tới, phù hợp với những quy định trong Luật quốctịch Việt Nam năm 2008 và Luật ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc

tế năm 2005 Mục đích của Công ước 1954 là nhằm bảo đảm cho nhữngngười không quốc tịch có các quyền cơ bản và quyền tự do mà không bị phânbiệt đối xử Thông qua việc gia nhập công ước, các quy định của pháp luậtViệt Nam sẽ được hoàn thiện theo hướng có đầy đủ các quy định về các vấn

Trang 26

đề liên quan đến người không quốc tịch, dần dần tạo thuận lợi để họ chuẩn bịcác điều kiện để được nhập quốc tịch của nước sở tại Qua đó, cuộc sống củamột người có thể ổn định và cải thiện hơn nếu người dân vì một lý do nào đó

bị rơi vào tình trạng không quốc tịch

Gia nhập Công ước 1954 về quy chế người không quốc tịch có ý nghĩaquan trọng vì nó tạo ra một khung tiêu chuẩn đối xử với người không quốctịch Nó tạo ra cho cá nhân sự ổn định và bảo đảm một số quyền cơ bản cũngnhư nhu cầu được đáp ứng, như quyền tiếp xúc với tòa án và quyền học hành.Những nhân tố ổn định này bên cạnh việc cải thiện chất lượng cuộc sống chonhững người vẫn ở tình trạng không quốc tịch cũng như làm giảm tiềm năng

di cư trong tương lai

IV Quá trình nội luật hóa các quy định của pháp luật quốc tế về quốc tịch và người không quốc tịch trong hệ thống pháp luật Việt Nam.

Với xu thế toàn cầu hóa và hội nhập, quyền con người ngày càng thuhút sự quan tâm của cộng đồng các quốc gia Phát triển đất nước một cáchtoàn diện, trước hết là vì con người, trong đó bảo đảm quyền con người làtiêu chí quan trọng nhất trong việc xây dựng Nhà nước pháp quyền

Khái niệm “quốc tịch” ra đời vào thời kỳ quá độ từ chế độ phong kiếnlên chủ nghĩa tư bản, khái niệm này xuất hiện cùng với những tư tưởng tiến

bộ của các cuộc cách mạng tư sản về quyền con người Quốc tịch là phạm trùchính trị - pháp lý xác định mối liên hệ pháp lý giữa công dân với một quốcgia nhất định Mối liên hệ pháp lý này được biểu hiện ở tổng thể các quyền

và nghĩa vụ của người đó đối với quốc gia mà họ mang quốc tịch và tổng thểquyền và nghĩa vụ của quốc gia đối với công dân mình Quốc tịch gắn liềnvới mỗi người từ khi sinh ra đến khi chết đi, là tiền đề để họ được hưởng cácquyền công dân và làm nghĩa vụ công dân đối với Nhà nước mà mình mangquốc tịch

Trong từng thời kỳ cách mạng, Nhà nước ta đều ban hành các văn bảnpháp luật quy định về quốc tịch cho phù hợp với hoàn cảnh lịch sử; cho đến

Trang 27

nay, đã có số lượng đáng kể các văn bản pháp luật về quốc tịch của Nhà nướcViệt Nam, góp phần quan trọng vào việc phát huy sức mạnh của dân tộc, củanhân dân trong công cuộc giải phóng đất nước trước đây và xây dựng, bảo vệ

tổ quốc trong giai đoạn hiện nay

Xét về mặt lập pháp, có thể phân sự phát triển của pháp luật Việt Nam

về quốc tịch thành 02 giai đoạn: từ năm 1945 đến năm 1975 và từ năm 1975đến nay

1 Văn bản pháp luật Việt Nam về quốc tịch từ năm 1945 đến năm 1975

Trước Cách mạng tháng 8 năm 1945, Việt Nam là một nước thuộc địanửa phong kiến, với chính sách “chia để trị” của thực dân Pháp đất nước ta bịchia cắt thành ba miền với ba chế độ cai trị và hệ thống pháp luật khác nhau.Vấn đề quốc tịch và công dân vì thế không được quy định một cách rõ ràngtrong các văn bản pháp luật

Cách mạng tháng Tám thành công, nhà nước Việt Nam Dân chủ cộnghoà ra đời Lúc này, việc xác định một người có quốc tịch Việt Nam là vôcùng quan trọng, có ý nghĩa chính trị to lớn để chuẩn bị cho cuộc Tổngtuyển cử bầu Quốc Hội đầu tiên của Nhà nước Việt Nam Chính vì thế, cùngvới việc ban hành các văn bản pháp luật về nhiều lĩnh vực khác nhau, Chủtịch Hồ Chí Minh đã ký ban hành Sắc lệnh số 53/SL ngày 20 tháng 10 năm

1945 quy định quốc tịch Việt Nam

Sắc lệnh số 53/SL ngay tại Điều 3 đã khẳng định quyền bình đẳng vềquốc tịch Việt Nam giữa các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam

“Những dân tộc thiểu số ở nước Việt Nam như Thổ, Mán, Mường, Nùng,Kha, Lolo,v.v…, có trụ sở nhất định trên lĩnh thổ nước Việt Nam, đều làcông dân Việt Nam”

Về có quốc tịch Việt Nam, Điều 2 của Sắc lệnh này quy định cáctrường hợp có quốc tịch Việt Nam do sinh ra: “Những người thuộc một trongcác hạng kể sau đây đều là công dân Việt Nam:

Trang 28

1- Cha là công dân Việt Nam;

2- Cha không rõ là ai hay không thuộc quốc tịch nào mà mẹ là côngdân Việt Nam;

3- Đẻ ở trên lĩnh thổ nước Việt Nam mà cha mẹ không rõ là ai haykhông thuộc một quốc tịch nào”

Theo quy định này, việc xác định quốc tịch của trẻ em mới sinh đượcdựa trên việc kết hợp nguyên tắc “Quyền huyết thống” và nguyên tắc “Quyềnnơi sinh” để hạn chế tối đa việc trẻ em sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam bị rơivào tình trạng không quốc tịch

Đồng thời, Sắc lệnh số 53/SL còn quy định về trường hợp có quốc tịchViệt Nam do phục hồi quốc tịch: “Kể từ ngày ban hành sắc lệnh này, nhữngngười Việt Nam đã vào dân Pháp, sẽ coi là công dân Việt Nam

Những người ấy phải đến khai bỏ quốc tịch Pháp ở phòng Hộ tịch ToàThị chính của một trong những thành phố sau này: Hà Nội, Hải Phòng, Vinh,Huế, Nha Trang, Sài Gòn, Biên Hoà hay ở một trong những nơi mà Uỷ banBắc bộ, Trung bộ hay Nam bộ sẽ định sau” (Điều 4)

Thủ tục xin khai bỏ quốc tịch Pháp để trở lại quốc tịch Việt Nam vàothời điểm đó được quy định rất đơn giản cho kịp ngày Tổng tuyển cử Ngườinào không ra khai sẽ mất quyền bầu cử

Cùng với việc quy định về các trường hợp có quốc tịch Việt Nam, Sắclệnh số 53/SL còn quy định các trường hợp mất quốc tịch Việt Nam tại Điều

7 Công dân Việt Nam sẽ bị mất quốc tịch Việt Nam nếu thuộc một trong cáctrường hợp:

1 Nhập một quốc tịch ngoại quốc;

2 Giữ một chức vụ gì ở ngoại quốc mà không chịu thôi, tuy đã đượcChính phủ cảnh cáo;

3 Làm một việc gì phạm đến nền độc lập và chính thể dân chủ cộnghoà của nước Việt Nam

Trang 29

Quy định về có quốc tịch do phục hồi quốc tịch cũng như các trườnghợp mất quốc tịch Việt Nam cho thấy ngay từ thời kỳ này, nhà nước ViệtNam đã thực hiện chính sách một quốc tịch.

Tuy mới chỉ quy định một số vấn đề cơ bản nhất về quốc tịch nhưngSắc lệnh 53/SL được ban hành trong thời điểm đất nước ta vừa mới ra đờinên có ý nghĩa chính trị to lớn, là bước chuẩn bị quan trọng cho cuộc Tổngtuyển cử bầu Quốc Hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà

Nhập quốc tịch Việt Nam cũng là một vấn đề rất quan trọng nhưngchưa được quy định trong Sắc lệnh số 53/SL Vì vậy, ngày 07/12/1945, Chủtịch Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà ban hành Sắc lệnh

số 73/SL quy định việc nhập quốc tịch Việt Nam Sắc lệnh số 73/SL đã quyđịnh điều kiện cụ thể đối với những người ngoại quốc muốn nhập quốc tịchViệt Nam (Điều 1): “Những người ngoại quốc muốn nhập quốc tịch ViệtNam phải có những điều kiện sau đây:

1- Đủ 18 tuổi;

2- Đã ở 10 năm trên đất nước Việt Nam;

3- Có trú quán nhất định trong nước Việt Nam;

4- Biết tiếng nói Việt Nam;

Trang 30

Sắc lệnh số 73/SL còn quy định rõ “Người đã nhập quốc tịch Việt Namđược hưởng đủ quyền lợi và phải chịu tất cả trách nhiệm của một công dânViệt Nam” (Điều 3).

Tháng 12/1946, thực dân Pháp quay trở lại xâm lược nước ta, nhân dân

ta lại bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đầy cam go, quyếtliệt Trong hoàn cảnh đó, Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hoà đã ký vàban hành Sắc lệnh số 215/SL ngày 20/8/1948 ấn định những quyền lợi đặcbiệt cho những người ngoại quốc giúp vào cuộc kháng chiến Việt Nam Theo

đó, “những người có công trạng với cuộc kháng chiến thì được miễn điềukiện thời hạn định trong Sắc lệnh số 73/SL ngày 07/12/1945 về sự xin gianhập quốc tịch Việt Nam” Tại thời điểm này, cả nước ta đang tập trung sứcngười sức của cho cuộc kháng chiến chống Pháp, Sắc lệnh số 215/SL đã thểhiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước ta đối với những người ngoại quốc

có công giúp vào cuộc kháng chiến Việt Nam

Cùng với việc ban hành các sắc lệnh quy định về nhiều lĩnh vực khácnhau, sự ra đời của các sắc lệnh nói trên về quốc tịch đã đặt nền tảng pháp lýquan trọng cho việc hình thành hệ thống các văn bản pháp luật về quốc tịchnói riêng và hệ thống các văn bản pháp luật Việt Nam nói chung

Năm 1954, Hiệp định Geneve về Việt Nam được ký kết, đất nước ta

bị chia cắt làm hai miền với hai chế độ chính trị khác biệt Ngày14/12/1959, Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà đã ký và ban hànhSắc lệnh số 51/SL bãi bỏ Điều 5, 6 Sắc lệnh 53/SL ngày 20/10/1945 TheoSắc lệnh số 51/SL, “những phụ nữ Việt Nam lấy chồng có quốc tịch nướcngoài trước ngày ban hành Sắc lệnh này vẫn giữ quốc tịch Việt Nam Ngườinào muốn theo quốc tịch của người chồng thì trong thời hạn 06 tháng kể từngày ban hành Sắc lệnh này phải xin bỏ quốc tịch Việt Nam và phải đượcChính phủ nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà cho phép” Quy định này xétdưới góc độ quyền công dân đã bảo đảm quyền bình đẳng giữa nam và nữ,phù hợp với quy định tại Điều 9 Hiến pháp năm 1946 “đàn bà ngang quyền

Trang 31

với đàn ông về mọi phương diện” Đồng thời cũng khẳng định, quyền cóquốc tịch là quyền nhân thân của mỗi người, mỗi người đều có quyền quyếtđịnh lựa chọn quốc tịch cho mình, người đàn bà khi lấy chồng ngoại quốcvẫn có thể giữ quốc tịch gốc của mình nếu không có nguyện vọng theo quốctịch của chồng Ngược lại, trong trường hợp họ muốn theo quốc tịch củachồng thì phải xin bỏ quốc tịch Việt Nam và phải được Chính phủ cho phép.

Từ năm 1960, theo Luật Tổ chức Chính phủ, trong thành phần củaChính phủ không có Bộ Tư pháp, các nhiệm vụ của Bộ Tư pháp được chuyểngiao cho Bộ Công an, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Toà án nhân dân tốicao và một phần cho chính quyền địa phương Về lĩnh vực quốc tịch, ngày08/02/1971 Uỷ ban thường vụ Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà đãban hành Nghị quyết số 1043/NQ-TVQHK6 về việc xin thôi hoặc nhập quốctịch Việt Nam, trong đó “giao cho Hội đồng Chính phủ xét và quyết định vềnhững trường hợp cụ thể xin vào hoặc xin thôi quốc tịch Việt Nam”

Có thể khẳng định rằng, trước năm 1975, các vấn đề về quốc tịch chủyếu được quy định trong một số sắc lệnh và nghị quyết nêu trên Mỗi văn bảnpháp luật chỉ giải quyết một vấn đề cụ thể do thực tiễn cách mạng lúc đó đặt

ra Mặc dù vậy, như đã phân tích ở trên, các văn bản đó đã thể hiện rõ quanđiểm tiến bộ của Nhà nước Việt Nam đối với các vấn đề cơ bản về quốc tịchnhư: bình đẳng giữa các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam vềquốc tịch Việt Nam, bảo đảm quyền của cá nhân trên lãnh thổ Việt Namđược có quốc tịch thông qua việc hạn chế tình trạng không quốc tịch, bìnhđẳng giữa các công dân Việt Nam với nhau về quyền và nghĩa vụ công dân,không kể người có quốc tịch gốc Việt Nam hay được nhập quốc tịch ViệtNam… Rõ ràng, các quy định về quốc tịch trong các văn bản trên đã đặt nềntảng ban đầu cho việc xây dựng và ban hành Luật quốc tịch Việt Nam ở giaiđoạn sau

2 Pháp luật về quốc tịch Việt Nam từ năm 1975 đến nay

Trang 32

Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thắng lợi (30/4/1975), đấtnước ta hoàn toàn độc lập, non sông thu về một mối Tại kỳ họp thứ 7,phiên họp ngày 18/12/1980 Quốc hội khoá VI nước Cộng hoà xã hội chủnghĩa Việt Nam đã chính thức thông qua bản Hiến pháp năm 1980 Hiếnpháp năm 1980 tại Điều 53 quy định: “Công dân nước Cộng hoà xã hội chủnghĩa Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam theo luật định” Lần đầutiên, vấn đề quốc tịch của công dân Việt Nam được quy định trong Hiếnpháp – văn bản có hiệu lực pháp lý cao nhất, tạo cơ sở pháp lý cho sự ra đờicủa Luật quốc tịch Việt Nam năm 1988.

Tại kỳ họp thứ 3, ngày 28/6/1988 Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủnghĩa Việt Nam khoá VIII đã thông qua Luật quốc tịch Việt Nam, Luật cóhiệu lực thi hành từ ngày 15/7/1988 Đây là đạo luật đầu tiên của nhà nước

ta quy định khá đầy đủ các vấn đề về quốc tịch Việt Nam Luật gồm 18điều, chia thành 6 chương: Chương I: Những quy định chung; chương II:Xác định có quốc tịch Việt Nam; chương III: Mất quốc tịch, trở lại quốc tịchViệt Nam; chương IV: Quốc tịch trẻ em khi có sự thay đổi quốc tịch cha

mẹ, quốc tịch con nuôi; chương V: Thẩm quyền giải quyết các vấn đề vềquốc tịch; chương VI: Điều khoản cuối cùng Luật quốc tịch Việt Nam năm

1988 đã quy định rõ tại Điều 3: “Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa ViệtNam chỉ công nhận công dân Việt Nam có một quốc tịch là quốc tịch ViệtNam” Như vậy, Luật quốc tịch năm 1988 đã quy định nguyên tắc một quốctịch triệt để Tuy thế, Luật năm 1988 chưa quy định cơ chế đảm bảo thựchiện nguyên tắc này, do đó gây khó khăn trong việc thực thi pháp luật cũngnhư để lại hậu quả pháp lý phức tạp trên thực tế

Luật quốc tịch năm 1988 ra đời thay thế cho Sắc lệnh số 53/SL, Sắclệnh số 73/SL, Điều 6 Sắc lệnh số 215/SL, Sắc lệnh số 51/SL và Nghị quyết

số 1043-NQ/TVQH

Để Luật quốc tịch 1988 thực sự đi vào cuộc sống, giải quyết được cácvấn đề vướng mắc về quốc tịch Việt Nam, ngày 05/02/1990, Hội đồng Bộ

Trang 33

trưởng đã ban hành Nghị định số 37/HĐBT quy định chi tiết thi hành Luậtquốc tịch Việt Nam Tiếp theo đó, Chính phủ ban hành Nghị định số06/1998/NĐ-CP ngày 14/01/1998 sửa đổi một số điều của Nghị định số37/HĐBT Nghị định số 37/HĐBT ngoài việc quy định chi tiết thi hành Luậtquốc tịch còn quy định cụ thể thủ tục giải quyết các vấn đề về quốc tịch như:

hồ sơ xin nhập, trở lại, thôi quốc tịch Việt Nam; nơi nộp hồ sơ; thời hạn vàquy trình giải quyết các việc về quốc tịch

Có thể thấy, Luật quốc tịch Việt Nam năm 1988 đã luật hoá một cáchchính thức các quy định về quốc tịch Việt Nam, giải quyết được một số tồntại, vướng mắc trong thực tế về quốc tịch

Tuy vậy, Luật quốc tịch năm 1988 được ban hành vào thời kỳ đầu củacông cuộc đổi mới nên đến giai đoạn sau những năm 1990 không đáp ứngđược chủ trương hội nhập quốc tế Sự phát triển kinh tế xã hội, xu hướng hộinhập quốc tế dẫn đến ngày càng có nhiều người nước ngoài vào làm ăn, sinhsống tại Viêt Nam, công dân Việt Nam kết hôn với người nước ngoài…Thêmvào đó, sự ra đời của Hiến pháp năm 1992, Bộ luật Dân sự năm 1995 đã đặt

ra yêu cầu cần phải cập nhật, hoàn thiện các quy định pháp luật về quốc tịch

Trên cơ sở đó, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Namkhoá X tại kỳ họp thứ 3 ngày 20/5/1998 đã thông qua Luật quốc tịch ViệtNam và Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/1999

Tiếp theo, ngày 13/11/2008, Quốc hội đã thông qua Luật quốc tịch ViệtNam số 24/2008/QH12, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2009 Luật Quốctịch Việt Nam hiện hành có nhiều quy định mới so với Luật quốc tịch ViệtNam năm 1998 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 với những sửa đổi cơbản phù hợp với chính sách của Đảng và Nhà nước ta hiện nay không chỉ gópphần giải quyết triệt để các vấn đề vướng mắc trong lĩnh vực quốc tịch màcòn tạo sự gắn bó mật thiết hơn nữa giữa Nhà nước Cộng hòa xã hội chủnghĩa Việt Nam và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài

Trang 34

Những điểm mới trong Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008 đã đượcquy định theo hướng phù hợp với những vấn đề có liên quan trong các camkết quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia, cụ

thể: Về nguyên tắc quốc tịch: (Điều 4): Từ khi thành lập nước đến nay,

pháp luật về quốc tịch của nhà nước ta luôn thực hiện theo nguyên tắc mộtquốc tịch, nguyên tắc này trên thực tế đã và đang được thực hiện có hiệuquả Do đó, Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008 vẫn tiếp tục kế thừa nguyêntắc một quốc tịch Tuy nhiên, trong quá trình hội nhập quốc tế, xu hướngngười Việt Nam ra nước ngoài sinh sống, làm việc, cũng như người gốcViệt Nam trở về nước ngày càng nhiều; những người Việt Nam ở nướcngoài khi muốn định cư tại một quốc gia nào đó thì rất cần phải được nhậpquốc tịch nước đó; có trường hợp vẫn mong muốn được giữ quốc tịch ViệtNam nếu pháp luật nước đó cho phép; một số người gốc Việt Nam trờ vềnước đầu tư, sinh sống mong muốn được trở lại quốc tịch Việt Nam nhưngvẫn muốn giữ quốc tịch nước ngoài Nhằm tạo điều kiện thuận lợi, đáp ứngnguyện vọng chính đáng của bộ phận người Việt Nam nói trên, Quốc hộitán thành với đề xuất của Chính phủ sửa đổi nguyên tắc về quốc tịch củaNhà nước ta cho phù hợp với tình hình này Điều 4 Luật Quốc tịch Việt

Nam năm 2008 sửa đổi tên Điều 3 của Luật năm 1998 thành “Nguyên tắc

quốc tịch” với nội dung “Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam công nhận công dân Việt Nam có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam, trừ trường hợp Luật này có quy định khác” Việc sửa đổi này,

một mặt nhằm đáp ứng nguyện vọng chính đáng của một bộ phận ngườiViệt Nam định cư ở nước ngoài mặc dù nhập quốc tịch nước ngoài nhưngvẫn muốn được giữ quốc tịch Việt Nam, một số người gốc Việt Nam trở vềnước đầu tư, sinh sống mong muốn được trở lại quốc tịch Việt Nam nhưngvẫn muốn giữ quốc tịch nước ngoài Việc sửa đổi Điều 3 của Luật hiện hànhnhư vậy, cũng là để đảm bảo tính thống nhất và tính minh bạch và rõ ràngtrong các quy định của pháp luật về quốc tịch của Nhà nước ta Việc khằngđịnh một số ngoại lệ có thể có hai quốc tịch không có nghĩa là từ bỏ nguyên

Trang 35

tắc một quốc tịch mà chỉ sửa đổi nguyên tắc này cho mềm dẻo hơn, phù hợpvới chính sách của Nhà nước ta về hội nhập quốc tế, đại đoàn kết dân tộc vàchính sách đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài Những trườnghợp ngoại lệ có thể có hai quốc tịch là những trường hợp được Chủ tịchnước cho phép giữ quốc tịch nước ngoài khi nhập quốc tịch Việt Nam(khoản 3 Điều 19), được trở lại quốc tịch Việt Nam (khoản 5 Điều 23);trường hợp quốc tịch của trẻ em là con nuôi (Điều 37) và trường hợp ngườiViệt Nam định cư ở nước ngoài, kể cả những người đã nhập quốc tịch nướcngoài mà vẫn có nguyên vọng giữ quốc tịch Việt Nam (khoản 2 Điều 13).

Việc sửa đổi này, một nhằm đáp ứng nguyện vọng chính đáng của một

bộ phận người Việt Nam định cư ở nước ngoài mặc dù nhập quốc tịch nướcngoài nhưng vẫn mong muốn được giữ quốc tịch Việt Nam; một số ngườigốc Việt Nam trở về nước đầu tư, sinh sống mong muốn được trở lại quốctịch Việt Nam nhưng vẫn muốn giữ quốc tịch nước ngoài; những trẻ em đượcnhận làm con nuôi có quốc tịch Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài

có điều kiện để lựa chọn quốc tịch khi đến tuổi trưởng thành; ngoài ra, nhữngngười nước ngoài thuộc diện tài năng, có đóng góp lớn cho Nhà nước ViệtNam thì cũng có thể được giữ quốc tịch nước ngoài khi được nhập quốc tịchViệt Nam Việc sửa đổi Điều 3 của Luật hiện hành như vậy, cũng là để bảođảm tính thống nhất và tính minh bạch và rõ ràng trong các quy định củapháp luật về quốc tịch của nhà nước ta

Về đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam: quy định “Người Việt Nam định

cư ở nước ngoài mà chưa mất quốc tịch Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam trước ngày Luật này có hiệu lực thì vẫn còn quốc tịch Việt Nam” tại khoản 2 Điều 13 của Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 là nội

dung mới được bổ sung nhằm thể chế hóa Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày26/3/2004 của Bộ Chính trị về công tác đối với người Việt Nam ở nướcngoài là để thực hiện chủ trương khép lại quá khứ, củng cố và tăng cườngkhối đại đoàn kết toàn dân tộc Việt Nam, xác định người Việt Nam định cư

ở nước ngoài là bộ phận của cộng đồng dân tộc Việt Nam Nhà nước bảo hộ

Trang 36

quyền lợi chính đáng của người Việt Nam định cư ở nước ngoài Nhà nướckhuyến khích và tạo điều kiện để người Việt Nam định cư ở nước ngoài giữgìn bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam, giữ quan hệ gắn bó với gia đình, quêhương, góp phần xây dựng quê hương đất nước Quy định này cũng để làm

rõ hơn việc những người vẫn còn có quốc tịch Việt Nam đã được quy địnhtại khoản 1 Điều này Mặt khác, trường hợp người Việt Nam định cư ở nướcngoài đã nhập quốc tịch của nước sở tại thì họ có quyền giữ quốc tịch ViệtNam nếu pháp luật về quốc tịch của nước đó cho phép công dân có hai quốctịch Trên thực tế, đối với bộ phận người Việt Nam định cư ở nước ngoài,việc phải đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam là để xác định rõ ràng tình trạngquốc tịch của họ giúp cho công tác quản lý quốc tịch và bảo hộ công dânViệt Nam ở nước ngoài hiệu quả hơn Vì vậy, tiếp thu ý kiến của Đại biểuQuốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã cho bổ sung quy định về việcđăng ký giữ quốc tịch Việt Nam tại khoản 2 Điều 13 và việc không chođăng ký giữ quốc tịch Việt Nam cùng là căn cứ để xác định mất quốc tịchViệt Nam theo khoản 3 Điều 26 của dự thảo Luật Đây là một quy định mớihoàn toàn so với Luật Quốc tịch năm 1998 Nghị quyết số 36-NQ/TW của

Bộ Chính trị đã đề ra chủ trương tăng cường bảo vệ quyền lợi chính đángcủa cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài theo luật pháp, công ước vàthông lệ quốc tế Tuy vậy, những năm qua cho thấy, do không xác địnhđược chính xác những ai trong số hơn 4,5 triệu người Việt Nam định cư ởnước ngoài còn giữ quốc tịch Việt Nam nên công tác quản lý quốc tịch,quản lý công dân cũng như thực hiện nhiệm vụ bảo hộ công dân của Nhànước ta ở nước ngoài gặp nhiều khó khăn Việc đăng ký giữ quốc tịch ViệtNam là phù hợp với nguyện vọng của bà con ở nước ngoài, tạo điều kiện đểlàm tốt công tác quản lý về quốc tịch, thực hiện nhiệm vụ bảo hộ công dâncũng như các chính sách ngày càng mở rộng của Đảng và Nhà nước đối vớicông dân Việt Nam định cư ở nước ngoài

Luật quy định trong vòng 05 năm kể từ ngày Luật có hiệu lực, nhữngngười Việt Nam định cư ở nước ngoài muốn giữ quốc tịch Việt Nam thì

Trang 37

phải đến đăng ký với cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài Nếu hết thờihạn 05 năm không làm thủ tục đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam thì người đóđương nhiên bị mất quốc tịch Việt Nam theo quy định tại khoản 3 Điều 26.Việc đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam có mối liên hệ rất chặt chẽ với việccấp giấy tờ chứng minh có quốc tịch Việt Nam thuộc trách nhiệm của cơquan nhà nước đối với công dân Việt Nam đã được quy định tại nhiều điều,khoản trong Luật Khi công dân bị mất giấy tờ chứng minh quốc tịch ViệtNam mà có đơn yêu cầu thì trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước là phảicấp lại các giấy tờ này theo yêu cầu cùa họ Đây là việc phải làm được các

cơ quan Nhà nước thực hiện thường xuyên

Về giải quyết vấn đề nhập quốc tịch Việt Nam đối với người không quốc tịch đã cư trú ổn định trên lãnh thổ Việt Nam:

Đây là một bộ phận khá lớn dân cư do nhiều lý do khác nhau (chiếntranh, di canh, di cư, kết hôn) ở các tỉnh biên giới với Trung quốc, Lào,Campuchia (trước ngày 01/7/1989), một số trường hợp đã di chuyển vào cáctỉnh, thành phố sâu trong lãnh thổ Việt Nam, đã có cuộc sống ổn định, đã cóthời gian khá lâu sống hòa nhập với cộng động xã hội Việt Nam mà không cóđầy đủ giấy tờ về nhân thân để chứng minh quốc tịch của mình; hầu hết họ lànhững người dân lao động chất phác, không có vi pham pháp luật Việt Nam

Tình trạng người không quốc tịch, người không rõ quốc tịch đang cưtrú trên lãnh thổ nước ta tương đối nhiều Số cư dân này chủ yếu tập trung ởmột số tỉnh, thành phố phía Tây, phía Nam và Tây Nguyên, một số ít ở cáctỉnh phía Bắc Do nước ta có chung đường biên giới trên đất liền với banước láng giềng, qua nhiều năm chiến tranh nên việc di cư tự do qua biêngiới đã diễn ra dễ dàng và kéo dài, dẫn đến số dân không quốc tịch hoặckhông rõ quốc tịch cư trú trên lãnh thổ nước ta khá nhiều Trải qua nhiềunăm cư trú, làm ăn, sinh sống ổn định trên lãnh thổ nước ta, đến nay số cưdân này đã thực sự hòa nhập vào cộng động người Việt về mọi mặt đờisống: sản xuất, sinh hoạt, học tập, hôn nhân…Nghề nghiệp của họ chủ yếu

Trang 38

là làm ruộng, làm rẫy, một số ít kinh doanh buôn bán nhỏ Tuy nhiên về mặtpháp lý, những người ngày cũng như các con, cháu của họ chưa được hưởngquy chế công dân Việt Nam vì chưa xác định được quốc tịch Việt Nam.Trong những năm gần đây, Bộ Tư pháp đã phối hợp với các Bộ, ngành vàđịa phương hữu quan cố gắng giải quyết các chính sách về y tế, giáo dụccho số cư dân này… nhưng kết quả vẫn còn những hạn chế Để bảo đảmthực hiện nguyên tắc quốc tịch, Luật Quốc tịch năm 1998 và các văn bảnhướng dẫn thi hành đã quy định rất chặt chẽ về điều kiện, thủ tục, trình tựgiải quyết cho nhập quốc tịch Việt Nam hoàn toàn không phù hợp với hoàncảnh và điều kiện thực tế của số cư dân này Thêm vào đó, do chúng ta bị gò

bó, không thể thoát ra khỏi tư duy một quốc tịch nên gặp nhiều khó khăntrong việc tìm ra các giải pháp giải quyết cho số cư dân này nhập quốc tịchViệt Nam

Điều 22 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 quy định: “Người không

quốc tịch mà không có đầy đủ các giấy tờ về nhân thân, nhưng đã cư trú ổn định trên lãnh thổ Việt Nam từ năm 20 trở lên tính đến ngày Luật này có hiệu lực và tuân thủ Hiến pháp, pháp luật Việt Nam thì được nhập quốc tịch Việt Nam theo trình tự, thủ tục hồ sơ do Chính phủ quy định”.

Như vậy, đối tượng này hưởng sự ưu tiên đối với hồ sơ, thủ tục giảiquyết cho gia nhập quốc tịch Việt Nam Quốc hội giao cho Chính phủ sẽthông qua một Nghị định để quy định trình tự, thủ tục và hồ sơ xin gia nhậpquốc tịch Việt Nam theo hướng giảm các khâu trung gian trong quy trìnhgiải quyết công việc, đơn giản hóa các thủ tục, thời gian giải quyết các việc

về quốc tịch cũng sẽ được rút ngắn hơn, các giấy tờ, hồ sơ cũng sẽ đượcgiảm bớt đến mức tối thiểu, giải quyết hồ sơ theo diện tập thể hoặc theodanh sách của gia đình, tạo thuận lợi cho người dân, miễn giảm lệ phí chonhững trường hợp là dân nghèo Quy định này góp phần quan trọng vào việcgiải quyết một lần trong một thời hạn nhất định những tồn đọng lâu nay vềvấn đề quốc tịch với đối tượng là người đã thường trú ổn định trên lãnh thổViệt Nam cho đến thời điểm Luật này có hiệu lực

Trang 39

Về quốc tịch của trẻ em khi sinh ra có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam: Khoản 2 Điều 17 Luật Quốc tịch năm 1998 đã quy định về quốc tịch

của trẻ em khi sinh ra có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam, theo đó “Trẻ em

khi sinh ra có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam, còn người khi là công dân nước ngoài, thì có quốc tịch Việt Nam, nếu có sự thỏa thuận bằng văn bản của cha mẹ vào thời điểm đăng ký khai sinh cho con” Tuy nhiên, trên thực tế

nảy sinh vấn đề, nếu tại thời điểm đăng ký khai sinh cho con mà cha mẹkhông thỏa thuận được việc lựa chọn quốc tịch cho con thì đứa trẻ sẽ mangquốc tịch của cha hay mẹ Nhằm tháo gỡ vướng mắc này, Luật Quốc tịch

2008 đã bổ sung quy định “Trường hợp trẻ em được sinh ra trên lãnh thổ

Việt Nam mà cha mẹ không thỏa thuận được việc lựa chọn quốc tịch cho con thì trẻ em đó có quốc tịch Việt Nam” Quy định này nhằm bảo vệ quyền

lợi cho trẻ em, hạn chế việc để trẻ em sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam rơi vàotình trạng không quốc tịch

Về việc trở lại quốc tịch Việt Nam : So với các điều kiện được trở lại

quốc tịch Việt Nam quy định tại Điều 21 Luật Quốc tịch năm 1998, LuậtQuốc tịch năm 2008 đã quy định mở rộng thêm một số trường hợp được trởlại quốc tịch Việt Nam, đó là: thực hiện đầu tư tại Việt Nam hoặc đã thôiquốc tịch Việt Nam để nhập quốc tịch nước ngoài, nhưng không được nhậpquốc tịch nước ngoài Quy định này nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho nhữngngười gốc Việt Nam quy trở lại đầu tư về Việt Nam và muốn hưởng những

ưu đãi đầu tư như đối với công dân Việt Nam Đồng thời cũng giải quyếtnhững vướng mắc hiện nay là nhiều trường hợp đã xin thôi quốc tịch ViệtNam nhưng lại không được nhập quốc tịch nước ngoài Luật Quốc tịch ViệtNam năm 2008 cũng bổ sung điều kiện được trở lại quốc tịch Việt Nam đốivới người bị tước quốc tịch Việt Nam, bổ sung quy định về tên gọi Việt Namcủa người xin trở lại quốc tịch Việt Nam và các trường hợp có thể được Chủtịch nước cho phép giữ quốc tịch nước ngoài

V Đánh giá cơ hội và thách thức của Việt Nam khi gia nhập công ước

1954 của Liên hợp quốc về người không quốc tịch

Trang 40

Công ước 1954 về quy chế của người không quốc tịch được Liên hợpquốc thông quan ngày 28/9/1954 Đây là văn kiện quốc tế đầu tiên điềuchỉnh và cải thiện tình trạng pháp lý của người không quốc tịch và bảo đảmcho người không quốc tịch có các quyền cơ bản và quyền tự do mà không bịphân biệt, đối xử.

Luật pháp quốc tế quy định quốc tịch là do nội luật của mỗi quốc giaxác định và quy định đó phải phù hợp với nguyên tắc chung của luật phápquốc tế Việc nghiên cứu, đề xuất Việt Nam tham gia Công ước 1954 vềngười không quốc tịch là sự thể chế hóa chủ trương của Đảng, Nhà nước vềcông tác nhân quyền cũng như thực hiện cam kết của Việt Nam thực hiện cáckhuyến nghị được Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc thông qua theo cơchế kiểm định định kỳ (UPR) Vấn đề này được xác định rõ trong Chỉ thị số44-CT/TW ngày 20 tháng 7 năm 2010 của Ban Bí thư về công tác nhânquyền trong tình hình mới; Quyết định số 366/QĐ-TTg ngày 14 tháng 3 năm

2011 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thực hiển Chỉthị số 44 – CT/TW ngày 20/7/2010 của Ban Bí thư về công tác nhân quyềntrong tình hình mới và Công văn số 98/VPCP-NC ngày 27/01/2011 của Vănphòng Chính phủ về việc phân công thực hiện các khuyến nghị được Hộiđồng Nhân quyền Liên hợp quốc thông qua theo cơ chế kiểm định định kỳ.Mục tiêu của công tác này là năm được cơ bản số lượng người không quốctịch hiện nay đang sinh sống tại Việt Nam, có báo cáo đánh giá, phân tích vềthực trạng người không quốc tịch sống trên lãnh thổ Việt Nam, pháp luật hiệnhành của Việt Nam điều chỉnh các vấn đề liên quan đến những người khôngquốc tịch này; nghiên cứu, đưa ra những lập luận thuyết phục, khẳng địnhViệt Nam đủ điều kiện và cần thiết gia nhập Công ước quốc tế năm 1954 vềquy chế của người không quốc tịch, trình Thủ tướng Chính phủ xem xétquyết định

1 Một số thuận lợi khi Việt Nam gia nhập Công ước 1954

Ngày đăng: 26/11/2021, 10:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w