Sự cần thiết của Đề án: Trong giai đoạn 2011 - 2015 và đặc biệt là những năm gần đây, tình hình kinh tế - xã hội của thành phố có những bước phát triển vượt bậc; nhiều dự án có vốn đầu t
Trang 1ỦY BAN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
“DỰ THẢO”
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Hải Phòng, ngày tháng năm 2018
ĐỀ ÁN
VỀ CHƯƠNG TRÌNH VIỆC LÀM THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
GIAI ĐOẠN 2018-2020
(Kèm theo Tờ trình số /TTr-UBND ngày /6/2018
của Ủy ban nhân dân thành phố)
PHẦN I:
SỰ CẦN THIẾT VÀ CĂN CỨ PHÁP LÝ XÂY DỰNG
I Sự cần thiết của Đề án:
Trong giai đoạn 2011 - 2015 và đặc biệt là những năm gần đây, tình hình kinh tế - xã hội của thành phố có những bước phát triển vượt bậc; nhiều dự án có vốn đầu tư lớn được triển khai, nhiều công trình mới được đầu tư xây dựng đã mở
ra cơ hội, tạo tiền đề cho sự phát triển kinh tế, giải quyết việc làm, giảm nghèo góp phần thực hiện mục tiêu đảm bảo an sinh xã hội trên địa bàn thành phố
Giai đoạn 2016 - 2020, trên cơ sở nâng cao năng lực cạnh tranh, nâng cao tiềm lực kinh tế - xã hội một cách vững chắc nhằm thực hiện Nghị quyết số 20/2015/NQ-HĐND ngày 18/12/2015 của Hội đồng nhân dân thành phố về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng an ninh 5 năm giai đoạn 2016-2020 với một số mục tiêu cụ thể về an sinh xã hội như: giảm tỷ lệ thất nghiệp thành thị xuống dưới 4%; tỷ lệ sử dụng thời gian làm việc của lao động nông thôn là 85%; tạo được 52.000 việc làm mới/năm; tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 85%; tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế trên 90%; tuổi thọ trung bình đạt 77,0 tuổi; tỷ lệ hộ nghèo (theo chuẩn quốc gia) giảm 0,7% - 1%/năm Hội đồng nhân dân thành phố
đã ban hành Nghị quyết số 143/2016/NQ-HĐND ngày 13/12/2016 về Chương trình hoạt động nhiệm kỳ 2016-2021 của Hội đồng nhân dân thành phố khóa XV, trong
đó đã xác định nhiệm vụ xây dựng Chương trình việc làm thành phố Hải Phòng giai đoạn 2018-2020 là một trong những nhiệm vụ quan trọng để Hội đồng nhân dân thành phố thông qua tại kỳ họp lần thứ 7 nhiệm kỳ 2016-2021 (kỳ họp giữa năm 2018)
Từ mục tiêu đó, để giải quyết việc làm cho người lao động một cách hiệu quả
và ổn định, thì cần có cơ chế, chính sách cụ thể về việc làm và đưa lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài theo hợp đồng phù hợp với nhiệm vụ phát triển kinh
tế - xã hội của thành phố giai đoạn 2016-2020 Vì vậy, Chương trình việc làm thành
Trang 2phố giai đoạn 2018 - 2020 có ý nghĩa quan trọng và cần thiết, nhằm góp phần hoàn thành các chỉ tiêu về việc làm, an sinh xã hội theo Nghị quyết 12-NQ/ĐH, Đại hội Đảng bộ Thành phố lần thứ XV, nhiệm kỳ 2015-2020 và Kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội thành phố giai đoạn 2016 - 2020 đã đề ra
II Căn cứ pháp lý:
- Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 19/6/2015
- Bộ luật Lao động; Luật Việc làm; Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng
- Nghị định số 03/2014/NĐ-CP ngày 16/01/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về việc làm
- Nghị định số 61/2015/NĐ-CP ngày 09/7/2015 của Chính phủ quy định về chính sách hỗ trợ tạo việc làm và Quỹ Quốc gia về việc làm
- Nghị định số 126/2007/NĐ-CP ngày 01/8/2007 của Chính phủ Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng
- Nghị định số 196/2013/NĐ-CP ngày 21/11/2013 của Chính phủ quy định thành lập và hoạt động của Trung tâm dịch vụ việc làm
- Nghị định số 52/2014/NĐ-CP ngày 23/5/2014 của Chính phủ quy định điều kiện, thủ tục cấp giấy phép hoạt động dịch vụ việc làm của doanh nghiệp hoạt động dịch vụ việc làm
- Thông tư số 23/2014/TT-BLĐTBXH ngày 29/8/2014 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội hướng dẫn thực hiện một số Điều của Nghị định số 03/2014/NĐ-CP của Chính phủ
Thông tư số 45/2015/TTBLĐTBXH ngày 24/7/2015 của Bộ Lao động -Thương binh và Xã hội hướng dẫn thực hiện một số điều về Quỹ Quốc gia về việc làm quy định tại Nghị định số 61/2015/NĐ-CP của Chính phủ
- Thông tư số 27/2015/TT-BLĐTBXH ngày 24/7/2015 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội hướng dẫn thu thập, lưu trữ, tổng hợp thông tin thị trường lao động
- Thông tư Liên tịch số 09/2016/TTLT-BLĐTBXH-BTC ngày 16/6/2016 của
Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội – Bộ Tài chính về việc hướng dẫn thực hiện một số điều về hỗ trợ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng quy định tại Nghị định số 61/2015/NĐ-CP của Chính phủ quy định chính sách hỗ trợ tạo việc làm và Quỹ Quốc gia về việc làm
- Thông tư số 07/2015/TT- BLĐTBXH của Bộ Lao động – Thương binh và
Xã hội ngày 25/02/2015 quy định chi tiết thi hành một số điều của Nghị định số 196/2013/NĐ-CP của Chính phủ và Nghị định số 52/2014/NĐ-CP ngày 23/5/2014
Trang 3- Thông tư số 72/2016/TT-BTC ngày 19/5/2016 của Bộ Tài chính hướng dẫn mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí dịch vụ việc làm
- Nghị quyết 12-NQ/ĐH ngày 24/10/2016 của Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ XV, nhiệm kỳ 2015-2020
- Nghị quyết số 20/2015/NQ-HĐND ngày 18/12/2015 của Hội đồng nhân dân thành phố về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng an ninh 5 năm giai đoạn 2016-2020
- Nghị quyết số 143/2016/NQ-HĐND ngày 13/12/2016 của Hội đồng nhân dân thành phố về Chương trình hoạt động nhiệm kỳ 2016-2021 của Hội đồng nhân dân thành phố khóa XV
- Nghị quyết số 20/NQ-HĐND ngày 08/12/2017 của Hội đồng nhân dân thành phố về thông qua Kế hoạch tổ chức các kỳ họp thường lệ năm 2018 của Hội đồng nhân dân thành phố khóa XV
Trang 4PHẦN II:
THỰC TRẠNG VỀ VIỆC LÀM THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
GIAI ĐOẠN 2011-2015 VÀ 2 NĂM 2016 - 2017
I Kết quả thực hiện:
1 Lực lượng lao động có việc làm
Đến năm 2015, dân số của thành phố Hải Phòng khoảng 1.963.315 người, số người trong độ tuổi lao động khoảng 1.235.841 người (chiếm 62,95 % dân số), số lao động tham gia hoạt động kinh tế khoảng 1.134.796 người (chiếm 57,80% dân số), trong đó phân bố ở khu vực thành thị là: 533.354 người (chiếm 47%); khu vực nông thôn là 601.442 người (chiếm 53%)
- Giải quyết việc làm giai đoạn 2011-2015 đạt trên 255.000 lượt lao động, bình quân mỗi năm trên 51.000 lượt lao động (vượt kế hoạch giao)
- Cơ cấu lao động chuyển dịch theo hướng tích cực, phù hợp với cơ cấu kinh
tế của thành phố Tỷ trọng lao động trong các ngành công nghiệp, xây dựng – nông, lâm, ngư nghiệp – dịch vụ năm 2010 là: 28,17% - 34,52% - 37,31%; năm 2015 là: 31% - 26% - 43%; đến năm 2017, tỷ trọng này là: 30,1% - 23% - 46,9%
- Đến năm 2017, dân số của thành phố Hải Phòng khoảng 02 triệu người, số người trong độ tuổi lao động khoảng 1.223.620 người (chiếm 61,15 % dân số), số lao động tham gia hoạt động kinh tế khoảng 1.134.796 người (chiếm 57,00% dân số), trong đó phân bố ở khu vực thành thị là: 575.000 người (chiếm 50%); khu vực nông thôn là 575.000 người (chiếm 50%)
- Tình hình về lao động có việc làm nhập cư từ các tỉnh, thành phố khác: Trong tổng số 344.500 lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố, thì có khoảng 24% là lao động nhập cư
Năm 2011, số người nước ngoài làm việc tại thành phố Hải Phòng là 1.890 người và đến năm 2017, số người nước ngoài làm việc tại thành phố Hải Phòng là 4.310 người (tăng 128% so với năm 2011)
Năm 2016, giải quyết việc làm cho 54.193 lượt lao động Năm 2017 là 54.300 lượt lao động
2 Lao động đi làm việc ở nước ngoài.
Giai đoạn 2011-2015, số lao động đi làm việc ở nước ngoài là 5.950 người Trong đó, số lao động nữ là 1.467 người
Năm 2016, số lao động đi làm việc ở nước ngoài là 1.593 người và năm
2017, số lao động đi làm việc ở nước ngoài khoảng 1.900 người
Trang 53 Chỉ tiêu tạo việc làm từ nguồn vốn Quỹ quốc gia về việc làm và nguồn vốn thành phố ủy thác qua Ngân hàng chính sách xã hội cho vay tạo việc làm.
- Cơ chế quản lý cho vay nguồn vốn có nhiều đổi mới từ Trung ương đến thành phố đã tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động cho vay vốn hỗ trợ tạo việc làm
Trong giai đoạn 2011-2015, số tiền từ Quỹ quốc gia về việc làm và nguồn vốn thành phố ủy thác qua Ngân hàng chính sách xã hội được duyệt vay vốn đạt 357.695 triệu đồng; số lao động được tạo việc làm thông qua nguồn vốn này là 17.884 lượt người
Năm 2016, số tiền được duyệt vay vốn là 85 tỷ đồng, tạo việc làm cho 2.909 người lao động Năm 2017, số tiền được duyệt vay vốn ước đạt 118 tỷ đồng, tạo việc làm cho 2.360 người lao động
- Chương trình cho vay tạo việc làm đã góp phần quan trọng trong thực hiện chỉ tiêu kế hoạch về tạo việc làm cho lao động thành phố, đồng thời tác động làm thay đổi nhận thức về việc làm ở mỗi người lao động Tuy nguồn vốn cho vay không nhiều nhưng có vai trò đòn bẩy để huy động tiền vốn nhàn rỗi trong dân đầu
tư vào sản xuất kinh doanh dịch vụ, hạn chế tình trạng cho vay nặng lãi
- Các cấp chính quyền, các tổ chức đoàn thể xã hội triển khai thực hiện chương trình vay vốn hỗ trợ việc làm với tinh thần trách nhiệm Lao động có việc làm góp phần tích cực vào Chương trình quốc gia phòng chống tệ nạn xã hội, giữ vững an ninh chính trị, trật tự xã hội, xóa đói giảm nghèo, tăng thu nhập, ổn định đời sống người lao động Từ đó, Chương trình cho vay vốn đã tác động làm phong phú hoạt động của các tổ chức đoàn thể chính trị xã hội, tạo ra các hoạt động mang tính chất kinh tế – xã hội như Phong trào thanh niên lập nghiệp, Câu lạc bộ nữ doanh nghiệp trẻ, nông dân phát triển kinh tế trang trại vừa và nhỏ, người nghèo, người tàn tật có việc làm và ổn định đời sống
- Nhìn chung, các dự án vay vốn đúng đối tượng, sử dụng vốn đúng mục đích, hoàn trả vốn vay đúng kỳ hạn, diện vay vốn rộng, vốn được quay vòng nhanh, nhiều đầu mối không có nợ quá hạn
4 Chỉ tiêu giải quyết việc làm qua các hoạt động từ Sàn Giao dịch việc làm
và các hoạt động dịch vụ việc làm.
- Sàn Giao dịch việc làm thành phố hoạt động định kỳ hàng tháng là cầu nối quan trọng giữa cung và cầu lao động của thị trường lao động thành phố
Trong giai đoạn 2011-2015 tổ chức 95 phiên tại Sàn Giao dịch việc làm thành phố do Trung tâm Dịch vụ việc làm Hải Phòng thực hiện với số doanh nghiệp tham gia tuyển dụng trực tiếp tại Sàn là 3.269 đơn vị (bình quân 25 đến 35 doanh nghiệp/phiên và số lao động tham gia đăng ký tìm việc làm là 44.092 người (bình
Trang 6quân 464 người lao động đăng ký tìm việc làm/phiên) Qua đó, số lao động được tuyển dụng thông qua Sàn Giao dịch việc làm giai đoạn 2011-2015 là 22.072 người (bình quân 232 người lao động/phiên)
Năm 2016, tổ chức 37 phiên giao dịch việc làm, trong đó có 1.493 đơn vị tham gia và 15.968 người lao động tham gia tìm việc làm (bình quân 431 người lao động/phiên), qua đó 4.897 người lao động được tuyển dụng (bình quân 132 người lao động/phiên) Năm 2017, tổ chức 36 phiên giao dịch việc làm, trong đó, 1.211 đơn vị tham gia và trên 15.000 người lao động được giới thiệu việc làm, 300 người lao động được tuyển dụng thông qua Sàn Giao dịch việc làm
- Chất lượng của Sàn Giao dịch ngày càng được nâng lên do các doanh nghiệp tham gia là những doanh nghiệp thực sự có nhu cầu tuyển dụng lao động Tuy nhiên, những thành công của Sàn Giao dịch việc làm không phải chỉ là số người lao động tìm kiếm được việc làm Thông qua Sàn Giao dịch, thành phố đã có cái nhìn tổng quan về thị trường lao động ở địa phương, xem xét một cách khoa học
để đưa ra các giải pháp điều chỉnh Cũng thông qua Sàn Giao dịch đã giúp người lao động tự đánh giá về khả năng tay nghề của mình từ đó họ có ý thức nâng cao khả năng, trình độ chuyên môn và tay nghề cho mình Các cơ sở đào tạo nghề trên
cơ sở phân tích về cầu lao động qua Sàn Giao dịch để có chiến lược đào tạo cho đơn vị mình đáp ứng yêu cầu thị trường lao động
- Hoạt động dịch vụ việc làm của thành phố được tăng cường quản lý, thu hút các đơn vị sự nghiệp công lập và các doanh nghiệp tư nhân tham gia Giai đoạn 2011-2015, số người được tư vấn giới thiệu việc làm là 341.784 lượt lao động, trong đó 31.712 lượt lao động tìm được việc làm
5 Tỷ lệ thất nghiệp.
- Tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị còn 4,0% vào năm 2015, giảm 1% so với đầu năm 2011, đạt kế hoạch; tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở khu vực nông thôn đạt 85%, (đạt 100% kế hoạch giao)
- Năm 2016, tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị duy trì ở mức 4% và năm
2017, con số này là 3,98%
6 Bảo hiểm thất nghiệp.
Đến năm 2015, số người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp trên địa bàn thành phố là 250.000 người (chiếm 22,03% lực lượng lao động)
Từ năm 2011 đến năm 2015, có 47.794 người lao động đăng ký hưởng chính sách bảo hiểm thất nghiệp Trong đó, 43.030 người lao động được hưởng chính sách bảo hiểm thất nghiệp
Trang 7Năm 2016, số người tham gia bảo hiểm thất nghiệp 308.405 người, số người hưởng bảo hiểm thất nghiệp là 11.506 người và năm 2017, số người tham gia bảo hiểm thất nghiệp là 310.850 người, số người hưởng bảo hiểm thất nghiệp là 10.650 người
(Kết quả các chỉ tiêu về việc làm tại Phụ lục 1, Phụ lục 2 kèm theo).
Đánh giá chung kết quả đạt được:
- Trong giai đoạn từ năm 2011 đến nay, thế và lực thành phố Hải Phòng được nâng lên, khẳng định được vai trò là đầu mối giao thông quan trọng, cửa chính ra biển của miền Bắc, là một Trung tâm công nghiệp, thương mại, dịch vụ, một cực tăng trưởng của vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc Kinh tế duy trì tốc độ tăng trưởng khá; cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, phát huy ngày càng hiệu quả tiềm năng, lợi thế của thành phố; chủ động hơn trong hội nhập quốc tế, không gian kinh tế được mở rộng Thực hiện cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng đạt kết quả bước đầu quan trọng Kết cấu hạ tầng giao thông - đô thị và hạ tầng kinh tế - xã hội được tập trung đầu tư, nhất là một số dự án lớn có ý nghĩa chiến lược đối với sự phát triển của thành phố và vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ; tạo điều kiện cho sự phát triển đột phá trong thời gian tới Thu hút đầu tư khởi sắc,
cả thu hút đầu tư trong nước và nước ngoài, nhất là thu hút nguồn vốn FDI Công tác quy hoạch và quản lý quy hoạch, phát triển và quản lý đô thị có nhiều tiến bộ Xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn được quan tâm Chương trình xây dựng nông thôn mới được tập trung chỉ đạo thực hiện và đạt kết quả rõ nét Công tác quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên, quản lý và bảo vệ môi trường được tăng cường;
- Thành phố đã ban hành cơ chế chính sách ưu đãi, khuyến khích thu hút đầu
tư, qua đó đã tạo ra nhiều việc làm cho người lao động, đặc biệt là các ngành như: chế biến thủy sản, điện tử, may mặc, giày da
- Chương trình mục tiêu việc làm giai đoạn 2011-2015, các năm 2016, 2017, tại thành phố Hải Phòng đã từng bước hỗ trợ giải quyết vấn đề bức xúc về việc làm trong đời sống xã hội Chương trình đã thực sự tạo được những chuyển biến tích cực, góp phần quan trọng vào việc giải quyết việc làm cho nhân dân, thúc đẩy kinh
tế - xã hội phát triển; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tăng tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề Đồng thời tạo sự chuyển biến tích cực về xây dựng nông thôn, kinh tế
ở vùng sâu, vùng xa, góp phần giảm nghèo, giảm tỉ lệ thất nghiệp, thiếu việc làm;
ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, an ninh quốc phòng
- Chương trình đã đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển thị trường lao động, góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động, từng bước đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của thành phố theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa; thực hiện
Trang 8lồng ghép có hiệu quả với các chương trình phát triển kinh tế - xã hội khác, góp phần giảm nghèo, ổn định và phát triển kinh tế - xã hội
- Công tác dạy nghề, xuất khẩu lao động được các cấp, các ngành quan tâm,
có nhiều chuyển biến tích cực, đặc biệt là việc thực hiện có hiệu quả đẩy mạnh công tác xuất khẩu lao động
- Nguồn Quỹ quốc gia về việc làm và nguồn vốn của thành phố ủy thác qua Ngân hàng Chính sách xã hội đã góp phần giải quyết việc làm cho người lao động, nhất là tại khu vực nông thôn, đồng thời tạo cơ hội cho nhóm lao động yếu thế (lao động là người nghèo, người tàn tật, người bị thu hồi đất, ) có cơ hội vay vốn phát triển sản xuất kinh doanh, tạo việc làm cho bản thân và gia đình, xã hội; khôi phục các làng nghề, các nghề truyền thống
- Người lao động được hưởng những quyền lợi hỗ trợ kịp thời khi thất nghiệp thông qua các chế độ từ bảo hiểm thất nghiệp với các biện pháp hỗ trợ bằng trợ cấp hàng tháng, hỗ trợ tư vấn đào tạo nghề phù hợp, hỗ trợ tư vấn việc làm Qua đó, giúp người lao động ổn định cuộc sống, sớm tìm được việc làm phù hợp
- Hệ thống thông tin về thị trường lao động bước đầu đã được thực hiện, cơ
sở dữ liệu cung - cầu được hình thành, các hình thức giao dịch việc làm được phát triển, nhất là việc phát triển hệ thống sàn giao dịch việc làm định kỳ 03 phiên/tháng vào các ngày 10, 20 và 30 hàng tháng và các phiên sàn giao dịch việc làm lưu động tại các huyện trên địa bàn thành phố Người lao động ngày càng được tiếp cận nhiều hơn với hoạt động giao dịch việc làm thông qua các tổ chức hoạt động dịch
vụ việc làm hoạt động có hiệu quả
- Hoạt động truyền thông được đẩy mạnh với nhiều hình thức phong phú và hiệu quả Công tác kiểm tra, giám sát được tổ chức thường xuyên hơn, qua đó đã kịp thời khắc phục những hạn chế yếu kém trong tổ chức thực hiện chương trình
II Những khó khăn, vướng mắc, hạn chế:
- Giai đoạn 2011 – 2015, sự phát triển của thành phố vẫn chưa tương xứng tiềm năng, lợi thế cũng như vị thế của một cực tăng trưởng của vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ Quy mô nền kinh tế thành phố và sức tác động lan toả của một thành phố trung tâm vùng Duyên hải Bắc bộ còn hạn chế Cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm Thu ngân sách còn thấp Môi trường đầu tư còn bất cập; một số dự án lớn, quan trọng chậm tiến độ.Thành phố chưa có nhiều doanh nghiệp trong nước mạnh Kinh tế tập thể còn yếu
- Trong những năm qua, với sự cố gắng nỗ lực của các ngành, các cấp, các địa phương, đã phấn đấu và cơ bản hoàn thành các chỉ tiêu của Chương trình việc làm giai đoạn 2011 - 2015 Tuy nhiên, tình trạng thiếu việc làm vẫn gia tăng, công
Trang 9việc và thu nhập của người lao động thiếu sự ổn định, công tác xuất khẩu lao động còn hạn chế, chất lượng nguồn nhân lực thấp
- Tình trạng thiếu nhỡ việc làm và hiện tượng nhảy việc còn diễn ra ở nhiều nơi; nhu cầu tuyển dụng lao động qua đào tạo nghề, đặc biệt là các doanh nghiệp trong các ngành cơ khí, điện, điện tử tăng cao, song các cơ sở dạy nghề chưa thu hút được học sinh theo học Ngành Công nghiệp - Xây dựng, Dịch vụ chậm phát triển và chưa tương xứng với tiềm năng, nên chưa thu hút được nhiều lao động vào làm việc; phần lớn người lao động còn thụ động trong tìm kiếm việc làm, một số ít lao động còn có tư tưởng xem tạo việc làm chỉ là trách nhiệm của các cơ quan nhà nước Nhiều lao động chưa định hướng nghề nghiệp tương lai trước khi theo học các ngành nghề để gắn liền với cơ hội tìm kiếm việc làm
- Mặc dù chất lượng việc làm đã được cải thiện nhưng số lao động phổ thông, lao động chưa qua đào tạo vẫn chiếm tỷ lệ cao Do nguồn cung lao động hiện đang thấp hơn cầu nên lao động nhập cơ tăng cơ học là điều tất yếu nhưng chất lượng nguồn lao động nhập cư còn thấp
- Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội và thu hút đầu tư nước ngoài, lực lượng lao động di cư từ các tỉnh, thành phố khác và lao động là người nước ngoài đến làm việc tại thành phố Hải Phòng cũng tăng cao hơn Do đó, cũng tạo sự cạnh tranh đối với người lao động của thành phố với người lao động di cư để có việc làm
- Công tác đào tạo nghề còn nhiều bất cập, chưa thật sự gắn liền với giải quyết việc làm qua sự kết nối giữa cơ sở đào tạo với người sử dụng lao động và người lao động học nghề
Việc khai thác cơ sở dữ liệu thị trường lao động thông qua điều tra cung -cầu lao động chưa đạt hiệu quả cao do chất lượng nguồn thông tin còn thấp, năng lực cán bộ quản lý hệ thống thông tin ở các cấp còn bị phân tán và còn chưa theo kịp sự phát triển
- Nguồn Quỹ quốc gia về việc làm chưa đáp ứng nhu cầu cho nhân dân Hoạt động cho vay chủ yếu tập trung vào đối tượng lao động ở khu vực nông nghiệp nên hiệu quả giải quyết việc làm chưa cao Mức cho vay Quỹ quốc gia về việc làm giai đoạn 2011-2015 còn thấp; chậm sửa đổi dẫn đến tính khả thi thấp trong giải quyết việc làm mới cho người lao động (mức cho vay chỉ 20 triệu đồng/hộ gia đình) không đáp ứng đủ nhu cầu vốn để giải quyết việc làm
III Nguyên nhân
- Nền kinh tế thế giới và khu vực có nhiều biến động bất lợi, khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế toàn cầu; tranh chấp chủ quyền trên biển Đông luôn diễn
Trang 10biến phức tạp; đầu tư công giảm, sản xuất và kinh doanh trong nước gặp nhiều khó khăn đã làm ảnh hưởng rất lớn đến công tác giải quyết việc làm; làm gia tăng tình trạng thiếu, nhỡ việc làm và thất nghiệp, gây sức ép cho công tác giải quyết việc làm
- Nền kinh tế của thành phố trong những năm qua tăng trưởng với nhịp độ khá cao nhưng chưa có sự cân đối trong thu-chi ngân sách Việc trích lập nguồn vốn của thành phố ủy thác qua Ngân hàng Chính sách xã hội để tạo việc làm của địa phương hạn chế nên kết quả giải quyết việc làm vẫn chưa tương thích với tốc
độ phát triển kinh tế của thành phố
- Một số địa phương chưa chủ động phát huy nguồn nội lực hiện có, còn tư tưởng trông chờ, ỷ lại, phần lớn hoạt động phải dựa vào ngân sách thành phố và Trung ương; tính chủ động trong xây dựng kế hoạch hành động và kinh phí hoạt động còn hạn chế Các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương chưa có sự quan tâm đúng mức, chỉ đạo điều hành thống nhất, tập trung, quyết liệt; chưa có sự gắn kết chặt chẽ giữa các ngành và địa phương trong tổ chức thực hiện Chương trình
- Các doanh nghiệp có sự phát triển nhanh về số lượng nhưng phần lớn có vốn đầu tư ít, quy mô sản xuất nhỏ và thu hút lao động thấp; tốc độ đô thị hóa, dịch
vụ và du lịch chưa phát triển đúng mức, nên tỷ lệ dịch chuyển lao động theo ngành công nghiệp-xây dựng, dịch vụ còn chậm Việc làm trong doanh nghiệp thiếu sự ổn định, tiền lương còn thấp, các chế độ đối với người lao động chưa được quan tâm đúng mức nên hiệu quả tạo việc làm không cao
- Từ năm 2013 đến nay, Trung ương không bổ sung vốn từ Quỹ quốc gia về việc làm nên nguồn vốn vay còn nhiều hạn chế, mức vay thấp nên chưa đáp ứng được nhu cầu vay vốn của nhân dân Các dự án được duyệt cho vay chủ yếu từ khu vực nông nghiệp, kinh tế hộ gia đình nên hiệu quả về giải quyết việc làm, thu hút lao động từ nguồn này chưa cao
- Công tác xuất khẩu lao động được các cấp chính quyền quan tâm, song chưa đúng mức; công tác tuyên truyền, vận động còn hạn chế; người lao động còn tâm lý e ngại; thị trường xuất khẩu lao động còn hạn hẹp
- Công tác hướng nghiệp, dạy nghề vẫn chưa được chú ý đúng mức, đào tạo cho người lao động chưa theo quy hoạch, lao động qua đào tạo nghề chưa đảm bảo
cả về số lượng và chất lượng, chưa thật sự gắn đào tạo với địa chỉ sử dụng nên dẫn đến tình trạng thiếu lao động có trình độ kỹ thuật đáp ứng được yêu cầu công việc của doanh nghiệp
- Tính tự chủ trong tự tạo việc làm, tự tìm kiếm việc làm của người lao động chưa được phát huy; trình độ tay nghề của người lao động nhìn chung còn thấp,