Đến nay, hệ thống các công trình thủy lợi trên địa bàn thành phố đã được đầu tư xây dựng tương đối hoàn chỉnh từ công trình đầu mối đến mặt ruộng, năng lực thiết kế công trình cơ bản đáp
Trang 1UỶ BAN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Số: /ĐA-UBND Hải Phòng, ngày tháng năm 2019
ĐỀ ÁN
Về cơ chế hỗ trợ kinh phí thủy lợi nội đồng trên địa bàn thành phố Hải Phòng
A THÔNG TIN CHUNG
1 Tên đề án: Đề án Hỗ trợ kinh phí thủy lợi nội đồng trên địa bàn thành phố Hải Phòng
2 Cơ quan chủ trì: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
3 Cơ quan quản lý: Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng
4 Cơ quan phê duyệt: Hội đồng nhân dân thành phố Hải Phòng
5 Thời gian thực hiện đề án: Đến năm 2025
B NỘI DUNG ĐỀ ÁN
PHẦN MỞ ĐẦU
I Tổng quan về hệ thống thủy lợi Hải Phòng
Hệ thống thủy lợi là hệ thống bao gồm các công trình thuỷ lợi có liên quan trực tiếp với nhau về mặt khai thác và bảo vệ trong một khu vực nhất định Địa hình thành phố Hải Phòng bị chia cắt bởi 06 tuyến sông chính là chi lưu của hệ thống sông Thái Bình đổ ra vịnh Bắc Bộ, các công trình thủy lợi trên địa bàn thành phố vì vậy mà bị chia cắt thành 06 hệ thống độc lập nhau bao gồm 05 hệ thống trên đất liền và 01 hệ thống trên đảo: Hệ thống thủy lợi Vĩnh Bảo, Hệ thống thủy lợi Tiên Lãng, Hệ thống thủy lợi Đa Độ, Hệ thống thủy lợi An Hải,
hệ thống thủy lợi Thủy Nguyên và hệ thống thủy lợi trên huyện đảo Cát Hải
Hệ thống các công trình thủy lợi Hải Phòng có nhiệm vụ: Tích trữ, điều hòa, chuyển, phân phối, cấp, tưới, tiêu và thoát nước phục vụ sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, sản xuất muối; kết hợp cấp, tiêu, thoát nước cho sinh hoạt và các ngành kinh tế khác; góp phần phòng, chống thiên tai, bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu và bảo đảm an ninh nguồn nước
Đến nay, hệ thống các công trình thủy lợi trên địa bàn thành phố đã được đầu tư xây dựng tương đối hoàn chỉnh từ công trình đầu mối đến mặt ruộng, năng lực thiết kế công trình cơ bản đáp ứng nhu cầu tưới, tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp và dân sinh trên địa bàn
DỰ THẢO
Trang 2Toàn thành phố hiện có 685 trạm bơm điện tưới, tiêu nước phục vụ sản xuất nông nghiệp, 383 cống dưới đê, 3.833 tuyến kênh chìm từ cấp 3 trở lên với tổng chiều dài 4.059,2 km; 1296km kênh cứng sau trạm bơm điện; 9.299 cống đầu kênh của các tổ chức hợp tác dùng nước (điểm giao nhận sản phẩm dịch vụ thủy lợi); 15.510 tuyến kênh nội đồng sau điểm giao nhận có tổng chiều dài 4.818,6km Các công trình thủy lợi đang phục vụ tưới, tiêu cho trên 100.000 ha diện tích nông nghiệp và thủy sản, cung cấp trên 90 triệu m3 nước thô mỗi năm cho các nhà máy sản xuất nước sạch trên địa bàn thành phố
Các hệ thống thủy lợi trên địa bàn thành phố đều chịu ảnh hưởng trực tiếp của chế độ thuỷ triều vịnh Bắc Bộ, nên có đặc điểm chung là hệ thống đồng bộ giữa tưới và tiêu, đều có kênh trục chính tưới, tiêu kết hợp, các khu tưới và tiêu đều có công trình đầu mối, kênh chính dẫn nước riêng không chồng chéo và không ảnh hưởng xấu đến nhau Hướng tưới và hướng tiêu được xác định cụ thể trong từng hệ thống, từng khu vực, từng mùa vụ, quy trình vận hành hợp lý, rõ ràng
Mặc dù đã được đầu tư hoàn chỉnh từ công trình đầu mối đến mặt ruộng Tuy nhiên, do công trình được xây dựng đã lâu, sau thời gian dài đưa vào vận hành khai thác đã bị xuống cấp Hệ thống kênh chủ yếu là kênh đất thường xuyên bị bồi lắng, tình trạng lấn chiếm lòng kênh gây ách tắc dòng chảy, hạn chế khả năng dẫn và trữ nước thường xuyên xảy ra
II Căn cứ pháp lý để xây dựng Đề án
Căn cứ Luật Thủy lợi số 08/2017/QH14 ngày 19/6/2017;
Căn cứ Nghị định số 67/2018/NĐ- CP ngày 14/5/2018 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Thủy lợi;
Căn cứ Thông tư số 05/2018/TT-BNNPTNT ngày 15/05/2018 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định chi tiết một số điều của Luật Thủy lợi;
Căn cứ Nghị định số 77/2018/NĐ-CP ngày 16/5/2018 của Chính phủ quy định hỗ trợ phát triển thủy lợi nhỏ, thủy lợi nội đồng và tưới tiên tiến, tiết kiệm nước;
Căn cứ Nghị định số 96/2018/NĐ-CP ngày 30/6/2018 của Chính phủ quy định chi tiết về giá sản phẩm, dịch vụ thủy lợi và hỗ trợ tiền sử dụng sản phẩm dịch vụ thủy lợi;
Căn cứ Quyết định số 601/2017/QĐ-UBND ngày 20/3/2017 của Ủy ban nhân dân thành phố về việc Sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 1464/2009/QĐ-UBND ngày 31/7/2009 về việc phân cấp quản lý, khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi trên địa bàn thành phố Hải Phòng;
Trang 3Căn cứ Quyết định số 371/QĐ-UBND ngày 23/3/2012 của Ủy ban nhân dân thành phố về việc giao quản lý, khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi trên địa bàn thành phố Hải Phòng;
Căn cứ Quyết định số 549/QĐ-UBND ngày 14/3/2018 của UBND thành phố về sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 371/QĐ-UBND ngày 23/3/2012 của UBND thành phố về giao quản lý, khai thác và bảo vệ CTTL trên địa bàn thành phố Hải Phòng;
PHẦN I
SỰ CẦN THIẾT PHẢI XÂY DỰNG ĐỀ ÁN
I Hiện trạng hệ thống thủy lợi Hải Phòng
1.1 Hiện trạng công trình thủy lợi
Công trình thủy lợi trên địa bàn thành phố Hải phòng được chia làm 06 hệ thống (05 hệ thống trên đất liền và 01 hệ thống trên huyện đảo Cát Hải) các hệ thống thủy lợi hoàn toàn độc lập với nhau do bị chia cắt bởi 06 tuyến sông là chi lưu của sông hệ thống sông Thái Bình Trên 05 hệ thống thủy lợi trên đất liền có
14 tuyến kênh trục chính, tổng chiều dài 260,2km, 135 kênh cấp I với tổng chiều dài 526,6km, 06 cống đầu mối có khẩu độ 20 42m; 363 cống có khẩu độ dưới 5.0m; 41 cống đầu mối có khẩu độ 5 20m; 337 cống có khẩu độ dưới 5,0m;
678 trạm bơm tưới có tổng công suất 746.960m3/h; 07 trạm bơm đầu mối tiêu có công suất từ 17.500 80.000m3/h Các hệ thống thủy lợi trên có nhiệm vụ tiêu nước cho trên 100.000 ha, cấp nước tưới cho 58.253ha đất canh tác, cấp nước cho sinh hoạt đô thị, khu vực nông thôn, khu công nghiệp và 213 nhà sản xuất nước sạch với khối lượng nước thô trên 90 triệu m3 mỗi năm
Bảng 01: Tổng hợp công trình thủy lợi trên toàn thành phố
TT Hệ thống thủy
lợi
Kênh (km) Cống và công trình
trên kênh Trạm bơm Trước
điểm giao nhận DVTL
Sau điểm giao nhận (TLNĐ)
Trước điểm giao nhận DVTL
Sau điểm giao nhận (TLNĐ)
Trước điểm giao nhận DVTL
Sau điểm giao nhận (TLNĐ)
1 Vĩnh Bảo 470,6 1.217,1 243 2.645 173 0
2 Tiên Lãng 483,8 917,1 187 2.079 85 0
3 Đa Độ 587,0 1.487,1 667 2.381 151 12
4 An Hải 211,1 476,0 305 788 57 12
5 Thủy Nguyên 382,7 719,4 173 1.390 134 55
Trang 4Tổng cộng 2.152,9 4.818,6 1.595 9.299 600 79
1.2 Chất lượng công trình thủy lợi
Theo kết quả đánh giá chất lượng công trình thủy lợi trước mùa mưa bão năm 2019 của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hải Phòng, hiện tại các công trình thủy lợi trong phạm vi từ công trình đầu mối đến điểm giao nhận sản phẩm dịch vụ thủy lợi có chất lượng tương đối tốt, cơ bản đáp ứng nhu cầu phục
vụ tưới, tiêu nước trong điều kiện bình thường Tuy nhiên, trong trường hợp ứng phó với các tình huống mưa, bão toàn thành phố hiện còn 74,025km kênh mương cần nạo vét; 62 cống đầu mối xung yếu cần đầu tư xây dựng mới, 04 trạm bơm tiêu cần nâng cấp, cải tạo
Đối với các công trình thủy lợi nội đồng (công trình nằm trong phạm vi từ điểm giao nhân dịch vụ thủy lợi đến mặt ruộng), theo kết quả khảo sát năm 2019 của Trung tâm Tư vấn xây dựng Thủy lợi thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với Chi cục Thủy lợi và Phòng chống thiên tai thực hiện, toàn thành phố hiện có 9.283 điểm giao nhận sản phẩm dịch vụ thủy lợi; 15.509 tuyến kênh nội đồng sau điểm giao nhận; tổng chiều dài kênh nội đồng là 4.816km Hiện tại, có trên 50% các tuyến kênh nội đồng tương đương với chiều dài khoảng 2.500km kênh nội đồng đang trong tình trạng bị nông đầy, bồi lắng làm hạn chế khả năng dẫn nước; 60% điểm giao nhận dịch vụ thủy lợi chưa có cống điều tiết
1.3 Phân cấp quản lý công trình thủy lợi
Tham gia quản lý các công trình thủy lợi trên địa bàn thành phố hiện có 05 doanh nghiệp 100% vốn nhà nước (Công ty TNHH một thành viên Khai thác công trình thủy lợi) với tổng số 25 cụm, trạm thủy nông trực thuộc; 221 đơn vị dùng nước bao gồm Ủy ban nhân dân các xã, phường, thị trấn; Hợp tác xã dịch
vụ nông nghiệp
Đối với các công trình thủy lợi lớn, công trình đòi hỏi quy trình vận hành phức tạp, quy mô phục vụ liên xã (phần lớn là những công trình nằm trọng phạm
vi từ công trình đầu mối đến điểm giao nhận dịch vụ thủy lợi) Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng đã ban hành các Quyết định số 1464/2009/QĐ-UBND ngày 31/7/2009 về việc phân cấp quản lý, khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi trên địa bàn thành phố Hải Phòng; Quyết định số 371/QĐ-UBND ngày 23/3/2012 về việc giao quản lý, khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi trên địa bàn thành phố Hải Phòng; Quyết định số 601/2017/QĐ-UBND ngày 20/3/2017
về việc sửa đổi, điều chỉnh, bổ sung một số điều của Quyết định số 1464/2009/QĐ-UBND ngày 31/7/2009 về việc phân cấp quản lý, khai thác và
Trang 5bảo vệ công trình thủy lợi trên địa bàn thành phố Hải Phòng; Quyết định số 549/QĐ-UBND ngày 14/3/2018, về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 371/QĐ-UBND về việc giao quản lý, khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi trên địa bàn thành phố Hải Phòng
Theo nội dung các Quyết định trên, Ủy ban nhân dân thành phố đã giao các Công ty TNHH một thành viên Khai thác công trình thủy lợi quản lý 335 cống dưới đê; 1511 tuyến kênh bao gồm các tuyến kênh liên xã, kênh hút và kênh cấp 1 sau trạm bơm điện; 2749 công trình trên kênh
Các công trình thủy lợi còn lại (chủ yếu là công trình thủy lợi nội đồng) hiện đang được Ủy ban nhân dân các xã, phường, thị trấn; Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp quản lý, khai thác
Bảng 02: Bảng tổng hợp công trình thủy lợi theo các đối tượng quản lý
TT Hệ thốngthủy lợi
Doanh nghiệp quản lý (UBND huyện Cát Hải quản lý) Tổ chức thủy lợi cơ sở quản lý Số
cống dưới đê
Số CT trên kênh
Số tuyến kênh
Chiều dài kênh (km)
Số trạm bơm
Số tuyến kênh
Chiều dài kênh (km)
Cống đầu kênh
Trạm bơm
1 Vĩnh Bảo 73 170 316 470,6 173 3.847 1.217,1 2.645 0
2 Tiên Lãng 74 113 261 483,8 85 3.033 917,1 2.079 0
3 Thủy Nguyên 75 98 388 382,7 134 2.226 719,4 1.390 55
4 An Hải 40 265 177 211,1 57 1.738 476,0 788 12
5 Đa Độ 73 594 414 587,0 151 4.665 1.487,1 2.381 12
Tổng cộng 355 1.240 1.574 2.152,9 600 15.510 4.818,6 9.299 79
II Hiện trạng thủy lợi nội đồng
2.1 Số lượng công trình thủy lợi nội đồng
Toàn thành phố có 15.510 tuyến kênh nội tổng chiều dài 4.818,6km; 9.299 cống đầu kênh là các điểm giao nhận sản phẩm, dịch vụ thủy lợi; 79 trạm bơm điện tưới Toàn bộ các công trình thủy lợi nội đồng là những công trình có quy
mô nhỏ bao gồm:
- Các cống đầu các tuyến kênh nội đồng (điểm giao nhận sản phẩm, dịch
vụ thủy lợi;
Trang 6- Các tuyến kênh cấp 2, cấp 3, cấp 4 có phạm vi phục vụ trong phạm vi một thôn, một xã Số các công trình này chủ yếu là các tuyến kênh có quy mô nhỏ, chiều rộng đáy kênh dưới 5m
- Các trạm bơm điện có tổng công suất máy bơm dưới 500m3/h, chủ yếu
là trạm bơm dầu, trạm bơm không cố định
- Các cống dưới đê bao, đê bối phục vụ cho phạm vi nhỏ
2.2 Chất lượng công trình thủy lợi nội đồng
Theo kết quả thống kê, rà soát các công trình thủy lợi nội đồng trên địa bàn thành phố: Trong số 4818,6km kênh mương nội đồng hiện nay có tới trên 90% là kênh có kết cầu bằng đất đắp; 50% số công trình với chiều dài tương ứng khoảng 2.500km đang trong tình trạng nông đầy, mặt kênh bị bao phủ bởi bèo, rác không đảm bảo năng lực dẫn nước theo thiết kế
Phần lớn các điểm giao nhận sản phẩm dịch vụ thủy lợi hiện nay đều chưa
có cống điều tiết, dẫn đến tình trạng không kiểm soát được mực nước tại khu vực canh tác theo yêu cầu sinh trưởng và phát triển của cây trồng
Các trạm bơm điện nhỏ thuộc công trình thủy lợi nội đồng do các tổ chức thủy lợi cơ sở quản lý hiện tại hầu hết cũng đang trong tình trạng xuống cấp nghiêm trọng
Tình trạng công trình thủy lợi nội đồng bị xuống cấp, nông đầy, nguồn nước trong kênh thiếu luân chuyển dẫn đến nhiều tuyến kênh bị ô nhiễm nghiêm trọng Tình trạng ô nhiễm ngày càng tăng do hầu hết các tuyến kênh nội đồng đều là nơi trực tiếp tiếp nhận nguồn nước thải từ các khu dân cư, khu đất canh tác nông nghiệp mang theo chất hữu cơ và dư lượng thuốc bảo vệ thực vật
2.3 Hiện trạng quản lý công trình thủy lợi nội đồng
Theo Quyết định số 1464/QĐ-UBND ngày 31/7/2009 của Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng về việc phân cấp quản lý, khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi trên địa bàn thành phố, các tổ chức hợp tác dùng nước được giao nhiệm vụ quản lý các công trình thủy lợi còn lại (ngoài công trình giao cho các Công ty TNHH MTV khai thác công trình thủy lợi), bao gồm các tuyến kênh cấp 2, cấp 3, cấp 4 phục vụ trong phạm vi một thôn, một xã; các trạm bơm điện
có công suất máy bơm nhỏ hơn 500m3/h Toàn bộ các công trình này đều nằm trong phạm vi công trình thủy lợi nội đồng
Tuy nhiên, thực tế hiện nay tại nhiều địa phương chưa thành lập được tổ chức dùng nước hoặc Hợp tác xã nông nghiệp có làm dịch vụ thủy lợi Một số
Trang 7địa phương có tổ hợp tác nhưng làm ăn không hiệu quả, thu không đủ bù chi đã
tự giải thể, dẫn đến việc Ủy ban nhân dân các xã phải trực tiếp quản lý các công trình thủy lợi nội đồng Tổng hợp kết quả khảo sát tình hình quản lý các công trình nội đồng tại các địa phương như sau:
Bảng 3: Tổng hợp tình hình quản lý công trình thủy lợi nội đồng
TT Hệ thống thủy lợi
Loại hình quản lý
Ủy ban nhân dân xã quản lý Hợp tác xã quản lý Cống
đầu kênh
Số kênh sau cống
Chiều dài (km)
Cống đầu kênh
Số kênh sau cống
Chiều dài (km)
1 Vĩnh Bảo 2.645 3.847 1.217,10 0 0 0
2 Tiên Lãng 624 910 275,14 1.455 2.123 642,00
3 Đa Độ 1.548 3.032 966,59 833 1.633 520,47
4 An Hải 473 1.043 285,57 315 695 190,38
5 Thủy Nguyên 0 0 0 1.390 2.226 719,44
Tổng 5.306 8.833 2.746,30 3.993 6.677 2.072,30 III Tình hình tài chính phục vụ quản lý, khai thác thủy lợi nội đồng
Kinh phí phục vụ quản lý, khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi nội đồng được thu từ đóng góp của tổ chức, cá nhân sử dụng sản phẩm, dịch vụ thủy lợi
và nguồn hỗ trợ từ ngân sách thành phố
Nguồn thu từ ngân sách thành phố cấp hỗ trợ: Giai đoạn 2007-2008 mức
hỗ trợ là 2.000 đồng/sào/vụ tương đương với 55.555 đồng/ha/vụ Giai đoạn 2008-2015, mức hỗ trợ là 4.000 đồng/sào/vụ, tương đương 111.111đồng/ha/vụ
Nguồn thu từ đóng góp của người dân: Thực tế tại các địa phương việc thu tiền làm thủy lợi nội đồng của người dân gặp rất nhiều khó khăn do các nguyên nhân: Thu nhập từ sản xuất nông nghiệp của các hộ dân còn ở mức thấp, trong khi đó ngoài khoản thu cho chi phí thủy lợi nội đồng còn có nhiều khoản thu khác; quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa dẫn tới biến động về cơ cấu lao động sản xuất nông nghiệp; lao động nông nghiệp chủ yếu tập trung vào các đối tượng người lớn tuổi và người già, dẫn đến khả năng đóng góp khó được đáp ứng
Tại nhiều địa phương như các phường thuộc quận Kiến An; phường Anh Dũng, Hòa Nghĩa quận Dương Kinh; phường Tràng Cát quận Hải An; thị trấn
An Lão huyện An Lão; các xã Lâm Động, Dương Quan huyện Thủy Nguyên không tổ chức thu hoặc không thu được kinh phí làm thủy lợi nội đồng Tại các phường, xã còn lại có tổ chức thu nhưng kinh phí thu được phục vụ cả cho công tác làm thủy lợi nội đồng, bảo vệ đồng ruộng, diệt chuột
Trang 8Thực tế tại các địa phương, tổng hợp các nguồn thu cho quản lý, khai thác
và bảo vệ công trình thủy lợi nội đồng đều không đủ chi, dẫn đến các tổ chức thủy lợi cơ sở hoạt động không bền vững, công trình không được duy tu, bảo dưỡng thường xuyên, nhiều công trình xuống cấp nghiêm trọng, không đảm bảo khả năng phục vụ sản xuất
IV Một số chính sách hỗ trợ thủy lợi nội đồng đã ban hành và kết quả thực hiện
4.1 Các chính sách đã ban hành
Nghị quyết số 10/2007/NQ-HĐND ngày 25/9/2007 của Hội đồng nhân dân thành phố khóa XIII về cơ chế chính sách khuyến khích phát triển nông nghiệp, thủy sản thành phố Hải Phòng đến năm 2010, định hướng đến năm
2020; theo đó tại điểm a, khoản 7 Điều 1 quy định: “Giảm 70% thủy lợi phí cho
các đối tượng chịu thủy lợi phí Giao Ủy ban nhân dân thành phố quyết định mức giảm ở từng khâu cụ thể để đảm bảo chất lượng dịch vụ và trách nhiệm của
tổ chức cung cấp dịch vụ và người được hưởng lợi”;
Nghị quyết số 14/2010/NQ-HĐND ngày 09/12/2010 của Hội đồng nhân dân thành phố về cơ chế, chính sách khuyến khích phát triển nông nghiệp, thủy sản thành phố Hải Phòng giai đoạn 2011-2015, theo đó tại khoản 1 Điều 1 quy
định: “Tiếp tục thực hiện một số cơ chế chính sách đã quy định tại Nghị quyết
số 10/2007/NQ-HĐND ngày 25/9/2007 của Hội đồng nhân dân thành phố khóa XIII”;
Nghị quyết số 151/2016/NQ-HĐND ngày 13/12/2016 của Hội đồng nhân dân thành phố Hải Phòng về việc thông qua Kế hoạch thực hiện Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2017-2020; Theo phụ lục
6 ban hành kèm theo Nghị quyết: Kinh phí hỗ trợ phát triển sản xuất nông
nghiệp nâng cao đời sống nông dân giai đoạn 2017-2020, trong đó hỗ trợ 100%
phí dịch vụ thủy lợi nội đồng, mức hỗ trợ 15.000đồng/sào/vụ.
4.2 Kết quả thực hiện
Tổng kinh phí ngân sách thành phố hỗ trợ thủy lợi nội đồng trên địa bàn thành phố giai đoạn từ 2008 đến nay là 84.782,389 triệu đồng, trong đó:
a) Giai đoạn 2008-2016
Thực hiện các chính sách của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân thành phố về hỗ trợ thủy lợi phí cho các tổ chức hợp tác dùng nước để phục vụ cho hoạt động của tổ hợp tác dùng nước tính từ vị trí cống đầu kênh của tổ chức hợp tác dùng nước đến mặt ruộng (thủy lợi nội đồng), theo đó hỗ trợ 50% mức
Trang 9tối đa của khung mức quy định: 2.000đồng/sào/vụ (năm 2008) và 4.000đồng/sào/vụ (năm 2009-2016), tổng kinh phí hỗ trợ thủy lợi nội đồng từ ngân sách thành phố cấp cho 11 quận, huyện có diện tích sản xuất nông nghiệp
giai đoạn này là 84.782.389 nghìn đồng (theo số liệu Báo cáo của Thanh tra
thành phố tại Báo cáo số 121/BC-TTTP ngày 17/9/2018), trong đó số kinh phí
hỗ trợ theo các năm cụ thể như sau:
b) Giai đoạn 2017 đến nay
Theo quy định tại Nghị quyết số 151/2016/NQ-HĐND ngày 13/12/2016 của Hội đồng nhân dân thành phố (Nghị quyết số 151), hỗ trợ 100% phí dịch vụ thủy lợi nội đồng, với mức hỗ trợ 15.000đồng/sào/vụ
Tuy nhiên, theo quy định tại Luật Phí và Lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 có hiệu lực từ ngày 01/01/2017 thì danh mục phí các loại sản phẩm dịch vụ công ích thủy lợi chuyển sang giá dịch vụ do Nhà nước định giá và được
áp dụng từ ngày 01/01/2017 Đồng thời, Luật thủy lợi có hiệu lực từ ngày 01/7/2018, trong đó quy định kinh phí thuỷ lợi nội đồng là mức đóng góp để đảm bảo chi trả tiền sản phẩm, dịch vụ thủy lợi theo quy định được các thành viên của tổ chức thủy lợi cơ sở thống nhất Đối tượng, hỗ trợ phí thủy lợi nội đồng trong Nghị quyết số 151 chỉ bao gồm các xã xây dựng nông thôn mới, trong thực tế, các phường, thị trấn cũng có thủy lợi nội đồng
Như vậy, Nghị quyết số 151 không phù hợp với quy định của Luật giá, Luật phí và lệ phí và Luật thủy lợi Đây là khó khăn trong quá trình triển khai Nghị quyết Dẫn đến từ năm 2017 đến nay, vẫn chưa thực hiện được việc hỗ trợ phí thủy lợi nội đồng đối với người nông dân
V Tồn tại hạn chế trong quản lý, khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi nội đồng
Trang 105.1 Tồn tại trong phân cấp quản lý
Nguyên tắc của quản lý công trình thủy lợi là: Quản lý thống nhất theo hệ thống công trình thủy lợi từ công trình đầu mối đến công trình thủy lợi nội đồng; phù hợp với mục tiêu, nhiệm vụ của hệ thống, đáp ứng yêu cầu về số lượng, chất lượng nước phục vụ sản xuất, dân sinh và các ngành kinh tế
Để đảm nguyên tắc trên, Ủy ban nhân dân thành phố đã ban hành các Quyết định phân cấp quản lý công trình thủy lợi, theo đó các Công ty TNHH MTV khai thác công trình thủy lợi 100% vốn nhà nước quản lý các công trình: Cống qua đê, các tuyến kênh sau cống qua đê; các tuyến kênh chìm phục vụ liên xã; các trạm bơm điện tưới, tiêu và các tuyến kênh hút, kênh tưới cấp 1 sau trạm bơm tưới có công suất máy bơm từ 500m3/giờ trở lên Các công trình thủy lợi còn lại được giao cho các tổ chức thủy lợi cơ sở quản lý
Tuy nhiên, việc phân cấp quản lý không xác định được vị trí cống đầu kênh (điểm giao nhận sản phẩm, dịch vụ thủy lợi) dẫn đến tình trạng mặc định các công trình do Tổ chức thủy lợi cơ sở quản lý là công trình thủy lợi nội đồng Trong khi đó, chính sách cấp bù thủy lợi phí theo quy định của Chính phủ chỉ cấp bù cho những công trình trong phạm vi từ công trình đầu mối đến điểm giao nhận sản phẩm, dịch vụ thủy lợi Như vậy, toàn bộ công trình do địa phương quản lý trong đó có những công trình lớn không được hưởng nguồn kinh phí từ cấp bù do miễn thủy lợi phí
Thực tế có một số công trình giao cho các Công ty TNHH một thành viên Khai thác công trình thủy lợi quản lý có quy mô công trình, diện tích phục vụ rất nhỏ nhưng vẫn được sử dụng kinh phí cấp bù thủy lợi phí, để phục vụ quản lý, khai thác Trong khi đó, một số công trình do Tổ chức thủy lợi cơ sở quản lý lại
có quy mô, diện tích phục vụ lớn nhưng phải thu kinh phí từ người dân để quản
lý, khai thác Tình trạng này vừa làm tăng gánh nặng đóng góp vừa làm cho nhân dân tại một số địa phương hiểu sai về chính sách miễn thủy lợi phí và muốn giao toàn bộ công trình thủy lợi cho các Công ty TNHH một thành viên Khai thác công trình thủy lợi quản lý để không phải đóng góp làm thủy lợi nội đồng
5.2 Tồn tại trong chính sách hỗ trợ
a) Giai đoạn 2008-2016
Trong giai đoạn từ năm 2008 đến năm 2016, Hội đồng nhân dân thành phố
đã ban hành các Nghị quyết số 10/2007/HĐND ngày 25/9/2007 và Nghị quyết
số 14/2010/NQ-HĐND ngày 09/12/2010; Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng ban hành các Quyết định số 677/QĐ-UBND ngày 25/4/2008 và Quyết định số 943/QĐ-UBND ngày 26/5/2009, trong đó quy định kinh phí thủy lợi nội