1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thi giảng viên chính giao dục đại học và toàn cầu hóa

41 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 41
Dung lượng 94,71 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

GIÁ TRỊ TRUYỀN THỐNG CỦA ĐH• Với tư cách một tổ chức độc lập và nhiều khi mang tính chất phản biện, trường đại học giữ vai trò bảo tồn, làm sáng tỏ, và phát triển các giá trị lịch sử-văn

Trang 1

GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VÀ TOÀN

CẦU HÓA

Trang 2

TOÀN CẦU HÓA

• Toàn cầu hóa (TCH) không phải là hiện tượng mới mẻ, TCH đã xuất hiện ở thế kỷ XV và diễn

ra mạnh mẽ hơn ở cuối thế kỷ XIX

• Cho đến nay, vẫn còn đang có những ý kiến khác nhau về nguồn gốc và bản chất của quá trình TCH

Trang 3

• Trong khi đó, một số người khác lại cho rằng, TCH diễn ra từ cuối thế kỷ XIX cùng với sự phát

triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng công

nghiệp tạo nên sự phát triển của lực lượng

sản xuất và các phương tiện vận tải

Trang 4

• Nhưng, dù xuất hiện sớm hơn hay muộn hơn, trong thời đại hiện nay, TCH mang một nội

dung với những nét đặc thù mới

• Một số học giả gọi TCH hiện nay là toàn cầu

hóa tư bản chủ nghĩa Bởi lẽ, quá trình đó

đang chịu sự chi phối mạnh mẽ của các nước

tư bản, đặc biệt là các nước tư bản lớn.

Trang 5

• Trong khi một số nước đang phát triển tiếp

nhận TCH một cách hồ hởi thì ở nhiều nước

phát triển, phong trào chống TCH lại diễn ra

một cách rộng khắp và thu hút hàng vạn người tham gia

Trang 6

• Song, được ủng hộ hay bị phản đối, TCH vẫn

là một xu thế tất yếu và ngày càng được mở

rộng mà mỗi quốc gia dân tộc phải đối mặt với

• Vậy tính tất yếu của toàn cầu hoá được biểu

hiện như thế nào?

Trang 7

Toàn cầu hoá:

Trước hết là một hiện tượng vật chất hay kinh

• Ngoài tính toàn cầu của thị trường hàng hoá và dịch vụ, tài chính và tiền tệ cũng mang tính chất toàn cầu

Trang 8

• Một yếu tố khác không kém quan trọng làm

cho thị trường có tính toàn cầu là công nghệ điện tử mới của thông tin và viễn thông Chính

công nghệ mới đó không chỉ mang tính kinh

tế, mà còn mang tính chính trị và xã hội sâu

sắc

Trang 9

• Nhưng, ngoài ý nghĩa là một hiện tượng vật

chất, nó còn mang một ý nghĩa văn hoá, tinh

thần sâu sắc Bởi lẽ, trên thực tế, không có

một công việc nào của con người, không có

một hiện tượng nào trong xã hội lại chỉ mang ý nghĩa thuần tuý kinh tế

Trang 10

Về mặt xã hội

• Những nhu cầu của nền kinh tế toàn cầu đã và đang mang lại những thay đổi to lớn trong

thói quen lao động và lối sống của con người

ở tất cả các quốc gia dân tộc Sự phân hoá

giàu nghèo, tệ nạn xã hội và tội phạm mang

tính quốc tế, v.v đang là những vấn đề làm

đau đầu các quốc gia dân tộc

Trang 11

• Nói tóm lại, chính TCH đang làm cho những vấn đề toàn cầu của thời đại tác động mạnh

mẽ và nhanh chóng đến các quốc gia dân tộc Ngày nay, không một quốc gia dân tộc nào có thể làm ngơ trước sự lan truyền một cách nhanh chóng và rộng rãi của các bệnh dịch, như SARS, cúm gà, v.v.; của các nạn khủng bố, tội phạm quốc tế, v.v

Trang 12

Về mặt chính trị

• Người ta thường nhắc tới những thách thức

nghiêm trọng của TCH đối với chủ quyền quốc gia

• Điều đó được lý giải bằng sự tác động của kinh

tế đối với chính trị Sự hội nhập về kinh tế tăng lên sẽ kéo theo sự hội nhập về chính trị

• Với lôgíc đó, người ta nói đến sự suy yếu của

mô hình quốc gia dân tộc

Trang 13

• Trong bối cảnh TCH hiện nay, người ta thường nói về sự phụ thuộc lẫn nhau của các quốc gia dân tộc hơn là đề cập đến sự độc lập hoàn

toàn của các quốc gia đó

• Có thể nói, không có và không thể có một

quốc gia đứng độc lập hoàn toàn tách biệt với thế giới bên ngoài trong bối cảnh TCH

Trang 14

• Như vậy, TCH kinh tế là khía cạnh quan trọng nhất của TCH; nó đang tác động mạnh mẽ đến lĩnh vực chính trị Đến lượt mình, những thay đổi về chính trị lại có tác động trở lại đối với kinh tế

• Song, điều cần quan tâm và nhấn mạnh lại

chính là ở sự tác động của kinh tế và những

thay đổi chính trị đối với văn hoá trong bối

cảnh TCH

Trang 16

• Quan niệm về sự xung đột giữa các nền văn

minh của Samuel Huntington (nhà nghiên cứu chính trị xuất sắc-Hoa kỳ) đã khẳng định rằng, trong điều kiện TCH, giữa các nền văn minh

luôn có sự xung đột và không thể có một nền hoà bình nào hết, vì phương Tây muốn đấu

tranh cho lợi ích của mình đến toàn thắng, tức

là buộc thế giới phi phương Tây phải khuất

phục hoàn toàn(3)

Trang 17

• Trên thực tế, những gì mà TCH mang lại cho con người trong những thập kỷ qua đã làm

cho không ít các quốc gia băn khoăn, lo lắng Báo cáo phát triển người của UNDP năm 1999

đã phác họa một bức tranh khá không bình

đẳng giữa các nước, cũng như giữa những

tầng lớp người khác nhau

Trang 18

• Theo báo cáo đó, vào cuối những năm 90, 1/5 dân số thế giới sống trong những nước có thu nhập cao nhất chiếm tới: 86% GDP của thế

giới, 82% các thị trường xuất khẩu thế giới,

68% đầu tư nước ngoài trực tiếp, 74% số máy điện thoại thế giới; trong khi đó, 1/5 dân số

sống trong những nước có thu nhập thấp nhất chỉ chiếm 1% các chỉ số nói trên

Trang 19

• Đúng như Kofi Annan, Tổng thư ký Liên hiệp Quốc,

đã khẳng định: “Toàn cầu hoá đang làm cho chúng

ta xích lại gần nhau hơn theo nghĩa tất cả chúng ta đều phải chịu ảnh hưởng từ những hành động của nhau, chứ không phải theo nghĩa tất cả chúng ta đều sử dụng những lợi thế của nó và cùng nhau chia sẻ gánh nặng Trái lại, chúng ta đã để toàn

cầu hoá làm cho chúng ta tách xa nhau ra hơn do

hố ngăn cách ngày càng lớn về mức độ của cải và quyền lực giữa các nước khác nhau và ngay trong từng nước”.

Trang 20

• Xét một cách đại thể, các nước phát triển hơn

về kinh tế, giàu có hơn sẽ được chia sẻ cơ hội nhiều hơn các nước nghèo

• Điều đó cũng có nghĩa là, TCH sẽ đem lại cho

các nước nghèo, đang phát triển nhiều thách thức hơn so với cơ hội.

Trang 21

GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VÀ TOÀN CẦU HÓA

Trang 22

GIÁ TRỊ TRUYỀN THỐNG CỦA ĐH

• Với tư cách một tổ chức độc lập và nhiều khi mang tính chất phản biện, trường đại học giữ vai trò bảo tồn, làm sáng tỏ, và phát triển các giá trị lịch sử-văn hóa-xã hội; là nơi quảng bá tri thức nhân loại;

• Trong nhiều thế kỷ, các trường đại học được xem là nơi đào tạo nghề nghiệp (như luật, y khoa và thần học) cũng như giáo dục các bộ môn khoa học

Trang 23

• Vào thế kỷ 19, trường đại học được bổ sung thêm nhiệm vụ nghiên cứu, và sau đó nhiệm vụ cung cấp một số dịch vụ cho xã hội

• Các trường đại học đã từng được nhà nước hay nhà thờ tài trợ Thậm chí các trường được tài trợ từ các nguồn tư nhân cũng xác định sứ mạng của họ là phục vụ xã hội Giáo dục đã được xem là lợi ích công (public good), một thứ mang lại những đóng góp có giá trị cho xã hội

và do vậy đáng được tài trợ

Trang 24

• Như vậy, trường đại học là nơi học tập, nghiên cứu và phục vụ xã hội thông qua ứng dụng tri thức

• Các nhà khoa học được tạo điều kiện tách khỏi áp lực xã hội -thông qua cơ chế tự do học thuật- một cách hoàn toàn đúng đắn bởi vì họ phục vụ cho lợi ích rộng lớn hơn của xã hội Cơ chế bổ nhiệm vào biên chế bảo vệ các giáo sư để bảo đảm cho họ quyền tự do giảng dạy và nghiên cứu mà không phải lo lắng về những trừng phạt của xã hội.

Trang 25

GDĐH : TOÀN CẦU HÓA, THƯƠNG MẠI HÓA

• Thương mại hóa giáo dục giờ đây đã vươn ra thị trường toàn cầu;

• Giáo dục đại học đang ngày càng bị coi là một sản phẩm thương mại để mua và bán giống

như những thứ hàng hóa khác trên thị trường;

Trang 26

• Tổ chức Thương mại Thế giới (World Trade Organisation-WTO) xem xét một loạt các vấn xem giáo dục đại học như một lĩnh vực thương mại nhằm bảo đảm cho việc xuất nhập

khẩu giáo dục đại học tuân theo những luật lệ

phức tạp, những quy định pháp quy theo nghị định thư WTO và bảo đảm cho nó gần như không bị hạn chế;

Trang 27

• Chủ kiến đó của WTO đặt ra những mối đe dọa

nghiêm trọng đối với :

- triết lý truyền thống của trường đại học;

- quyền kiểm soát giáo dục của quốc gia, thậm chí của các trường;

Vì vậy rất cần được cân nhắc hết sức thận trọng

Văn phòng Công nghiệp Dịch vụ thuộc Bộ Thương mại Hoa Kỳ đứng đàng sau những nỗ lực thương mại hóa giáo dục đại học ở Hoa Kỳ và trên toàn cầu.

Trang 28

• Chúng ta đang ở giữa cuộc cách mạng thực sự trong giáo dục đại học, một cuộc cách mạng

có khả năng làm biến đổi hết sức sâu sắc những hiểu biết của chúng ta về vai trò của trường đại học

VẬY TÁC ĐỘNG CỦA TCH ĐỐI VỚI GD NÓI

CHUNG VÀ GDĐH NÓI RIÊNG?

Trang 29

TCH đã là một thực tế, không chỉ là khái niệm.Các trường đại học trên thế giới cũng đều

đang bị xu hướng TCH chi phối, xu hướng đại chúng hóa giáo dục, tác động của công nghệ truyền thông, trách nhiệm của các trường đối với nhà nước, một lực lượng giảng viên ngày càng tăng tính chất quốc tế và lưu động, mạng lưới nghiên cứu toàn cầu, và nhiều hiện tượng khác nữa…

Trang 30

• Rất nhiều hiện tượng trên đây đang nối kết từng

trường đại học với hệ thống đại học toàn cầu

• Việc sử dụng tiếng Anh như một ngôn ngữ chung cho truyền thông khoa học và giảng dạy, nhất là khi kết

hợp với internet đã khiến cho việc giao tiếp thành ra

dễ dàng và nhanh chóng hơn

• Sự ra đời của các trường đại học đa quốc gia khiến

việc phổ biến những chương trình đào tạo mới và

nhiều cải cách khác biến thành hiện thực nhanh

chóng nhằm đáp ứng nhu cầu tức thời của những

nước mà hệ thống giáo dục đại học chưa có đủ những nhà cung cấp tương xứng.

Trang 31

Một góc nhìn về bất lợi

của TCH

• Xu hướng tăng cường sử dụng internet, sự TCH

của tri thức đang đặt những vấn đề nghiêm trọng đối với các trường đại học và các hệ thống đào tạo đại học ở những nước nhỏ hơn hoặc nghèo hơn;

• Thế giới bị phân cực thành những trung tâm và

vùng ngoại biên, các trung tâm sẽ tăng trưởng

mạnh hơn và áp đảo hơn khiến các vùng ngoại

biên ngày càng bị cách ly khỏi nhịp điệu phát triển

xã hội;

Trang 32

• Có rất ít khoảng trống để các trường đại học hay các hệ thống đào tạo đại học phát triển

một cách độc lập trong bối cảnh hệ thống giáo dục đại học toàn cầu đang ngày càng cạnh

tranh và biến chuyển nhanh và bị thống trị

bởi những trường đại học đẳng cấp quốc tế

ở những nước công nghiệp hóa

Trang 33

• Những trung tâm học thuật truyền thống trở thành mạnh hơn và thống trị áp đảo hơn bao giờ hết, chủ yếu là ở các nước nói tiếng Anh (Hoa Kỳ, Anh, Canada, Úc và một số nước

thuộc Liên hiệp Châu Âu như Đức, Pháp, và về vài khía cạnh là Ý và Tây Ban Nha)

Trang 34

• Các nước này là không chỉ là vương quốc của những trường đại học và cơ sở nghiên cứu

thống trị toàn cầu, mà còn là của những tập

đoàn đa quốc gia vô cùng hùng mạnh

Trang 35

• Những công ty công nghệ thông tin như

Microsoft và IBM, những doanh nghiệp công nghệ sinh học và y dược như Merck hay

Genzymer, những nhà xuất bản đa quốc gia như Elsevier hay Bertelmann, cùng với những công ty khác, … đang thống trị thương mại quốc tế trong lãnh vực tri thức, những sản

phẩm dựa trên tri thức và công nghệ thông tin.

Trang 36

Tóm lại

• Những nước nhỏ hơn và nghèo hơn có rất ít

tự chủ hay tiềm năng cạnh tranh trong thế giới TCH

• TCH trong giáo dục đại học đang làm trầm

trọng thêm những bất bình đẳng sâu sắc giữa các trường đại học trên thế giới

Trang 37

TCH = Thương mại hóa tri thức

và hệ lụy

• Với sự phát triển xu hướng thương mại hóa của giáo dục đại học, những giá trị của thị trường đã ùa vào trường đại học và bắt nhà trường phải thay đổi theo ý nó

• Một trong những nhân tố chính là sự thay đổi trong thái độ của xã hội đối với trường đại học : Giáo dục đại học giờ đây được xem là một “lợi ích tư” mang lại lợi ích cho những người học tập hay nghiên cứu

Trang 38

• Theo quan điểm này, có vẻ hợp lý khi cho rằng người sử dụng dịch vụ giáo dục phải trả tiền cũng giống như khi họ sử dụng những dịch vụ khác

• Việc cung cấp tri thức trở thành một giao dịch thương mại đơn thuần

• Nhà nước, người đóng vai trò cung cấp ngân sách chủ yếu, ngày càng không muốn hoặc

không có khả năng cung cấp nguồn lực đủ cho việc mở rộng giáo dục đại học

Trang 39

• Người ta mong đợi các trường đại học tự tạo

ra ngân sách hoạt động cho mình Họ phải suy nghĩ giống như các doanh nghiệp hơn là như những tổ chức giáo dục

Trang 40

• Trong bối cảnh đó sự phát triển hợp lý sẽ là tư nhân hóa các trường đại học công lập- bán các sản phẩm tri thức, tham gia các hợp tác liên

kết, cũng như tăng học phí

• Sự sinh sôi nảy nở của đủ mọi loại trường tư nhất là trong thành phần vì lợi nhuận, là một sản phẩm phụ của thương mại hóa

Trang 41

• Các công ty giáo dục, trong đó có những công

ty tự gọi mình là trường đại học, bán các kỹ năng và các chương trình đào tạo, cấp văn

bằng và chứng chỉ cho khách hàng có nhu cầu (sinh viên)

• Nghiên cứu được coi là một sản phẩm có thể thay thế được hơn là một yêu cầu được thực hiện nhằm mở rộng biên giới của khoa học

Ngày đăng: 26/11/2021, 08:56

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w