1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thi giảng viên chính xây dựng môi trường văn hóa đại học

31 46 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Xây Dựng Môi Trường Văn Hóa Trong Cơ Sở Giáo Dục Đại Học
Tác giả Mai Văn Hưng
Trường học Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Giáo Dục
Thể loại Chuyên Đề
Năm xuất bản 2016
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 322,81 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với cách tiếp cận cơ bản như vậy, tác giả xin được đưa ra khái niệm văn hóa Nhà trường như sau: Văn hóa nhà trường là một tập hợp các giá trị, niềm tin, hiểu biết, chuẩn mực cơ bản được

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

MAI VĂN HƯNG

Chuyên đề 10

XÂY DỰNG MÔI TRƯỜNG VĂN HÓA TRONG CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC

HÀ NỘI – 2016

Trang 2

A- MỤC TIÊU CHUYÊN ĐỀ

1 Kiến thức

- Phân tích được các khái niệm (văn hóa, văn hóa tổ chức và văn hóa nhà trường)

và đặc trưng của văn hóa nhà trường trong các cơ sở giáo dục đại học

- Giải thích được tầm quan trọng của văn hoá nhà trường, vai trò lãnh đạo của

Hiệu trưởng trong việc phát triển văn hoá nhà trường đại học

- Trình bày các biện pháp quản lý để xây dựng và phát triển văn hóa nhà trường

trong các cơ sở giáo dục đại học

2.Kỹ năng

Vận dụng kiến thức xác định được các giá trị cốt lõi và từ đó đưa ra các biện pháp

xây dựng và phát triển văn hóa nhà trường

Rèn luyện các kĩ năng xây dựng và văn hóa trong các đơn vị đào tạo bậc đại học

hiện nay

3.Thái độ

Có ý thức và thái độ tích cực trong việc xây dựng và phát triển văn hóa nhà trường trong các cơ sở giáo dục đại học

B- KHÁI QUÁT NỘI DUNG CHUYÊN ĐỀ

1 Xây dựng môi trường văn hóa trong cơ sở GDĐH (văn hóa nhà trường) và phát triển

thương hiệu

a) Khái niệm văn hóa nhà trường;

b) Cấu trúc của văn hóa nhà trường;

c) Văn hóa nhà trường và xây dựng thương hiệu của nhà trường

2 Văn hóa nhà trường và đạo đức nghề nghiệp

a) Đạo đức nghề nghiệp và biểu hiện của đạo đức nghề nghiệp;

b) Hình thành và bảo vệ chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp qua xây dựng văn hóa nhà

trường

Trang 3

3 Văn hóa nhà trường và phát triển đội ngũ

a) Các yêu cầu về phẩm chất và năng lực nghề nghiệp đối với giảng viên đại học;

b) Nuôi dưỡng văn hóa nhà trường và vấn đề phát triển phẩm chất, năng lực nghề nghiệp cho giảng viên và người học

4 Báo cáo thực tiễn công tác xây dựng văn hóa nhà trường của một cơ sở GDĐH

C- NỘI DUNG CHI TIẾT

1 Xây dựng môi trường văn hóa trong cơ sở GDĐH và phát triển thương hiệu

1.1 Khái niệm văn hóa nhà trường

Giáo dục gắn liền với lịch sử loài người Đối với nhân loại, giáo dục là phương thức bảo tồn và bảo vệ kho tàng tri thức văn hoá xã hội Nhân dân Việt nam vốn có truyền thống hiếu học và một nền giáo dục lâu đời, trải qua các thời kỳ lịch sử, cộng đồng người Việt đã tiếp thu và chọn lọc, hình thành nên đạo đức, tư tưởng văn hóa Việt nam Nền tảng văn hóa ấy đã tạo nên bản sắc về nhân cách con người Việt nam

Cũng như sự tồn tại của giáo dục, văn hoá xuất hiện từ khi có loài người, có xã hội Văn hoá tồn tại khách quan và tác động vào con người sống trong nó Nếu môi trường tự nhiên là cái nôi đầu tiên nuôi sống con người, để loài người hình thành và sinh tồn thì văn hóa là cái nôi thứ hai giúp con người trở thành “người” theo đúng nghĩa, hoàn thiện con người, hướng con người khát vọng vươn tới chân - thiện - mỹ

Trong một tổ chức nói chung cũng như một Nhà trường, văn hóa luôn tồn tại trong mọi hoạt động tổ chức đó Vấn đề là con người có ý thức được sự tồn tại của nó để quản

lý và sử dụng sức mạnh của nó hay không Bản thân văn hóa rất đa dạng và phức tạp Do

đó, khi có những tiếp cận nghiên cứu khác nhau sẽ dẫn đến có nhiều quan niệm về văn hóa, nhưng tựu chung lại, các nhà nghiên cứu đều có một nghĩa chung căn bản: văn hóa

là sự giáo hóa, vun trồng nhân cách con người, làm cho con người và cuộc sống con người trở nên tốt đẹp hơn Với cách tiếp cận cơ bản như vậy, tác giả xin được đưa ra khái niệm văn hóa Nhà trường như sau: Văn hóa nhà trường là một tập hợp các giá trị, niềm tin, hiểu biết, chuẩn mực cơ bản được các thành viên trong Nhà trường cùng chia sẻ và tạo nên bản sắc của Nhà trường đó.Căn cứ theo hình thức biểu hiện thì văn hóa nhà

Trang 4

trường gồm phần nổi có thể nhìn thấy như: không gian cảnh quan nhà trường, lôgô, khẩu hiệu, hành vi giao tiếp và phần chìm không quan sát được như: niềm tin, cảm xúc, thái độ

Cùng với sự phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vào những năm gần đây, văn hoá tổ chức đã được nhận diện như một tiêu chí khi xây dựng hoạt động của các tổ chức mang tính chuyên nghiệp Điều đó chứng tỏ khái niệm văn hoá tổ chức tuy còn mới mẻ đối với Việt nam nhưng các tổ chức đã ý thức được tầm quan trọng của văn hoá tổ chức Và hơn bất cứ tổ chức nào hết trong xã hội, Nhà trường phải là tổ chức có “hàm lượng” văn hoá cao nhất; là nơi hội tụ, kết tinh văn hoá để đào tạo ra những chuẩn mực văn hoá cho xã hội

Về góc độ tổ chức, VHNT được coi như một mẫu thức cơ bản, tạo ra một môi trường quản lý ổn định, giúp cho Nhà trường thích nghi với môi trường bên ngoài, tạo ra sự hoà hợp môi trường bên trong Một tổ chức có nền văn hóa mạnh sẽ hội tụ được cái tốt, cái đẹp cho xã hội VHNT sẽ giúp cho Nhà trường thực sự trở thành một trung tâm văn hóa giáo dục, là nơi hội tụ sức mạnh của trí tuệ và lòng nhân ái trong xã hội, góp phần quan trọng tạo nên sản phẩm giáo dục toàn diện

Đối với đội ngũ CBGV Nhà trường, VHNT thúc đẩy sự sáng tạo cá nhân, tạo nên tình thương yêu chân thành giữa các thành viên và đảm bảo cho sự hợp tác vì mục tiêu chung Thày cô giáo là người trực tiếp tham gia hoạt động dạy học Và hơn ai hết, chính Nhân cách Nhà giáo sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới nhân cách học trò Vì vậy, chúng ta rất cần những Nhà giáo ngoài kiến thức chuyên môn, phải hiểu biết rộng về cuộc sống, có kiến thức sâu sắc về văn hóa xã hội

Đối với HSSV, văn hóa tạo nên giá trị đạo đức và có vai trò điều chỉnh hành vi Khi được giáo dục trong một môi trường văn hóa và thấm nhuần hệ giá trị văn hóa, học trò không những hình thành được những hành vi chuẩn mực mà quan trọng hơn là ẩn chứa trong tiềm thức các em là niềm tin nội tâm sâu sắc vào những điều tốt đẹp, từ đó, khao khát cuộc sống hướng thiện và sống có lý tưởng Đồng thời, Văn hóa Nhà trường còn giúp các em về khả năng thích nghi với xã hội Một con người có văn hóa thì trong con người đó luôn hội tụ đầy đủ những giá trị đạo đức căn bản, đó là đức tính khiêm tốn, lễ

độ, thương yêu con người, sống có trách nhiệm với bản thân và xã hội Do vậy, khi gặp những tình huống xã hội phát sinh, dù là những tình huống mà các em chưa từng trải

Trang 5

nhưng nhờ vận dụng năng lực văn hóa để điều tiết hành vi một cách hài hòa, các em có thể tự điều chỉnh mình phù hợp với hoàn cảnh, ứng xử hợp lẽ, hợp với lòng người và cuộc sống xung quanh

Văn hoá luôn đi liền với giáo dục, giáo dục đi liền với văn hoá Cả hai đều là sản phẩm đặc thù của loài người, chỉ có loài người mới có V.I.Lênin (1870-1924-Nga) đã khẳng định: giáo dục là “ phạm trù vĩnh hằng” - tồn tại mãi mãi cùng loài người: thế hệ trước phải truyền cho thế hệ sau các kinh nghiệm lịch sử - xã hội, tạo nên tiến hoá không ngừng của loài người Suốt chiều dài lịch sử, chân lý đó ngày càng sáng tỏ, nhất là từ thế kỷ Ánh sáng (thế kỷ XVIII, Pháp) Giáo dục (bao gồm cả đào tạo) được coi là nhân tố cực kỳ quan trọng quyết định sự trường tồn của quốc gia-dân tộc Ở nước ta, trong Cương lĩnh Đảng Cộng sản Việt Nam (1991) ghi rõ giáo dục là quốc sách hàng đầu Không bàn tới mầm mống (các hình thức) truyền đạt này ở thế giới động vật, cũng như

sự truyền đạt theo cơ chế di truyền, mà chỉ nhắc lại một điều các bạn đều quen biết là bản chất (tính người, tình người, năng lực, nhân cách ) của con người được hình thành, phát triển từ ngoài xã hội vào - được xã hội hoá, nhập tâm vào não bộ, lĩnh hội, biểu hiện ra hành vi, hành động, hoạt động, theo cơ chế di sản Nói cách khác, đứa trẻ từ bào thai chào đời như một sinh thể muốn thành người phải đắm mình vào quá trình giáo dục (theo nghĩa rộng của từ này) Quá trình này, ai cũng cảm nhận được, thật dầy công, nhiều khi

cả cuộc đời, nhất là từ tuổi thơ đến hết vị thành niên; trong tiến hoá loài người còn dầy công hơn nhiều: tổ tiên chúng ta đã mất đến khoảng 4 triệu năm chăm sóc công việc này mới có Con Người hiện đại – Homosapien có tuổi 100.000 năm, và mãi cho đến cách đây khoảng 5.000 năm phạm trù nhà trường như là một thiết chế xã hội có tổ chức, có mục tiêu, mới ra đời ở Trung đông, rồi 1.500 năm sau - ở Ai cập, tiếp theo, từ giữa thiên niên kỷ trước Công nguyên - ở Trung hoa và Hy lạp lớp học, trường học khá phát triển, cho đến ngày nay vẫn nổi tiếng và có nhiều môn đồ Khái niệm “học đường” có từ đây, đề ra chương trình, hình thành phương pháp, xây dựng địa điểm giảng dạy- không gian tiến hành hoạt động dạy- học là một hoạt động cùng nhau với thầy và trò là chủ thể cùng nhau tiến hành các thao tác trong giờ học (đơn vị của hoạt động dạy - học), lớp học, phòng thí nghiệm , các hành động truyền đạt-tiếp thu nhằm cùng một mục đích

là hình thành và phát triển tri thức, kỹ năng, thái độ ở người học (3 thành tố của các môn học trong nhà trường – theo Quyết định của Bộ Giáo dục, năm 1985, 1990), cả hai chủ thể của hoạt động dạy - học với cùng một động cơ là hình thành, phát triển con người

Trang 6

(nhân cách, tay nghề, lương tâm nghề nghiệp ) trong dòng văn hoá, văn minh của nhân loại và dân tộc Văn hoá, văn minh là nội dung của giáo dục – đào tạo, và cũng là mục tiêu của giáo dục – đào tạo Vấn đề đặt ra ở đây là làm sao chuyển vốn học vấn thành vốn văn hoá: từ tri thức, kỹ năng sang thái độ giá trị nhân cách - điều thông thường nay nói là dạy chữ, dạy nghề, dạy người Tiến hành giáo dục trước hết và cuối cùng là nhằm phát triển con người, hình thành ở mỗi người nhân cách văn hoá, đòi hỏi một môi trường giáo dục tương ứng mà bây giờ gọi là “văn hoá học đường”

1.2 Văn hoá là khái niệm công cụ của tâm lý học và giáo dục học

Thiết chế giáo dục hình thành và phát triển đã chấm dứt thời kỳ mông muội, lịch sử loài người bắt đầu thời kỳ văn minh, văn hoá từ các hình thái sơ khai sang các dạng thức phong phú, rực rỡ Trải qua mấy nghìn năm, mãi đến thời Khổng Tử (551-479 TCN) trong “Luận ngữ” mới có thuật ngữ “văn hiến”, trong tiếng Anh thuật ngữ “văn hoá” xuất hiện năm 1420, rồi đến giữa thế kỷ XX khoa học nghiên cứu văn hoá gọi là “Văn hoá học” (tiếng Anh: “Culturology”) mới ra đời Xác định văn hoá là gì, có lẽ ai cũng biết, có khi mỗi người một ý, cũng có thể nói đây là một vấn đề thật không đơn giản, nội hàm của khái niệm này khá phong phú Năm 1950 Cởrôcbơ (Krocber, Mỹ)) và Cơlốccôn (Kluckhon, Mỹ) đã tính được 164 định nghĩa về văn hoá2, rồi năm 1970 đến Môlơ (Mole, Pháp) con số này đã lên đến 2503 Không đi vào chi tiết, tôi giới thiệu vài định nghĩa về văn hoá mà tôi cho là cần thiết, bắt đầu từ Taylo (E.B.Tylor, 1832- 1917, Anh)

đã đưa ra một định nghĩa đến nay vẫn được coi là định nghĩa kinh điển về văn hoá; trong tác phẩm nổi tiếng “Văn hoá nguyên thuỷ” (1871) ông viết:”Văn hoá là tổ hợp các tri thức, niềm tin, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục, và các năng lực, thói quen khác

mà con người với tư cách là thành viên của xã hội tiếp thu được” Đây là cách hiểu văn hoá theo nghĩa rộng, trước hết kể đến khoa học và giáo dục, như vậy, đúng là nói đến nhà trường là nói đến khoa học, giáo dục, văn hoá; rồi đến nghệ thuật, phong tục, mà nhiều người nhiều khi chỉ khuôn văn hoá vào đó; tôi muốn đặc biệt nhấn mạnh một ý trực tiếp liên quan đến chủ đề đang bàn: định nghĩa này đã chỉ ra cả các năng lực và thói quen từng người học được, đây chính là kết quả giáo dục mong đợi là hình thành và phát huy nhân cách văn hoá – bản sắc văn hoá, văn hoá ứng xử - hệ giá trị của từng con người, từng tổ chức, của nhà trường chúng ta Ý nghĩa lớn của văn hoá mỗi người một phần thể hiện ở quan hệ “tâm – thân” phản ảnh nội tâm phát tiết ra ngoài từ vẻ mặt, dáng đi,

Trang 7

điệu bộ, phong thái biểu hiện ra cách cư xử, ăn nói, thường gọi là người “hào hoa, phonnhã”, và như người xưa rất coi trọng văn hoá vẫn thường dạy “học ăn, học nói, học gói, học mở” Nói gọn lại, như Nguyễn Ái Quốc năm 1943 định nghĩa văn hoá là “ tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh

ra nhằm thích những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”4 Nhà trường phải dạy

“phương thức sinh hoạt” – cách sống, lối sống ở ngay trong trường, ở gia đình, ngoài cộng đồng Rất tiếc, lâu nay nhiều nhà tâm lý, giáo dục chúng ta chưa thấm nhuần triết

lý sâu sắc này, ít để ý, nói thật hơn, không quán triệt vào hoạt động dạy - học

Năm 2002 trong văn kiện “Tuyên bố chung về đa dạng văn hoá” UNESCO định nghĩa văn hoá là “ một tổ hợp các đặc điểm tinh thần, vật chất, trí tuệ và tình cảm nổi bật của

xã hội hay nhóm xã hội, bao hàm cả nghệ thuật, văn học, lối sống, cùng với đường đời,

hệ giá trị, truyền thống và niềm tin” Bây giờ nói chung lại:“văn hoá vật chất” và “văn hoá tinh thần”, “văn hoá vật thể” và “văn hoá phi vật thể” Khoa học về giá trị (giá trị học) coi niềm tin, truyền thống, và cả đường đời nữa, đều là các giá trị: văn hoá là các giá trị tinh thần của từng người, gia đình, cộng đồng Lâu nay chúng ta đã và đang hết sức chú trọng, có nơi làm tốt, có nơi làm chưa thật tốt giáo dục truyền thống lịch sử, truyền thống cách mạng Kết hợp vào đó, bây giờ nhiều nơi đã mở rộng ra truyền thống văn hoá Qua định nghĩa vừa nêu có thể nhấn mạnh một ý là phạm trù “văn hoá” rất gắn bó với phạm trù “tâm lý”

Tâm lý học, giáo dục học quan hệ máu thịt với văn hoá học và giá trị học, mở đầu

từ L.X.Vưgôtxki (1896-1934, Nga) với lý thuyết lịch sử - văn hoá trong tâm lý học được trình bầy (đồng tác giả với A.R.Luria) trong tác phẩm “Các công trình nghiên cứu lịch sử hành vi”(1930) Ngày nay gọi lý thuyết này là tâm lý học lịch sử - văn hoá được truyền bá rộng rãi ở Âu - Mỹ và nhiều nước khác Không nói tới nguồn gốc và nội dung văn hoá của tâm lý người, chỉ nhấn mạnh khía cạnh trong công trình sáng tạo của hai tác giả về cơ chế tâm lý của hành vi văn hoá: hành vi văn hoá là hành vi bao giờ cũng có

sự tham gia của một thuộc tính hay quá trình tâm lý trong bán cầu đại não Thuộc tính hay quá trình tâm lý tham gia vào hành vi văn hoá giữ vai trò như một “công cụ” tương

tự như công cụ lao động trong hoạt động lao động tác động vào đối tượng lao động thông qua “biểu tượng trong ý niệm”, như C.Mác đã mô tả qua so sánh việc làm của con ong và lao động của nhà kiến trúc sư trong tác phẩm vĩ đại “Tư bản” (1869) Vưgôtxki và

Trang 8

Luria viết: Kỹ xảo sáng chế và sử dụng công cụ lao động là tiền đề của toàn bộ phát triển văn hoá của loài người; kỹ xảo ấy, quá trình sử dụng đó tạo nên các dấu hiệu – công

cụ tâm lý ở trong đầu làm cho hành vi, hành động của con người mang tính gián tiếp: hành vi văn hoá, ứng xử văn hoá là hành vi, ứng xử bao giờ cũng có sự tham gia của các chức năng tâm lý cấp cao, như chú ý có chủ định, trí nhớ gián tiếp, tư duy, ngôn ngữ Nói cách khác, cơ chế của các biểu hiện văn hoá của con người là các chức năng tâm lý cấp cao Đấy cũng là nội dung của lý thuyết “dấu hiệu” (có người gọi là “ký hiệu”) 19 năm sau, vào năm 1949 ở Mỹ Oaitơ (L.White, 1900-1975) trong tác phẩm lớn “Khoa học

về văn hoá: nghiên cứu con người và văn minh” đã đánh đấu một mốc mới trong lý thuyết về cơ chế tâm lý của hành vi văn hoá Ông khẳng định: các vật thể văn hoá là các

“biểu trưng” (“symbolate”), văn hoá là sản phẩm của quá trình biểu trưng hoá (symbolisation) Như vậy là, những tri thức nhà trường truyền đạt cho người học phải giúp họ tạo nên các “dấu hiệu” trong não – các “công cụ” tâm lý trong đầu, nói một cách văn hoá, trong tâm hồn làm cho con người trở thành con người văn hoá Đấy chính là mục tiêu của văn hoá học đường

1.3 Sự hình thành và phát triển của văn hoá học đường

Sau ba bốn thập kỷ phát triển, văn hoá học được vận dụng vào nhiều lĩnh vực: trong tiếng Anh thuật ngữ “văn hoá chính trị” xuất hiện vào năm 1980, tiếp theo - “văn hoá công ty”, “văn hoá tổ chức” ; gần đây ở ta cũng dùng khá phổ biến, như“văn hoá lễ hội” (bây giờ nhiều nơi quáchú ý về “văn hoá” này), “văn hoá ẩm thực”, thậm chí

có cả “văn hoá giao thông”, v.v., đều là các thứ cần dạy cho người học Không có điều kiện nói về các chuyện này, vì học đường – nhà trường là một tổ chức, nên cần nói qua

về “văn hoá tổ chức” Các tài liệu về văn hoá tổ chức thường đề cập đến các nội dung: văn hoá quyền lực của tổ chức, văn hoá vai trò, nhiệm vụ của tổ chức, văn hoá của các thành viên trong tổ chức , rồi tới các đặc điểm của tổ chức từ những đặc điểm bề ngoài có thể dễ quan sát, như cơ sở vật chất (nhà cửa, thiết bị, trang phục của các thành viên, ), rồi đến trình độ nghề nghiệp chuyên môn của đội ngũ kể từ kỹ năng tay nghề, hành vi ứng xử, đến ý thức, lương tâm nghề nghiệp Có thể đưa các tiêu chí này vào xây dựng văn hoá học đường5

Thuật ngữ “văn hoá học đường” xuất hiện trong các nước nói tiếng Anh vào khoảng đầu những năm 1990 (Deal,T & Peterson, 1993)6 Ở một số nước, như Mỹ, Úc,

Trang 9

bước đầu tìm hiểu cho hay, đã có Trung tâm nghiên cứu vấn đề này, đã tổ chức khảo sát thực tiễn, đã xây dựng tiêu chí đánh giá và tiến hành đánh giá Tuy chưa có nhiều tài liệu về chủ đề này, nhưng tất cả các tác giả đều nhất trí rằng mỗi trường cần có văn hoá học đường của mình; thực tiễn đã chứng minh tác dụng tích cực của văn hoá học đường, chống lại văn hoá độc hại, tiêu cực; mục tiêu chung nhất của văn hoá học đường

là xây dựng trường học lành mạnh – cơ sở quan trọng để đảm bảo chất lượng thật Tuy còn có ý kiến khác nhau, ví dụ, về định nghĩa “văn hoá học đường”, nhưng khái quát lại, văn hoá học đường là hệ thống các chuẩn mực, giá trị giúp các cán bộ quản lý nhà trường, các thầy cô, các vị phụ huynh và các em học sinh, sinh viên có các cách thức suy nghĩ, tình cảm, hành động tốt đẹp; có tài liệu đưa ra nội dung cụ thể văn hoá học đường bao gồm:· Làm cho mọi thành viên hiểu mục tiêu và giá trị của nhà trường;· Chuẩn học các bộ môn;· Làm cho mọi người học cam kết có trách nhiệm học tập tốt;· Xây dựng quan hệ hợp tác trong nhà trường;· Tạo cơ hội để các cán bộ và nhà giáo phản ảnh kịp thời tình hình, tập thể kiểm tra lẫn nhau và chia sẻ kinh nghiệm thực tiễn với nhau;· Rèn giũa động cơ nâng cao tay nghề, cải tiến giảng dạy, tạo sự thống nhất trong cán bộ và nhà giáo Các tác giả này họ nói, tất nhiên, về nhà trường của họ, tập trung trực tiếp vào dạy và học, và mối quan hệ hợp tác thầy – trò Trong thời đại ngày nay, mối quan hệ này

là nhân tố cực kỳ quan trọng đối với hiệu quả giáo dục của nhà trrường Chả vậy mà Uỷ ban Giáo dục đi vào thế kỷ XXI của UNESCO đã đặc biệt lưu ý đến mối quan hệ này trong thời đại mới (nhân đây tôi xin nhắc lại không có cái gọi là lý thuyết “học sinh là trung tâm”) Tôi xin nêu 3 nội dung của văn hoá học đường của chúng ta:

Nhà trường chúng ta có hoàn cảnh riêng, nhất là về cơ sở vật chất: ngay các trường đạt chuẩn cũng còn thiếu thốn nhiều; có trường tiên tiến xuất sắc ở một thành phố nổi tiếng chỉ có 50 máy tính/2000 học sinh; một tỉnh vào loại khá giả gần đây có tới 3000/7000 phòng lớp học còn ọp ẹp rách nát; nhiều tỉnh 50% số trường, lớp cũng như vậy; sách vở cũng nhiều chuyện chẳng ra sao; còn đội ngũ, cả nhà giáo lẫn cán bộ quản

lý, tiếng kêu ca không phải là ít Có lẽ, văn hoá học đường của chúng ta phải bắt đầu từ những chuyện này Mọi người ở đây đều thấy như vậy Làm sao các nhà quản lý các cấp cũng nhất trí với chúng ta, để đến năm 2015-2020, khi nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, trường lớp trên cả nước đều đã kiên cố hoá, như Chính phủ

đã đưa ra Đề án từ năm 2004 Đó là điều thứ nhất trong văn hoá học đường

Trang 10

Điều thứ hai của văn hoá học đường Đồng thời với việc chăm lo cơ sở vật chất, sách giáo khoa, đội ngũ giảng dạy và quản lý, một việc có thể bắt tay vào làm ngay là xây dựng môi trường giáo dục trong nhà trường, trong ký túc xá hay nhà trọ, ở gia đình, nơi công cộng Những năm 80 thế kỷ trước, khi trong xã hội đầy khó khăn phức tạp, đất nước rơi vào khủng hoảng, nhà trường được đánh giá là nơi giữ được môi trường trong sạch nhất Nhiều trường đã đưa ra các khẩu hiệu, nội quy, nhất là từ năm 1987 hết sức coi trọng nề nếp, kỷ cương, duy trì phong trào “Dạy tốt, học tốt” theo Bác Hồ phát động Bây giờ các trường phải quan tâm đến việc này, có thể và phải làm và làm tốt Nội dung của văn hoá học đường nói chung, môi trường giáo dục nói riêng bao hàm nội dung của “trường học thân thiện” do Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) đề xướng từ những thập kỷ cuối thế kỷ XX với các nội dung: thân thiện với địa bàn hoạt động, thân thiện trong tập thể sư phạm với nhau, thân thiện giữa thầy và trò, có đủ cơ sở vật chất; ở ta sau khi thí điểm ở các trường học, năm2008 Bộ GD-ĐT đã phát động phong trào “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”, nhằm “xây dựng môi trường giáo dục an toàn, thân thiện, hiệu quả, phù hợp với điều kiện của địa phương và đáp ứng nhu cầu của xã hội” (Chỉ thị số 40/2008/CT – BGD ĐT, ngày 22-7-2008) Phong trào này nhằm “thiết lập lại môi trường sư phạm với 6 đặc trưng là trật tự kỷ cương, trung thực, khách quan, công bằng, tình thương và khuyến khích sáng tạo, hiệu quả” Đó là nội dung rất cơ bản của văn hoá học đường

Điều thứ ba của văn hoá trong nhà trường của chúng ta có thể gọi là “văn hoá ứng xử”, “văn hoá giao tiếp”, phần nào ở trên đã đề cập, ở đây tập trung thành một nội dung đặc trưng nhất của văn hoá ở gia đình, trong nhà trường, ngoài xã hội – đó là quan hệ người - người, giá trị quan trọng nhất trong nhân cách (Phạm Minh Hạc, 2008) Xã hội giao cho nhà trường chúng ta dạy dỗ con em lễ phép, tử tế, lời hay ý đẹp, kính trên nhường dưới, lịch thiệp, thực thà, nề nếp, hợp tác, chia sẻ, khoan dung (năm 1927 trong “Đường kách mệnh” mục nói về thái độ đối với người khác, thái độ đầu tiên Nguyễn Ái Quốc khuyên là “khoan thứ”), tiếp nối truyền thống dân tộc “thương người như thể thương thân” Suy rộng ra là giáo dục tinh thần trách nhiệm – chia sẻ với người xung quanh, với gia đình, với cộng đồng, với xã hội, và quan trọng trước hết là trách nhiệm với bản thân: trong tác phẩm vừa nêu trên Bác Hồ cũng nói đến thái độ với bản thân trước khi nói về thái độ đối với người khác, và cuối cùng mới nói tới thái độ đối với công việc Đối với chính mình, thái độ đầu tiên Bác dạy là “cần”: trước hết phải chăm

Trang 11

chỉ, đây là phẩm chất đầu tiên, quan trọng nhất giúp ta trở thành người chân chính, tạo nên tâm lực, trí lực, thể lực – các giá trị của mỗi người, điều mà gần đây khi đời sống

xã hội trở nên phức tạp hơn trước nhiều, người ta nói nhiều đến chữ “tâm”, thời xưa từ trước Công nguyên gọi là “nhân”, “lễ” Lễ chính là văn hoá, là đạo đức, một nội dung cốt lõi của văn hoá học đường mà cả xã hội đang coi là một tình hình bức xúc nổi cộm “Tiên học lễ, hậu học văn” có ý nghĩa như vậy

Nói chung, phạm trù “văn hoá học đường” chưa được đưa vào phạm vi quản lý nhà trường chúng ta, chưa có tiêu chí, chưa ai khảo sát, đánh giá; nhưng nói về khía cạnh này, khía cạnh kia thì không ít Bên cạnh những trường tốt, những cái được, còn nhiều điều không hay, đáng quở trách, thậm chí hầu hết các nhà giáo không muốn nghe,

vì nghe thấy buồn, thấy ngượng, thấy xấu hổ cho người đồng nghiệp, cho trường và địa phương có những chuyện như thế Chuyện xảy ra hàng ngày ở nhiều trường là thầy

cô xúc phạm học sinh dưới nhiều hình thức; dạy thêm với những thủ đoạn hết sức tiêu cực; nạn đòi đút lót tham nhũng đê tiện quá chừng; cảnh sinh viên sống bê tha trong các nhà trọ; chăm học, say sưa học tập ít quá; nói tục, chửi thề khá phổ biến; đáng buồn nhất

là học trò hỗn láo với thầy cô; bạn bè đánh lộn; báo Thanh niên ngày 17-1-2009 dưới đầu đề “Sinh viên còn chưa sống đẹp” viết:”Xả rác ra đường, không nhường chỗ cho người già và phụ nữ mang thai trên xe buýt, thờ ở trước những số phận kém may mắn ; Truyền hình VTV và một số báo nêu tình trạng sinh viên “sống thử” trước hôn nhân; báo Pháp luật Tp Hồ Chí Minh có bài về chuyện ngược đời “Cấp học cao, vi phạm đạo đức nhiều hơn” Đó là những biểu hiện “không văn hoá”, “phản văn hoá” cần khắc phục

Nói tóm lại, về văn hoá tinh thần hay văn hoá phi vật thể, nhất là về văn hoá ứng

xử, văn hoá giao tiếp trong nhà trường khắp nơi đều có vấn đề phải quan tâm Cơ sở vật chất hay văn hoá vật chất, văn hoá vật thể ở nhiều trường còn xa mới được như ở các nước công nghiệp, chưa nói tới các nước hậu công nghiệp Xây dựng văn hoá học đường

là việc cần thiết biết nhường nào: phải giáo dục nhân cách văn hoá, làm cho người được học trở thành người có văn hoá

1.4 Giáo dục giá trị văn hóa học đường

Để xây dựng văn hoá học đường phải làm nhiều việc, bằng nhiều cách, như trên phần nào đã nêu Vạn sự khởi đầu nan – phải bắt đầu từ các cấp quản lý ngành, lãnh đạo các trường có chủ trương, có kế hoạch triển khai, có kiểm tra, nhắc nhở, đánh giá – đó là

Trang 12

điều kiện tiên quyết Rồi đến đội ngũ nhà giáo chú ý giáo dục văn hoá là nhân tố rất quan trọng Và tất nhiên, phải toàn trường, đến từng người học, ai cũng phải chú trọng đến hình thành và phát triển nhân cách văn hoá là giá trị của mỗi người mà nhà trường phải dạy cho được - giữ vai trò quyết định của phong trào

Mỗi cấp học, bậc học có yêu cầu riêng, nội dung riêng, biện pháp đặc thù Ở đây tôi nói chung, trong các biện pháp, giới thiệu một biện pháp là mỗi trường có Hệ giá trị làm chuẩn mực để mọi thành viên đồng thuận lấy đó làm mục tiêu phấn đấu, thước đo thành quả của bản thân, của lớp, của trường, đặc biệt về mặt đạo đức xã hội, giá trị nhân cách - điều mà chúng ta gọi là “dạy người” bên cạnh “dạy chữ, dạy nghề” UNICEF, UNESCO đã đưa ra Chương trình Giáo dục giá trị, chú trọng vào giá trị kỹ năng sống; ở ta có người tham gia, nhưng sau hình như bị lãng quên; ở nhiều nước Chương trình này mang lại kết quả khá mỹ mãn, có nhiều kinh nghiệm đáng tham khảo

Thuật ngữ Văn hóa học đường xuất hiện trong những năm 1990 trong một số nước nói tiếng Anh như Anh, Mỹ, Úc…và dần dần trở nên phổ biến trên thế giới với ý nghĩa tổng quát : Văn hóa học đường là những giá trị, những kinh nghiệm lịch sử của xã hội loài người đã tích lũy trong quá trình xây dựng hệ thống giáo dục và quá trình hình thành nhân cách

Theo Giáo sư Viện sĩ Phạm Minh Hạc thì: “Văn hóa học đường là hệ các chuẩn mực, giá trị giúp cán bộ quản lý nhà trường, thầy cô giáo, các vị phụ huynh và các em học sinh, sinh viên có các cách thức suy nghĩ, tình cảm, hành động tốt đẹp”

1.5 Thực trạng văn hóa nhà trường Việt nam

Trong nền kinh tế toàn cầu như hiện nay và nhất là khi Việt nam đã gia nhập WTO với nhiều thời cơ và thách thức, mặt trái của nền kinh tế thị trường và hội nhập đã tác động lớn đến xã hội nói chung cũng như giáo dục nói riêng, nó làm cho bộ mặt văn hóa của xã hội dần bị biến dạng, và đã có nhiều biểu hiện xuống cấp, tha hóa

Hiện nay, một bộ phận không nhỏ sinh viên đua đòi ăn chơi, sa vào các tệ nạn xã hội, thực trạng bạo lực học đường đến mức báo động; đạo đức nhà giáo thì xuống cấp nghiêm trọng, tình trạng thiếu công bằng, gian lận trong thi cử, chuyện mua bán các kết quả học tập không còn là xa lạ Văn hóa nhà trường bị biến dạng cũng là điều hiển nhiên Thực

tế đó đã làm cho những người có lương tri đau xót và đối với những Nhà giáo chân chính

Trang 13

thì chắc hẳn đó là sự xúc phạm nhân phẩm và đạo đức nghề nghiệp ghê gớm, xúc phạm đến truyền thống “tôn sư trọng đạo” của dân tộc Vậy mà những gì chúng ta chứng kiến được cũng chỉ là phần nổi của cả tảng băng khổng lồ chứa đầy tiêu cực trong ngành giáo dục Trong công cuộc đổi mới đất nước, chúng ta đã chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Quá trình xây dựng và phát triển kinh tế đất nước, chúng ta

đã nỗ lực tìm kiếm nhiều cơ hội, đạt được những thành tựu to lớn về khoa học, kỹ thuật

và công nghệ, Nhưng chúng ta đã chưa lường hết được mức độ tấn công của mặt trái nền kinh tế thị trường để ngăn chặn nó Điều đó đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới bộ mặt văn hóa xã hội, để lại những hậu quả khôn lường cho giáo dục nước nhà

Mặt khác, lâu nay giáo dục chúng ta coi trọng dạy chữ mà lơ là việc dạy người; coi trọng số lượng hơn là chất lượng Để tạo ra được một sản phẩm lao động cho xã hội, quả thực là cần đến kiến thức và kỹ năng của sinh viên đã được đào tạo Tuy nhiên, vì chạy đua theo sản phẩm, theo số lượng mà chúng ta chưa quan tâm đến phương thức tạo ra sản phẩm đó một cách đầy đủ Xã hội cần phải nhìn nhận lại, đánh giá giá trị sản phẩm đó gồm cả cách thức mà người đó lao động có chân chính không, có vì mục tiêu con người không hay nói cách khác là cách thức lao động để tạo ra sản phẩm đó có văn hóa hay không Một doanh nghiệp không thể kiếm lợi nhuận bằng mọi cách bất chấp đạo lý, một Nhà trường không được coi kinh tế làm mục tiêu hàng đầu, và một người lao động không thể tạo ta sản phẩm cho xã hội một cách phi văn hóa

Đã đến lúc chúng ta cần phải chấn hưng giáo dục nước nhà Thực tế, cũng đã có rất nhiều giải pháp của các nhà nghiên cứu nhằm nâng cao chất lượng giáo dục Dưới góc độ của cấp quản lý cơ sở thực tiễn, thiết nghĩ, việc xây dựng văn hóa Nhà trường là vô cùng quan trọng, bởi Nhà trường là cơ sở nền tảng, là tế bào của hệ thống giáo dục Cũng như

cơ thể người, chỉ khi có được những tế bào lành mạnh thì cơ thể mới phát triển bình thường

2 Cấu trúc của văn hóa nhà trường;

2.1 Cấp độ cá nhân

Cần xây dựng mô hình nhân cách văn hóa con người Việt nam theo hướng phát triển cân đối, hài hòa giữa tâm lực, trí lực và thể lực Trong đó, lấy tâm lực làm nền tảng cho phát triển nhân cách Khi thiếu kiến thức, kỹ năng do nhu cầu công việc người ra có

Trang 14

thể học thêm và trau dồi để có được, nhưng khi thiếu đạo đức và lương tâm tối tăm thì sẽ rất khó để cải thiện được nhân cách Do vậy, cần phải chú trọng đến giáo dục chữ “tâm” - lấy nó là cốt cách để làm người Người có lương tâm trong sáng sẽ biết cảm nhận và có quan niệm đúng về cái đẹp, và người biết rung cảm trước cái đẹp thì rất khó làm điều xấu Văn hóa người Việt nam chúng ta có lối sống trọng tình, coi trọng lễ nghĩa, tôn sư trọng đạo Như vậy, phát huy được mô hình nhân cách này cũng là phát huy lợi thế về bản sắc văn hóa người Việt Mô hình nhân cách ấy phải được giáo dục cho mọi thành viên trong nhà trường mà trước hết phải chính là các giảng viên Hơn ai hết, người Thầy

sẽ là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp nhân cách học trò Tình yêu thương, sự tận tâm dạy bảo của người Thầy sẽ là những bài học về đạo đức thiết thực nhất, là cách cảm hóa hữu hiệu nhất học trò của mình

2.2 Cấp độ tổ chức

- Các Nhà trường cần xây dựng quy chế văn hóa dựa trên triết lý riêng của mình để khẳng định được phong cách, xác định hệ thống giá trị, chuẩn mực đạo đức của Nhà trường Theo đó, thống nhất và hướng dẫn hành vi ứng xử của mọi thành viên trong Nhà trường theo các giá trị và chuẩn mực đã xác định

- Đầu tư cơ sở vật chất phù hợp với mô hình văn hoá tổ chức Nhà trường Chính yếu tố vật chất cũng góp phần tạo nên ý thức con người, như không gian, trang thiết bị làm việc, trang phục sẽ giúp họ dễ cảm nhận vì tính hữu hình của nó, khiến họ tin tưởng và gắn

bó hơn với nhà trường

- Tạo điều kiện cho đội ngũ cán bộ, giảng viên Nhà trường trong việc học tập, nghiên cứu

và có cơ chế khuyến khích phù hợp trong việc thực hiện văn hóa nhà trường

2.3 Bộ máy nhà trường

Xây dựng bộ máy nhà trường phù hợp với quy mô, với điều kiện cụ thể của nhà trường, đồng thời hướng vào việc thực hiện nhiệm vụ dạy – học và giáo dục toàn diện, đáp ứng nhu cầu phát triển của học sinh;

Xây dựng quy chế hoạt động của nhà trường: Nội quy học sinh; Nội quy cán bộ giảng viên nhà trường; Quy chế chi tiêu nội bộ thực hiện tự chủ tài chính

Xây dựng chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm và quyền hạn các vị trí công việc, các

bộ phận trong nhà trường; ủy quyền cho đội ngũ cốt cán, giảng viên

Trang 15

2.4 Tập thể giảng viên

Xây dựng Chiến lược phát triển đội ngũ theo từng nhiệm kì 5 năm; Tổ chức triển khai các biện pháp thực thi Chiến lược xây dựng đội ngũ theo từng năm học để Chiến lược này trở thành hiện thực

Tổ chức xây dựng các chuẩn mực hành vi, các truyền thống nhà trường; Tuyên truyền trong tập thể nhà trường để các chuẩn mực hành vi này được mọi người chấp nhận Bằng sự nêu gương của cán bộ quản lý và đội ngũ cán bộ cốt cán nhà trường trong việc thực hiện các chuẩn mực hành vi để biến nó thành niềm tin giá trị của mỗi nhà quản

lý, giảng viên, nhân viên và học sinh nhà trường Đưa các chuẩn mực hành vi đã được tập thể nhà trường thừa nhận vào nội quy nhà trường để trở thành yêu cầu đối với hành vi các thành viên nhà trường

2.5 Tập thể sinh viên

Phát triển tổ chức Đoàn TNCSHCM và Hội Thanh niên nhà trường nhằm tăng cường vai trò chủ thể tham gia vào quá trình giáo dục của học sinh Tổ chức xây dựng và thực hiện chương trình giáo dục cân đối giữa nhiệm vụ dạy học và giáo dục toàn diện nhằm phát triển học sinh về tri thức, về mặt xã hội, về thể chất, về cá nhân một cách có chất lượng Tổ chức phân ban và dạy học tự chọn phù hợp điều kiện nhà trường, từng bước đáp ứng nhu cầu phát triển tiềm năng của học sinh;

Thiết lập mối quan hệ cộng tác – hợp tác giữa thầy – trò, trò – trò, từng bước xóa

bỏ sự áp đặt một chiều trong mối quan hệ thầy – trò;

Tổ chức các hoạt động giúp đỡ học sinh có khó khăn một cách hiệu quả; Liên kết với lực lượng xã hội tổ chức các dịch vụ hỗ trợ sự phát triển tiềm năng của học sinh: tổ chức câu lạc bộ thể thao, câu lạc bộ văn hóa văn nghệ…

2.6 Vai trò của Hiệu trưởng

Hiệu trưởng phải thường xuyên cập nhật văn bản pháp luật, pháp quy, văn bản chỉ đạo của ngành; phân loại và lưu trữ theo chủ đề Hiệu trưởng vận dụng linh hoạt hệ thống văn bản pháp luật, pháp quy, kết hợp giữa quy định của luật và quyền tự chủ trong quản

lý nhà trường để giải quyết hiệu quả những vấn đề của nhà trường Tuyên truyền cho đội ngũ cán bộ giảng viên nhà trường nắm vững và thực hiện

Ngày đăng: 26/11/2021, 08:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1.Bộ Giáo dục và Đào tạo (2013). Hỏi – đáp về một số nội dung đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỏi – đáp về một số nội dung đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2013
2. Học viên Quản lý giáo dục (2008). Văn hóa nhà trường – Bài giảng chương trình Bồi dưỡng hiệu trưởng trường phổ thông chương trình liên kết Việt Nam – Singapore Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa nhà trường – Bài giảng chương trình Bồi dưỡng hiệu trưởng trường phổ thông chương trình liên kết Việt Nam – Singapore
Tác giả: Học viên Quản lý giáo dục
Năm: 2008
3. Phạm Minh Hạc (2010). Một số vấn đề giáo dục Việt Nam đầu thế kỷ XXI, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề giáo dục Việt Nam đầu thế kỷ XXI
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2010
4. Phạm Quang Huân (2007). Văn hóa tổ chức – hình thái cốt lõi xây dựng văn hóa nhà trường, Kỷ yếu Hội thảo Văn hóa học đường, Viện NCSP, ĐHSPHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa tổ chức – hình thái cốt lõi xây dựng văn hóa nhà trường
Tác giả: Phạm Quang Huân
Nhà XB: Kỷ yếu Hội thảo Văn hóa học đường
Năm: 2007
5. Mai Văn Hưng (2016). “Dịch vụ đại học tiếp cận theo hướng thích ứng với đặc điểm tư duy cá nhân”. Hội thảo khoa học “Phát triển dịch vụ giáo dục và năng lực cạnh tranh trong hệ thống giáo dục đại học Việt Nam”- Trường Đại học Ngoại thương cơ sở 2, TP. Hồ chí Minh, tr. 111- 117 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dịch vụ đại học tiếp cận theo hướng thích ứng với đặc điểm tư duy cá nhân
Tác giả: Mai Văn Hưng
Nhà XB: Hội thảo khoa học “Phát triển dịch vụ giáo dục và năng lực cạnh tranh trong hệ thống giáo dục đại học Việt Nam”- Trường Đại học Ngoại thương cơ sở 2
Năm: 2016
6. Mai Văn Hưng (2016). “Ảnh hưởng của thông tin giao tiếp trong quản trị các trường đại học ở Việt Nam”. Hội thảo khoa học “Quản trị đại học – Kinh nghiệm Quốc tế và mô hình phù hợp cho đại học công lập Việt Nam”- Trường Đại học Ngoại thương, Hà Nội, tr. 69-76 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của thông tin giao tiếp trong quản trị các trường đại học ở Việt Nam
Tác giả: Mai Văn Hưng
Nhà XB: Hội thảo khoa học “Quản trị đại học – Kinh nghiệm Quốc tế và mô hình phù hợp cho đại học công lập Việt Nam”- Trường Đại học Ngoại thương, Hà Nội
Năm: 2016
7. Phạm Văn Khanh (2009). Văn hóa học đường: Bản chất, nội dung và biện pháp xây dựng. Kỷ yếu Hội thảo Văn hóa học đường – Lý luận và thực tiễn, Hội Khoa học Tâm lý giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa học đường: Bản chất, nội dung và biện pháp xây dựng
Tác giả: Phạm Văn Khanh
Năm: 2009

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w