Phân tích đường lối kháng chiến chống mỹ. Liên hệ đường lối bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN của Đảng ta hiện nay. Bài thu hoạch đường lối kháng chiến chống mỹ. Bài thu hoạch lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam.
Trang 1Đề: Phân tích đường lối kháng chiến chống mỹ? Liên hệ đường lối bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN của Đảng ta hiện nay.
Mở đầu
Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ (7/1954) về chấp dứt chiến tranh, lập lại nền hòa bình ở Việt Nam, đế quốc Mỹ đã gạt thực dân Pháp ra khỏi Đông Dương, trực tiếp viện trợ và giúp chính quyền Sài Gòn xây dựng quân đội, hòng biến miền Nam nước ta thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mỹ, chia cắt lâu dài Việt Nam, ngăn chặn ảnh hưởng của CNXH xuống Đông Nam Á, răn đe phong trào giải phóng dân tộc đang trên đà phát triển Đặt ra yêu cầu đòi hỏi Đảng ta phải đề ra đường lối cách mạng phù hợp với tình hình mới
Đảng ta, đứng đầu là lãnh tụ Hồ Chí Minh vĩ đại đã vạch ra đường lối cách mạng vô cùng đúng đắn, lãnh đạo Nhân dân quyết đứng lên kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm
lược và bè lũ tay sai bán nước Với tinh thần “Không có gì quý hơn độc lập, tư do”, với ý
chí và quyết tâm sắt đá, sau 21 năm trường kỳ kháng chiến, với vô vàn gian khổ, hy sinh, khó khăn, phức tạp, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của Nhân dân ta đã giành được thắng lợi hoàn toàn Thắng lợi đó đưa đất nước ta bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập, tự do, thống nhất Tổ quốc, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội
1 Bối cảnh tác động trực tiếp đến việc hình thành đường lối kháng chiến chống
Mỹ, cứu nước
- Tình hình thế giới: Giai đoạn này thế giới bước vào thời kỳ chiến tranh lạnh với
việc chạy đua vũ trang giữa hai phe xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa Đồng thời trong
hệ thống XHCN, quan hệ giữa các nước bắt đầu có những diễn biến phức tạp, nhất là giữa hai nước lớn Liên Xô và Trung Quốc; sự xuất hiện các khuynh hướng của chủ nghĩa xét lại, chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, sô vanh Đối với các nước tư bản phương Tây, đứng đầu là đế quốc Mỹ đang ra sức ngăn chặn sự ảnh hưởng và phát triển
Trang 2của chủ nghĩa xã hội, đặc biệt là trong vùng Đông Nam Á Đây là những trở ngại tác động tiêu cực tới cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của Nhân dân ta
- Tình hình trong nước: Đặc điểm lớn, bao trùm và xuyên suốt của cách mạng Việt Nam giai đoạn này là đất nước bị chia cắt làm hai miền với hai chế độ chính trị - xã hội đối lập Chính đặc điểm này đã hình thành nên đường lối cách mạng Việt Nam, với hai cuộc cách mạng khác nhau ở hai miền Nam, Bắc do Đảng ta khởi sướng và lãnh đạo
Nước ta nền kinh tế còn nghèo nàn, lạc hậu, đời sống Nhân dân còn nhiều khó khăn Miền Bắc tranh thủ thời kỳ hòa bình đẩy nhanh cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội; miền Nam trở thành thuộc địa kiểu mới của Mỹ Đế quốc Mỹ trở thành kẻ thù trực tiếp của Nhân dân ta, đồng nghĩa với chúng ta phải đương đầu với một tên đế quốc có tiềm lực kinh tế và quân sự hùng mạnh nhất lúc bấy giờ đang ráo riết thực hiện mưu đồ bá chủ thế giới Từ đầu năm 1965, đế quốc Mỹ ồ ạt đổ quân vào miền Nam tiến hành chiến lược
“Chiến tranh cục bộ” với quy mô lớn nhằm cứu vãn nguy cơ sụp đổ của chế độ Sài Gòn và
sự phá sản của chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” Song song với đó đế quốc Mỹ cũng đã điên cuồng leo thang tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc bằng không quân và hải quân
Trước tình hình mới, yêu cầu bức thiết đặt ra cho Đảng ta là phải vạch ra được đường lối đúng đắn, vừa phù hợp với tình hình mỗi miền, tình hình cả nước, vừa phải phù hợp với xu thế chung của thời đại
2 Đường lối kháng chiến kháng chiến chống Mỹ
Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của Nhân dân ta là hoàn toàn chính nghĩa, là
cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc với khát vọng tột bậc “không có gì quý hơn độc lập tự do” Trung thành vô hạn với Tổ quốc, với Nhân dân; kiên định lập trường cách mạng; trên
cơ sở đánh giá đúng bản chất, âm mưu và hành động của kẻ thù; so sách tương quan lực lượng; bám sát diễn biến thực tế tình hình cả trong và ngoài nước; vững tin vào lòng yêu nước và sức mạnh to lớn của Nhân dân, Đảng ta đã đề ra đường lối cách mạng độc lập, tự
Trang 3chủ, đúng đắn, sáng tạo để lãnh đạo, chỉ đạo toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tiến hành thắng lợi sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc Trải qua 21 năm chiến đấu, dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân và dân ta đã đánh thắng cuộc chiến tranh xâm lược thực dân quy mô lớn nhất, ác liệt nhất và giã man nhất từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai với
4 chiến lược chiến tranh với 5 đời tổng thống Mỹ, chấm dứt vĩnh viễn sự đô hộ của thế lực
ngoại bang trên đất nước ta, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội
Đường lối kháng chiến chống Mỹ, cứu nước nằm trong tổng thể đường lối cách mạng Việt Nam thời kỳ 1954 – 1975, trong đó miền Bắc tiến hành cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, miền Nam tiến hành cuộc các mạng dân tộc, dân chủ, nhân dân Quá trình lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng là quá trình hình thành và hoàn thiện đường lối đó, được thể hiện
rõ nét qua Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 7 (3/1955), đến Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 15 (1/1959), khóa II đề ra đường lối khôi phục kinh tế, cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và đường lối cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam Đó là Đại hội III của Đảng (9/1960) quyết định xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Băc, đấu tranh cho hoà bình, thống nhất nước nhà; là các Hội nghị Trung ương cụ thể hóa đường lối của Đại hội III về xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
Nội dung cơ bản đường lối chống Mỹ, cứu nước
Đường lối kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của quân và dân ta do Đảng lãnh đạo là đường lối chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện:
Tính chất của cuộc chiến tranh: Cuộc chiến tranh xâm lược do đế quốc Mỹ tiến hành
là cuộc chiến tranh phi nghĩa, thực hiện trong thế bị động, chứa đựng đầy mâu thuẫn về chiến lược Chiến tranh sẽ gay go, ác liệt nhưng nhân dân Việt Nam có đủ điều kiện và sức mạnh để đánh Mỹ và thắng Mỹ
Mục tiêu chiến lược của toàn Đảng, toàn dân ta là: “Quyết tâm đánh thắng giặc
Mỹ xâm lược” trong bất cứ tình huống nào để bảo vệ miền Bắc giải phóng miền Nam,
Trang 4hoàn thành cách mạng dân tộc, dân chủ, nhân dân trong cả nước, tiến tới hoà bình thống nhất đất nước
Phương châm chỉ đạo chiến lược: Đẩy mạnh chiến tranh nhân dân chống Mỹ ở miền
Nam, đồng thời chống chiến tranh phá hoại của Mỹ ở miền Bắc Thực hiện kháng chiến lâu dài dựa vào sức mình là chính; cố gắng đến mức độ cao nhất, tập trung lực lượng ở cả hai miền, mở những cuộc tiến công lớn, tranh thủ thời cơ giành thắng lợi quyết định ở chiến trường miền Nam
Tư tưởng chỉ đạo: Miền Bắc kịp thời chuyển hướng xây dựng kinh tế trong điều
kiện có chiến tranh phá hoại, xây dựng kinh tế và quốc phòng vững mạnh; tiến hành chiến tranh nhân dân, kiên quyết đánh trả chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ; động viên sức người, sức của ở mức cao nhất để chi viện chiến trường Miền Nam là tiền tuyến lớn, miền
Bắc là hậu phương lớn Quyết tâm của quân dân cả nước là “Tất cả để đánh thắng giặc
Mỹ xâm lược”, “Hễ còn một tên giặc Mỹ trên đất nước ta thì ta còn phải chiến đấu quét sạch nó đi”.
Phương pháp cách mạng: Con đường cơ bản của cách mạng miền Nam là sử dụng
bạo lực cách mạng tổng hợp bao gồm lực lượng chính trị của quần chúng và lực lượng vũ trang Nhân dân, tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện trên cả nước, giữ vững và phát triển thế tiến công, kiên quyết và liên tục tiến công
Phương thức tiến hành:Cả nước tổ chức thành một mặt trận rộng lớn, mỗi người dân yêu nước là một chiến sĩ, mỗi làng xã, đường phố là một pháo đài; kiên trì kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị, triệt để thực hiện ba mũi giáp công chính trị, quân sự
và binh vận, trong đó đấu tranh quân sự có tác dụng quyết định trực tiếp, giữ vị trí ngày càng quan trọng; mở rộng đấu tranh ngoại giao nhằm tranh thủ sự ủng hộ quốc tế, hỗ trợ cho đấu tranh chính trị và quân sự của quân dân ta Kết hợp đấu tranh quân sự, chính trị với đấu tranh ngoại giao, kết hợp tiến công quân sự với nổi dậy của quần chúng, kết hợp tiêu diệt địch với giành và giữ vững quyền làm chủ, chiến tranh du kích với chiến tranh
Trang 5chính quy, kết hợp chiến tranh nhân dân địa phương với chiến tranh bằng các binh đoàn chủ lực
Quá trình hình thành và phát triển đường lối kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
Đại diện Chính phủ Mỹ không ký Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Giơ-ne-vơ, dựa vào đó Mỹ ngang nhiên không chấp nhận các điều khoản của Hiệp định, xúc tiến kế hoạch hất cẳng Pháp, xâm chiếm miền Nam bằng chính sách thực dân mới Sớm nhận định chính xác tình hình hình, tháng 7/1954, Hội nghị Trung ương 6 khóa II của Đảng xác định kẻ thù chính, nguy hiểm trước mắt của Nhân dân Việt Nam là đế quốc Mỹ Tháng 9/1954, Bộ Chính trị ra Nghị quyết về tình hình mới, nhiệm vụ mới và chính sách mới của Đảng Nghị quyết đã chỉ ra những đặc điểm chủ yếu của tình hình trong lúc cách mạng Việt Nam bước vào một giai đoạn mới là: Từ chiến tranh chuyển sang hòa bình; nước nhà tạm chia làm 2 miền; từ nông thôn chuyển vào thành thị; từ phân tán chuyển đến tập trung
Trong 2 năm đầu, Đảng chủ trương lãnh đạo Nhân dân đấu tranh đòi thực hiện Hiệp định Giơ-ne-vơ, đòi củng cố hoà bình, thực hiện các quyền tự do dân chủ, cải thiện dân sinh, thực hiện thống nhất đất nước trên cơ sở độc lập, dân chủ Đảng lãnh đạo Nhân dân đấu tranh chống khủng bố, đàn áp của ngụy quân, nguỵ quyền, chống chính sách “tố cộng, diệt cộng” của Mỹ-ngụy, bảo vệ và xây dựng lực lượng cách mạng, căn cứ địa cách mạng, xây dựng và mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất, đồng thời tích cực nghiên cứu, chuẩn bị tìm con đường đấu tranh thích hợp để hạn chế tổn thất, đẩy cách mạng miền Nam tiến lên Tháng 12/1957, Hội nghị Trung ương lần thứ 13 khóa II đã xác định đường lối tiến
hành đồng thời 2 chiến lược cách mạng: “Mục tiêu và nhiệm vụ cách mạng của toàn Đảng, toàn dân ta hiện nay là: củng cố miền Bắc, đưa miền Bắc tiến dần từng bước lên chủ nghĩa xã hội Tiếp tục đấu tranh để thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập
và dân chủ bằng phương pháp hòa bình”.
Trang 6Cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam đã trải qua những năm tháng vô cùng khó khăn, ác liệt Trước sức đánh phá của địch qua nhiều đợt “tố cộng, diệt cộng” cực kỳ tàn ác
và những chiến dịch càn quét khốc liệt của quân đội ngụy tay sai, cách mạng miền Nam đã chịu những tổn thất nặng nề chưa từng có Trong tình hình đó, Đảng đã động viên được 12 triệu lượt quần chúng (1955-1958) đấu tranh chính trị dưới những hình thức khác nhau Trước tình thế khó khăn, hiểm nghèo, đại bộ phận đồng bào miền Nam vẫn một lòng một
dạ theo cách mạng, vẫn tiếp tục cuộc đấu tranh bất khuất chống lại cường quyền, áp bức và khủng bố tàn khốc của địch để giữ gìn lực lượng và thế đấu tranh Một số khá đông đảng viên bị thất tán do chuyển vùng và rút vào hoạt động bí mật để chống khủng bố, vẫn hướng về Đảng và Cách mạng
Trên cơ sở đúc kết kinh nghiệm thực tiễn của đồng bào, chiến sĩ miền Nam trong hơn
4 năm đấu tranh đầy hi sinh gian khổ và nghiên cứu những kiến nghị khẩn thiết của nhiều cán bộ, đảng viên và một số cấp ủy đảng, Bộ Chính trị đã dành nhiều công sức, trí tuệ chuẩn bị một giải pháp cơ bản cho cách mạng miền Nam để trình Ban Chấp hành Trung ương
Tháng 1/1959, Hội nghị Trung ương lần thứ 15 khóa II họp bàn và ra nghị quyết về cách mạng miền Nam Hội nghị đã xác định con đường tiến lên của cách mạng miền Nam, vạch rõ mục tiêu và phương pháp cách mạng, mối quan hệ giữa 2 chiến lược cách mạng ở
2 miền Nam, Bắc, giữa cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới, nhằm giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, thống nhất nước nhà, tích cực góp phần bảo vệ hoà bình ở
ĐôngNam á và thế giới Trung ương Đảng nhận định: “hiện nay, cách mạng ở Việt Nam
do Đảng ta lãnh đạo bao gồm hai nhiệm vụ chiến lược: Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam Hai nhiệm vụ chiến lược
đó tuy có tính chất khác nhau, nhưng quan hệ hữu cơ với nhau… nhằm phương hướng chung là giữ vững hòa bình, thực hiện thống nhất nước nhà, tạo điều kiện thuận lợi để đưa cả nước Việt Nam tiến lên chủ nghĩa xã hội” Nhiệm vụ cơ bản của cách mạng Việt Nam ở miền Nam là “giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc và phong kiến,
Trang 7thực hiện độc lập dân tộc và người cày có ruộng, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ
ở miền Nam” “Con đường phát triển cơ bản của cách mạng Việt Nam ở miền Nam là khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân”, “lấy sức mạnh của quần chúng, dựa vào lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu, kết hợp với lực lượng vũ trang để đánh đổ quyền thống trị của đế quốc và phong kiến, dựng lên chính quyền cách mạng của nhân dân”
Nghị quyết 15 đã mở đường cho cách mạng miền Nam tiến lên, đồng thời cũng thể hiện rõ bản lĩnh độc lập, tự chủ, sáng tạo của Đảng trong những năm tháng hết sức khó khăn của cách mạng Dưới anh sáng Nghị quyết Hội nghị Trung ương 15, phong trào
“Đồng khởi” đã phát triển mạnh mẽ, giải phóng nhiều vùng đất đai rộng lớn, làm phá sản chiến lược chiến tranh đơn phương của đế quốc Mỹ, tạo ra bước ngoặt của cách mạng miền Nam, chuyển cách mạng từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công, từ khởi nghĩa từng phần tiến lên làm chiến tranh cách mạng Thắng lợi của “Đồng khởi” dẫn đến sự ra đời của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam (20/02/960), giương cao ngọn
cờ đoàn kết mọi tầng lớp nhân dân miền Nam, đấu tranh chống Mỹ và tay sai, nhằm thực hiện một miền Nam Việt Nam hoà bình, độc lập, dân chủ, trung lập, tiến tới hoà bình thống nhất Tổ quốc
Quá trình đề ra và chỉ đạo thực hiện các nghị quyết, chủ trương nói trên chính là quá trình hình thành đường lối chiến lược chung cho cách mạng cả nước, được hoàn chỉnh tại
Đại hội lần thứ III của Đảng (9/1960) Đại hội nhấn mạnh: “Tăng cường đoàn kết toàn dân, kiên quyết đấu tranh giữ vững hòa bình, đẩy mạnh cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, đồng thời đẩy mạnh cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, thiết thực góp phần tăng cường phe xã hội chủ nghĩa và bảo vệ hòa bình ở Đông Nam Á và thế giới”.
Sau thất bại của chiến lược “chiến tranh đơn phương”, đế quốc Mỹ tiến hành chiến lược “chiến tranh đặc biệt” ở miền Nam Dưới ánh sáng Nghị quyết Đại hội lần thứ III của
Trang 8Đảng, các hội nghị Trung ương khóa III đã một lần nữa làm phá sản chiến lượng chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ Các hội nghị của Bộ Chính trị đầu năm 1961 và đầu năm
1962 đã nêu chủ trương kết hợp khởi nghĩa vũ trang của quần chúng với chiến tranh cách mạng, giữ vững và đẩy mạnh đấu tranh chính trị đồng thời phát triển đấu tranh vũ trang nhanh lên một bước mới, ngang tầm với đấu tranh chính trị
Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 9 khóa III (11/1963) đã xác định đúng đắn quan điểm quốc tế, hướng hoạt động đối ngoại vào việc kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để đánh Mỹ và thắng Mỹ Đồng thời tiếp tục khẳng định đấu tranh chính trị, đấu tranh vũ trang đi đôi, cả hai đều có vai trò quyết định cơ bản đồng thời nhấn mạnh yêu cầu mới của đấu tranh vũ trang
Sau thất bại của chiến lược “chiến tranh đặc biệt”, đế quốc Mỹ tiến hành chiến lược
“chiến tranh cục bộ” trực tiếp đưa quân vào miền Nam tham chiến, đồng thời tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ nhất Trước tình hình mới, hội nghị Trung
ương lần thứ 11 (3/1965) nêu rõ: “Ra sức tranh thủ thời cơ, tập trung lực lượng của cả nước giành thắng lợi quyết định ở miền Nam trong thời gian tương đối ngắn, đồng thời chuẩn bị sẵn sang đối phó và quyết thắng cuộc chiến tranh cục bộ ở miền Nam nếu địch gây ra”; hội nghị Trung ương lần thứ 12 (12/1965) nhận định: “Mỹ đưa quân vào miền Nam, nhưng lực lượng so sánh giữa ta và địch vẫn không thay đổi lớn Vì thế, cuộc kháng chiến vẫn giữ vững và phát triển thế chiến lược tiến công” Trên đã thắng lợi cả về quân
sự và chính trị, hội nghị lần thứ 13 (01/1967) đã quyết định mở mặt trận ngoại giao nhằm tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế, phát huy sức mạnh tổng hợp để đánh Mỹ
Thắng lợi oanh liệt chiến dịch Tết Mậu Thân đã giáng đòn quyết định vào chiến lược
“chiến tranh cục bộ” của đế Mỹ, đã đánh bại cố gắng quân sự cao nhất của chúng trong chiến tranh xâm lược Việt Nam, buộc chúng phải chuyển hướng chiến lược “phi Mỹ hoá chiến tranh” rồi “Việt Nam hoá chiến tranh” và buộc phải trở lại bàn đàm phán tại Paris,
mở ra cục diện mới “vừa đánh vừa đàm”, thật sự kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh quân sự, chính trị và ngoại giao
Trang 9Hội nghị lần thứ 18 (01/1970) đề ra nhiệm vụ trước mắt là: Đẩy mạnh cuộc kháng chiến trên tất cả các mặt, vừa tấn công, vừa xây dựng lực lượng, giành thắng lợi từng bước
đi đến giành thắng lợi quyết định Hội nghị Bộ chính trị (6/1970) nêu rõ: “Huy động sức mạnh cả nước tiến hành tiến công và phản công đánh Mỹ và tay sai trên toàn Đông Dương” Hội nghị Trung ương lần thứ 21 (7/1973) khẳng định: “Con đường cách mạng miền Nam là con đường bạo lực cách mạng Bất kể trong tình hình nào, ta cũng phải nắm vững thời cơ, giữ vững đường lối chiến lược tiến công và chỉ đạo linh hoạt để đưa cách mạng miền Nam tiến lên” Hội nghị Bộ chính trị (9/1974) họp bàn và thông qua kế hoạch giải phóng miền Nam trong hai năm 1975 – 1976, đồngt thời còn dự kiến: “Nếu thời cơ đến vào đầu hoặc cuối năm 1975 thì lập tức giải phóng miền Nam trong năm 1975” Từ ngày 08/12/1974 đến 08/01/1975, Bộ chính trị chỉ rõ: “Nắm vững thời cơ lịch sử, mở nhiều chiến dịch tổng hợp liên tiếp, đánh những trận quyết định, kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ ”
Nhận định thời cơ để tiến hành giải phóng miền Nam đã đến, từ đầu tháng 3 đến cuối tháng 4 năm 1975, chúng ta tiến hành tổng tiến công và nổi dậy trên toàn miền Nam, kết thúc bằng thắng lợi lịch sử của chiến dịch Hồ Chí Minh Ngày 30/4/1975, đã trở ngày hội thống nhất non sông sau 21 năm đất nước chia cắt
Thăng lợi của đường lối kháng chiến chống Mỹ, cứu nước thể hiện tinh thần độc lập
tự chủ, sáng tạo, tinh thần cách mạng tiến công, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc của Đảng Đường lối đó cũng là ý chí, nguyện vọng của toàn Đảng, toàn quân dân ta vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội
3 Liên hệ đường lối bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN của Đảng ta hiện nay
Đường lối bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa của Đảng ta hiện nay là sự kế thừa và phát huy truyền thống của dân tộc, kinh nghiệm của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và thực tiện bảo vệ Tổ quốc của Nhân dân ta do Đảng lãnh đạo Đường lối đó thể hiện tập trung trong Nghị quyết chuyên đề số 28, Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về
Trang 10chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, tiếp tục được bổ sung phát triển tại Đại hội XII, XIII của Đảng,thể hiện sâu sắc tư duy mới về bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa
Một là, cần bảo đảm cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta nhận thức sâu sắc về vị
trí, tầm quan trọng của nhiệm vụ củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh quốc gia trong
tình hình mới Củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc là nhiệm vụ “trọng yếu,
thường xuyên” của Đảng, Nhà nước và Nhân dân Đây là quan điểm nhất quán, xuyên suốt của Đảng Trong khi đặt lên hàng đầu nhiệm vụ phát triển kinh tế, xây dựng đất nước nhưng không một phút nơi lỏng nhiệm vụ củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc Bởi, củng cố quốc phòng, an ninh là cơ sở trực tiếp tạo thuận lợi cho nhiệm vụ trung tâm
là phát triển kinh tế; ngược lại, kinh tế phát triển, đất nước mạnh lên sẽ là “phương thức hữu hiệu” để bảo vệ Tổ quốc Đây là quan điểm lý luận cơ bản, chi phối, quy định toàn bộ các nội dung, quan điểm của Đảng về quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới
Hai là, cần quán triệt và nâng cao hơn nữa trong nhận thức và hành động thực tiễn về
mục tiêu, nội dung, yêu cầu của nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN trong tình hình mới Mục tiêu bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là toàn diện, tổng thể, bảo trùm cả phương diện tự nhiên - lịch sử và chính trị - xã hội trong chỉnh thể thống nhất, phù
hợp với xu thế tình hình mới Đại hội XII của Đảng xác định: “Phát huy mạnh mẽ sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế, kiên quyết, kiên trì đấu tranh để bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân
và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ công cuộc đổi mới, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc; bảo vệ nền văn hóa dân tộc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội” Các nội
dung bảo vệ Tổ quốc quan hệ chặt chẽ biện chứng với nhau trong chỉnh thể thống nhất; bảo vệ lĩnh vực này cũng có nghĩa là góp phần bảo vệ lĩnh vực khác và ngược lại, không xem nhẹ hoặc tuyệt đối hóa một lĩnh vực nào