1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Anh chị hãy sử dụng kiến thức về đặc điểm tâm lý cá nhân của người học và cơ sở tâm lý của hoạt động dạy học để bàn luận về việc sử dụng CNTT trong da

12 54 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 616,93 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHOA TÂM LÝ HỌC    BÀI TIỂU LUẬN Chủ đề 5: Anh/chị hãy sử dụng kiến thức về đặc điểm tâm lý cá nhân của người học và cơ sở tâm lý

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHOA TÂM LÝ HỌC

  

BÀI TIỂU LUẬN

Chủ đề 5:

Anh/chị hãy sử dụng kiến thức về đặc điểm tâm lý cá nhân của người học và cơ

sở tâm lý của hoạt động dạy học để bàn luận về việc sử dụng CNTT trong dạy

học hiện nay

Học phần: TLHGD – 2021PSYC40001

Giảng viên: Ths.Nguyễn Thị Cẩm Vân

Họ và tên: Nguyễn Thương Tín

MSSV: 46.01.103.073

Thành phố Bảo Lộc,ngày ….23… tháng… 9… năm 2021

Trang 2

Mục lục

Phần 1: MỞ ĐẦU 3

1) Lý do chọn đề tài: 3

Phần 2: NỘI DUNG 3-5

1) Đặc điểm tâm lý cá nhân của người học: 3-3

2) Cơ sở tâm lý của hoạt động dạy học: 4

Phần 3: ỨNG DỤNG CNTT TRONG DẠY HỌC 5-11

1) Những ứng dụng CNTT trong việc học : 5-9

2) CNTT trong việc giảng dạy: 8-9

3) Ưu điểm của việc ứng dụng CNTT ở Việt Nam: 9-10

4) Nhược điểm của việc ứng dụng CNTT ở Việt Nam: 10-11

Phần 4:KẾT LUẬN SƯ PHẠM 11-12

Phần 5: TÀI LIỆU THAM KHẢO 12

Trang 3

Phần 1: Mở đầu 1) Lý do chọn đề tài:

Trong những năm gần đây sự nghiệp Giáo Dục và Đào Tạo ở Việt Nam được Đảng, Nhà nước và xã hội quan tâm Thời đại của chúng ta sự bùng nổ CNTT đã tác động đến công cuộc phát triển kinh tế xã hội loài người Đảng và Nhà nước ta đã xác định rõ ý nghĩa và tầm quan trọng của công nghệ thông tin, truyền thông cũng như yêu cầu đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, mở cửa và hội nhập, hướng tới nền kinh tế tri thức Hiện nay Bộ Giáo Dục và Đào Tạo yêu cầu đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong giáo dục đào tạo ở tất cả các cấp học, bậc học, ngành học Xem CNTT như là một công cụ hỗ trợ đắc lực nhất cho đổi mới phương pháp dạy học ở các môn học Trong thời gian dịch bệnh học sinh không thể đến trường ta có thể thấy việc học trực tuyến là hữu dụng nhất

Nhưng phần lớn các GV ngại sử dụng giáo án điện tử trong giảng dạy vì cho rằng

sẽ tốn thời gian để chuẩn bị bài giảng Để tạo được những hình ảnh đẹp, sống động trên các Slide đòi hỏi phải mất nhiều thời gian chuẩn bị và đây chính là điều mà GV rất ái ngại.Khi sử dụng giáo án điện tử GV phải vất vả gấp nhiều lần so với cách dạy truyền thống với phấn trắng bảng đen, đó là GV phải mất thời gian tìm hình ảnh minh họa, âm thanh, tư liệu dẫn chứng phù hợp với nội dung bài giảng khi sử dụng giáo án điện tử ngoài những kiến thức cơ bản về vi tính, sử dụng thành thạo phần mềm

PowerPoint GV cần phải có tính sáng tạo, tính thẩm mỹ và sự nhạy bén để tìm kiếm tư liệu phục vụ cho bài dạy và nhất là phải có niềm đam mê, vì khi có lòng đam mê thì chúng ta mới thực hiện được những việc được coi là vất vả như nêu ở trên Với những

lý do trên, tôi chọn nghiên cứu chủ đề 5 với mong muốn đưa ra những biện pháp trong việc ứng dụng CNTT vào việc dạy học

Phần 2: Nội dung 1) Đặc điểm tâm lý cá nhân của người học:

Bản chất của sự phát triển tâm lý là quá trình tích lượng, đổi chất Nguồn gốc của

sự phát triển tâm lý là môi trường văn hóa xã hội, cụ thể là những kinh nghiệm lịch sử

xã hội Cơ chế của sự phát triển tâm lý là quá trình con người tiếp thu và lĩnh hội kinh nghiệm xã hội lịch sử đó Những mâu thuẫn xuất hiện bên trong bản thân đứa trẻ trong

Trang 4

quá trình sống và hoạt động chính là động lực thúc đẩy sự phát triển tâm lý Tuổi thiếu niên là thời kỳ quá độ, thời kỳ chuyển tiếp từ thế giới trẻ con sang thế giới người lớn Đây là thời kỳ phát triển đầy biến động, có sự nhảy vọt cả về thể chất lẫn tinh thần Tâm lý của người học tùy vào độ tuổi mà việc tiếp thu cũng khác nhau, hiện tại CNTT

đã rất phổ biến so với trước đây muốn sở hữu một thiết bị điện tử đã không còn khó khăn và tốn kém, nên việc người học dùng CNTT tự tìm kiếm tài liệu học tập là rất phổ biến, nhưng với sự phát triển quá nhanh và nhiều thông tin nên người học dễ bị mất tập trung giảm hiệu suất, người học bị những thông tin sai lệch dẫn dắt ảnh hưởng rất lớn đến tâm lý người học Bên cạnh đó còn có những yếu tố khác tác động như : di truyền, bẩm sinh, môi trường sống v v .

Tùy vào độ tuổi, môi trường sống và nhiều thứ khác đều ảnh hưởng đến tâm lý người học tuy việc áp dụng CNTT vào giảng dạy là cần thiết nhưng ta cũng cần tìm hiểu kỹ người học có phù hợp không, tùy vào môi trường sống và điều kiện kinh tế đây là thứ ảnh hưởng nhiều nhất với việc áp dụng CNTT vào giảng dạy.

2) Cơ sở tâm lý của hoạt động dạy học

Theo Gardner, mỗi cá nhân phát triển một hoặc nhiều kiểu trí thông minh thông qua sự di truyền của gen, giáo dục và xã hội hóa của các giá trị văn hóa Nói cách khác các kiểu trí thông minh này tiến hóa qua sự tương tác giữa các tố chất sinh học và những cơ hội tương tác, trải nghiệm tâm lí do môi trường sống của cá nhân mang lại Như vậy, theo Gardner mỗi trẻ sở hữu một hoặc một số kiểu thông minh này Vì vậy,

ta nên tìm hiểu xem trẻ thông minh như thế nào, thay vì chỉ quan tâm trẻ thông minh bao nhiêu

Ngày nay, do sự phát triển của công nghệ thông tin, dạy học thông báo được phát triển theo hướng mô hình của lý thuyết thông tin Trong đó, mối quan tâm của nhà sư phạm là chất lượng thông tin đầu vào (các tri thức cần dạy cho người học), quá trình

xử lý, liên kết các thông tin, lưu giữ và khôi phục thông tin, các phản ứng của người học ở đầu ra Quá trình xử lý, liên kết, lưu trữ và khôi phục thông tin liên quan trực tiếp đến cơ chế làm việc của trí nhớ và tư duy của người học Vì vậy, mối quan tâm hàng đầu của các nhà sư phạm theo hướng thông tin là các giải pháp nâng cao chất

Trang 5

lượng hoạt động trí nhớ và tư duy của người học trong dạy học (Phan Trọng Ngọ, 2005)

Từ những nghiên cứu về cơ sở tâm lý học tôi thấy rằng tâm lý chung của người học mọi lứa tuổi sự khác biệt cá nhân luôn cần được tôn trọng và phát triển để mỗi em học sinh được phát triển một cách tối đa và toàn diện những năng lực của bản thân Chương trình giáo dục , sách giáo khoa là những yếu tố tĩnh trong giáo dục nhưng phương pháp tác động tới tâm lý tới trẻ là yếu tố động Giáo viên hoàn toàn có đủ năng lực để khơi dậy cho học sinh những năng lực tiềm ẩn Việc áp dụng CNTT vào giảng dạy có thể phần nào đó kích thích năng lực tiềm ẩn của người học qua các bài giảng trực quan và sáng tạo

Phần 3: Ứng dụng CNTT trong dạy học

1) Những ứng dụng CNTT trong việc học:

Ứng dụng CNTT trong dạy học là sử dụng các phương tiện để khuếch đại, mở

rông khả năng nghe nhìn và trao cho máy các thao tác truyền đạt, xử lý thông tin Các phương tiện đó được xem như các công cụ lao động trí tuệ mới bao gêm: máy tính, video, máy chiếu qua đầu (over head), máy chiếu tính thể lỏng (LCD-Projector), máy quay kỹ thuật số, các phẩn mềm cơ bản: xây dựng thí nghiệm ảo, thí nghiệm mô

phỏng, CD-ROM, đặc biệt là mạng Internet Trong đó máy tính đóng vai trò là trung tâm phối hợp, xử lý mọi hình thức thể hiện và thao tác truyền đạt thông tin Máy tính kết hợp với một số phần mêm tạo nên một công cụ hễ trợ có nhiều chức năng to lớn như: có thể tạo nên, lưu giữ, sắp xếp, sửa đôi, hiển thị lại, một khối lượng thông tin

vô cùng lớn một cách nhanh chóng, dễ thực hiện Do vậy, máy tính được xem như là một công cụ đạy học không thể thiếu trong một xã hội hiện đại Điều này giúp tăng động lực học tập và nghiên cứu công nghệ định hướng trong tương lai Năm hình thức ứng dụng CNTT trong dạy học:

1.1 Giảng dạy bằng bài giảng điện tử

Trang 6

Giảng dạy bằng giáo án điện tử e-Learning là hình thức được nhiều GV chọn lựa Phương pháp dạy học hiện đại này mang đến hiệu quả thiết thực trong việc truyền tải nội dung kiến thức, được giới chuyên gia giáo dục đánh giá cao và khuyến khích sử dụng

Giảng dạy thông qua e-Learning sử dụng nhiều công cụ như video, hình ảnh, âm thanh,… giúp buổi học thêm sinh động, hấp dẫn hơn, khơi gợi hứng thú học tập của các em

ứng dụng cntt vào dạy học Sử dụng bài giảng điện tử trong công tác dạy học để tăng tính sinh động

1.2 Tra cứu thông tin, tài liệu qua mạng Internet

Kiến thức là vô hạn và hơn ai hết, người GV cần có kiến thức sâu rộng để truyền tải cho học sinh của mình, giúp các em hiểu bài tốt hơn và tiến bộ từng ngày

Do đó, người GV mẫu mực cần nâng cao tinh thần tự học và bồi dưỡng kiến thức, kỹ

năng của bản thân Với thời đại 4.0 ngày nay, GV có thể dễ dàng tra cứu thông tin và tìm kiếm tài liệu thông qua internet Đây là kho dữ liệu khổng lồ, chứa đựng rất nhiều thông tin người GV cần

1.3 Tham khảo sách điện tử, giáo trình điện tử

Trang 7

Để có thể ứng dụng CNTTtrong dạy học, việc tham khảo sách điện tử và các giáo trình điện tử là vô cùng cần thiết Chỉ với một thiết bị thông minh có kết nối internet, thầy cô có thể tìm thấy vô vàn đầu sách và giáo án điện tử được đăng tải trên những nguồn học liệu mở Việc tham khảo này hoàn toàn mang tính chủ động, bất kể không gian hay thời gian

ứng dụng CNTTtrong việc dạy học Thầy cô nên thường xuyên tham khảo sách điện tử, giáo trình điện tử

1.4 Sử dụng thiết bị điện tử trong dạy học

Thiết bị điện tử là công cụ hỗ trợ đắc lực của GV lẫn học sinh trong quá trình dạy và học Thông qua các thiết bị nghe, nhìn, việc dạy và học trở nên đơn giản và thú

vị hơn rất nhiều

Trang 8

Theo đó, GV không cần phải giảng bài liên miên, học sinh không cần phải cặm cụi ghi ghi chép chép Các hình ảnh, âm thanh sẽ kích thích hứng thú học tập của học sinh, làm tăng khả năng ghi nhớ và hiểu bài, giúp việc truyền tải kiến thức đạt hiệu quả cao nhất

1.5 Sử dụng email

Sử dụng email trong công tác giảng dạy và truyền thông hiện nay đang trở nên phổ biến và cho nhiều hiệu quả tích cực Thông qua email, GV và học sinh có thể trao đổi kiến thức mà không cần phải gặp mặt trực tiếp Email có thể chứa nhiều nội dung như văn bản, hình ảnh, tệp tin,… giúp quá trình trao đổi thông tin diễn ra dễ dàng và nhanh chóng hơn

Dùng email trong giảng dạy nhằm tăng tính tương tác giữa thầy cô và học sinh

2) CNTT trong việc giảng dạy

Ứng dụng CNTT vào giảng dạy đẹm lại cho người học và người dạy nhiều lợi ích:

- Thứ nhất, ứng dụng công nghệ vào giảng dạy nhờ có công nghệ thông tin, GV

có thể linh hoạt hơn trong quá trình giảng dạy, có thể tương tác với học sinh, sinh viên ở mọi lúc mọi nơi

Trang 9

- Thứ hai, người dạy và học dễ dàng tìm hiểu kiến thức trở nên đơn giản hơn rất nhiều đồng thời cải thiện chất lượng dạy và học

- Thứ ba có vai trò thúc đẩy một nền giáo dục mở, điều đó có nghĩa con người hoàn toàn có thể tiếp cận thông tin đa chiều, rút ngắn khoảng cách và thu hẹp mọi không gian và rút ngắn thời gian

- Thứ tư là kiến thức đa dạng và được cập nhật thường xuyên

- Thứ năm là tạo không gian và thời gian học linh động,thuận tiện cho việc học ở mọi lúc mọi nơi, tạo ra cơ hội cho người học tiếp cận, lựa chọn vấn đề phù hợp với bản thân để từ đó phát triển theo thế mạnh của mình

- Thứ sáu, đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao về chất lượng nguồn nhân lực, thích ứng nhanh với công việc trong tương lai

3) Ưu điểm của việc ứng dụng CNTT ở Việt Nam

**Ưu điểm:

- Ưu điểm nổi bật của phương pháp dạy học bằng CNTT so với phương pháp

giảng dạy truyền thống là:

- Môi trường đa phương tiện kết hợp những hình ảnh vedeo, camera … với âm

thanh, văn bản, biểu đồ … được trình bày qua máy tính theo kịch bản vạch sẵn nhằm đạt hiệu quả tối đa qua một quá trình học đa giác quan;

Kĩ thuật đồ hoạ nâng cao có thể mô phỏng nhiều quá trình, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội trong con người mà không thể hoặc không nên để xảy ra trong điều kiện nhà trường

- Công nghệ tri thức nối tiếp trí thông minh của con người, thực hiện những

công việc mang tính trí tuệ cao của các chuyên gia lành nghề trên những lĩnh vực khác nhau

- Những ngân hàng dữ liệu khổng lồ và đa dạng được kết nối với nhau và với

người sử dụng qua những mạng máy tính kể cả Internet … có thể được khai thác để tạo nên những điều kiện cực kì thuận lợi và nhiều khi không thể thiếu

để học sinh học tập trong hoạt động và bằng hoạt động tự giác, tích cực và sáng tạo, được thực hiện độc lập hoặc trong giao lưu

- Những thí nghiệm, tài liệu được cung cấp bằng nhiều kênh: kênh hình, kênh

chữ, âm thanh sống động làm cho học sinh dễ thấy, dễ tiếp thu và bằng suy

Trang 10

luận có lý, học sinh có thể có những dự đoán về các tính chất, những quy luật mới Đây là một công dụng lớn của CNTT và truyền thông trong quá trình đổi mới phương pháp dạy học Có thể khẳng định rằng, môi trường CNTT và

truyền thông chắc chắn sẽ có tác động tích cực tới sự phát triển trí tuệ của học sinh và điều này làm nảy sinh những lý thuyết học tập mới

4) Nhược điểm của việc ứng dụng CNTT ở Việt Nam :

**Nhược điểm:

+ Khó khăn về tài chính:

- Tuy nhiên, khi đã áp dụng dạy học bằng CNTT, thì mỗi GV cần phải trang bị máy ví tính(nếu máy tính xách tay thì càng tốt) Đây là điều không dễ dàng gì với nhiều GV, nhất là GV trẻ mới ra trường hay GV vùng núi, nông thôn bởi đồng lương còn eo hẹp, trong khi giá cả leo thang, việc bỏ ra ngót cả chục triệu

để mua máy tính (chỉ là dạng khiêm tốn thôi) cũng là một điều thật xa vời;

không phải GV nào cũng thực hiện được

+ Khó khăn về trình độ tin học của GV:

- Đây là một trong những trở ngại lớn nhất; Bởi:

- Làm chủ được bài giảng của mình trên lớp nhất là giờ thao giảng, giờ dạy rút

kinh nghiệm của tổ,…không phải là điều dễ dàng

- Kỹ năng về CNTTở một số giáo viên vẫn còn hạn chế, nhất là GV lớn tuổi Họ

không đủ bản lĩnh để vượt qua sự cổ hũ để đam mê và sáng tạo, thậm chí còn né tránh sử dụng CNTTvào giảng dạy Một số GV lớn tuổi họ không chịu học hỏi những GV giỏi về công nghệ thông tin, nhất là GV trẻ; phần vì e ngại bị đánh giá mình “i tờ” vi tính phần dưới mắt họ những GV trẻ này chỉ như là học trò của mình Bởi thế việc gì mình phải cầu cạnh; phải “tầm

+ Dạy học theo lối truyền thống còn ăn sâu trong GV:

- Công bằng mà nói, lối dạy truyền thống cũng có những ưu điểm riêng của nó Bởi thế, phương pháp dạy học cũ vẫn còn ăn sâu trong tiềm thức của những “

Trang 11

thầy giáo già”, khó thay đổi nên lối áp đặt ấy vẫn chưa thể xoá được trong một thời gian tới Nhất là những GV bảo thủ Họ cho không gì có thể thay thế được phấn trắng bảng đen; không gì có thể thay lối dạy truyền thống: Thầy chủ đạo giảng bài học trò lĩnh hội tri thức; trò không thể qua mặt thầy

+ Khó chủ động được giờ dạy:

- Việc “cháy giáo án” ở các tiết dự giờ có công nghệ trình chiếu là chuyện bình thường vì phải mất thời gian điều khiển máy tính; thời gian chờ học sinh ghi chép… Cuối giờ, đôi khi dư vài nội dung nếu dạy bằng bảng đen ta có thể linh hoạt rút gọn; tuy nhiên công nghệ trình chiếu không dễ để điều chỉnh cho phù hợp

+ Dễ phân tán tập trung của học sinh:

- Việc lạm dụng các âm thanh hình ảnh,…một cách không thích hợp dẫn đến học sinh mất tập trung Các em bị phân tâm vì các hình động hay những âm thanh lạ tai mà GV đưa ra nhằm “thêm mắm, thêm muối” chứ không phải hỗ trợ cho nội dung bài giảng

+ Trình độ tin học của học sinh:

- Dạy học tức là dạy cho người chưa biết học biết vận dụng những kiến thức kĩ năng do minh truyền thụ vào thực tiễn Tuy nhiên, bên cạnh khó khăn về điều kiện cơ sở vật chất trang thiết bị dạy học còn có một cản trở nữa là từ phía người học: Các em hạn chế về trình độ vi tính; các em đã quá quen lối dạy đọc chép từ lớp dưới nên để thay đổi nó không dễ dàng già cho người dạy

Phần 4: Kết luận sư phạm

Học sinh không dễ dàng xác định mục đích học tập Nên khi lập kế hoạch giảng dạy, xây dựng các nhiệm vụ học tập cho học sinh, giáo viên cần định hướng giúp người học ý thức được mục đích học tập Trong xu hướng phát triển của kỷ nguyên số, CNTT có vai trò quan trọng, công cụ dẫn dắt, thúc đẩy, thăng hạng tăng trưởng của mọi quốc gia, việc sử dụng CNTT vào giảng dạy giúp cho người học có cái nhìn trực

Ngày đăng: 26/11/2021, 07:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w