Đồng thời, môn Toán góp phần hình thành, phát triển ở học sinh các phẩm chất chủ yếu và năng lực chung đã quy định trong Chương trình tổng thể; giúp học sinh bước đầu xác định được năng
Trang 1“ DẠY HỌC TOÁN LỚP 4 THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN PHẨM CHẤT, NĂNG LỰC NHẰM TIẾP CẬN CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG MỚI CHO HỌC SINH LỚP 4, TRƯỜNG THTT THẠNH AN 1”
I ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Ý nghĩa của đề tài
Toán học ngày càng có nhiều ứng dụng trong cuộc sống Môn Toán ở trường phổ thông góp phần hình thành và phát triển các phẩm chất chủ yếu, năng lực chung và năng lực toán học cho học sinh; phát triển kiến thức, kĩ năng then chốt và tạo cơ hội để học sinh được trải nghiệm, vận dụng toán học vào thực tiễn; tạo lập sự kết nối giữa các ý tưởng toán học, giữa Toán học với thực tiễn, giữa Toán học với các môn học và hoạt động giáo dục khác Nội dung môn Toán thường mang tính logic, trừu tượng, khái quát Do đó, để hiểu và học được Toán, chương trình Toán ở trường phổ thông cần bảo đảm sự cân đối giữa “học” kiến thức và “vận dụng” kiến thức vào giải quyết vấn đề cụ thể
Chương trình môn Toán tiểu học hình thành, phát triển ở học sinh năng lực toán học với các thành tố: tư duy và lập luận toán học; mô hình hoá toán học; giải quyết vấn đề toán học; giao tiếp toán học; sử dụng công cụ, phương tiện học Toán Đồng thời, môn Toán góp phần hình thành, phát triển ở học sinh các phẩm chất chủ yếu và năng lực chung đã quy định trong Chương trình tổng thể; giúp học sinh bước đầu xác định được năng lực, sở trường của bản thân nhằm định hướng và lựa chọn nghề nghiệp, rèn luyện nhân cách để trở thành
Trong những năm học qua, việc đổi mới phương pháp dạy học để nâng cao hiệu quả thực hiện mục tiêu hình thành, phát triển năng lực và phẩm chất học sinh thông qua giảng dạy môn Toán lớp 4 ở Trường tiểu học thị trấn Thạnh An 1
đã đạt được một số kết quả tích cực, song cũng còn bộc lộ một số tồn tại, hạn
chế Năm học 2019-2020 tôi mạnh dạn nghiên cứu đề tài: Dạy học Toán lớp 4 theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực nhằm tiếp cận chương trình giáo dục phổ thông mới cho học sinh lớp 4, trường tiểu học thị trấn Thạnh
An 1” Bước đầu đã thu được những kết quả tích cực.
2 Những khó khăn đã giải quyết:
Thứ nhất: đội ngũ giáo viên nắm khá vững phương pháp luận về dạy học
tích cực, về lựa chọn và tích hợp các phương pháp dạy học tích cực một cách hợp lý cho giảng dạy từng loại hình kiến thức ở môn học toán, phát huy tính tích cực, chủ động, độc lập và sáng tạo của của học sinh trong giảng dạy;
Thứ hai: nhiều giáo viên có những kinh nghiệm khá thuần thục trong việc
lựa chọn và tích hợp các phương pháp dạy học tích cực để thiết kế, tổ chức và điều khiển thực hiện hoạt động nhận thức cho học sinh trong giảng dạy theo hướng học sinh tự học, tự nhận thức các tri thức một cách chủ động, tích cực
Trang 2dưới sự hướng dẫn, chỉ đạo của giáo viên cho thực hiện mục tiêu dạy học và giáo dục;
Thứ ba: giáo viên nắm khá vững về việc sử dụng các kỹ thuật dạy học tích
cực như: kỹ thuật khăn trải bàn, kỹ thuật sơ đồ tư duy trong giảng dạy ;
Thứ tư: trong giảng dạy các môn học,giáo viên đã có sự coi trọng việc tích
hợp giáo dục về lý tưởng; đạo đức, lối sống; về quyền và bổn phận công dân; về khát vọng vươn lên và cống hiến; về truyền thống lich sử; về tình yêu quê hương, đất nước, con người; về ý thức bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, chủ quyền Biển, đảo; về bảo vệ môi trường ; thông qua giảng dạy các môn học bằng các phương pháp và kỹ thuật dạy học tích cực;
Thứ năm: việc khai thác, sử dụng đồ dùng và thiết bị dạy học như nguồn
thông tin cho quá trình hoạt động nhận thức chủ động, độc lập, tích cực và sáng tạo của học sinh, ứng dụng CNTT vào giảng dạy được giáo viên coi trọng;
Thứ sáu: đội ngũ giáo viên nắm vững phương pháp, tiến trình dạy học
theo hướng đổi mới nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, độc lập và sáng tạo của của học sinh trong giảng dạy; qua đó hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực cho học sinh
3 Dự kiến phương pháp giải quyết
- Phương pháp nghiên cứu luận: Đọc, tham khảo tài liệu
- Phương pháp lập kế hoạch: Lập kế hoạch chủ nhiệm, kế hoạch giáo dục học sinh
- Phương pháp tổ chức hoạt động giáo dục: Tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo, kỹ năng sống, tổ chức hoạt động chủ nhiệm
- Phương pháp kiểm tra: Kiểm tra nắm thông tin phản hồi, điều chỉnh các hoạt động cho phù hợp
- Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Khảo sát thực tiễn, quan sát, tổng kết, rút kinh nghiệm…
- Nhóm các phương pháp toán học: Thống kê, xử lí các số liệu thu thập được
II NỘI DUNG VÀ BIỆN PHÁP THỰC HIỆN
1 Cách làm trước đây:
Đa số giáo viên có quan tâm dến việc đổi mới phương pháp và hình thức
tổ chức dạy học Giáo viên có nghiên cứu tăng cương thực hành
Tuy nhiên giáo viên thường tập trung vào việc truyền thụ kiến thức Chưa nhận thức sâu sắc về việc kết hợp dạy chữ dạy người, chưa coi trọng việc hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực cho học sinh qua dạy học toán Một số giáo viên còn hạn chế về việc tổ chức các hoạt động trải nghiệm, chưa quan tâm đúng mức đến từng cá nhân học sinh
Phương pháp luận và kỹ năng khai thác động lực bản thân và phát huy năng lực tiềm ẩn trong con người học sinh để phát triển năng lực và phẩm chất
Trang 3của chính các em, chưa được coi trọng đúng mức; chưa thực sự coi trọng lợi ích, nhu cầu của học sinh trong dạy học và giáo dục;
Việc lựa chọn và tích hợp các phương pháp dạy học tích cực để thiết kế,
tổ chức, định hướng hoạt động nhận thức cho học sinh của giáo viên còn mang nặng tính áp đặt theo ý tưởng chủ quan của giáo viên, của kiểu dạy học hướng tới nội dung; chưa có sự chuyển thiết kế, tổ chức, định hướng hoạt động nhận thức cho học sinh trong giảng dạy theo hướng học sinh tự học, tự nhận thức, tự khám phá, tự tìm tòi các tri thức một cách chủ động, tích cực dưới sự định hướng của giáo viên, của kiểu dạy học hướng tới sự phát triển năng lực và phẩm chất của học sinh;
2 Hiện nay
Nhận thức đúng đắn tầm quan trọng của vấn đề dạy chữ kết hợp dạy
người, giáo viên tích cực đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức theo hướng tăng cường vận dụng thực hành
Tăng cường dạy học theo hướng cá thể
Giúp cho giáo viên có được những nhận thức đúng về phương pháp luận, tích cực có sự tìm tòi, sáng tạo trong thực tiễn giảng dạy và giáo dục để không ngừng nâng cao hiệu quả việc đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực và phẩm chất của học sinh trong giảng dạy môn Toán lớp 4
Từ đó hình thành trong giáo viên kiểu dạy học hướng tới sự phát triển năng lực
và phẩm chất của học sinh, thay cho kiểu dạy học hướng tới nội dung đã có; Giúp cho học sinh có sự đổi mới tích cực trong cách học theo hướng chuyển từ cách học đặt trọng tâm vào ghi nhớ tri thức và vận dụng tri thức theo yêu cầu của Nhà giáo, sang cách học đặt trọng tâm vào việc sử dụng tri thức để giải quyết những vấn đề của thực tiễn đòi hỏi và bày tỏ chính kiến
Giúp cho đội ngũ giáo viên nắm vững phương pháp, tiến trình dạy học
theo hướng đổi mới nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, độc lập và sáng tạo của của học sinh trong giảng dạy; qua đó hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực cho học sinh
3 Cơ sở thực hiện
Cơ sở lý luận
Dạy học phát triển phẩm chất, năng lực Các nhà lí luận và phương pháp học cho rằng: Dạy học phát triển phẩm chất, năng lực là phương pháp tích tụ dần dần các yếu tố của phẩm chất và năng lực người học để chuyển hóa và góp phần cho việc hình thành, phát triển nhân cách
Dạy học phát triển phẩm chất, năng lực người học được xem như một nội dung giáo dục, một phương pháp giáo dục như phương pháp dạy học nêu vấn
đề, phương pháp dạy học phát huy tính tích cực của học sinh Điểm khác nhau
giữa các phương pháp là ở chỗ dạy học phát triển phẩm chất, năng lực người
Trang 4học có yêu cầu cao hơn, mức độ khó hơn, đòi hỏi người dạy phải có phẩm chất,
năng lực giảng dạy nói chung cao hơn trước đây Điều quan trọng hơn cả là nếu
so sánh với các quan niệm dạy học trước đây, việc dạy học phát triển phẩm chất, năng lực sẽ làm cho việc dạy và việc học được tiếp cận gần hơn, sát hơn với mục tiêu hình thành và phát triển nhân cách con người
Phương pháp dạy học theo quan điểm phát triển năng lực Không chỉ chú
ý tích cực hoá học sinh về hoạt động trí tuệ mà còn chú ý rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề gắn với những tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp, đồng thời gắn hoạt động trí tuệ với hoạt động thực hành, thực tiễn Tăng cường việc học tập trong nhóm, đổi mới quan hệ GV – HS theo hướng cộng tác có ý nghĩa quan trọng nhằm phát triển năng lực xã hội
Năm học 2019-2020 là năm học tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW của BCH TƯ Đảng (Khóa XI) về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục
và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”, trong đó phát triển phẩm chất, năng lực của người học là một trong những nhiệm vụ mà Nghị quyết đề ra
Nghị quyết 88/2014/QH 13 ngày 28/11/2014 của Quốc hội khóa 13: “Tập trung phát triển trí tuê, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân; phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện; chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn cho học sinh; phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời …” Và thực tế cho thấy, sản phẩm cuối cùng của giáo dục - đào tạo chính là
chất lượng người học có đáp ứng được yêu cầu nhân lực cho xã hội hay không
Thông tư 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26/12/2018 về việc ban hành Chương trình giáo dục phổ thông mới nêu rõ “Giáo dục toán học hình thành và
phát triển cho học sinh những phẩm chất chủ yếu, năng lực chung và năng lực toán học với các thành tố cốt lõi: năng lực tư duy và lập luận toán học, năng lực mô hình học toán học, năng lực giải quyết vấn đề toán học, năng lực giao tiếp toán học, năng lực sử dụng các công cụ và phương tiện học toán; phát triển kiến thức, kĩ năng then chốt và tạo cơ hội để học sinh được trải nghiệm, áp dụng toán học vào đời sống thực tiễn, giáo dục toán học tạo dựng sự kết nối giữa các
ý tưởng toán học, giữa toán học với các môn học khác và giữa toán học với đời sống thực tiễn’’.
Năm học 2019 -2020, ngành giáo dục và đào tạo (GD&ĐT) đã có nhiều giải pháp học tập, quán triệt, tổ chức triển khai thực hiện Nghị quyết, nội dung đổi mới được thực hiện từ Bộ GD&ĐT cho tới mỗi cơ sở giáo dục; từ đổi mới
Trang 5công tác quản lý, dạy học, đổi mới chương trình, sách giáo khoa, hình thức sinh hoạt chuyên môn
Cơ sở thực tiễn
Trong những năm học vừa qua, khi thực hiện dạy học môn Toán theo định hướng phát triển phẩm chất năng lực học sinh, tôi đã mạnh dạn đổi mới, áp dụng các phương pháp kĩ thuật dạy học tích cực vào dạy học từ khâu thiết kế bài học sao cho học sinh có nội dung làm việc cá nhân, có nội dung làm việc nhóm để các em có cơ hội được thảo luận, chia sẻ Việc bố trí bàn ghế theo nhóm cũng giúp các em học tập, giao tiếp thuận lợi hơn Trong quá trình tổ chức hoạt động học tập, giáo dục, tôi dành nhiều thời gian hơn để quan sát do đó đã kịp thời phát hiện những cố gắng, tiến bộ của học sinh để động viên, khích lệ và phát hiện những khó khăn chưa thể tự vượt qua của học sinh để hướng dẫn, giúp đỡ
Việc đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức dạy học nêu trên bước đầu hình thành các năng lực, phẩm chất cần thiết cho học sinh như: năng lực tự học, giao tiếp, hợp tác, tự trọng, tự tin, tính kỉ luật
Tuy nhiên, khi thực hiện dạy học Toán nhằm phát triển năng lực và phẩm chất, giáo viên nhà trường thường gặp những khó khăn như: khó khăn trong các bước thực hiện; khó khăn trong việc xác định các biểu hiện chính giúp cho việc nhận xét về năng lực và phẩm chất của học sinh tiểu học; khó khăn trong việc đưa ra nhận định; khó khăn trong việc vận dụng các phương pháp phát huy phẩm chất, năng lực của các em học sinh; khó khăn trong việc tìm ra tiến trình dạy học hợp lý, bộc lộ khả năng, phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh
và đặc biệt giúp học sinh chủ động trong việc phát hiện tri thức, vận dụng và sáng tạo
4 Một số biện pháp dạy học Toán 4 theo định hướng phát triển phẩm chất ,năng lực cho học sinh
4.1 Đổi mới phương pháp dạy học Toán
Thực hiện dạy học phù hợp với tiến trình nhận thức của học sinh (đi từ cụ thể đến trừu tượng, từ dễ đến khó); Quán triệt tinh thần “lấy người học làm trung tâm”, chú ý nhu cầu, năng lực nhận thức, cách thức học tập khác nhau của từng
cá nhân học sinh; Tổ chức quá trình dạy học theo hướng kiến tạo, trong đó học sinh được tham gia tìm tòi, phát hiện, suy luận giải quyết vấn đề; Linh hoạt
thống; Kết hợp các hoạt động dạy học trong lớp học với hoạt động thực hành trải nghiệm, vận dụng kiến thức toán học vào thực tiễn
* Một số phương pháp dạy học tích cực:
4.1.1 Phương pháp trực quan
Trang 6Là một phương pháp dạy học toán mà ở đó người giáo viên làm cho HS năm được tri thức kĩ năng của môn toán dựa trên các hoạt động quan sát trực tiếp của học sinh đối với các hiện tượng, các sự vật cụ thể có ở đời sống xung
Cách sử dụng
- Phải có mức độ không được lạm dụng, khi trẻ đã hiểu vấn đề thì không dùng trực quan nữa
-Phải nêu được bản chất toán học của tri thức cần dạy
4.1.2 Phương pháp gợi mở - vấn đáp
Là một phương pháp dạy học toán mà ở đó người giáo viên không đưa ra kiến thức trực tiếp mà giáo viên dùng hệ thống câu hỏi cho HS suy nghĩ trả lời từng câu
Lưu ý khi sử dụng phương pháp này
- Câu hỏi phải rõ ràng, ngắn gọn, chính xác
- Câu hỏi không được quá dễ hay quá khó
- Câu hỏi phải làm cho HS suy nghĩ
Cấm đưa ra những câu hỏi mà học sinh chỉ phải trả lời ở dạng: Có, không, đúng, sai
Ví dụ :
3
2
+
4
3
= ?
Hỏi có bao nhiêu bạn kết quả a
Bao nhiêu kết quả b
- Làm cho học sinh hiểu được điều sai để nhận ra đúng
- Không nên kết luận quá sớm
- Cho học sinh giải thích kết quả của mình
- Ứng xử cho phù hợp không áp đặt
Cách hỏi
- GV đưa ra câu hỏi trước để HS suy nghĩ rồi mới yêu cầu cách trả lời
- Khi hỏi không nên để HS trả lời đồng thanh, nói leo hoặc “vuốt đuôi”
- Khi HS trả lời GV cần chú ý lắng nghe đẻ sửa chữa sai lầm về mặt ngôn ngữ hoặc về mặt toán
- Cần khuyến khích HS tự sửa chữa sai lầm của mình với của bạn
- Cấm: mắng mỏ, mạt sát, chỉ trích, chửi bới chê bai khi HS trả lời sai
4.1.3 Phương pháp dạy học đặt và giải quyết vấn đề
Dạy học đặt và giải quyết vấn đề là một phương pháp dạy học toán mà ở
đó người GV tạo ra các tình huống có vấn đề, rồi điều khiển học sinh tự phát hiện vấn đề hoạt động tự giác và tích cực để giải quyết vấn đề thông qua đó đạt được mục tiêu học
Thế nào là một vấn đề đối với người học
- Người học chưa thể thực hiện được yêu cầu đặt ra
Trang 7- Người học chưa được học một qui tắc có tính chất thuật giải để giải đáp câu hỏi hoặc để thực hiện yêu cầu đặt ra
Các bước tiến hành
- Bước 1: GV nêu vấn đề, thường là đưa ra tình huống có vấn đề để học sinh trực tiếp chỉ ra vấn đề hoặc là HS sau khi tìm hiểu sẽ tự tìm ra vấn đề
- Bước 2: GV hướng dẫn HS tìm các chiến lược để giải quyết vấn đề
- Bước 3: GV theo dõi và giúp đỡ HS
- Bước 4: Hướng dẫn HS cách trình bày giải quyết vấn đề
- Trình bày khả năng ngôn ngữ và khả năng toán học được hình thành
4.1.4 Phương pháp luyện tập thực hành
Là phương pháp dạy học toán mà ở đó người GV tổ chức cho HS giải quyết các nhiệm vụ hay các bài tập để tự HS khắc sâu kiến thức đã học hoặc phát triển kiến thức đó trở thành kiến thức mới hoặc vận dụng kiến thức đó làm tính giải toán và áp dụng thực tế
- Lưu ý: ¾ tổng số tiết toán là luyện tập thực hành
- Phải có sự chuẩn bị tốt cho việc luyện tập thực hành
- Tôn trọng tính độc lập của trẻ em, để cho trẻ suy nghĩ tìm ra biện pháp thực hành
4.1.5 Phương pháp giảng giải - minh hoạ: PPGGMH là một phương
pháp dạy học toán mà ở đó người GV dùng lời nói để giải thích tài liệu toán có kết hợp với phương tiện trực quan để hỗ trợ cho việc giải thích
- Chú ý: Bất đắc dĩ mới dùng phương pháp này
- Khi dùng phương pháp này không giảng giải quá 5 phút
4.2 ĐỔI MỚI TIẾN TRÌNH DẠY HỌC
Đổi mới tiến trình dạy học theo 5 bước:
Bước 1 Tình huống xuất phát/câu hỏi nêu vấn đề
Tình huống xuất phát hay tình huống nêu vấn đề là một tình huống do giáo viên chủ động đưa ra như là một cách dẫn nhập vào bài học Tình huống xuất phát phải ngắn gọn, gần gũi dễ hiểu đối với học sinh Tình huống xuất phát nhằm lồng ghép câu hỏi nêu vấn đề Tình huống xuất phát càng rõ ràng thì việc dẫn nhập cho câu hỏi nêu vấn đề càng dễ Tuy nhiên có những trường hợp không nhất thiết phải có tình huống xuất phát mới đề xuất được câu hỏi nêu vấn đề (tùy vào từng kiến thức và từng trường hợp cụ thể)
Câu hỏi nêu vấn đề là câu hỏi lớn của bài học Câu hỏi nêu vấn đề cần đảm bảo yêu cầu phù hợp với trình độ, gây mâu thuẫn nhận thức và kích thích tính tò mò, thích tìm tòi của học sinh nhằm chuẩn bị tâm thế cho các em trước khi khám phá, lĩnh hội kiến thức Giáo viên phải dùng câu hỏi mở, không được dùng câu hỏi đóng (trả lời có hoặc không) đối với câu hỏi nêu vấn đề Câu hỏi
Trang 8nêu vấn đề càng đảm bảo các yêu cầu nêu ra ở trên thì ý đồ dạy học của giáo viên càng dễ thực hiện thành công
Bước 2 Giúp học sinh bộc lộ ý tưởng ban đầu
Hình thành ý tưởng ban đầu của học sinh là bước quan trọng của quá trình dạy học theo hướng phát triển NL Bước này khuyến khích học sinh nêu những suy nghĩ, nhận thức ban đầu của mình trước khi được học kiến thức Để hình thành ý tưởng ban đầu, giáo viên có thể yêu cầu học sinh nhắc lại kiến thức cũ
đã học có liên quan đến kiến thức mới của bài học Khi yêu cầu học sinh trình bày ý tưởng ban đầu, giáo viên có thể yêu cầu nhiều hình thức biểu hiện của học sinh, có thể là bằng lời nói (thông qua phát biểu cá nhân), bằng cách viết hay vẽ
để biểu hiện suy nghĩ
Bước 3 Đề xuất phương án thực hành/ giải quyết vấn đề
Từ những khác biệt và phong phú về ý tưởng ban đầu của học sinh, giáo viên giúp các em đề xuất các câu hỏi từ những sự khác biệt đó Chú ý xoáy sâu vào những sự khác biệt liên quan đến kiến thức trọng tâm của bài học
Ở bước này, giáo viên cần khéo léo chọn lựa một số ý tưởng ban đầu khác biệt trong lớp để giúp học sinh so sánh, từ đó giúp học sinh đặt câu hỏi liên quan đến nội dung bài học Đây là một bước khá khó khăn vì giáo viên cần phải chọn lựa các ý tưởng ban đầu tiêu biểu của học sinh một cách nhanh chóng theo mục đích dạy học, đồng thời linh hoạt điều khiển thảo luận của học sinh nhằm giúp học sinh đề xuất các câu hỏi từ những sự khác biệt đó theo ý đồ dạy học
Bước 4 Tiến hành giải quyết vấn đề
Từ các phương án thực hành/ giải quyết vấn đề mà học sinh nêu ra, giáo viên khéo léo nhận xét và gợi ý để học sinh lựa chọn phương án tiến hành Ưu tiên thực hiện các phương án thực hành trực tiếp trên vật thật Một số trường hợp không thể tiến hành trên vật thật có thể sử dụng mô hình, hoặc cho học sinh quan sát tranh vẽ
Khi học sinh thực hành, giáo viên bao quát lớp, quan sát từng em/ nhóm Nếu thấy học sinh hoặc nhóm nào làm sai yêu cầu thì giáo viên chỉ nhắc nhở riêng, không nên thông báo chung cho cả lớp vì làm như vậy sẽ phân tán tư tưởng và ảnh hưởng đến công việc của các học sinh/ nhóm khác
Bước 5 Kết luận, hợp thức hóa kiến thức
Sau khi thực hiện hoạt động thực hành giải quyết vấn đề, các câu hỏi dần dần được giải quyết, kiến thức được hình thành, tuy nhiên vẫn chưa có hệ thống hoặc chưa chuẩn xác một cách khoa học Giáo viên có nhiệm vụ tóm tắt, kết luận và hệ thống lại để học sinh ghi vào vở coi như là kiến thức của bài học
Trước khi kết luận chung, giáo viên nên yêu cầu một vài ý kiến của học sinh cho kết luận sau khi thực hiện giải quyết vấn đề (rút ra kiến thức của bài học)
Trang 9Ví dụ:
BÀI 61: DIỆN TÍCH HÌNH BÌNH HÀNH (Toán 4, tr.9, tập 2)
I Mục tiêu
Sau khi học xong bài này em biết:
-Cách tính diện tích của hình bình hành
-Vận dụng quy tắc vào việc tính diện tích hình bình hành
II Chuẩn bị
Giáo viên: Các hình bình hành bằng giấy bìa cùng kích thước; Giấy A3, bút dạ
Học sinh: Vở ghi chép; thước, kéo
III Các hoạt động dạy học chủ yếu (chỉ trình bày phần tiến trình dạy học)
1 Khởi động:
- Đưa hình bình hành bằng bìa và gọi 2 HS lên bảng:
Yêu cầu 1 học sinh vẽ đường cao AH của hình bình hành bằng êke
Học sinh còn lại chỉ cạnh đáy của hình bình hành
-Nhận xét, đánh giá
2 Bài mới:
Bước 1 Tình huống xuất phát và nêu vấn đề
- Yêu cầu học sinh xác định phần diện tích hình bình hành (tấm bìa) (Cho học sinh lấy ra hình bình hành từ đồ dùng học tập và chỉ cho nhau cùng thấy diện tích hình bình hành Giáo viên chọn một học sinh cầm hình bình hành lên bảng và chỉ ra phần diện tích hình bình hành co cả lớp cùng xem) Có thể cho học sinh nhận diện diện tích hình bình hành qua một số biểu diễn với các đồ vật khác
- Nêu vấn đề: “Các em đã biết tính diện tích hình chữ nhật Bây giờ làm thế nào để tính được diện tích hình tròn?”
Bước 2 Giúp học sinh bộc lộ ý tưởng ban đầu
- Gợi ý học sinh: Diện tích hình chữ nhật bằng chiều dài X chiều rộng Vậy diện tích hình bình hành có liên quan đến các số liệu: độ dài đáy và chiều cao hay không?
- Học sinh đưa ra các ý tưởng ban đầu (hoạt động này diễn ra một cách tự nhiên trong suy nghĩ của học sinh, không nhất thiết phải diễn đạt bằng ngôn ngữ) Chẳng hạn:
“Diện tích hình bình hành có bằng độ dài đáy X chiều cao hay không?”
Phải chăng diện tích hình bình hành bằng ( độ dài đáy + chiều cao) x 2 hay không ?
Bước 3 Đề xuất phương án tính diện tích hình bình hành.
- Gợi ý học sinh cách tiến hành: Nên kẻ chiều cao của hình bình hành của mình Cắt theo đường cao ta được hình tam giác, ghép mảnh tam giác đó vào
Trang 10chỗ khác xem giống với hình nào ta đã học quen thuộc đã biết cách tính diện tích
- Học sinh thảo luận để đưa ra phương án giải quyết
h
Bước 4 Thực hành giải quyết vấn đề
- Học sinh tiến hành các thao tác:
+ Cắt hình bình hành theo chiều cao đã kẻ
+ Ghép mảnh hình tam giác vừa cắt ra vào các cạnh còn lại thành hình có dạng quen thuộc (hình chữ nhật, hình vuông…)
- Học sinh lập luận
Chẳng hạn với hình ảnh mô phỏng trên học sinh có thể đưa ra các lập luận như sau:
Hình sau khi ghép có dạng hình chữ nhật
Diện tích hình chữ nhật là: S = a x b.( a là chiều dài, b là chiều rộng) Hình vừa ghép được có chiều rộng chính là chiều cao của hình bình hành, chiều dài chính là độ dài đáy của hình bình hành
Vậy diện tích hình bình hành bằng Độ dài đáy x chiều cao S= a x h (a là độ dài đáy, h là chiều cao, cùng một đơn vị đo)
Bước 5: Kết luận, hợp thức hóa kiến thức
- Đại diện nhóm trình bày cách tiến hành và cách tính diện tích hình bình hành
- Nhận xét, chỉnh sửa ngôn từ, kiến thức nếu cần
- Cho học sinh dự đoán quy tắc tính diện tích hình bình hành S= a x h (a
là độ dài đáy, h là chiều cao, cùng một đơn vị đo)
- Giáo viên chốt quy tắc và ghi công thức Học sinh ghi vở
Kết thúc phần hình thành kiến thức mới, tiếp theo giáo viên tổ chức cho học sinh thực hành bài tập ở sách giáo khoa và củng cố, dặn dò và nhận xét tiết học
Phân tích các năng lực toán học được phát triển trong quá trình tổ chức bài học “Diện tích hình bình hành” cho học sinh
Hoạt động ở bước 1 giúp học sinh phát triển NL mô hình hóa toán học Với học sinh tiểu học, từ một tình huống thực tiễn (diện tích tấm bìa) các em chuyển hóa sang mô hình toán học “diện tích hình bình hành”, giải quyết nó bằng hành động “sờ tay vào toàn bộ bề mặt của tấm bìa” để có biểu tượng diện tích hình bình hành, nhận biết diện tích của một số đồ vật có dạng hình bình hành
h