Các khối khí - cấu trúc ngang của khí quyển Trong tầng đối lưu, tùy theo vĩ độ và bề mặt Trái Đất là lục địa hay đại dương màhình thành các khối khí khác nhau.. - Khối khí lạnh hình thàn
Trang 1KHÍ QUYỂN MỘT SỐ NỘI DUNG KIẾN THỨC CƠ BẢN PHẦN KHÍ QUYỂN
VÀ CÁC NỘI DUNG KIẾN THỨC LIÊN QUAN
MỘT SỐ NỘI DUNG KIẾN THỨC CƠ BẢN PHẦN KHÍ QUYỂN VÀ CÁC
NỘI DUNG KIẾN THỨC LIÊN QUAN
1 KHÍ QUYỂN
1.1 Khí quyển
- Khái niệm: Khí quyển là lớp không khí bao quanh Trái Đất, thường xuyên chịu
ảnh hưởng của Vũ Trụ, trước hết là Mặt Trời
( Vũ trụ là khoảng không gian vô tận chứa các thiên hà…)
- Vai trò
+ Cung cấp các chất khí cần thiết cho đời sống của các sinh vật
+ Là lớp vỏ bảo vệ Trái Đất, tầng ôdôn ngăn không cho các tia bức xạ có hại chosinh vật và con người lọt vào Trái Đất
1.2 Cấu trúc của khí quyển: căn cứ vào các đặc điểm khác nhau của lớp vỏ khí
theo chiều thẳng đứng, người ta chia khí quyển thành ba tầng
là hạt nhân ngưng tụ để hơi nước đọng lại xung quanh thành sương mù, mây Tất cả
các quá trình vật lí xảy ra trong tầng đối lưu có ý nghĩa quyết định đến thời tiết, khí hậu
ở mặt đất Tầng đối lưu cung cấp các chất khí cần thiết cho sự sống.
* Tầng bình lưu
- Giới hạn: từ giới hạn trên của tầng đối lưu đến độ cao khoảng 80 km.
- Đặc điểm: không khí khô, loãng, chuyển động thành luồng ngang, tập trung phần
lớn ôdôn, nhất là ở độ cao 22 - 25 km
- Vai trò: ôdôn tạo thành một màn, hấp thụ các tia cực tím, có vai trò rất quan
trọng việc bảo vệ các cơ thể sống trên Trái Đất
* Các tầng cao của khí quyển (tầng giữa, tầng nhiệt- ion, tầng ngoài)
- Giới hạn: giới hạn trên tầng bình lưu đến độ cao khoảng trên 3000 km.
- Đặc điểm: không khí cực loãng, hầu như không có quan hệ trực tiếp với đời sống
con người
1.3 Các khối khí - cấu trúc ngang của khí quyển
Trong tầng đối lưu, tùy theo vĩ độ và bề mặt Trái Đất là lục địa hay đại dương màhình thành các khối khí khác nhau
- Khối khí nóng hình thành trên các vùng vĩ độ thấp, có nhiệt độ tương đối cao
Trang 2- Khối khí lạnh hình thành trên các vùng vĩ độ cao, có nhiệt độ tương đối thấp
- Khối khí đại dương hình thành trên các biển và đại dương, có độ ẩm lớn
- Khối khí lục địa hình thành trên các vùng đất liền, tính chất tương đối khô
Hoặc nói cách khác: Ở mỗi bán cầu đều có bốn khối khí chính:
- Khối khí địa cực (A): rất lạnh.
- Khối khí ôn đới (P): lạnh.
- Khối khí chí tuyến- nhiệt đới (T): rất nóng.
- Khối khí xích đạo (E): nóng ẩm.
Căn cứ vào mặt tiếp xúc ở bên dưới, từng khối khí lại phân biệt thành kiểu hải dương (m) tính chất ẩm; kiểu lục địa (c) tính chất khô Dựa vào nhiệt độ chia ra thành khối khí nóng (w), lạnh (k) Riêng khối khí xích đạo chỉ có một kiểu hải dương ( Em).
Các khối khí luôn di chuyển theo chuyển động biểu kiến của Mặt Trời, làm thayđổi thời tiết, khí hậu những nơi chúng đi qua Đồng thời cũng chịu ảnh hưởng của bềmặt đệm và bị biến tính
1.4 Các frông (F)
- Giữa các khối khí được ngăn cách với nhau bởi một lớp không khí chuyển tiếp,
lớp này nghiêng trên mặt đất và tạo với bề mặt Trái Đất một góc nhỏ khoảng vài phút,lớp này gọi là frông
- Frông là mặt ngăn cách hai khối khí có nguồn gốc khác biệt nhau về tính chất vật
lí, là nơi các yếu tố khí tượng biến đổi mạnh
- Trên mỗi bán cầu có hai frông cơ bản: Frông địa cực (FA) và Frông ôn đới (FP).Khối khí chí tuyến, xích đạo không tạo nên frông thường xuyên và liên tục bởichúng đều nóng và thường xuyên có cùng một chế độ gió
- Ở xích đạo, các khối khí xích đạo ở bán cầu Bắc và bán cầu Nam tiếp xúc nhauđều là khối khí nóng ẩm, chỉ có hướng gió khác nhau, nên không tạo nên frông, chỉ tạothành dải hội tụ nhiệt đới (FIT) chung cho cả hai bán cầu
Dải hội tụ nhiệt đới (đường hội tụ nội chí tuyến) là dải thời tiết xấu, được hình
thành do động lực Khi hai dòng Tín phong đủ mạnh, thổi tới Xích đạo, chúng hội tụthành dòng thăng động lực dọc trên một đường dài, phía trên khu vực nội chí tuyến
- Frông gồm frông nóng và frông lạnh Mặt frông luôn nằm nghiêng với mặt đất
về phía không khí lạnh ở dưới một góc khoảng 10 Chiều rộng của frông khoảng mộtvài km đến vài chục km, dài từ vài trăm đến một vài nghìn km Không khí lạnh luônnằm dưới mặt frông, không khí nóng nằm trên Các frông về mùa đông di chuyển về phía xích đạo mùa hạ di chuyển về phía cực
Frông lạnh (hình 1.1; 1.2.), không khí lạnh di chuyển về phía không khí nóng, làm
lạnh nơi nó tới Không khí lạnh nặng hơn không khí nóng, đẩy không khí nóng lên trên
Trang 3Hình 1.1 Mặt cắt thẳng đứng của frông lạnh loại 1
Hình 1.2 Mặt cắt thẳng đứng của frông lạnh loại 2.
Frông nóng (hình 1.3.), không khí nóng di chuyển về phía không khí lạnh, làm
nhiệt độ tăng lên Không khí lạnh lùi lại về phía sau, trượt dần trên mặt phân cách, làmlạnh đi đoạn nhiệt, ngưng kết hơi nước
Dọc các frông nóng hoặc frông lạnh, không khí nóng bốc lên trên không khí lạnhnên bị co lại và lạnh đi, gây mưa
Miền có frông, đặc biệt là dải hội tụ nhiệt đới đi qua, thường mưa nhiều
Hình 1.3 Mặt cắt thẳng đứng của frông nóng.
2 NHIỆT ĐỘ KHÔNG KHÍ SỰ PHÂN BỐ CỦA NHIỆT ĐỘ KHÔNG KHÍ TRÊN TRÁI ĐẤT
2.1 Bức xạ và nhiệt độ không khí
Trang 4Nguồn cung cấp nhiệt cho bề mặt Trái Đất là bức xạ Mặt Trời, các vì sao trong VũTrụ và bản thân Trái Đất Trong đó, chủ yếu là bức xạ Mặt Trời.
Nhiệt lượng do năng lượng Mặt Trời mang đến bề mặt Trái Đất luôn thay đổi theo
góc chiếu của tia bức xạ Mặt Trời, thời gian có bức xạ (hình 1.4.).
Cường độ bức xạ là nguồn năng lượng Trái Đất nhận được phụ thuộc vào góc tiếp
xạ, cường độ bức xạ Mặt Trời thay đổi phụ thuộc vào địa hình, vĩ độ và thời gian
Khi các tia bức xạ Mặt Trời đi qua khí quyển, chúng chưa trực tiếp làm cho khôngkhí nóng lên Mặt đất hấp thụ nhiệt của Mặt Trời, bức xạ lại vào không khí, lúc đó
không khí mới nóng lên Độ nóng, lạnh đó gọi là nhiệt độ của không khí.
Hình 1.4 Cán cân bức xạ Mặt Trời trung bình năm
2.2.Nhiệt độ không khí trên bề mặt Trái Đất
* Nhiệt độ không khí:
Nhiệt độ của một nơi, là nhiệt độ của lớp không khí cách bề mặt đất 2 m Nhiệt độcủa lớp không khí này vừa chịu ảnh hưởng của bức xạ Mặt Trời, vừa chịu ảnh hưởnglớn của bức xạ mặt đất (do mặt đất tiếp nhận nhiệt từ bức xạ Mặt Trời rồi lại tỏa vàokhông khí)
Ở bán cầu Bắc, từ ngày 21/3 đến ngày 22/6 góc chiếu của tia sáng Mặt Trời lớndần, ngày dài dần, mặt đất thu được nhiều nhiệt, tỏa nhiệt vào không khí nhiều, đếntháng 7 thì nhiệt độ của lớp không khí gần mặt đất lên cao nhất Từ 23/9 đến hết ngày22/12, góc chiếu của tia sáng Mặt Trời nhỏ dần, ngày ngắn dần, mặt đất thu được ítnhiệt và tỏa nhiệt vào không khí ngày càng ít, đến tháng 1 thì nhiệt độ của lớp khôngkhí gần mặt đất xuống thấp nhất
Ở bán cầu Nam, ngược lại tháng 1 có nhiệt độ lên cao nhất và tháng 7 có nhiệt độxuống thấp nhất
* Phân bố nhiệt độ không khí trên bề mặt Trái Đất (hình 1.5.)
- Phân bố theo vĩ độ địa lí: nhiệt độ trên bề mặt Trái Đất phân bố theo vĩ độ thành
các vòng đai nhiệt cơ bản, nhìn chung nhiệt độ giảm dần từ Xích đạo về cực (từ vĩ độ
thấp đến vĩ độ cao) Do hình dạng của Trái Đất làm cho góc nhập xạ và thời gian chiếu
Trang 5sáng… mỗi khu vực khác nhau Tuy nhiên, nhiệt độ cao nhất không phải ở Xích đạo
mà ở khu vực chí tuyến.( Do ở CT khô)
- Phân bố theo lục địa và đại dương: nhiệt độ TB năm cao nhất và thấp nhất đềunằm trên lục địa, đại dương có biên độ nhiệt nhỏ, lục địa có biên độ nhiệt lớn, ngoài ranhiệt độ không khí còn thay đổi theo bờ Đông và bờ Tây lục địa do ảnh hưởng củadòng biển nóng, lạnh chạy sát bờ…
- Phân bố theo địa hình: nhiệt độ không khí thay đổi theo độ cao và hướng phơicủa sườn núi
Hình 1.5 Nhiệt độ trung bình năm.
2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến nhiệt độ.
- Vĩ độ địa lí: vĩ độ thấp nhiệt độ thường cao hơn vĩ độ cao, do góc chiếu sáng trongnăm luôn lớn hơn Nhiệt độ trung bình năm cao ở Xích đạo và chí tuyến (trong đó khuvực chí tuyến có nhiệt độ cao hơn do khu vực này chịu tác động của áp cao, lục địa códiện tích lớn), giảm dần về hai cực
- Địa hình:
+ Độ cao địa hình: cùng một vĩ độ, càng lên cao nhiệt độ càng giảm (trong tầngđối lưu, TB lên cao 100m, nhiệt độ giảm 0,60C), vì khi tia nắng Mặt Trời xuyên qua khíquyển mặt đất, lớp không khí dày đặc ở sát mặt đất nở ra, bốc lên cao làm giảm nhiệtđộ
Mặt khác, lớp không khí ở dưới thấp chứa nhiều bụi và hơi nước, nên hấp thụđược nhiều nhiệt hơn lớp không khí trong và loãng ở trên cao
+ Nhiệt độ không khí thay đổi theo độ dốc và hướng phơi của sườn núi Sườn phơinắng có nhiệt độ cao hơn sườn khuất nắng Nơi có độ dốc nhỏ, nhiệt độ cao hơn ở nơi
có độ dốc lớn
+ Biên độ nhiệt trong ngày cũng thay đổi theo địa hình Nơi đất bằng nhiệt độ thayđổi ít hơn nơi đất trũng Trên các cao nguyên, không khí loãng hơn ở đồng bằng, nênnhiệt độ thay đổi nhanh hơn ở đồng bằng
- Nhiệt độ không khí trên lục địa và đại dương có sự khác nhau:
+ Đất hấp thụ nhiệt nhanh, tỏa nhiệt nhanh
+ Nước hấp thụ nhiệt chậm, tỏa nhiệt chậm, nước giữ nhiệt lâu hơn đất
Trang 6+ Do đặc tính hấp thụ nhiệt của đất và nước khác nhau dẫn tới sự khác biệt vềnhiệt độ giữa đất và nước, làm nhiệt độ không khí vùng gần biển và những miền nằmsâu trong lục địa khác nhau Nhiệt độ trung bình năm cao nhất và thấp nhất không phải
ở Xích đạo mà ở ven chí tuyến và sâu trong lục địa Vì ở Xích đạo chủ yếu là biển, đạidương, rừng rậm nhiệt đới
+ Biên độ nhiệt năm ở cùng một vĩ độ lên xuống khác nhau do ảnh hưởng của lụcđịa và đại dương Càng xa đại dương biên độ nhiệt năm càng lớn, đại dương có biên độnhiệt nhỏ, lục địa thường có biên độ nhiệt lớn
+ Nhiệt độ trung bình năm và biên độ nhiệt còn thay đổi theo vị trí nằm ở bờ đônghay bờ tây lục địa, vĩ độ thấp hay vĩ độ cao, do ảnh hưởng của dòng biển nóng haylạnh chạy sát bờ
- Ngoài ra, các loại gió thường xuyên, gió mùa, lượng mưa lớp phủ thực vật, hoạtđộng của con người… cũng ảnh hưởng đến nhiệt độ không khí
3 KHÍ ÁP SỰ PHÂN BỐ KHÍ ÁP GIÓ
3.1 Khí áp
Khí áp là sức nén của không khí xuống bề mặt Trái Đất, được đo bằng trọng lượngcủa cột không khí có tiết diện 1 cm2 nằm bên trên kéo dài từ địa điểm đó đến
giới hạn trên của khí quyển
Khí áp ở mặt nước biển trung bình bằng 760 mm Hg (1013,1 mb), khí áp nhỏ hơnchỉ số trên là áp thấp, lớn hơn chỉ số trên là áp cao
Khí áp luôn thay đổi theo không gian và thời gian
3.2 Phân bố các đai khí áp trên Trái Đất
3.2.1 Phân bố các đai khí áp ( SGK trang 58)
- Các đai áp cao và áp thấp phân bố xen kẽ và đối xứng qua đai áp thấp Xích đạo.Dọc Xích đạo là vòng đai áp thấp (áp thấp nhiệt lực), từ Xích đạo về phía hai chí tuyếnkhí áp tăng dần và đến khoảng vĩ tuyến 300 ở cả hai bán cầu hình thành 2 đai áp cao (ápcao động lực) Từ 2 đai áp cao cận chí tuyến về phía ôn đới, khí áp giảm dần và đếnkhoảng vĩ tuyến 600 ở cả 2 bán cầu hình thành 2 đai áp thấp (động lực) Từ 2 đai ápthấp ôn đới về phía cực khí áp tăng dần hình thành áp cao địa cực (áp cao nhiệt lực)
- Trong thực tế các đai khí áp không liên tục, mà bị chia cắt thành các khu áp riêngbiệt, do sự phân bố xen kẽ giữa lục địa và đại dương Các trung tâm áp này chuyển dịchtheo sự chuyển động biểu kiến của Mặt Trời
+ Cụ thể vào tháng 1 (hình 1.6.) vòng đai áp cao cận chí tuyến ở bán cầu Nam bị
chia cắt thành các trung tâm: áp cao Nam Thái Bình Dương, áp cao Nam Đại TâyDương (áp cao Xanh Hê len), áp cao Ấn Độ Dương; vòng đai áp thấp ở ôn đới bán cầuBắc bị chia cắt thành các trung tâm: áp thấp Alêut trên Thái Bình Dương và áp thấp
Aixơlen trên Đại Tây Dương Vào tháng 7 (hình 1.7.), vòng đai áp cao cận chí tuyến
bán cầu Bắc bị chia cắt thành các trung tâm: áp cao Haoai - Caliphoocnia trên TháiBình Dương và áp cao Axorat trên Đại Tây Dương
Trang 7Hình 1.6 Khí áp và gió tháng 1.
+ Các trung tâm khí áp thay đổi theo mùa
Các lục địa rộng lớn, biên độ nhiệt năm lớn, dẫn đến có sự thay đổi khí áp theomùa: mùa đông, nhiệt độ hạ thấp hình thành áp cao, còn mùa hạ, nhiệt độ tăng cao hìnhthành áp thấp
Bán cầu Bắc ở lục địa châu Á, mùa đông xuất hiện áp cao Xibia, mùa hạ xuất hiện
áp thấp Iran Ở châu Âu và Bắc Mỹ cũng xuất hiện những trung tâm khí áp hoạt độngtheo mùa nhưng không lớn và bền vững như ở châu Á
Ở bán cầu Nam, việc hình thành các trung tâm khí áp theo mùa có sự trái ngượcvới bán cầu Bắc về mặt thời gian: khi trên các lục địa ở bán cầu Bắc là mùa đông, hìnhthành các trung tâm áp cao thì trên các lục địa ở bán cầu Nam là mùa hạ, hình thành cáctrung tâm áp thấp và ngược lại
Trang 8Hình 1.7 Khí áp và gió tháng 7.
3.2.2 Nguyên nhân thay đổi khí áp.
- Khí áp thay đổi theo độ cao Càng lên cao không khí càng loãng, sức nén củakhông khí càng nhỏ, khí áp hạ, trung bình lên cao 100m khí áp giảm 10mm Hg
- Khí áp thay đổi theo nhiệt độ Nhiệt độ tăng không khí nở ra, tỉ trọng giảm đi, khí
áp giảm Nhiệt độ giảm, không khí co lại, khí áp tăng
- Khí áp thay đổi theo độ ẩm: không khí chứa nhiều hơi nước, khí áp giảm Khinhiệt độ cao, hơi nước bốc lên nhiều, khí áp giảm (thể hiện rõ ở áp thấp Xích đạo)
- Khí áp thay đổi theo bề mặt đệm, theo không gian và thời gian
3.3 Gió
3.3.1 Gió là gì? Nguyên nhân hình thành?
3.3.2 Hoàn lưu khí quyển
Trên bề mặt Trái Đất, sự chuyển động của không khí giữa các đai các áp cao và
áp thấp tạo thành các hệ thống gió thổi vòng tròn gọi là hoàn lưu khí quyển
3.3.3 Một số loại gió chính
3.3.3.1 Gió Đông địa cực
Trên miền cực, các áp cao tồn tại quanh năm, từ đây không khí lạnh di chuyển vềkhu áp thấp ôn đới Do lực Côriôlit nên gió chuyển thành hướng đông bắc ở bán cầuBắc và đông nam ở bán cầu Nam, gió có hướng đông là chủ yếu gọi là gió Đông địacực
3.3.3.2 Gió Tây ôn đới
Từ các khu áp cao cận chí tuyến, gió thổi gần như quanh năm về phía áp thấp ônđới, do lực Côriôlit nên chuyển thành hướng Tây và gọi là gió Tây ôn đới Gió Tâythường đem theo mưa (mưa nhỏ, chủ yếu mưa bụi, mưa phùn)
3.3.3.3 Gió Mậu dịch (Tín phong)
Trang 9Gió Mậu dịch là loại gió thổi thường xuyên và điều hòa nhất trên Trái Đất Từcác khu áp cao cận chí tuyến thổi về áp thấp Xích đạo, do lực Côriôlit lệch thànhhướng đông bắc ở bán cầu Bắc, hướng đông nam ở bán cầu Nam Tính chất của giónói chung là khô, chỉ gây mưa trong các điều kiện nhất định.
Tại các khu áp cao cận chí tuyến, không khí từ trên cao dồn xuống, không cónhững chuyển động lớn của khí quyển theo chiều ngang, hơi nước rất khó bốc lên cao,trời trong xanh, khô ráo suốt năm, không mưa Vì vậy, ở đây hình thành các hoang mạclớn trên các lục địa và các vùng lặng gió trên các đại dương (thế kỉ XVI các tàu buôn điđến khu vực này phải dừng lại hàng tuần liền vì không có gió, để tiết kiệm nước ngọt
họ đã phải quẳng cả ngựa xuống biển, còn được gọi là vùng vĩ độ ngựa)
Tại khu áp thấp Xích đạo, gió Mậu dịch từ hai phía bán cầu thổi đến, hội tụ vàđẩy không khí lên cao, hình thành các khu lặng gió Ở các khu lặng gió Xích đạo,không khí mang hơi nước bốc lên cao, hợp thành mây và gây giông nhiệt vào chiều tối hàng ngày, Xích đạo là nơi có lượng mưa rất lớn
3.3.3.4 Gió mùa
Gió mùa là gió thổi theo mùa, hướng gió hai mùa có chiều ngược nhau
Gió mùa thường có ở đới nóng Khu vực gió mùa điển hình trên thế giới là Ấn
Độ, Đông Nam Á, Đông Phi, Đông Bắc Ô-xtrây-li-a, ở vĩ độ trung bình: phía đôngTrung Quốc, Đông Nam Liên Bang Nga
Nguyên nhân hình thành gió mùa khá phức tạp chủ yếu do sự nóng lên hoặc lạnh
đi không đều giữa lục địa và đại dương theo mùa, dẫn tới sự thay đổi của các vùng ápcao và áp thấp ở lục địa và đại dương Về nguồn gốc phát sinh, người ta phân biệt 2loại gió mùa: gió mùa ôn đới (gió mùa ngoại chí tuyến) và gió mùa nhiệt đới (gió
mùa nội chí tuyến) (hình 3.8 và 3.9.)
Gió mùa ngoại chí tuyến hình thành do sự chênh lệch lớn về nhiệt độ và khí áp
giữa các lục địa và đại dương rộng lớn
Gió mùa nội chí tuyến được hình thành do sự chênh lệch về nhiệt độ và khí áp
giữa bán cầu Bắc và bán cầu Nam
Tình trạng đối lập về nhiệt độ và khí áp giữa lục địa với đại đương là nguyên
nhân phát sinh gió mùa ôn đới, phía đông lục địa châu Á.
Ở châu Á về mùa đông, do nhiệt độ hạ thấp, lục địa lạnh hình thành áp cao bia nằm giữa 40 - 600B, hoạt động với cường độ lớn Cùng lúc, trên Thái BìnhDương, áp thấp Alêut lan rộng Không khí di chuyển từ áp cao Xibia đến áp thấpAlêut hình thành gió mùa Tây Bắc khô và rất lạnh, ảnh hưởng tới vùng Viễn ĐôngCộng hòa Liên bang Nga, Hoa Bắc của Trung Quốc, bán đảo Triều Tiên, Nhật Bản
Trang 10Xi-Hình 1.8 Các frông, khu áp cao, áp thấp tháng 1.
Hình 1.9 Các frông, các khu áp cao, áp thấp tháng 7.
Về mùa hạ, Mặt Trời chuyển động biểu kiến về phía bắc, đường hội tụ nội chítuyến vượt lên phía bắc, các hạ áp hình thành do nhiệt trên các lục địa bành trướng.Cùng lúc, trên Thái Bình Dương, khu áp cao Califoocnia - Haoai phát triển rộng.Không khí từ áp cao Califoocnia - Haoai di chuyển vào lục địa châu Á, hình thành giómùa Đông nam mát, ẩm
Như vậy, cả một vùng rộng lớn ở phía đông lục địa châu Á chịu ảnh hưởng củagió mùa ôn đới
Gió mùa nội chí tuyến hoạt động mạnh ở Đông Nam Á và Nam Á, chủ yếu là do
sự chênh lệch về nhiệt độ và khí áp giữa hai bán cầu Sự phân bố lục địa, đại dươngchỉ làm tăng cường và phức tạp thêm hoạt động của gió mùa nhiệt đới
Mùa đông bán cầu Bắc, áp cao Xibia bành trướng trên lục địa châu Á Cùng lúc,bán cầu Nam là mùa hạ, lục địa Ôxtrâylia nóng, hình thành áp thấp Ôxtrâylia Vòngđai áp thấp Xích đạo khi này cũng dịch chuyển về phía nam Tình trạng chênh lệch
Trang 11khí áp giữa 2 bán cầu khiến không khí di chuyển từ áp cao Xibia xuống báncầu Nam tạo thành gió mùa Đông bắc.
Mùa hạ ở bán cầu Bắc, trên lục địa châu Á, khí áp xuống thấp, trung tâm là các
áp thấp Iran Cùng lúc, ở bán cầu Nam các áp cao cận chí tuyến phát triển rộng, trêncác lục địa cũng hình thành các áp cao theo mùa như áp cao Đông Nam Ôxtrâylia.Gió mùa thổi từ các áp cao ở bán cầu Nam lên bán cầu Bắc, lúc đầu có hướng Đôngnam, khi vượt Xích đạo chuyển thành hướng tây nam do lực Côriôlit, nên gọi là giómùa Tây nam
Gió mùa nhiệt đới ở châu Á không những đổi hướng mà tính chất của gió cũngthay đổi theo mùa Mùa đông, gió mùa Đông bắc từ lục địa thổi xuống tính chất lạnh
và khô Mùa hạ, gió mùa Tây nam từ bán cầu Nam thổi lên, đi qua đại dương nên mát
và ẩm
3.3.3.5 Gió địa phương
* Gió biển, gió đất là loại gió hình thành ở vùng ven biển, thay đổi hướng theo
ngày và đêm
* Gió fơn
Khi gió mát và ẩm thổi tới một dãy núi, bị núi chặn lại và đẩy lên cao, nhiệt độgiảm theo tiêu chuẩn của khí ẩm, trung bình cứ lên cao 100m, nhiệt độ giảm 0,60C Vìnhiệt độ hạ, nên hơi nước ngưng tụ, hình thành mây và mưa rơi ở sườn đón gió Gióvượt núi, hơi nước giảm nhiều, nhiệt độ tăng lên không khí khô khi xuống núi, trungbình cứ 100m tăng 10C, nên gió trở nên khô và rất nóng
1.4 ĐỘ ẨM CỦA KHÔNG KHÍ SỰ NGƯNG ĐỌNG CỦA HƠI NƯỚC TRONG KHÍ QUYỂN MƯA
1.4.1 Độ ẩm không khí
- Độ ẩm tuyệt đối: là lượng hơi nước được tính bằng gam trong 1m3 không khí, ởmột thời điểm nhất định
- Độ ẩm bão hòa: không khí chỉ có thể chứa được một lượng hơi nước nhất định;
lượng hơi nước tối đa mà 1m3 không khí có thể chứa được gọi là độ ẩm bão hòa Độ
ẩm bão hòa thay đổi theo nhiệt độ của không khí, nhiệt độ càng cao thì không khícàng chứa được nhiều hơi nước
- Độ ẩm tương đối: là tỉ lệ % giữa độ ẩm tuyệt đối của không khí với độ ẩm bão
hòa ở cùng nhiệt độ Khi độ ẩm là 100%, nghĩa là không khí đã bão hòa hơi nước
1.4.2 Sự ngưng đọng hơi nước
- Sự ngưng đọng hơi nước: không khí chứa hơi nước đã bão hòa, vẫn tiếp tục được
bổ sung hơi nước hoặc gặp lạnh, lượng hơi nước thừa sẽ ngưng đọng, với điều kiện cóhạt nhân ngưng đọng như hạt muối biển, hạt bụi, khói… do gió đưa vào không khí
- Sương mù: hơi nước ngưng tụ ở lớp không khí gần mặt đất sinh ra sương mù,hình thành trong điều kiện độ ẩm tương đối cao, khí quyển ổn định theo chiều thẳngđứng và có gió nhẹ
- Mây: không khí càng lên cao càng lạnh, đến một độ cao nào đó, sẽ bão hòa hơinước; tiếp tục lên cao, hơi nước sẽ ngưng tụ thành những hạt nước nhỏ và nhẹ, các hạtnước ngưng tụ thành từng đám gọi là mây
Trang 121.4.3 Mưa và phân bố mưa trên Trái Đất
1.4.3.1 Mưa
Các hạt nước trong đám mây kết hợp với nhau, hoặc hơi nước được ngưng tụthêm có kích thước lớn, các luồng không khí thẳng đứng không đủ sức đẩy lên vànhiệt độ cao cũng không làm bốc hơi hết, các hạt nước rơi thẳng xuống đất gọi làmưa
Nước rơi nếu gặp nhiệt độ khoảng 00C và trong điều kiện không khí yên tĩnh sẽ tạothành tuyết rơi
Mưa đá xảy ra trong điều kiện thời tiết nóng, oi bức về mùa hạ Khi các luồngkhông khí đối lưu từ mặt đất bốc lên rất mạnh, khiến cho các hạt nước bị đẩy lên, đấyxuống nhiều lần, gặp lạnh trở thành hạt băng, các hạt băng lớn dần qua mỗi lần đẩylên, đẩy xuống, rơi xuống mặt đất thành mưa đá
1.4.3.2 Sự phân bố mưa trên Trái Đất?
- Lượng mưa trên Trái Đất phân bố không đều theo vĩ độ (từ Xích đạo về cực)
+ Mưa nhiều nhất ở vùng Xích đạo, do khí áp thấp, nhiệt độ cao, là khu vực phân
bố chủ yếu của đại dương và rừng xích đạo ẩm ướt, nước bốc hơi mạnh, dải hội tụnhiệt đới hoạt động mạnh
+ Hai khu vực chí tuyến Bắc và Nam mưa ít, do áp cao, tỉ lệ diện tích lục địatương đối lớn
+ Hai khu vực ôn đới mưa tương đối nhiều, do khí áp thấp, có gió Tây ôn đới từbiển thổi vào
+ Hai khu vực cực có mưa ít nhất, do áp cao, nhiệt độ rất thấp, nước không bốchơi lên được
Tuy nhiên, lượng mưa phân hóa giữa bán cầu Bắc và Bán cầu Nam, do diện tíchlục địa và đại dương của mỗi khu vực ở hai bán cầu có sự khác nhau
- Sự phân bố mưa không đều theo kinh độ Ở mỗi đới từ tây sang đông lượng mưaphân bố không đều, do gần hay xa đại dương, dòng biển nóng hay lạnh chảy ven bờ.Ảnh hưởng của dòng biển: miền nhiệt đới, bờ đông lục địa mưa nhiều hơn bờtây Ôn đới, bờ tây mưa nhiều hơn bờ đông Càng vào sâu trong lục địa mưa càng ít
1.4.3.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến lượng mưa
- Khí áp
Các khu áp thấp hút gió và đẩy không khí ẩm lên cao sinh ra mây, mây gặp nhiệt
độ thấp ngưng thành giọt sinh ra mưa Các vùng áp thấp thường là nơi có lượng mưalớn trên Trái Đất
Các khu áp cao, không khí từ trên cao giáng xuống, không khí ẩm không bốc lênđược, lại chỉ có gió thổi đi, không có gió thổi đến, nên mưa rất ít hoặc không có mưa
Vì vậy, các khu áp cao cận chí tuyến thường là các hoang mạc lớn
- Frông
Dọc các frông nóng hoặc frông lạnh, không khí nóng bốc lên trên, không khí lạnh
bị co lại và lạnh đi, gây mưa trên cả frông nóng và frông lạnh
Trang 13Miền có frông, đặc biệt là dải hội tụ nhiệt đới đi qua thường mưa nhiều, vì khôngkhí được đẩy lên cao, đó là mưa frông hoặc mưa dải hội tụ.
- Gió
Những vùng sâu trong các lục địa, nếu không có gió từ đại dương thổi vào thì mưa
ít, chủ yếu do sự ngưng kết hơi nước tại chỗ từ ao, hồ, sông và rừng cây… bốc lên.Miền có gió Mậu dịch hoạt động ít mưa, vì gió này khô
Miền có gió mùa mưa nhiều, vì gió mùa mùa hạ thổi từ đại dương vào đem theonhiều hơi nước
- Dòng biển
Bờ đại dương gần nơi có dòng biển nóng đi qua thường mưa nhiều, vì không khítrên dòng biển nóng chứa nhiều hơi nước, gió mang theo hơi nước vào lục địa gâymưa Bờ đại dương gần nơi có dòng biển lạnh đi qua mưa ít, vì không khí trên dòngbiển bị lạnh, hơi nước không bốc lên được
1.5 CÁC ĐỚI KHÍ HẬU TRÊN TRÁI ĐẤT THEO VĨ ĐỘ
1.5.1 Đới nóng (nhiệt đới)
- Phạm vi: 23027’B- 23027’N
- Đặc điểm
+ Quanh năm có góc nhập xạ lớn, thời gian chiếu sáng trong năm chênh nhau ít+ Nóng quanh năm, lượng mưa TB năm lớn 1000- >2000mm
+ Gió Tín phong thổi thường xuyên
1.5.2 Hai đới ôn hòa (ôn đới)
- Phạm vi: 23027’B- 66033’B và 23027’N- 66033’N)
- Đặc điểm
+ Góc nhập xạ, thời gian chiếu sang trong năm chênh nhau nhiều
+ Lượng nhiệt trung bình, trong năm có 4 mùa rõ rệt, lượng mưa từ 1000mm/ năm
500-+ Gió Tây ôn đới thổi thường xuyên
1.5.3 Hai đới lạnh (hàn đới)
- Phạm vi: 66033’B- 900B và 66033’N- 900N)
- Đặc điểm
+ Góc nhập xạ rất nhỏ, thời gian chiếu sáng dao động lớn về số ngày và số giờchiếu sáng trong ngày
+ Nhiệt độ rất thấp, là 2 khu vực giá lạnh, lượng mưa TB năm <500mm
+ Gió thổi thường xuyên: gió Đông cực
III GIỚI THIỆU MỘT SỐ CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP