Bên cạnh quần thể di tích lịch sử Chiến trường Điện Biên Phủ, hồ Pá Khoang,rừng Mường Phăng thì những di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh khác như:thành Bản Phủ, đền thờ Hoàng
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết lập quy hoạch
Điện Biên Phủ - Pá Khoang thuộc vùng du lịch Trung du, miền núi Bắc Bộ Đây
là khu vực có tiềm năng phát triển du lịch phong phú và nổi bật đã được Chiến lượcphát triển ngành Du lịch Việt Nam và Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Namđến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 định hướng phát triển để trở thành khu du lịchquốc gia
Điện Biên Phủ là thành phố tỉnh lỵ tỉnh Điện Biên ở Tây Bắc Việt Nam có lịch
sử phát triển từ lâu Tên gọi Điện Biên được đặt từ năm 1841 từ châu Ninh Biên; Điện nghĩa là "kiến lập", Biên nghĩa là vùng biên giới, biên ải Thành phố Điện Biên Phủ
ngày nay được biết đến với quần thể di tích Chiến thắng Điện Biên Phủ nổi tiếng
Quần thể di tích lịch sử gắn liền với chiến dịch 56 ngày đêm “khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt” của quân và dân ta làm nên chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến 9
năm trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược của dân tộc Việt Nam
Với ý nghĩa to lớn về lịch sử, năm 1962, quần thể di tích Chiến trường Điện BiênPhủ được công nhận di tích cấp quốc gia, năm 2009 được Thủ tướng Chính phủ cấpbằng công nhận di tích cấp quốc gia đặc biệt
Ngoài ý nghĩa to lớn về lịch sử, quần thể di tích lịch sử Chiến trường Điện BiênPhủ nằm chủ yếu ở địa phận huyện Điện Biên và thành phố Điện Biên Phủ, nơi có hệthống giao thông đường bộ (QL 12, QL 279, QL 6), đường không (sân bay MườngThanh) dễ dàng tiếp cận cũng là yếu tố thuận lợi thu hút lượng khách du lịch
Hồ Pá Khoang nằm trên địa bàn xã Pá Khoang với diện tích lưu vực 2.400 ha
trong đó diện tích mặt nước 600 ha (sức chứa là 37,2 triệu m3 nước) là một trongnhững tài nguyên du lịch sinh thái có giá trị Xã Pá Khoang còn là nơi sinh sống củađồng bào dân tộc Thái, Khơ Mú Tại đây, các dân tộc thiểu số còn giữ được các phongtục tập quán, nét đặc sắc của vùng Tây Bắc vốn có…Đây là nguồn tài nguyên du lịchnhân văn hấp dẫn
Mường Phăng là khu rừng lịch sử - văn hóa nơi có Sở Chỉ huy Chiến dịch Điện
Biên Phủ Mường Phăng thuộc huyện Điện Biên nằm cách thành phố Điện Biên Phủ
25 km về phía Đông (theo đường chim bay) Tại đây hiện còn lưu giữ được nhiều ditích có giá trị lịch sử tiêu biểu gắn liền với Đại tướng Võ Nguyên Giáp và chiến dịchĐiện Biên Phủ…Tuy nằm ở vị trí ngoại vi thành phố Điện Biên Phủ nhưng Sở Chỉ huyChiến dịch Điện Biên Phủ cũng là một điểm tài nguyên du lịch không thể tách rờitrong quần thể di tích lịch sử Chiến trường Điện Biên Phủ
Ngoài giá trị lịch sử - văn hoá, rừng Mường Phăng còn là một trong những khurừng đặc dụng, bảo tồn tự nhiên với nhiều loại động thực vật quý hiếm của tỉnh ĐiệnBiên có khả năng phát triển du lịch sinh thái
1
Trang 2Bên cạnh quần thể di tích lịch sử Chiến trường Điện Biên Phủ, hồ Pá Khoang,rừng Mường Phăng thì những di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh khác như:thành Bản Phủ, đền thờ Hoàng Công Chất, bia tưởng niệm Noọng Nhai, động PáThơm, nước nóng U Va, hồ Huổi Phạ, nước nóng Pe Luông…cùng với bản sắc vănhoá đặc trưng của các dân tộc tỉnh Điện Biên trong vùng lòng chảo Mường Thanh tạothành nguồn tài nguyên du lịch hết sức phong phú và đa dạng
Căn cứ những tiềm năng, lợi thế và khả năng phát triển du lịch, Chiến lược vàQuy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030 đã địnhhướng phát triển Điện Biên Phủ - Pá Khoang thành một trong những khu du lịch quốcgia Phát triển du lịch khu vực Điện Biên Phủ - Pá Khoang sẽ góp phần tăng cường thuhút khách du lịch đến tỉnh Điện Biên nói riêng và các tỉnh vùng Tây Bắc nói chung, có
ý nghĩa quan trọng trong công cuộc xoá đói, giảm nghèo, vươn lên làm giàu cho nhândân địa phương và với sự nghiệp phát triển du lịch quốc gia Ngoài ra, phát triển dulịch còn góp phần bảo tồn và phá huy giá trị di tích một cách hiệu quả, xứng đáng vớitầm vóc to lớn của Chiến thắng Điện Biên Phủ lịch sử
Để thực hiện được mục tiêu trên của Chiến lược và Quy hoạch tổng thể phát triển
du lịch Việt Nam cần thiết phải lập quy hoạch khu du lịch trên bình diện tổng thể, vớitầm nhìn dài hạn làm cơ sở lập các quy hoạch chung xây dựng, quy hoạch cụ thể, các
dự án đầu tư phát triển du lịch góp phần khai thác một cách có hiệu quả tiềm năng dulịch Vì vậy, việc lập quy hoạch phát triển khu du lịch quốc gia Điện Biên Phủ - PáKhoang đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 là cần thiết và cấp bách
2 Căn cứ lập quy hoạch
2.1 Căn cứ pháp lý
- Luật du lịch số 44/2005/QH11 ngày 14/6/2005;
- Luật di sản Văn hoá số 28/2001/QH10 ngày 29/6/2001 và Luật sửa đổi, bổ sungmột số điều của Luật Di sản Văn hóa số 32/2009/QH12 ngày 18/6/2009;
- Luật quy hoạch đô thị số 30/2009/QH12 ngày 17/6/2009;
- Luật tài nguyên nước số 17/2012/QH13 ngày 21/6/2012;
-Luật đất đai số 45/2013/QH13 ngày 29/11/2013;
- Luật xây dựng số 50/2014/QH13 ngày 18/6/2014;
- Luật bảo vệ môi trường số 55/2014/QH13 ngày 23/6/2014;
- Luật đầu tư số 67/2014/QH13 ngày 26/11/2014;
- Nghị quyết 37-NQ/TW nhằm đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảmquốc phòng, an ninh vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ đến năm 2020 và Kết luận26-KL/TW tiếp tục thực hiện Nghị quyết 37-NQ/TW do Ban Chấp hành Trung ươngban hành;
Trang 3- Nghị quyết số 17/2001/QH13 ngày 22/11/2011 của Quốc hội nước CHXHCNViệt Nam về quy hoạch sử sụng đất đến năm 2020 và Kế hoạch sử dụng đất 5 năm(2011 - 2015) cấp quốc gia;
- Nghị quyết số 71/NQ-CP ngày 07/6/2013 của Chính phủ về quy hoạch sử dụngđất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011 - 2015) tỉnh ĐiệnBiên;
- Nghị quyết số 92/NQ-CP ngày 08/12/2014 của Chính phủ về một số giải phápđẩy mạnh phát triển Du lịch Việt Nam trong thời kỳ mới
- Nghị định số 92/2006/NĐ-CP ngày 07/9/2006 của Chính phủ về lập, phê duyệt
và quản lý quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội và Nghị định số
04/2008/NĐ-CP ngày 11/01/2008 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghịđịnh số 92/2006/NĐ-CP ngày 07/9/2006 của Chính phủ về lập, phê duyệt và quản lýquy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội;
- Nghị định 92/2007/NĐ-CP ngày 01/6/2007 của Chính phủ quy định chi tiết thihành một số điều của Luật Du lịch;
- Nghị định 98/2010/NĐ-CP ngày 21/9/2010 của Chính phủ quy định chi tiết thihành một số điều của Luật Di sản văn hóa và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củaLuật Di sản Văn hóa;
- Nghị định số 29/2011/NĐ-CP ngày 18/4/2011 của Chính phủ Quy định
về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường, cam kết bảo vệ môitrường;
- Nghị định số 42/2012/NĐ-CP ngày 11/5/2012 của Chính phủ về quản lý, sửdụng đất trồng lúa;
- Nghị định 70/2012/NĐ-CP ngày 18/9/2012 của Chính phủ quy định thẩmquyền, trình tự, thủ tục lập, phê duyệt quy hoạch, dự án bảo quản, tu bổ, phục hồi ditích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh;
- Nghị định số 10/2013/NĐ-CP ngày 11/01/2013 của Chính phủ Quy định việcquản lý, sử dụng và khai thác tài sản kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ;
- Nghị định số 11/2013/NĐ-CP ngày 14/01/2013 của Chính phủ về quản lý đầu
tư phát triển đô thị;
- Nghị định số 180/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 của Chính phủ sửa đổi, bổsung một số điều của Nghị định số 92/2007/NĐ-CP ngày 01/6/2007 của Chính phủquy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Du lịch;
3
Trang 4- Quyết định số 230/2006/QĐ-TTg ngày 13/10/2006 của Thủ tướng Chính phủphê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Điện Biên thời kỳ 2006 -2020;
- Quyết định số 21/QĐ-TTg ngày 08/01/2009 của Thủ tướng Chính phủ phêduyệt quy hoạch phát triển giao thông vận tải hàng không giai đoạn đến năm 2020 vàđịnh hướng đến năm 2030;
- Quyết định 864/QĐ-TTg ngày 09/7/2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệtquy hoạch xây dựng vùng biên giới Việt Nam - Lào đến năm 2020;
- Quyết định số 1436/QĐ-TTg ngày 10/9/2009 của Thủ tướng Chính phủ phêduyệt điều chỉnh quy hoạch phát triển ngành giao thông vận tải đường sắt Việt Namđến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030;
- Quyết định số 2473/QĐ-TTg ngày 30/12/2011 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệtChiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030;
- Quyết định số 201/QĐ-TTg ngày 22/01/2013 của Thủ tướng Chính phủ phêduyệt Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đếnnăm 2030;
- Quyết định số 356/QĐ-TTg ngày 25/02/2013 của Thủ tướng Chính phủ phêduyệt điều chỉnh quy hoạch phát triển Giao thông vận tải đường bộ Việt Nam đến năm
- Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Điện Biên lần thứ XII (nhiệm kỳ
2011 - 2015);
- Nghị quyết 251/NQ-HĐND ngày 30/12/2011 của Hội đồng Nhân dân tỉnh ĐiệnBiên khoá XIII, kỳ họp thứ 3 về việc thông qua đề án điều chỉnh quy hoạch giao thôngvận tải tỉnh Điện Biên giai đoạn 2011 - 2020 và định hướng đến năm 2030;
- Nghị quyết 253/NQ-HĐND ngày 30/12/2011 của Hội đồng Nhân dân tỉnh ĐiệnBiên khoá XIII, kỳ họp thứ 3 về quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, kế hoạch sửdụng đất kỳ đầu 2011 - 2015 tỉnh Điện Biên;
Trang 5- Quyết định số 150/QĐ-UBND ngày 31/01/2008 của Ủy ban Nhân dân tỉnhĐiện Biên phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Điện Biên đến năm2020;
- Quyết định số 733/QĐ-UBND ngày 5/8/2011 của Ủy ban Nhân dân tỉnh ĐiệnBiên phê duyệt quy hoạch chung xây dựng thành phố Điện Biên Phủ đến năm 2030,tầm nhìn đến năm 2050;
- Quyết định 423/QĐ-UBND ngày 20/6/2013 phê duyệt Quy hoạch bảo tồn Đadạng sinh học tỉnh Điện Biên đến năm 2020 định hướng đến năm 2030
- Quyết định số 3940/QĐ-BVHTTDL ngày 07/11/2013 của Bộ trưởng Bộ Vănhóa, Thể thao và Du lịch phê duyệt nội dung đề cương “Quy hoạch tổng thể phát triểnKhu du lịch quốc gia Điện Biên Phủ - Pá Khoang, tỉnh Điện Biên đến năm 2020, tầmnhìn đến năm 2030”;
- Thông tư số 88/2008/TT-BVHTTDL ngày 30/12/2010 của Bộ Văn hóa, Thểthao và Du lịch hướng dẫn thực hiện Nghị định số 92/2007/NĐ-CP ngày 01 tháng 6năm 2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Du lịch vềlưu trú du lịch;
- Thông tư 17/2013/TT-BVHTTDL ngày 30/12/2013 của Bộ Văn hóa, Thể thao
và Du lịch hướng dẫn xác định chi phí lập quy hoạch, dự án, báo cáo kinh tế - kỹ thuậtbảo quản, tu bổ, phục hồi di tích
2.2 Các căn cứ khác
- Các quy hoạch ngành, quy hoạch xây dựng khác có liên quan trên địa bàn tỉnhĐiện Biên;
- Bản đồ địa hình khu vực nghiên cứu và các tài liệu, tư liệu có liên quan;
- Tiềm năng, nhu cầu và hiện trạng phát triển du lịch khu vực
3 Quan điểm, mục tiêu và nhiệm vụ lập quy hoạch
3.1.Quan điểm
Quy hoạch tổng thể phát triển khu du lịch quốc gia Điện Biên Phủ - Pá Khoang
là quy hoạch ngành, vì vậy cần đảm bảo các nguyên tắc về quy hoạch được quy địnhtrong Luật Du lịch:
- Phù hợp với Chiến lược và Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đếnnăm 2020, tầm nhìn 2030; Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch vùng Trung du, miềnnúi Bắc Bộ; Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Điện Biên; Định hướngphát triển du lịch tỉnh Điện Biên đến năm 2020 và Quy hoạch chung xây dựng thànhphố Điện Biên Phủ đến năm 2030, tầm nhìn 2050
- Đảm bảo quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội
5
Trang 6- Bảo vệ, phát triển tài nguyên và môi trường du lịch giữ gìn và phát huy các giátrị lịch sử Chiến thắng Điện Biên Phủ và bản sắc văn hóa các dân tộc Tây Bắc.
- Đảm bảo tính khả thi, cân đối cung và cầu du lịch
- Phát huy lợi thế khu du lịch, tạo sản phẩm du lịch đặc thù, hấp dẫn nhằm sửdụng hợp lý, hiệu quả tài nguyên du lịch
- Bảo đảm công khai trong quá trình lập và công bố quy hoạch
3.3 Nhiệm vụ lập quy hoạch
Quy hoạch tổng thể phát triển khu du lịch quốc gia Điện Biên Phủ - Pá Khoangbao gồm những nhiệm vụ thực hiện nội dung chính sau:
1) Xác định vị trí, vai trò khu du lịch quốc gia Điện Biên Phủ - Pá Khoang
2) Đánh giá tổng hợp tiềm năng và khả năng phát triển du lịch
3) Đánh giá hiện trạng phát triển khu du lịch
4) Xác định quan điểm, mục tiêu phát triển du lịch
5) Dự báo các chỉ tiêu phát triển du lịch
6) Quy hoạch phát triển thị trường và sản phẩm du lịch
7) Tổ chức không gian hoạt động du lịch
8) Định hướng phát triển hệ thống hạ tầng kỹ thuật (giao thông, cung cấp điện, nước,thoát nước thải và xử lý chất thải rắn và các nhu cầu khác…)
9) Định hướng đầu tư phát triển du lịch
10) Đánh giá sơ bộ tác động môi trường
11) Đề xuất giải pháp và tổ chức thực hiện quy hoạch
4 Phương pháp lập quy hoạch
4.1 Phương pháp thu thập tài liệu
Được sử dụng để lựa chọn những tài liệu, số liệu, những thông tin có liên quanđến nội dung và đối tượng nghiên cứu trong quy hoạch Đây là phương pháp quan
Trang 7trọng, là tiền đề giúp cho việc phân tích, đánh giá tổng hợp các nội dung và đối tượngnghiên cứu một cách khách quan và chính xác.
4.2 Phương pháp phân tích tổng hợp
Được sử dụng trong suốt quá trình phân tích, đánh giá toàn diện các nội dung,các đối tượng nghiên cứu trong quy hoạch như: thực trạng tiềm năng tài nguyên dulịch; thực trạng công tác tổ chức quản lý và khai thác tài nguyên du lịch; thực trạngphát triển của hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển du lịch; thực trạng biến độngcủa môi trường du lịch; thực trạng phát triển của các chỉ tiêu kinh tế du lịch
4.3 Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa
Được thực hiện nhằm điều tra bổ sung hoặc kiểm tra lại những thông tin quantrọng cần thiết cho quá trình phân tích, đánh giá và xử lý các tài liệu và số liệu Thôngqua phương pháp này cho phép xác định cụ thể hơn về vị trí, ranh giới, quy mô cũngnhư tầm quan trọng của các đối tượng nghiên cứu; đồng thời còn cho phép xác địnhkhả năng tiếp cận đối tượng Mặt khác, trong thực tế công tác thống kê các số liệu củacác ngành nói chung và của ngành Du lịch nói riêng còn chưa hoàn chỉnh và đồng bộ,còn nhiều bất cập và chưa thống nhất, do vậy phương pháp nghiên cứu và khảo sátthực địa tại chỗ là không thể thiếu trong quá trình lập quy hoạch
4.4 Phương pháp dự báo, chuyên gia
Được áp dụng để nghiên cứu một cách toàn diện các yếu tố khách quan và chủ
quan; các yếu tố trong nước và quốc tế; các yếu tố trong và ngoài ngành du lịch;những thuận lợi và khó khăn thách thức có ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển dulịch Việt Nam nói chung và của khu du lịch nói riêng Trên cơ sở đó dự báo các chỉtiêu phát triển du lịch một cách bền vững; nghiên cứu tổ chức không gian khu du lịch;trong việc đề xuất các dự án, các lĩnh vực ưu tiên đầu tư; cũng như trong việc xác địnhcác sản phẩm du lịch đặc thù
4.5 Phương pháp sơ đồ, bản đồ
Được sử dụng để thể hiện các nội dung nghiên cứu, các số liệu cụ thể trên hệthống bản vẽ quy hoạch
7
Trang 8PHẦN THỨ NHẤT ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG VÀ HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN KHU DU LỊCH ĐIỆN BIÊN PHỦ - PÁ KHOANG (GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2013)
I VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA KHU DU LỊCH QUỐC GIA ĐIỆN BIÊN PHỦ - PÁ KHOANG
1 Vị trí địa lý, quy mô, giới hạn phạm vi ranh giới khu du lịch
1.1 Vị trí địa lý
Tỉnh Điện Biên ở Tây Bắc Việt Nam có tọa độ địa lý được xác định từ vị trí 200
54' đến 220 33' độ vĩ Bắc, từ 1020 10' đến 1030 56' độ kinh Đông và được giới hạn phíaBắc giáp tỉnh Lai Châu, phía Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Sơn La, phía Tây và TâyNam giáp 2 tỉnh Luông Pha Băng và Phong Sa Lỳ của nước Cộng hoà Dân chủ Nhândân Lào, phía Tây Bắc giáp tỉnh Vân Nam của nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa Điện Biên Phủ là thành phố tỉnh lỵ tỉnh Điện Biên Điện Biên Phủ cách Hà Nộikhoảng 475 km theo quốc lộ 279 (đến Tuần Giáo) và quốc lộ 6 (Tuần Giáo - Hà Nội)
Hồ Pá Khoang thuộc địa phận xã Pá Khoang, huyện Điện Biên nằm cách thànhphố Điện Biên Phủ khoảng hơn 15 km về phía Đông - Bắc, cách quốc lộ 279 khoảng 5
km về phía Đông, cách khu di tích Mường Phăng 8 km về phía Tây Có thể tiếp cận hồ
Pá Khoang bằng quốc lộ 279 sau đó theo tỉnh lộ 3 hoặc tuyến đường bộ mới mở theophía Đông Nam từ thành phố Điện Biên Phủ đi qua xã Tà Lèng
Sở chỉ huy chiến dịch Mường Phăng thuộc quần thể di tích Chiến trường Điện
Biên Phủ nằm trên địa bàn xã Mường Phăng, huyện Điện Biên cách thành phố ĐiệnBiên Phủ khoảng 25 km về phía Đông - Bắc
Khu du lịch Điện Biên Phủ - Pá Khoang nằm ở tọa độ địa lý 21022 độ vĩ Bắc,
1030 độ kinh Đông
1.2 Quy mô, giới hạn phạm vi nghiên cứu quy hoạch khu du lịch
1.2.1 Giới hạn phạm vi nghiên cứu quy hoạch, vùng ảnh hưởng khu du lịch: Xác
định đối tượng nghiên cứu chính để khai thác phát triển du lịch là quần thể Di tích lịch
sử chiến trường Điện Biên Phủ thuộc địa phận thành phố Điện Biên Phủ, hồ PáKhoang xã Pá Khoang và rừng Mường Phăng (nơi có Sở Chỉ huy Chiến dịch ĐiệnBiên Phủ) ở xã Mường Phăng Theo đó, giới hạn phạm vi nghiên cứu, vùng ảnh hưởngquy hoạch được xác định theo địa giới hành chính thành phố Điện Biên Phủ và các xã
Pá Khoang và Mường Phăng của huyện Điện Biên Ranh giới được xác định như sau:
- Phía Bắc, Tây Bắc và Đông Bắc: Giáp các xã Thanh Nưa, Nà Tấu của huyệnĐiện Biên
Trang 9- Phía Đông là ranh giới với huyện Mường Ẳng.
- Phía Tây: Giáp các xã Thanh Luông, Thanh Hưng, Thanh Nưa của huyện ĐiệnBiên
- Phía Nam và Đông Nam: Giáp xã Thanh Xương huyện Điện Biên và xã Pú Nhicủa huyện Điện Biên Đông
Quy mô diện tích 15.585 ha (trong đó thành phố Điện Biên Phủ có 6.427 ha; xã
Pá Khoang có 5.702 ha, xã Mường Phăng có 3.456 ha) Năm 2013, tổng dân số khuvực quy hoạch gần 84.500 người (trong đó thành phố Điện Biên Phủ có khoảng 75.600người)
Ngoài ra, do khu du lịch nằm trong địa phận hai huyện Điện Biên và Điện Biên
Đông là khu vực có nhiều tài nguyên du lịch và có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động
du lịch tại khu du lịch Điện Biên Phủ - Pá Khoang vì vậy phạm vi vùng ảnh hưởngquy hoạch còn bao gồm các điểm tài nguyên du lịch phụ cận, gồm: Suối nước nóngHua Pe xã Thanh Luông, huyện Điện Biên; Thành Bản Phủ và Đền thờ Hoàng CôngChất xã Noong Hẹt, huyện Điện Biên; Nước khoáng nóng U Va xã Noong Luống vàđộng Pá Thơm xã Pá Thơm, huyện Điện Biên; Cửa khẩu Tây Trang xã Na Ư, huyệnĐiện Biên; Tháp cổ Mường Luân xã Mường Luân, huyện Điện Biên Đông
1.2.2 Quy mô quy hoạch sử dụng đất phát triển khu du lịch: Trong không gian
nghiên cứu quy hoạch phát triển du lịch chính bao gồm nhiều thành phần đất khácnhau, các điểm tài nguyên khai thác du lịch được phân bố rải rác vì vậy việc quy hoạch
sử dụng đất phát triển khu du lịch căn cứ tình hình thực tế về khả năng khai thác quỹđất và định hướng quy mô khu du lịch của Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch ViệtNam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030
Theo đó, quy mô quy hoạch sử dụng đất phát triển các hạng mục công trình khu
du lịch được xác định 2.500 ha, trong đó:
- Khu vực hồ Pá Khoang (xã Pá Khoang): 2.200 ha;
- Khu vực hồ Huổi Phạ (ngoại vi thành phố Điện Biên Phủ, tiếp giáp hồ PáKhoang): 100 ha;
- Khu vực Mường Phăng (xã Mường Phăng): 200 ha
2 Vị trí, vai trò khu du lịch Điện Biên Phủ - Pá Khoang đối với chiến lược phát triển du lịch Việt Nam và vùng Trung du, miền núi Bắc Bộ
2.1 Vị trí khu du lịch trong mối liên hệ du lịch vùng
Chiến lược và Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2010, đãxác định tỉnh Điện Biên nằm trong không gian tiểu vùng du lịch Tây Bắc thuộc vùng
du lịch Bắc Bộ với các tuyến, trục du lịch đường bộ, đường không nối liền với thủ đô
Hà Nội và các trung tâm du lịch lớn trong nước Thực tế phát triển cho thấy ngoài mốiquan hệ du lịch tiểu vùng Tây Bắc, Điện Biên nói chung và khu du lịch Điện Biên Phủ
9
Trang 10nói riêng giữ vị trí quan trọng là đầu mối du lịch Việt Nam với Vân Nam (TrungQuốc) để phát triển thị trường với Trung Quốc trong khuôn khổ Hợp tác hai hành langmột vành đai kinh tế; cửa ngõ với các tỉnh Bắc Lào để phát triển thị trường với cácnước ASEAN trong khuôn khổ Hợp tác tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng (GMS)
2.2 Vai trò khu du lịch trong Chiến lược phát triển du lịch quốc gia và vùng
Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch vùng Trung du, miền núi Bắc Bộ địnhhướng Điện Biên Phủ - Pá Khoang là một trong những khu du lịch quốc gia, có vai tròhết sức quan trọng đối với phát triển du lịch của Vùng và cả nước
Sự phát triển khu du lịch Điện Biên Phủ - Pá Khoang nói riêng và du lịch tỉnhĐiện Biên nói chung đóng góp một phần quan trọng vào sự nghiệp phát triển du lịchchung của cả nước
Với tiềm năng du lịch phong phú, hấp dẫn trong đó nổi bật là quần thể di tíchlịch sử Chiến trường Điện Biên Phủ, các giá trị văn hoá đậm đà bản sắc của các dântộc ít người và cảnh quan hùng vĩ của núi rừng Tây Bắc…ngành Du lịch tỉnh ĐiệnBiên có thể khai thác phát triển các sản phẩm đặc thù, trở thành điểm đến hấp dẫn dukhách trong và ngoài nước, là mắt xích quan trọng trong tuyến du lịch văn hoá - lịch
sử “Qua miền Tây Bắc” của vùng du lịch Trung du, miền núi Bắc Bộ và cả nước.Với vị trí quan trọng của khu du lịch, Chiến lược và Quy hoạch tổng thể pháttriển du lịch Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 tiếp tục định hướngphát triển khu du lịch Điện Biên Phủ - Pá Khoang thành khu du lịch quốc gia
Như vậy, phát triển du lịch khu du lịch quốc gia Điện Biên Phủ - Pá Khoangtrước mắt cũng như lâu dài là phù hợp với Chiến lược và Quy hoạch tổng thể pháttriển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 và với xu thế phát triểncủa du lịch thế giới; khẳng định vị trí vai trò quan trọng của du lịch khu du lịch ĐiệnBiên Phủ - Pá Khoang nói riêng và tỉnh Điện Biên nói chung đối với sự nghiệp pháttriển du lịch Việt Nam
3 Vị trí, vai trò khu du lịch Điện Biên Phủ - Pá Khoang đối với phát triển kinh tế
- xã hội và du lịch tỉnh Điện Biên và vùng Tây Bắc
3.1 Vị trí, vai trò khu du lịch Điện Biên Phủ - Pá Khoang đối với phát triển du lịch tỉnh Điện Biên
Khu du lịch Điện Biên Phủ - Pá Khoang với tiềm năng du lịch to lớn gắn với cácgiá trị của Chiến thắng Điện Biên Phủ, giá trị sinh thái hồ Pá Khoang và rừng MườngPhăng từ lâu là điểm nhấn, trọng điểm du lịch của tỉnh Điện Biên Bên cạnh đó thànhphố tỉnh lỵ Điện Biên Phủ là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của tỉnh Điện Biênvới hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật đồng bộ nên đã trở thành trung tâm du lịch củatoàn tỉnh Thực tế phát triển cho thấy trong giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2013 cácchỉ tiêu phát triển về du lịch như lượng khách, thu nhập, lao động, cơ sở vật chất kỹthuật…luôn chiếm hơn 90% toàn tỉnh (xem phần đánh giá hiện trạng phát triển du
Trang 11lịch) Du lịch Điện Biên Phủ - Pá Khoang phát triển ngày càng khẳng định là động lựcphát triển du lịch cho toàn tỉnh Điện Biên
3.2 Vị trí, vai trò khu du lịch Điện Biên Phủ - Pá Khoang đối với phát triển kinh tế
- xã hội tỉnh Điện Biên
Thời gian qua, nhờ xác định đúng hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát huy tốtmọi nguồn lực đồng thời tranh thủ sự giúp đỡ của Trung ương và các tỉnh bạn, kinh tếcủa Điện Biên phát triển với tốc độ khá nhanh và ổn định Trong sự nghiệp phát triểnkinh tế có sự đóng góp của hoạt động dịch vụ du lịch toàn tỉnh Điện Biên nói chung vàcủa khu du lịch Điện Biên Phủ - Pá Khoang nói riêng
Những đóng góp về kinh tế và xã hội của ngành du lịch Điện Biên nói chung vàkhu du lịch Điện Biên Phủ - Pá Khoang nói riêng được thể hiện ở các mặt sau:
3.2.1.Góp phần tăng thu ngân sách và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh:
Ngành Du lịch của tỉnh mặc dù mới phát triển quy mô còn hạn chế nhưng đã có tốc độtăng trưởng khá nhanh về lượng khách và doanh thu
Tốc độ tăng trưởng trung bình khách du lịch quốc tế giai đoạn từ năm 2000 đếnnăm 2013: 23,7%/năm
Tốc độ tăng trưởng trung bình khách du lịch nội địa giai đoạn từ năm 2000 đếnnăm 2013: 11,8%/năm
Tốc độ tăng trưởng nguồn thu nhập từ khách du lịch giai đoạn từ năm 2000 đếnnăm 2013 đạt: 26,5%/năm
Với tốc độ tăng trưởng về khách cũng như thu nhập và giá trị gia tăng du lịch, cơcấu kinh tế của tỉnh cũng được thay đổi theo hướng tăng tỷ trọng dịch vụ, giảm tỷtrọng nông - lâm nghiệp: Năm 2005 cơ cấu GDP các ngành là: nông - lâm nghiệp:37,37% (giảm 4,4%), công nghiệp và xây dựng: 26,67% (tăng 6,5%), dịch vụ: 35,96%;Năm 2010, tỷ trọng GDP du lịch và dịch vụ đạt 36% đến 37% Điều đó khẳng định vịtrí quan trọng của các ngành dịch vụ nói chung và du lịch nói riêng đối với kinh tế tỉnhĐiện Biên
Trong thành tích du lịch của tỉnh có sự đóng góp to lớn của khu du lịch ĐiệnBiên Phủ - Pá Khoang Thống kê giai đoạn vừa qua cho thấy tỷ trọng đóng góp củakhu du lịch chiếm hơn 90% đóng góp của ngành du lịch cả tỉnh
3.2.2 Góp phần giải quyết việc làm, nâng cao đời sống vật chất cho cộng đồng dân cư và công tác xoá đói giảm nghèo, vươn lên làm giàu của địa phương: Phát triển
du lịch góp phần tăng số lượng lao động phục vụ du lịch khá nhanh Năm 2000 khu dulịch mới chỉ có 120 lao động trực tiếp trong các cơ sở kinh doanh du lịch, đến năm
2005 đã tăng lên hơn 550 lao động, năm 2010 có khoảng 1.260 lao động trực tiếp, năm
2013 đạt 2.160 lao động có thu nhập ổn định từ hoạt động du lịch Tuy nhiên, ý nghĩa
to lớn mà du lịch đem lại là bên cạnh số lượng lao động trực tiếp, du lịch tạo việc làmcho lực lượng lao động gián tiếp ngoài xã hội (hơn gấp 2 đến 3 lần lao động trực tiếp)
11
Trang 12nhờ sự xuất hiện những ngành nghề phục vụ du lịch như đưa đón khách, sản xuất hàngthủ công, dịch vụ ăn uống làm tăng thu nhập cho người dân, góp phần quan trọngtrong công cuộc giảm nghèo và vươn lên làm giàu Theo số liệu thống kê đến nay trêntoàn thành phố Điện Biên Phủ đã có 90 cơ sở nhà hàng ăn uống có quy mô từ 20 bàn
ăn trở lên với khoảng 1.200 lao động đến 1.500 lao động có khả năng phục vụ khoảngtrên dưới 10.000 lượt khách/ ngày đêm Chính vì vậy, phát triển du lịch Điện Biên Phủ
- Pá Khoang mang ý nghĩa cộng đồng cao
3.2.3 Góp phần tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật cho tỉnh: Phát triển du lịch đi
đôi với việc xây dựng các khu vui chơi giải trí, các công viên tổng hợp, các khách sạn,nhà hàng Thống kê cho thấy, năm 2000 trên địa bàn khu du lịch có 20 cơ sở với 310buồng, năm 2005 tại khu vực đã có 32 cơ sở lưu trú với 720 buồng; năm 2010 có 37
cơ sở với hơn 780 buồng; năm 2013 có 90 cơ sở với 1.450 buồng (chiếm khoảng hơn90% toàn tỉnh) Hệ thống cơ sở lưu trú như khách sạn Mường Thanh, khách sạn HimLam…góp phần làm giàu thêm cơ sở vật chất kỹ thuật cho địa phương, cải tạo bộ mặtnông thôn và thành phố Điện Biên Phủ
3.2.4 Góp phần nâng cao dân trí: Ngoài việc làm tăng thu nhập cho địa phương
góp phần nâng cao đời sống về vật chất, phát triển du lịch còn có vai trò nâng cao dântrí nhờ sự mở rộng giao tiếp của người dân với khách du lịch Những sự kiện quantrọng như năm du lịch Điện Biên năm 2004; năm 2014 đã góp phần nâng cao nhậnthức về du lịch cho nhân dân trong tỉnh đặc biệt đối với cộng đồng các dân tộc thiểu sốtại các xã Pá Khoang và Mường Phăng
3.2.5 Góp phần bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, các giá trị di tích
và cảnh quan môi trường và tuyên truyền giới thiệu vẻ đẹp đất nước, con người Điện Biên, giáo dục truyền thống: Du lịch sẽ góp phần gìn giữ và làm tăng các giá trị cảnh
quan, các di tích, các giá trị văn hoá bản địa trên trường quốc tế Đặc biệt đối với tỉnhĐiện Biên, các giá trị quần thể di tích lịch sử Chiến trường Điện Biên Phủ, văn hoá cácdân tộc thiểu số Tây Bắc, hệ sinh thái hồ Pá Khoang và khu rừng Mường Phăng, sôngNậm Rốm, động Pá Thơm…là những di sản văn hoá và cảnh quan môi trường đượcbảo tồn và phát huy thông qua việc tuyên truyền, quảng bá và sự giao lưu của khách
du lịch Thông qua hoạt động du lịch việc giáo dục truyền thống cách mạng cho thế hệtrẻ Việt Nam được nâng cao
3.3 Vị trí, vai trò khu du lịch Điện Biên Phủ - Pá Khoang đối với phát triển kinh tế
Trang 13xã hội và đầu tư cơ sở hạ tầng Tính từ năm 2008 đến tháng 11/2013, nguồn vốn ODAđược ký kết để phát triển Tây Bắc đạt 2.064,99 triệu USD, lĩnh vực nông nghiệp vàphát triển nông thôn, xóa đói giảm nghèo được ưu tiên cao nhất với 731,82 triệu USD,chiếm 35,44 % tổng vốn ODA.
Trong sự phát triển kinh tế vùng Tây Bắc có sự đóng góp quan trọng của ngànhdịch vụ du lịch của các tỉnh trong vùng Tỷ trọng GDP ngành Du lịch của các địaphương ở đây đạt từ 2,5% - 3% trong tổng GDP của từng tỉnh trong đó có sự đóng gópcủa các khu, điểm du lịch quốc gia trên địa bàn
Kinh tế - xã hội vùng Tây Bắc tuy đã đạt được sự tiến bộ nhất định, nhưng vẫncòn nhiều khó khăn Thống kê cho thấy, tỷ lệ hộ nghèo hiện nay gần 26% (cao gấp 3lần so với trung bình chung của cả nước), số huyện nghèo chiếm gần 70% của cảnước, môi trường đầu tư kinh doanh chưa thực sự thuận lợi, chỉ số cạnh tranh cấp tỉnh(PCI) của nhiều tỉnh Tây Bắc (do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam côngbố) còn ở mức thấp Tây Bắc còn nhiều khó khăn về nguồn nhân lực, chất lượng giáodục và dạy nghề thấp nhất trong cả nước
Khu du lịch quốc gia Điện Biên Phủ - Pá Khoang, thuộc tỉnh Điện Biên có vị trínằm trên nhiều hành lang kinh tế quan trọng của vùng Tây Bắc với Hà Nội và các tỉnhBắc Lào, Vân Nam (Trung Quốc) Trong định hướng phát triển du lịch vùng Trung du
và miền núi Bắc Bộ, thành phố Điện Biên Phủ là trung tâm du lịch của tiểu vùng TâyBắc Hiện nay khu du lịch đang ở giai đoạn đầu phát triển nên chưa có ảnh hưởngnhiều đến phát triển du lịch cũng như kinh tế - xã hội vùng Tây Bắc Tuy nhiên, vớiđịnh hướng phát triển thành khu du lịch quốc gia, với tầm vóc to lớn của giá trị lịch sửChiến thắng Điện Biên Phủ, du lịch Điện Biên Phủ - Pá Khoang sẽ phát triển mạnh và
có những ảnh hưởng quan trọng theo không gian các hành lang kinh tế cũng như cácchương trình du lịch vùng và quốc gia
Tóm lại, cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, du lịch Điện Biên Phủ - PáKhoang chắc chắn sẽ thu hút được nhiều khách du lịch trong và ngoài nước đến thamquan, hợp tác đầu tư, với thời gian lưu lại của khách kéo dài hơn, chi tiêu nhiều hơn…Hoạt động của ngành du lịch ngày càng sôi động và có vai trò quan trọng trong sựnghiệp phát triển kinh tế - xã hội không những cho tỉnh Điện Biện nói riêng mà còncho cả vùng Tây Bắc nói chung
II ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG VÀ KHẢ NĂNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH
1 Đánh giá các đặc điểm tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến việc khai thác phát triển khu du lịch
1.1 Đặc điểm tự nhiên của khu du lịch
1.1.1 Địa hình: Cánh đồng Mường Thanh có chiều dài khoảng 23 km, chiều
rộng trung bình từ 7 km đến 9 km Tổng diện tích của cánh đồng Mường Thanh
13
Trang 14khoảng 120 km2 Khu du lịch Điện Biên Phủ - Pá Khoang nằm ở phía Bắc cánh đồngMường Thanh, phần địa hình bằng phẳng có diện tích khoảng 6.000 ha, còn lại là núi.Khu vực thành phố Điện Biên Phủ nằm trong lòng chảo Điện Biên Phủ có cao độbiến thiên từ 473 m đến 1.048 m Các khu vực đô thị hiện trạng có cao độ nền tự nhiêntrung bình khoảng 477 m đến 483 m.
- Cao độ các đỉnh đồi di tích A1, C1, C2, D, E khoảng +536 m
- Cao độ khu vực các đồi phía Đông từ 410 m đến 1.048 m
- Cao độ khu vực các đồi phía Bắc sông Nậm Rốm 500 m đến 800 m
Địa hình khu vực núi cao ở về phía Đông Bắc, thuộc các xã Pá Khoang vàMường Phăng mang những nét đặc trưng với nhiều kiểu địa hình, phổ biến địa hìnhnúi cao (độ cao trung bình 600 m đến 700 m), độ dốc lớn (hơn 70% lãnh thổ có độ dốclớn hơn 250), chia cắt mạnh Phía Đông Bắc có đỉnh Pu Uốt và đỉnh Pu Tó Cọ (xãMường Phăng) đều cao xấp xỉ 1.700 m, là các đỉnh cao nhất ở đây Núi thấp dần và đổdồn xuống sông, suối hoặc xen kẽ với các thung lũng sông, khe suối và cao nguyên.Giữa các dãy núi có rất nhiều dải trũng bằng phẳng tạo thành thung lũng MườngThanh (thành phố Điện Biên Phủ và huyện Điện Biên)
Nhìn chung, địa hình khu vực quy hoạch tương đối đa dạng và phong phú mangnét đặc trưng của địa hình vùng núi Tây Bắc Việt Nam, tạo nên nhiều cảnh đẹp, hùng
vĩ và hấp dẫn Đây là điều kiện thuận lợi để phát triển nhiều loại hình du lịch như sinhthái, tham quan, thể thao mạo hiểm…là những loại hình du lịch đang thu hút được sựquan tâm khách du lịch trong và ngoài nước trong xu hướng phát triển lâu dài
1.1.2 Khí hậu: Thành phố Điện Biên Phủ nằm trong vùng khí hậu Tây Bắc nên
mang nhiều tính chất của khí hậu Tây Bắc, thể hiện tác dụng của địa hình hoàn lưu khíquyển Đặc biệt khí hậu mùa đông tương đối ấm, mùa hạ đến từ tháng 3, mùa mưa đếnsớm từ tháng 4 kết thúc vào tháng 9
* Nhiệt độ:
- Nhiệt độ trung bình năm là 26,80C
- Nhiệt độ cao nhất trung bình là 28,40C
- Nhiệt độ trung bình thấp nhất là 17,90C
- Nhiệt độ cao nhất tuyệt đối là 38,60C
- Nhiệt độ tối thấp tuyệt đối là - 0,80C
* Gió: Hướng gió chủ yếu là Bắc - Nam Gió Bắc hình hành từ tháng 11 đếntháng 4 Gió Nam thịnh hành từ tháng 5 đến tháng 10 Tốc độ gió trung bình 0,9 m/s.Tốc độ gió lớn nhất 40 m/s (hướng Tây ngày 18/05/1968)
Trang 15* Mưa: Nhìn chung, tỉnh Điện Biên ít chịu ảnh hưởng của bão nhưng lại chịu ảnhhưởng của gió Tây khô nóng; thường xuất hiện giông, mưa đá vào mùa hè và sươngmuối vào mùa đông Đây là những yếu tố thời tiết bất lợi cho sản xuất và đời sống nóichung cũng như các hoạt động du lịch nói riêng.
- Lượng mưa bình quân năm: 1.583 mm
- Lượng mưa ngày lớn nhất: 229,3 mm
- Số ngày mưa trung bình trong năm là 122 ngày
* Độ ẩm:
- Độ ẩm tương đối trung bình là 83%
- Độ ẩm thấp nhất tương đối trung bình là 56%
* Nắng: Số giờ nắng trung bình năm là 2002 giờ
* Bốc hơi: Lượng bốc hơi trung bình năm là 889,6 m
* Sương muối: Thông thường cứ 2 năm đến 4 năm có một trận sương muối nhẹ,
20 năm đến 30 năm có trận sương muối nặng
* Dông: Thường xuất hiện từ tháng 3 đến tháng 9 Tổng số ngày có dông trongnăm là 110 ngày Dông thường xuất hiện nhiều nhất vào tháng 5 kèm gió xoáy
* Sương mù: Trung bình năm có 103 ngày, thường là các tháng 10, tháng 11,tháng 12 nhiều nhất là tháng 12
Các đặc điểm khí hậu ở Điện Biên Phủ - Pá Khoang nhìn chung không thuận lợicho du lịch nghỉ dưỡng Tuy nhiên, khu vực hồ Pá Khoang, do nhiều cây xanh kết hợp
hồ nước nên có khí hậu mát mẻ, thích hợp với nghỉ mát và vui chơi giải trí Đây là khuvực phù hợp phát triển du lịch cuối tuần cho nhân dân thành phố
1.1.3 Địa chất công trình: Đặc điểm chủ yếu trong lớp đất đá đệ tứ có thành tạo
chu vi chiếm ưu thế Về bề dày và bề rộng có thành phần chủ yếu là sét pha lẫn cuộisỏi, sét pha lẫn dăm sạn
Địa chất công trình: Các lớp đất đá tầng đệ tứ có khả năng chịu lực trung bình,thuận lợi cho việc xây dựng
1.1.4 Địa chấn: Địa chấn vùng Lai Châu, Điện Biên thuộc hệ thống đứt gãy á
kinh tuyến chu kỳ động đất là 120 năm với cường độ chấn động: Mặt đất là IO max =9; cấp động đất Mmax ≥ 70Ricte Tâm chấn động của 2 lần động đất là năm 1935 ởĐông Nam Điện Biên Phủ Năm 1983 ở gần sát thị trấn Tuần Giáo Độ sâu tâm độngđất của 2 lần xảy ra là 23 km đến 25 km
1.1.5 Đặc điểm thủy văn: Thành phố Điện Biên Phủ có 2 con sông chính là sông
Nậm Rốm và sông Nậm Lúa thuộc chi lưu của hệ thống sông Mê Kông (có lưu vực là1.650 km2) chảy qua Hai sông này tụ lại vùng lòng chảo và chảy sang Lào đổ vào
15
Trang 16sông Mê Kông Mực nước lũ của sông Nậm Rốm ứng với tần xuất 5% là + 477,5 m.Ngoài ra, trên địa bàn thành phố và vùng phụ cận có khoảng 100 suối lớn nhỏ đều đổ
về sông Nậm Rốm
- Nguồn nước mặt: Sông Nậm Rốm, hồ Huổi Phạ, hồ Pá Khoang, hồ Nậm Khẩu
Hu, hồ Nậm Ngam và các hồ nhỏ khác được hình thành khi chặn suối trên núi đều làcác nguồn nước mặt cung cấp nước cho khu vực Hồ Nậm Ngam là nguồn nước sinhhoạt và du lịch trong tương lai
- Nguồn nước ngầm: Trữ lượng không lớn, tiềm năng khai thác 8.000 m3 đến10.000 m3/ngđ Chất lượng nước ngầm qua phân tích các mẫu nước giếng khơi vàgiếng khoan ở độ sâu từ 7 m đến 15 m cho thấy có dấu hiệu bị ô nhiễm do ảnh hưởngcủa chất thải dân cư, công nghiệp…
1.1.6 Đặc điểm thổ nhưỡng: Đất đai khu vực thành phố được hình thành do quá
trình phong hóa tại chỗ của đá mẹ và do quá trình bồi tụ phù sa của sông suối tạothành bao gồm đất phủ sa và đất đỏ vàng Đất phù sa có tầng loang lổ đỏ vàng (Pj)phân bố hầu hết trên địa bàn thành phố với độ dày >100 m, có phản ứng chua ở tầngmặt Hàm lượng các chất đạm, lân trung bình, nghèo kali, thành phần cơ giới nặng.Đất đỏ vàng trên đá biến chất (Fj) có thành phần cơ giới nặng, hàm lượng đạm, lântrung bình Trên loại đất này hiện là rừng khoanh nuôi tái sinh với các cây gỗ nhỏ vàcây thân bụi (tại khu vực các xã Thanh Minh, Tà Lèng, Thanh Nưa, Mường Phăng )
1.1.7 Sinh vật: Thảm thực vật Điện Biên mang tính chất nhiệt đới với độ che phủ
tự nhiên khá cao Tuy nhiên do nhiều điều kiện khách quan như thiên tai, hoả hoạn,chiến tranh và đặc biệt là hoạt động di cư tự do, tập quán du canh du cư của một bộ phậnnhân dân, rừng đã và đang bị tàn phá nặng nề Trong những năm gần đây Chính phủ cóchính sách giao đất, giao rừng, khoanh nuôi bảo vệ và trồng mới diện tích rừng, tỉnhĐiện Biên đã bảo vệ, khôi phục và trồng mới được một diện tích rừng đáng ghi nhận.Tính đến hết năm 2012 diện tích che phủ rừng của thành phố Điện Biên Phủ và huyệnĐiện Biên đạt hơn 34% chủ yếu là rừng non tái sinh, rừng nghèo Rừng Mường Phăng
có nhiều gỗ quý như lát, chò chỉ, pơmu; các lâm sản như cánh kiến đỏ, song, mây, trầmhương, quế, sa nhân và nhiều động vật quý hiếm Đặc biệt, khu vực quy hoạch có nhiềuhoa Ban là biểu tượng của Điện Biên nói riêng và Tây Bắc nói chung
Thảm thực vật khá phong phú với độ che phủ khá cao vừa tạo nên môi trườngkhí hậu tốt vừa là đối tượng nghiên cứu của khách du lịch Hoa Ban có thể tổ chứcthành rừng cây chuyên đề bên cạnh những loại hoa khác như Dã quỳ hay Anh đào (từNhật Bản) phục vụ nhu cầu tham quan của khách du lịch
1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội của khu du lịch
1.2.1 Điều kiện kinh tế - xã hội thành phố Điện Biên Phủ
a) Lược sử hình thành và phát triển thành phố: Thời Hùng Vương, Mường
Thanh thuộc bộ Tân Hưng nước Văn Lang Thời Lý thuộc châu Lam Tây, thời Trầnthuộc lộ Đà Giang châu Ninh Viễn Thời Lê thuộc châu Phục Lễ trấn Gia Hưng Thời
Trang 17Lê Thánh Tông năm 1469 thuộc phủ An Tây thừa tuyên Hưng Hóa Năm 1775 chúaTrịnh đặt là thủ phủ của châu Ninh Biên Năm 1841 đời Thiệu Trị đổi là Điện Biên.Năm 1754, lãnh tụ nông dân Hoàng Công Chất lãnh đạo nhân dân vùng Tây Bắcnổi lên khởi nghĩa chống lại triều đình, đã lấy Điện Biên Phủ làm căn cứ chính và xâydựng thành Bản Phủ làm căn cứ lãnh đạo nghĩa quân trong nhiều năm và phát triển lựclượng cả một vùng rộng lớn Tây Bắc Bộ.
Vào thế kỷ XIX dưới chế độ thuộc địa của thực dân Pháp, phủ Điện Biên trởthành trung tâm điều hành, hành chính của khu vực phía Nam tỉnh Lai Châu Năm
1953 thực hiện kế hoạch Nava, thực dân Pháp đổ quân xuống lòng chảo Điện BiênPhủ với ý đồ xây dựng căn cứ chiến lược về quân sự, khống chế và thôn tính ĐôngDương và phía Nam Trung Quốc, phía Bắc Lào
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ ngày 07/5/1954, Điện Biên Phủ trở thành một địadanh lịch sử mang tầm thời đại, được xây dựng thành một trung tâm hành chính, vănhóa của huyện Điện Biên Ngày 18/4/1992, Hội đồng Bộ trưởng đã Quyết định130/HĐBT thành lập thị xã Điện Biên Phủ thuộc tỉnh Lai Châu và di chuyển địa điểmtỉnh lỵ Lai Châu về thị xã Điện Biên Phủ Ngày 26/9/2003 theo Nghị định số110/2003/NĐ của Chính phủ thành phố Điện Biên Phủ được thành lập với quy môkhoảng 6.427 ha bao gồm 7 phường (Mường Thanh, Tân Thanh, Thanh Bình, NoongBua, Him Lam, Nam Thanh, Thanh Trường) và 2 xã (Thanh Minh và Tà Lèng)
b) Hiện trạng dân số, lao động và điều kiện kinh tế - xã hội:
Theo số liệu Niên giám thống kê dân số thành phố Điện Biên Phủ đến năm 2013
có khoảng 75.600 người, trong đó thành thị chiếm 96,55 %, nông thôn chiếm 3,45 %.Mật độ dân cư còn thấp và phân bố không đều Mật độ dân số bình quân 50,2 người/
km2 Tỷ lệ tăng dân số trung bình là 1,6%/năm trong đó tăng tự nhiên 0,58%/năm vàtăng cơ học là 1,02%/năm
Năm 2013, kinh tế thành phố Điện Biên Phủ đạt tỷ lệ tăng trưởng 15% đến
16%, thu nhập bình quân đạt gần 53 triệu đồng (2.577 USD)/người/năm; thu ngân sáchtrên địa bàn đạt 150,5 tỷ đồng
Bảng 1 Thực trạng dân số thành phố Điện Niên Phủ năm 2013
3 Mật độ dân số nội thành 2.947 người/km2
5 Tỷ lệ tăng dân số (%) 1,6 (tăng tự nhiên 0,58; tăng cơ học 1,02)
6 Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp (%) 80%
Nguồn: Quy hoạch chung xây dựng thành phố Điện Biên Phủ đến năm 2030, tầm nhìn 2050
17
Trang 18Tuy nhiên, trong quá trình phát triển thành phố đã bộc lộ một số bất cập như:Quỹ đất dành cho các công trình đầu mối hạ tầng thiếu, quỹ đất phát triển các khu dulịch quy mô lớn, các cụm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, các trung tâm thươngmại, dịch vụ, các trường chuyên nghiệp… đều có hạn chế, môi trường cảnh quan sôngNậm Rốm và một số khu vực bị ảnh hưởng.
Theo quy hoạch phát triển thành phố, quy mô dân số như sau:
- Giai đoạn đến năm 2015: 125.000 người, tỷ lệ tăng dân số trung bình 6,35%
- Giai đoạn đến năm 2020: 165.000 người, tỷ lệ tăng dân số trung bình 5,74%
- Giai đoạn đến năm 2030: 250.000 người, tỷ lệ tăng dân số trung bình 4,24%
1.2.2 Điều kiện kinh tế - xã hội các xã Pá Khoang, Mường Phăng:
Xã Pá Khoang và xã Mường Phăng trước đây là một xã Mường Phăng, năm 2013được tách thành hai xã đều thuộc huyện Điện Biên
Xã Mường Phăng có số dân 4.710 người Xã Pá Khoang dân số 4.150 người,trong đó dân tộc Kinh có 3 người, dân tộc Thái 2.578 người, dân tộc Mông 28 người,dân tộc Khơ Mú 1.542 người (theo số liệu năm 2013)
Đây là hai xã có tiềm năng phát triển kinh tế nông nghiệp, lâm nghiệp Tuy nhiênthu nhập hiện tại còn thấp với bình quân 450 kg thóc/người một năm Đời sống dân cưcòn nghèo Năm 2013, số hộ nghèo trên địa bàn 2 xã theo tiêu chí mới chiếm 26,64%;
hộ cận nghèo chiếm 14,1% trong tổng số dân cư tại đây
1.2.3 Các hành lang tăng trưởng kinh tế trong nước và quốc tế:
Nhờ vị trí địa kinh tế chiến lược, khu du lịch Điện Biên Phủ - Pá Khoang nằmtrên các hành lang kinh tế quan trọng:
- Hành lang trung tâm: Hà Nội - Điện Biên Phủ - Viêng Chăn (CHDCND Lào)dọc quốc lộ 6 và quốc lộ 279 (AH 13) có dự kiến đường sắt liên vận
- Hành lang Bắc - Nam: Điện Biên Phủ - Mường Lay - Vân Nam (Trung Quốc)theo quốc lộ 12 có dự kiến đường sắt đi Côn Minh, Lệ Giang Trung Quốc
Hành lang Đông Tây: Dọc quốc lộ 279: Điện Biên Lào Cai Yên Bái Tuyên Quang - Bắc Cạn - Thái Nguyên - Bắc Giang - Quảng Ninh
Hành lang Tây Bắc: Phong Sa Lỳ, U Đôm Say Luông Pha Băng(CHDCND Lào) - Điện Biên Phủ - Mường Chà - Mường Nhé - Vân Nam (TrungQuốc)
1.2.4 Các chương trình, dự án có liên quan trên địa bàn: Là khu vực có nhiều
đồng bào các dân tộc thiểu số sinh sống, điều kiện kinh tế còn khó khăn, thời gian quađược sự quan tâm của Đảng và Chính phủ, trên địa bàn khu vực quy hoạch đang triểnkhai nhiều Chương trình mục tiêu quốc gia, dự án thuận lợi cho phát triển du lịch gồm:
- Việc làm và dạy nghề;
Trang 19- Ứng phó với biến đổi khí hậu;
- Xây dựng nông thôn mới;
- Đưa thông tin về cơ sở miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo;
- Khắc phục và cải thiện ô nhiễm môi trường
Các chương trình, dự án trên có tác dụng rất tích cực trong việc lồng ghépnguồn vốn phát triển hạ tầng nông thôn với phát triển hạ tầng khu du lịch
2 Đánh giá các đặc điểm tài nguyên du lịch và khả năng khai thác phát triển khu du lịch
2.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên
Tài nguyên du lịch tự nhiên của khu du lịch gắn liền với các giá trị sinh thái,cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ, đặc trưng của núi rừng Tây Bắc
2.1.1 Các nguồn tài nguyên chính:
a) Hồ Pá Khoang: Hồ Pá Khoang nằm ở địa phận xã Pá Khoang, huyện Điện
Biên, kề trục quốc lộ 279, cách Thành phố Điện Biên Phủ gần 20 km (nếu theo QL
279 là 30 km) và là cầu nối Điện Biên Phủ với rừng nguyên sinh Mường Phăng, nơi có
di tích Sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ Lưu vực hồ có tổng diện tích 2.400 hatrong đó diện tích rừng 1.320 ha, đất nông nghiệp 300 ha, đất xây dựng cơ bản 150 ha,diện tích mặt nước là 600 ha (có sức chứa là 37,2 triệu m3 nước)
Hồ Pá Khoang là một trong những tiềm năng du lịch sinh thái có giá trị Theo kếtquả khảo sát, khu vực hồ Pá Khoang có thảm thực vật phong phú, địa hình đa dạng,khí hậu tốt thích hợp cho việc nghỉ dưỡng Trong các thảm rừng quanh hồ có nhiềuthú và nhiều loại hoa phong lan đủ chủng loại Dưới hồ có nhiều loài cá và thực vậtnổi (đã thống kê được khoảng 65 loài thực vật nổi, 14 loài động vật nổi, 6 loài độngvật đáy ) Hồ Pá Khoang nằm ở trung tâm nhiều ngọn núi, giữa một vùng thiên nhiêncảnh đẹp hùng vĩ, ẩn hiện trong mây trời non nước Vào mùa đông sương mờ buôngphủ tạo một phong cảnh huyền ảo, thấp thoáng nơi xa những dãy núi trập trùng, nhữngnếp nhà sàn xinh xắn Mùa hè không khí ở hồ Pá Khoang rất dễ chịu, những luồng gióNam mát dịu, vút tầm mắt ra xa ngắm mây trời non nước hoặc chèo thuyền du ngoạn,ngắm cảnh Tất cả tạo một khung cảnh êm đềm, thơ mộng, một thắng cảnh quyến rũlòng người
19
Trang 20Bên cạnh các giá trị tự nhiên, trong khu vực hồ Pá Khoang có các bản dân tộcThái, Khơ Mú sinh sống và còn giữ được các phong tục tập quán, nét đặc sắc của cácdân tộc Tây Bắc vốn có là nguồn tài nguyên du lịch nhân văn hấp dẫn.
b) Rừng văn hóa - lịch sử Mường Phăng: Mường Phăng, nơi có sở Chỉ huy chiến
dịch Điện Biên Phủ là khu rừng đặc dụng với diện tích khoảng 962 ha Rừng MườngPhăng có hệ sinh thái đa dạng phù hợp với các hoạt đông du lịch sinh thái Bên cạnh
đó trong rừng có các đỉnh Pu Uốt và Pu Tó Cọ cao nhất lòng chảo Điện Biên (xấp xỉ1.896 m), là nơi Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong thời gian chiến dịch Điện Biên Phủthường lên thị sát chiến trường Điện Biên Phủ Địa hình khu vực thuận lợi để pháttriển du lịch thể thao, khám phá, vọng cảnh…
Pá Khoang và Mường Phăng nằm trong khu vực đã được quy hoạch thành khubảo tồn loài - sinh cảnh cấp quốc gia với diện tích hơn 10.000 ha nằm trên các xã NàNhạn, Pá Khoang, Mường Phăng (huyện Điện Biên), Thanh Minh (thành phố ĐiệnBiên Phủ), Pú Nhi (huyện Điện Biên Đông) Đây cũng là những tiền đề thuận lợi choviệc khai thác các điểm tài nguyên này phục vụ du lịch sinh thái
2.1.2 Các điểm tài nguyên phụ trợ:
a) Hồ Huổi Phạ: Hồ Huổi Phạ nằm ở phía Đông Bắc thành phố Điện Biên Phủ,
cách trung tâm thành phố 3 km Diện tích hồ khoảng 30 ha
Hồ Huổi Phạ có 4 phía đồi núi, độ cao trung bình mặt nước hiện tại là + 505 m
Độ cao của các đường ven hồ là + 507 m Các sườn đồi núi đều dốc thoải về phía hồ.Đặc điểm là đồi núi ở đây có các hình dáng phong phú, đa dạng và đẹp Độ cao củanúi lới nhất là + 574 m, thấp nhất là + 506 m Là một trong những tiềm năng phát triển
du lịch sinh thái của thành phố Điện Biên Phủ nói riêng và tỉnh Điện Biên nói chung
b) Động Pa Thơm: Động Pa Thơm thuộc xã Pa Thơm, phía Tây huyện Điện
Biên, giáp với biên giới Việt - Lào Nhân dân địa phương gọi động là “Thẩm NangLai” (hang nhiều Nàng Tiên Hoa) Động được khám phá cách đây khá lâu cùng vớinhững huyền thoại, truyền thuyết đẹp về tình yêu đôi lứa
Động Pa Thơm nằm ở lưng chừng núi, cửa động hình mái vòm, cửa cao 12 m,rộng 17 m, mái đá nhô ra 7 m Chiều sâu động khoảng hơn 350 m Động có 9 vòm lớnnhỏ, chiều ngang có chỗ rộng chừng 20 m Đây là điểm tham quan du lịch hấp dẫn
c) Nước nóng U Va: Nước khoáng nóng U Va thuộc địa phận bản U Va, xã
Noong Luống huyện Điện Biên, cách thành phố Điện Biên Phủ khoảng 17 km về phíaNam Với nhiệt độ thường xuyên đạt khoảng 700C đến 80oC, nước nóng U Va có khảnăng phục vụ nghỉ dưỡng chữa bệnh Ngoài ra, bên cạnh nước nóng là hồ U Va rộngkhoảng 9 ha có thể ngăn giữ nước thành hồ sinh thái và vui chơi giải trí Đây có thểcoi là điểm tài nguyên du lịch tự nhiên kết hợp tâm linh có giá trị phục vụ nghỉ dưỡng,chữa bệnh của khu vực Điện Biên Phủ và phụ cận
Trang 21d) Nước nóng Hua Pe: Suối nước nóng Hua Pe nằm ở xã Thanh Luông, huyện
Điện Biên cách thành phố Điện Biên Phủ 10 km về phía Tây, giáp biên giới Việt - Làotrong vùng cảnh quan thiên nhiên phong phú Với nhiệt độ nước suối thường xuyênđạt khoảng 600C đến 700C, nước nóng Hua Pe có khả năng phục vụ nghỉ dưỡng, chữabệnh Hiện nay tại đây đã được đầu tư xây dựng thành khu du lịch nghỉ dưỡng, trởthành điểm du lịch gắn kết giữa sinh thái và văn hóa lịch sử, một trong những điểm vệtinh của trung tâm du lịch thành phố Điện Biên Phủ
đ) Hồ Noong U: Hồ Noong U nằm ở địa phận bản Tìa Ló, xã Pú Nhi, huyện Điện
Biên Đông Đây là hồ tự nhiên trên núi Tuy hồ có diện tích không lớn nhưng cảnhquan sơn thuỷ hữu tình với truyền thuyết hay về hồ tạo nên nhiều tiềm năng khai thácloại hình du lịch sinh thái, tham quan tìm hiểu
e) Sông Nâm Rốm: Sông Nậm Rốm khởi nguồn từ dãy Pú Huổi Luông (tiếng dân
tộc Thái nghĩa là núi suối to), trên độ cao hơn 2.100 m chảy qua thành phố Điện BiênPhủ sang Lào đổ vào nhánh sông Mê Kông Đoạn chảy qua khu vực quy hoạch dàikhoảng 20 km có cảnh quan thơ mộng gắn liền với di tích cầu Mường Thanh và chiếnthắng Điện Biên Phủ Sông Nậm Rốm là tài nguyên du lịch sinh thái kết hợp vui chơigiải trí cuối tuần của dân cư thành phố Điện Biên Phủ
2.2 Tài nguyên du lịch nhân văn
2.2.1 Hệ thống di tích lịch sử - văn hóa: Các giá trị nổi bật về lịch sử, văn hóa
của quần thể di tích lịch sử Chiến trường Điện Biên Phủ là cốt lõi để khai thác phát
triển du lịch cho khu du lịch
a) Quần thể di tích ở trung tâm thành phố Điện Biên Phủ: Quần thể di tích Chiến
trường Điện Biên Phủ bao gồm các hạng mục như đồi Him Lam, nơi xảy ra trận đánh
mở màn chiến dịch; đồi A1 nơi xảy ra trận đánh hết sức ác liệt, ta và địch giành nhautừng tấc đất; cầu Mường Thanh, nơi quân ta vượt qua để tiến công vào sào huyệt cuốicùng của giặc Pháp; Nghĩa trang Liệt sĩ đồi A1, nơi yên nghỉ của các những người con
đã làm nên bản anh hùng ca lịch sử; Bảo tàng Điện Biên Phủ với những hình ảnh sinhđộng chiến trường xưa; các đồi D1, C1(Êlian 1), C2 (Êlian 4), E1(Dominique); đườngkéo pháo; trận địa bao vây; hầm chỉ huy của tướng bại trận Đờ Cát , tất cả được quy
tụ thành một cụm di tích liên hoàn như một bức tranh gợi lên khung cảnh cuộc chiếntranh nhân dân thần kỳ vừa sống động vừa sâu lắng Đây thực sự là một bài học lịch sử
vẻ vang được lưu lại bằng hình ảnh hiện vật
Từ lâu, các di tích lịch sử Chiến trường Điện Biên Phủ luôn là điểm thu hútkhách du lịch đến Điện Biên Sau dịp kỷ niệm 50 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ(tháng 5/2004), nhiều hạng mục công trình trong quần thể di tích đã được tôn tạo vàxây dựng thêm như tượng đài Chiến thắng trên đồi D1, trung tâm hội nghị hội thảo,chỉnh trang các di tích ở khu nghĩa trang liệt sĩ đồi A1, Mường Phăng, đường kéopháo , càng làm cho giá trị của cụm di tích đối với hoạt động du lịch được tăng lên Tượng đài Chiến thắng Điện Biên Phủ có chất liệu bằng đồng với kích thước và
21
Trang 22trọng lượng lớn nhất nước ta (220 tấn), được xây dựng hoành tráng trên đồi D1 thẳnghướng trục chính từ sân bay vào trung tâm thành phố Tượng đài là biểu tượng cho ýchí lớn lao của chiến thắng Điện Biên Phủ, niềm tự hào của người dân Việt Nam tronglịch sử chống giặc ngoại xâm và trở thành điểm tham quan du lịch hấp dẫn kể từ saudịp kỷ niệm 50 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ (năm 2004).
Là di tích lịch sử cấp quốc gia từ năm 1962, cấp quốc gia đặc biệt từ năm 2009,quần thể di tích lịch sửChiến trường Điện Biên Phủ trở thành nguồn tài nguyên du lịch
có giá trị đặc biệt
b) Sở Chỉ huy Chiến dịch Điện Biên Phủ tại Mường Phăng: Sở Chỉ huy Chiến
dịch Điện Biên Phủ nằm trong khu rừng nguyên sinh thuộc địa phận xã Mường Phăng,huyện Điện Biên cách thành phố Điện Biên Phủ 25 km về phía Đông Bắc (theo đườngchim bay) Tại đây hiện còn lưu giữ được nhiều di tích có giá trị lịch sử tiêu biểu nhưhầm Đại tướng Võ Nguyên Giáp, hầm Thiếu tướng Hoàng Văn Thái
Ngoài giá trị lịch sử - văn hoá, rừng Mường Phăng còn là một trong những khubảo tồn tự nhiên với nhiều loại động thực vật quý hiếm của tỉnh Điện Biên Tuy nằm ở
vị trí ngoại vi thành phố Điện Biên Phủ nhưng Sở Chỉ huy Chiến dịch Điện Biên Phủcũng là một điểm tài nguyên du lịch không thể tách rời trong quần thể di tích lịch sửChiến trường Điện Biên Phủ
Quần thể di tích lịch sử Chiến trường Điện Biên Phủ ở trung tâm thành phố cùngvới Sở chỉ huy Chiến dịch ở Mường Phăng là tài nguyên du lịch nổi bật, yếu tố cốt lõilàm nên khu du lịch Điện Biên Phủ - Pá Khoang
Dựa trên đặc điểm về tài nguyên, hướng khai thác phát triển sản phẩm du lịch tậptrung vào các giá trị lịch sử hào hùng của Chiến thắng Điện Biên Phủ như du lịchchiến trường xưa, giáo dục, nghiên cứu, tìm hiểu, tri ân, tâm linh và du lịch gắn liềnvới các sự kiện đặc biệt (MICE)
c) Bia tưởng niệm Noong Nhai: Bia tưởng niệm Noong Nhai thuộc địa phận xãThanh Xương, huyện Điện Biên, nơi xảy ra vụ thảm sát đẫm máu của Thực dân Phápgiết hại 444 đồng bào các dân tộc Điện Biên vào ngày 25 tháng 4 năm 1954 khi màChiến dịch Điện Biên Phủ đang diễn ra vô cùng ác liệt Di tích là nơi khắc sâu tội áccủa thực dân Pháp đối với dân tộc ta, bài học lịch sử về nhân cách
d) Thành Bản Phủ và đền thờ Hoàng Công Chất: Thành Bản Phủ và đền Hoàng
Công Chất nằm ở Bản Phủ, xã Noong Hẹt, huyện Điện Biên, cách thành phố ĐiệnBiên Phủ khoảng 7 km về phía Tây Nam Thành Bản Phủ là một kỳ tích về xây dựngthành Thành rộng hơn 80 mẫu (hơn 28 ha), sau lưng là dòng Nậm Rốm, có đườngthành đắp bằng đất trồng tre gai mang từ xuôi lên vây kín Ngoài có hào sâu, trên mặtthành ngựa, voi đi lại được Thành có các cửa: tiền, hậu, tả, hữu Mỗi cửa có đồn cao
và vọng gác Hiện còn di tích khu quân lương, kho vũ khí, nơi chăn ngựa, voi có thểphục vụ khách tham quan, tìm hiểu
Trang 23Đền thờ Hoàng Công Chất được xây ở trung tâm thành Bản Phủ để thờ họ Hoàng
và 6 thủ lĩnh nghĩa quân là di tích lịch sử - văn hoá quan trọng của địa phương ghi lạicông lao to lớn của lãnh tụ Hoàng Công Chất trong cuộc chiến tranh giải phóng ĐiệnBiên Ngoài ra, đền còn là nơi tín ngưỡng của nhân dân trong ngày rằm, đầu xuân nămmới, nhất là ngày lễ hội truyền thống vào ngày 24 và ngày 25 tháng hai âm lịch hàngnăm Tại đây có thể phát triển loại hình du lịch văn hoá tâm linh
đ) Thành Tam Vạn: Thành Tam Vạn hay còn gọi là thành Sam Mứn (theo tiếng
Thái) nằm ở phía Nam cánh đồng Mường Thanh, huyện Điện Biên, cách trung tâmthành phố Điện Biên Phủ hơn 10 km Thành được xây dựng vào khoảng thế kỷ X, XI
và là trung tâm kinh tế, chính trị và văn hóa, dinh lũy kiên cường của Tây Bắc trongcông cuộc bảo vệ Tổ quốc, chống giặc ngoại xâm Ngày nay dấu tích thành vẫn còn, làđiểm tài nguyên du lịch văn hóa, lịch sử phục vụ khách tham quan tìm hiểu
e) Tháp Mường Luân: Tháp Mường Luân nằm ở địa phận xã Mường Luân,
huyện Điện Biên Đông được xây dựng từ thế kỷ XVI do các dân tộc Việt và Lào xâydựng Đây là công trình kiến trúc nghệ thuật có giá trị tham quan nghiên cứu Hiệnnay, việc tiếp cận đến tháp Mường Luân còn khó khăn nhưng về lâu dài đây là mộtđiểm tham quan trong chuỗi hành trình tìm hiểu văn hoá các dân tộc Tây Bắc củakhách du lịch
2.2.2 Lễ kỷ niệm, lễ hội văn hóa dân gian: Điện Biên là vùng đất sinh sống của
19 dân tộc trong số 54 dân tộc Việt Nam trong đó có những dân tộc mà cả Việt Namchỉ có ở Điện Biên và Lai Châu như La Hủ, Mảng Ư, Si La, Cống Mỗi dân tộc cótruyền thống văn hoá mang bản sắc riêng tạo nguồn cảm hứng vô tận cho du kháchđến tìm hiểu và nghiên cứu
Truyền thống văn hoá của các dân tộc sinh sống ở tỉnh Điện Biên đều rất phongphú, mang đậm bản sắc dân gian được thể hiện qua các lễ hội - một hình thức sinhhoạt văn hoá đặc sắc phản ánh đời sống tâm linh của các dân tộc trong tỉnh - có khảnăng lôi cuốn du khách rất cao Một số lễ hội gồm điển hình của Điện Biên là:
- Lễ kỷ niệm Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ: Là ngày lễ lớn và quan trọng
nhất của tỉnh, có ý nghĩa quốc gia và quốc tế được tổ chức vào ngày mồng 7 tháng 5hàng năm với nghi thức rất long trọng đặc biệt 5 năm một lần với các năm kỷ niệm 60năm; 65 năm; 70 năm và 75 năm (trong giai đoạn quy hoạch) Cùng với lễ kỷ niệmChiến thắng Điện Biên Phủ là Năm du lịch quốc gia, trong đó có tuần Văn hóa Du lịchtỉnh Điện Biên với các hoạt động như Hội thảo khoa học, Hội chợ Du lịch Điện Biên Đây là một trong những cơ hội lớn để quảng bá và thu hút khách du lịch trong nước vàquốc tế
- Lễ hội thành Bản Phủ: Là lễ hội lớn của nhân dân các dân tộc tỉnh Điện Biên.
Lễ hội là dịp tưởng nhớ công lao to lớn của thủ lĩnh nghĩa quân Hoàng Công Chấttrong công cuộc giải phóng Điện Biên lần thứ nhất vào thế kỷ thứ 17 Lễ hội được tổchức vào ngày 24 và ngày 25 tháng hai âm lịch hàng năm tại Bản Phủ với các phần lễ,phần hội, văn hóa ẩm thực dân tộc, múa, hát, biểu diễn các tiết mục thể thao và nhiều
23
Trang 24hình thức văn hóa khác của các dân tộc địa phương rất hấp dẫn khách du lịch.
- Hội Hoa Ban Tây Bắc: Hoa Ban là biểu trưng của núi, rừng Tây Bắc Lễ hội
hoa Ban là lễ hội của đồng bào Thái được tổ chức hàng năm vào dịp tháng 2 âm lịch.Đây vừa là hội giao duyên của nam nữ thanh niên vừa là hội cầu phúc, cầu mùa mang
âm hưởng mùa xuân Tây Bắc và bản sắc văn hóa Thái Ngày nay lễ hội Hoa Ban đangđược nâng lên tầm quốc gia thành lễ hội lớn thu hút khách du lịch
- Hội tung còn: Một sinh hoạt văn hóa đặc sắc của thanh niên nam nữ dân tộc
Thái ở Điện Biên được tổ chức hàng năm vào dịp đầu xuân Hội này không chỉ hấpdẫn khách ở bản sắc văn hóa dân tộc Thái mà còn ở chỗ du khách có thể được thamgia cùng với dân bản địa, là sở thích của du khách hiện nay
Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh còn có một số lễ hội như hội Xòe hoa, lễ Cúng cơmmới của người Sila; lễ Cúng bản của người Cống; lễ hội Mừng măng mọc của ngườiMảng, Kháng, La Hủ, Khơ Mú; lễ Tủ cải của người Dao.v.v…Tất các các lễ hội đềugắn liền với bản văn hoá dân tộc rất có ý nghĩa đối với các hoạt động du lịch tìm hiểu,nghiên cứu bản sắc văn hóa các dân tộc miền núi Tây Bắc Việt Nam
2.2.3 Làng nghề truyền thống: Trên địa bàn tỉnh, nghề thủ công truyền thống
của đồng bào các dân tộc được chia thành 5 nhóm: sản phẩm dệt thổ cẩm, sản phẩmmây tre đan, sản xuất các nhạc cụ truyền thống, sản phẩm kim hoàn và sản phẩm mộc
mỹ nghệ. Nghề dệt thổ cẩm mang đường nét hoa văn đặc sắc của núi rừng tạo ấn tượngtrong lòng du khách trong và ngoài nước gắn với các bản dân tộc Thái, Khơ Mú, Dao,
ưa thích tìm hiểu, trải nghiệm
2.2.5 Các tài nguyên du lịch nhân văn khác: Các điệu hát tình đằm thắm, múa
khèn, múa sạp, múa xoè hoa của dân tộc Thái kết hợp với các điệu múa cồng chiêng,tất cả là biểu tượng của bản sắc văn hoá vùng Tây - Bắc đang được phát triển trongtừng bản làng ở Điện Biên Múa Xoè hoa là nét sinh hoạt văn hoá phổ biến của đồngbào Thái ở Điện Biên Đó là hình thức múa hát tập thể, mọi người cầm tay nhau múatheo vòng tròn khép kín hoà theo nhịp trống chiêng uyển chuyển, đẹp mắt, mê saylòng người Các loại hình văn nghệ dân gian trên đều gắn liền với các lễ hội, các bảndân tộc trong hoạt động du lịch cộng đồng
Ngoài ra, Điện Biên còn là địa bàn có truyền thống về các môn thể thao dân tộcnhư vật, ném còn, đánh quay, bắn nỏ.v.v , được thể hiện trong các lễ hội đã nêu trên.Các hình thức thể thao dân tộc ở Điện Biên đều có giá trị để khai thác nét văn hóa dângian truyền thống phục vụ du lịch
Trang 252.3 Tài nguyên du lịch khác
Cửa khẩu Tây Trang, nằm cách trung tâm thành phố khoảng 30 km về phái TâyNam là cửa khẩu quốc tế đường bộ nằm trên trục xuyên Á (AH13) với Cộng hòa Dânchủ Nhân dân Lào và tiếp đến các nước ASEAN Đây là tài nguyên du lịch biên giới
để khai thác loại hình du lịch thương mại, quá cảnh qua cửa khẩu của tỉnh Điện Biênnói chung và khu du lịch Điện Biên Phủ - Pá Khoang nói riêng Du lịch biên giới cóthể khai thác kết hợp với cửa khẩu Huổi Puốc - Na Son trên địa bàn huyện Điện Biên.Qua đánh giá hệ thống tài nguyên du lịch có thể nhận thấy tài nguyên du lịch củakhu du lịch được phân bố theo 3 cụm chính:
- Khu vực nội thành thành phố Điện Biên Phủ: Tập trung các tài nguyên du lịch
nhân văn gắn liền với quần thể di tích lịch sử - văn hóa Chiến thắng Điện Biên Phủ trởthành cốt lõi phát triển khu du lịch;
- Khu vực hồ Pá Khoang: Tập trung các tài nguyên sinh thái hồ, rừng, cảnh quan
thiên nhiên, bản dân tộc
- Khu vực Mường Phăng: Tập trung các tài nguyên tự nhiên và nhân văn của
rừng văn hóa - lịch sử Mường Phăng, di tích Sở chỉ huy Chiến dịch Điện Biên Phủ
Ba cụm tài nguyên tập trung này là tiền đề hình thành các khu chức năng chínhcủa khu du lịch Các điểm tài nguyên phụ cận sẽ là cơ sở cho việc phát triển đa dạnghóa sản phẩm cho khu du lịch
Tuy nhiên, khu vực thành phố Điện Biên Phủ tập trung hầu hết các hạng mụcthuộc quần thể di tích cấp quốc gia đặc biệt, được bảo tồn nghiêm ngặt nên hạn chếphát triển các công trình du lịch
3 Đánh giá hệ thống kết cấu hạ tầng, vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch
3.1 Hiện trạng và các dự án phát triển giao thông khu du lịch
3.1.1 Giao thông đối ngoại: Thành phố Điện Biên Phủ là trung tâm chính trị,
kinh tế, văn hóa và là đầu mối giao lưu của vùng Tây Bắc và tỉnh Điện Biên có vị tríthuận lợi về giao thông đường bộ, hàng không
a) Đường Bộ: Trên địa bàn tỉnh Điện Biên có 4 tuyến quốc lộ là quốc lộ 6, quốc
lộ 279, quốc lộ 12 và quốc lộ 4H Tuy nhiên, ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động khu
du lịch là quốc lộ 279 và quốc lộ 12
- Quốc lộ 279 (sau nối với quốc lộ 6 tạo thành AH13) là tuyến đường huyết mạchliên tỉnh nối các tỉnh miền núi phía Bắc là Quảng Ninh, Bắc Giang, Lạng Sơn, BắcKạn, Tuyên Quang, Hà Giang, Lào Cai, Lai Châu, Sơn La và Điện Biên với nhau.Toàn tuyến dài 745 km, dài thứ tư trong các quốc lộ ở Việt Nam sau quốc lộ 1A, quốc
lộ 14 và quốc lộ 15 Quốc lộ 279 từ Tuần Giáo đi qua trung tâm thành phố Điện BiênPhủ lên cửa khẩu Tây Trang Đây là tuyến giao thông đối ngoại quan trọng nhất củakhu du lịch Mặt đường rộng 7,5 m, trong đó lòng đường 5,5 m; lề 2 x 1 m, chất lượngtốt, đạt tiêu chuẩn cấp IV miền núi
25
Trang 26- Quốc lộ 12 là tuyến đường liên tỉnh nối 2 tỉnh vùng Tây Bắc Việt Nam là LaiChâu và Điện Biên với nhau, dài 200 km Đường đạt tiêu chuẩn cấp IV miền núi.Điểm đầu của tuyến tại thị xã Lai Châu trùng với điểm cuối của quốc lộ 4C Quốc lộ
12 chạy men theo bờ trái của sông Nậm Na (một chi lưu của sông Đà) qua huyện TamĐường - Phong Thổ - Sìn Hồ - Mường Chà Điểm cuối tại nơi giao với quốc lộ 279 tạinơi giáp ranh giữa ba xã Noong Luống, Noong Hẹt, Sam Mứn của huyện Điện Biên.b) Đường không: Sân bay Mường Thanh hay còn gọi là sân bay Điện Biên Phủnay thuộc phường Thanh Bình, thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên Đây vốn làsân bay dã chiến, cứ điểm 206 năm xưa, một căn cứ tiếp vận rất quan trọng của Pháp
và cũng là sân bay trung tâm của tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ
Ngày nay, sân bay đã được cải tạo, nâng cấp thành một cảng hàng không dândụng của thành phố Điện Biên Phủ Sân bay có:
Đài kiểm soát không lưu
Hệ thống ra đa dẫn đường
Đường băng bê tông xi măng để hạ, cất cánh, dài 1.830 m, rộng 30 m
Đường lăn, sân đỗ rộng 7.500 m2 với 4 vị trí đỗ máy bay Nhà ga hành kháchrộng 2.500 m2 với trang thiết bị và công nghệ hiện đại, phục vụ một lúc cả chuyến bayquốc tế và nội địa
Sân bay Điện Biên Phủ là sân bay lớn nhất miền Tây Bắc Việt Nam Sân bay cómột đường cất hạ cánh dài 1.830 m, rộng 30 m, bề mặt bê tông xi măng Sân đỗ máybay rộng 522 m2 Nhà ga hành khách rộng 2.400 m2
Hiện tại, sân bay thực hiện ngày 2 chuyến Hà Nội - Điện Biên và Điện Biên - HàNội, một số ngày đặc biệt có thể tăng lên 4 chuyến trên ngày và có khả năng đáp ứngmỗi ngày 4 chuyến bay, hạ cánh một giờ cao điểm
Hướng phát triển: Quy hoạch phát triển cảng hàng không trên địa bàn tỉnh Điện
Biên tuân theo Quyết định số 21/QĐ- TTg ngày 08/01/2009 về việc phê duyệt “Phêduyệt Quy hoạch phát triển giao thông vận tải hàng không giai đoạn đến năm 2020 vàđịnh hướng đến năm 2030” và Quyết định số 03/QĐ-BGTVT ngày 03/01/2006 của Bộtrưởng Bộ Giao thông vận tải về việc phê duyệt “Quy hoạch tổng thể cảng hàng khôngĐiện Biên Phủ (Giai đoạn đến 2015 và định hướng đến 2025) Hướng phát triển cảnghàng không Điện Biên Phủ như sau:
- Vai trò, chức năng: Là cảng hàng không nội địa có hoạt động bay quốc tế
- Tính chất sử dụng: sân bay dùng chung dân dụng và quân sự
- Quy mô: Cảng hàng không đạt cấp 3C theo tiêu chuẩn ICAO và sân bay quân
sự cấp II, đảm bảo phục vụ ban ngày các loại máy bay ATR72/F70 hoặc tương đương.Công suất cảng 300.000 hành khách/năm
Trang 27- Quy hoạch diện tích đất:
+ Tổng diện tích đất: 120,8 ha
+ Diện tích đất do Hàng không dân dụng quản lý: 13,2 ha
+ Diện tích đất dựng chung với quân sự: 72,3 ha
+ Diện tích đất do quân sự quản lý: 35,3 ha
Việc nâng cấp và phát triển sân bay Điện Biên Phủ để mở thêm đường bay vàtăng thêm tuyến bay từ các trung tâm du lịch lớn trên cả nước có ảnh hưởng rất lớnđến phát triển thị trường khách du lịch khu du lịch Điện Biên Phủ - Pá Khoang
3.1.2 Giao thông đối nội: Giao thông chính để nối trung tâm thành phố với hồ
Pá Khoang, xã Mường Phăng là đường bộ theo quốc lộ 279 đến khu vực xã Nà Nhạn(huyện Điện Biên) theo lối rẽ vào hồ Pá Khoang rồi đến Mường Phăng với tổng chiềudài gần 35 km
Ngoài ra có thể liên hệ từ trung tâm thành phố đến hồ Pá Khoang và MườngPhăng theo các tuyến:
- Trung tâm thành phố qua bản Nà Nghè xã Tà Lèng vào trung tâm hồ PáKhoang sau đó đi Mường Phăng dài khoảng 20 km;
- Trung tâm thành phố qua bản Nà Nghè xã Tà Lèng đi theo phía Nam và ĐôngNam hồ Pá Khoang sau đó đi Mường Phăng dài hơn 20 km;
Các tuyến đường trên đều đạt tiêu chuẩn cấp VI miền núi và đường giao thôngnông thôn A, xe ô tô nhỏ đi lại tương đối dễ dàng
Trong khu vực nội thành, mạng lưới giao thông toàn thành phố khá phát triển vớitổng chiều dài đường giao thông toàn thành phố là 68,476 km Trong đó giao thôngnội thị là 40,276 km Tổng chiều dài đường chính là 32,36 km Mật độ đường giaothông chính đạt mức 4,0 km/km2, đất xây dựng giao thông là 92,6 ha trong tổng số 539
ha đất xây dựng đô thị Tỷ lệ đất giao thông nội thị so với đất xây dựng đô thị đạt 17%(92,6 ha/539 ha) Trung tâm thành phố Điện Biên Phủ có 1 bến xe liên tỉnh, diện tích3.000 m2 là điểm tập kết đón trả khách của các phương tiện giao thông đường bộ từnhiều tỉnh trong cả nước Bình quân lưu lượng các loại xe khách tại bến khoảng 70xe/ngày đêm
Với hiện trạng về mạng lưới giao thông nội thị, khả năng liên kết các điểm tàinguyên du lịch trong khu du lịch khá thuận tiện Đây là cơ sở để hình thành tuyến dulịch trong không gian của khu du lịch
27
Trang 283.2 Hiện trạng và các dự án phát triển hạ tầng kỹ thuật khác (cấp điện, cấp nước, thoát nước, thông tin liên lạc…) trên địa bàn khu du lịch
3.2.1.Cấp điện
a) Nguồn điện: Khu vực quy hoạch hiện được cấp điện từ hai nguồn điện sau:
- Lưới điện quốc gia 110 KV: Sơn La – Tuần Giáo – Điện Biên Phủ (AC-185)thông qua trạm biến áp 110 KV (E21.2): 110/35/22 KV-25 KVA
- Nguồn điện tại chỗ: Thủy điện Thác Bay: 2400 KW và thủy điện Nà Lơi:
9300 KW (qua lưới điện 35 KV)
b) Lưới điện: Trên địa bàn thành phố Điện Biên Phủ có các tuyến điện sau:
- Tuyến 110 KV: Sơn La - Tuần Giáo - Điện Biên Phủ AC-185
- Lưới điện phân phối: Thành phố Điện Biên Phủ đang sử dụng 2 cấp điện củalưới phân phối là 35 KV và 22 KV, cụ thể:
+ 04 tuyến điện nổi 35 KV (xuất tuyến từ đoạn 110 KV, với tổng chiều dài 130
Km, với tiết diện dây dẫn AC-50 đến AC-95)
+ 03 tuyến điện nổi 22 KV (xuất tuyến từ trạm 110KV, với tổng chiều dài 85 Kmđến 87 Km, với tiết diện dây dẫn AC-50 đến AC-70)
- Trạm biến áp lưới: Trên địa bàn hiện có 38 trạm biến áp lưới 35/0.4KV và22/0.4 KV có tổng công suất đặt máy là: 10.985 KVA (trạm khách hàng: 11, công suất3.365 KVA; trạm do ngành điện quản lý: 27, công suất 7.620 KVA)
- Lưới điện 0,4 KV: Lưới điện hạ thế 0,4 KV của thành phố Điện Biên Phủ chủyếu dùng lưới điện nổi và có ở tất cả các khu vực của thành phố Tổng chiều dài củacác tuyến hạ thế hiện có khoảng 16 km Hiện tại đã có hơn 99% số hộ dân được cấpđiện lưới, chiếu sáng cho 83% tuyến phố Mức tiêu thu điện đạt bình quân 690KWh/người/năm
3.2.2. Cấp nước: Tính đến năm 2013 toàn thành phố có khoảng 70% dân số được
sử dụng nước sạch, 30% số dân sử dụng trực tiếp nước sông, suối bằng các hệ thốngnhư giếng khoan, hệ tự chảy và bể chứa nước mưa
Nhà máy nước Điện Biên nằm trong khu vực thành phố (cạnh hồ Huổi Phạ) từnguồn nước Nậm Khẩu Hu, công suất thiết kế là 16.000 m3/ngđ, vận hành công suất8.000 m3/ngđ và đang chuẩn bị xây dựng đơn nguyên 2 công suất 8.000 m3/ngđ
Khu vực các xã Pá Khoang và Mường Phăng dân cư sinh hoạt dùng hệ thốngnước mặt từ các dòng suối tự nhiên và giếng đào sâu từ 8 m đến 10 m
3.2.3. Thoát nước thải và vệ sinh môi trường: Thành phố Điện Biên Phủ đã có hệ
thống thoát nước chung nhưng chủ yếu tập trung ở các trục phố chính Hệ thống thoát
Trang 29gồm các cống ngầm, mương nắp đan, cống hộp Hệ thống này thoát nước chung cho
cả nước bẩn và nước mưa, cơ bản đã khắc phục được tình trạng ngập úng hàng năm(cá biệt còn ngập úng khi mưa lớn) Khu vực nội thị đã được đầu tư đường giao thông
có rãnh thoát nước chính đạt tỷ lệ 80% Hiện nay thành phố đang triển khai hàng loạtcác dự án thoát nước đồng bộ với đường giao thông
Các khu vực dân cư rải rác của thành phố thuộc các xã Tà Lèng, Thanh Minhchưa có hệ thống thoát nước mưa Khu vực dân cư hai xã Pá Khoang và Mường Phăngthoát nước tự chảy
3.2.4. Xử lý chất thải rắn: Thành phố hiện đã xây dựng khu xử lý chất thải rắn
diện tích khoảng 10 ha tại xã Noong Bua công suất thu gom 21,6 nghìn tấn/năm đạt80% Khu xử lý trên được sử dụng cho cả chất thải rắn của khu du lịch
3.2.5 Thông tin, bưu điện: Hiện có 6.887 hộ sử dụng máy điện thoại cố định và
4.900 máy điện thoại di động với chất lượng phục vụ hoàn hảo, tại khu vực thành phốđạt tỷ lệ 15 máy/100 dân Mạng internet cũng đã được cài đặt đã có nhiều cơ quan và
hộ gia đình thuê bao chất lượng tốt
Cùng với sự phát triển đồng bộ của các phương tiện thông tin liên lạc, phươngtiện nghe nhìn của thành phố Điện Biên Phủ cũng phát triển với tốc độ nhanh, trungtâm phát thanh và truyền hình tỉnh liên tục thu và phát các chương trình của đài Trungương và địa phương với thời lượng 40 h/ngày Tổng các thiết bị nghe nhìn khu vựcthành phố đạt khoảng 95%, bình quân 0,9 máy/hộ Hiện đã xây dựng một tháp truyềnhình hiện đại với chiều cao 134 m để mở rộng diện phủ sóng truyền hình kỹ thuật số
3.3 Hiện trạng hệ thống các công trình văn hóa, thể thao và cơ sở vật chất kỹ thuật khác
3.3.1 Các tiện nghi thể thao, vui chơi giải trí và tiện nghi khác: Các tiện nghi thể
thao, vui chơi giải trí như bể bơi, sân tennis, sân golf, câu lạc bộ, vũ trường, nhà hát,cinema là những loại hình vui chơi giải trí, thư giãn góp phần tạo nên sự hấp dẫn, thuhút du khách, làm tăng mức chi tiêu và kéo dài thời gian lưu trú của khách du lịch ởĐiện Biên hiện còn rất thiếu
Thành phố Điện Biên Phủ hiện có một sân tennis nằm trong khuôn viên kháchsạn Mường Thanh Ngoài ra trên địa bàn thành phố có một số phòng massage, 2 bể bơitrong khách sạn, nhiều địa điểm hát karaoke trong các khách sạn, nhà nghỉ tư nhânnhưng chất lượng không cao Thành phố Điện Biên Phủ cũng có một trung tâm hộinghị, hội thảo gần 500 chỗ ngồi phục vụ du lịch sự kiện
3.3.2 Cơ sở ăn uống: Theo số liệu thống kê, đến nay trên toàn thành phố Điện
Biên Phủ đã có 90 cơ sở nhà hàng ăn uống có quy mô từ 20 bàn ăn trở lên với khoảng1.200 đến 1.500 lao động có khả năng phục vụ khoảng trên dưới 10.000 lượt khách/ngày đêm Các cơ sở ăn uống ngoài khách sạn, tại các điểm tham quan đang dần đượcđầu tư hoàn thiện phục vụ du khách Các nhà hàng ăn uống phục vụ chủ yếu các món
ăn Việt Nam và các món ăn đặc sản của địa phương
29
Trang 304 Đánh giá hiện trạng sử dụng đất khu vực nghiên cứu quy hoạch
Tổng diện tích đất thuộc khu vực nghiên cứu quy hoạch khu du lịch 15.585 hatrong đó thành phố Điện Biên Phủ có 6.427 ha; xã Pá Khoang có 5.702 ha, xã MườngPhăng có 3.456 ha
4.1 Thành phố Điện Biên Phủ
Tổng diện tích đất thành phố nằm trong khu vực quy hoạch khu du lịch 6.427 ha,trong đó đất trong phạm vi nội thị 2.035 ha, còn lại 4.392 ha là đất thuộc phạm vingoại thị
Đất trong phạm vi nội thị gồm có đất dân dụng, đất ngoài dân dụng và đất khác
- Đất dân dụng (Đất đơn vị ở, cây xanh công viên, công trình công cộng, đường
và quảng trường): 918 ha
- Đất ngoài dân dụng (Đất di tích lịch sử, du lịch, cơ quan hành chính kinh tế,trường chuyên nghiệp, bệnh viện, y tế, giao thông đối ngoại, công nghiệp kho tàng,quốc phòng): 606 ha Trong đó, đất di tích lịch sử nằm trong khu vực bảo tồn
- Đất khác (nông nghiệp, lâm nghiệp…): 431 ha
Rừng có 3.230 ha, trong đó rừng đặc dụng: 784 ha; rừng phòng hộ: 2.179 ha;rừng sản xuất: 267 ha Tỷ lệ che phủ đạt 35,1%
Hồ Pá Khoang nằm trong diện tích đất tự nhiên xã có diện tích khoảng 600 hamặt nước, lưu vực khoảng 2.400 ha
4.3 Xã Mường Phăng
Diện tích đất tự nhiên 3.456 ha trong đó đất ở 455 ha; đất sử dụng sản xuất nôngnghiệp 682 ha; đất lâm nghiệp (rừng): 2.182 ha; đất chưa sử dụng và đất khác: 137 ha.Rừng có 2.182 ha, trong đó rừng đặc dụng: 1.602 ha; rừng phòng hộ: 560 ha;rừng sản xuất: 20 ha Tỷ lệ che phủ đạt 33,6%
Xã Mường Phăng cũng có một số hồ, suối nhỏ nhưng diện tích không đáng kể
Trang 31Hiện trạng sử dụng đất khu vực nghiên cứu quy hoạch được thể hiện ở bảng 2.
Bảng 2 Hiện trạng sử dụng đất khu vực nghiên cứu quy hoạch khu du lịch
1 Đất thuộc phạm vi ngoại thị (đất rừng, đất
- Đất dân dụng (Đất đơn vị ở, cây xanh
công viên, công trình công cộng, đường
và quảng trường)
918 Tỷ lệ che phủ đạt 34,1%
- Đất ngoài dân dụng (Đất di tích lịch sử,
du lịch, cơ quan hành chính kinh tế,
trường chuyên nghiệp, bệnh viện, y tế,
giao thông đối ngoại, công nghiệp kho
tàng, quốc phòng)
606 Trong quỹ đất ngoài dân
dụng có đất di tích lịch sử(bảo tồn nghiêm ngặt)rộng gần 60 ha và đất dulịch nghỉ dưỡng 150 ha
- Đất khác (nông nghiệp, lâm nghiệp…) 431
Nguồn:- Quy hoạch chung xây dựng TP Điện Biên Phủ đến năm 2030, tầm nhìn 2050.
- Báo cáo tình hình sử dụng đất của UBND các xã Mường Phăng, Pá Khoang.
Qua đánh giá hiện trạng sử dụng đất khu vực quy hoạch, có thể nhận thấynhững đặc điểm sau:
- Tình trạng sử dụng đất khá phức tạp với nhiều chức năng sử dụng đất khácnhau, thuộc các đơn vị hành chính và chủ thể quản lý khác nhau
31
Trang 32- Mặc dầu quy mô nghiên cứu lập quy hoạch khu du lịch rất lớn, tuy nhiên trong
đó có nhiều thành phấn đất khác nhau nên quỹ đất xây dựng công trình du lịch tại khu
du lịch không nhiều
- Quỹ đất thuộc phạm vi quản lý của thành phố Điện Biên Phủ đã được địnhhướng trong quy hoạch chung xây dựng thành phố đến năm 2030, tầm nhìn 2050 vànằm trong ranh giới bảo tồn nghiêm ngặt di tích nên khả năng phát triển rất hạn chế
- Quỹ đất của các xã Pá Khoang và Mường Phăng đủ để phát triển các khu dulịch tập trung với quy mô vừa phải, theo chức năng sử dụng đất của khu du lịch Tuynhiên ở hai xã này, địa hình tương đối phức tạp nên không thuận lợi đối với việc xâydựng công trình
Ngoài khu vực quy hoạch chính, các điểm tài nguyên phụ trợ như động PáThơm, hồ Noong U, nước nóng U Va, nước nóng Hua Pe đều có thể khai thác với quỹđất phù hợp với nhu cầu phát triển du lịch lâu dài
5 Đánh giá chung về tiềm năng và khả năng phát triển du lịch
5.1 Điểm mạnh, thuận lợi, cơ hội
- Tài nguyên du lịch tỉnh Điện Biên nói chung và khu du lịch Điện Biên Phủ - Pá
Khoang nói riêng phong phú, đa dạng và nổi bật, có sức thu hút khách du lịch cao gắnvới 3 giá trị nổi bật: 1) Giá trị lịch sử hào hùng của Chiến thắng Điện Biên Phủ: 2) Bảnsắc văn hóa đặc trưng của các dân tộc Tây Bắc; và 3) Cảnh quan thiên nhiên hùng vĩcủa núi rừng Tây Bắc Trong hệ thống tài nguyên này, giá trị lịch sử hào hùng củaChiến thắng Điện Biên Phủ là yếu tố nổi bật, giá trị cốt lõi làm nên thương hiệu khu dulịch Điện Biên Phủ - Pá Khoang
- Khu du lịch Điện Biên Phủ - Pá Khoang có vị trí nằm trong không gian GMS,
trên các trục giao thông và hành lang kinh tế quốc tế và trong nước quan trọng, cóđược những điều kiện thuận lợi để thu hút khách du lịch
- Nền tảng hệ thống hạ tầng trong khu du lịch như giao thông; cấp điện; cấp,thoát nước; thông tin truyền thông.v.v…đã bước đầu hình thành tạo tiền đề phát triểncho khu du lịch sau này
- Quỹ đất phát triển du lịch đáp ứng yêu cầu phát triển du lịch lâu dài.
- Sự phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Điện Biên nói chung và khu du lịch nói riêngnhận được sự quan tâm đặc biệt của Đảng, Nhà nước, sự đồng lòng cao của nhân dâncác dân tộc trên địa bàn tỉnh Điện Biên
- Nhiều Chương trình mục tiêu quốc gia, dự án phát triển kinh tế - xã hội đã vàđang được triển khai trên địa bàn khu du lịch có ảnh hưởng tích cực trong việc lồngghép các nguồn vốn ngân sách cho phát triển hạ tầng khu du lịch
Trang 335.1 Điểm yếu, khó khăn, thách thức
- Khu du lịch Điện Biên Phủ - Pá Khoang thuộc tỉnh Điện Biên là tỉnh núi cao,biên giới nằm cách xa các trung tâm du lịch lớn như Hà Nội, Đà Nẵng, thành phố HồChí Minh…, kinh tế người dân còn nghèo, hạ tầng kém phát triển, khả năng tiếp cậncòn khó khăn
- Khu vực quy hoạch và phát triển du lịch chịu những ảnh hưởng nhất định củayếu tố thời tiết cực đoan như gió Tây khô nóng, sương muối, động đất, mưa đá…
- Lãnh thổ khu du lịch nằm trong điều kiện có nhiều thành phần kinh tế - xã hộicùng tồn tại và phát triển đặc biệt là tốc độ phát triển đô thị Điện Biên Phủ, công tácquản lý và khai thác tài nguyên, đất đai còn chồng chéo, bất cập
- Hệ thống di tích lịch sử Chiến trường Điện Biên Phủ là di tích cấp quốc gia đặcbiệt, môi trường nhạy cảm cần được bảo vệ nghiêm ngặt vì vậy đòi hỏi việc quy hoạchphát triển du lịch phải tính toán kỹ giữa bảo tồn và khai thác
- Khu du lịch Điện Biên Phủ - Pá Khoang có nhiều đồng bào dân tộc thiểu sốvới điều kiện kinh tế còn khó khăn nên nhận thức về du lịch, ý thức bảo vệ tài nguyênmôi trường còn bất cập
III ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2013
1 Hiện trạng thực hiện theo các chỉ tiêu phát triển du lịch chủ yếu
1.1 Khách du lịch
Do vị trí, vai trò quan trọng của khu du lịch Điện Biên Phủ - Pá Khoang đối với
du lịch tỉnh Điện Biên và sức hấp dẫn của khu du lịch nên hầu như khách du lịch đếnĐiện Biên đều đến khu du lịch Thống kê hằng năm cho thấy khách du lịch khu vựcĐiện Biên Phủ - Pá Khoang chiếm khoảng hơn 90% trong tổng số khách du lịch đếntỉnh Điện Biên
Bảng 3 Hiện trạng lượng khách đến khu du lịch
Đơn vị: Ngàn lượt khách Chỉ tiêu 2000 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013
Khách NĐ 73,9 118,0 139,0 158,0 170,0 208,0 253,0 289,0 295,0 313,8Tổng khách
toàn tỉnh 78,1 130,0 155,0 180,0 200,0 252,0 305,0 353,0 360,0 380,5
Khu du lịch 70,3 120,0 140,0 162,0 180,0 227,0 275,0 320,0 325,0 342,5
Nguồn: Tổng cục Du lịch; Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Điện Biên
Có thể nhận thấy, trong những năm qua cùng với chính sách đổi mới, mở rộnggiao lưu quốc tế của Đảng và Nhà nước, du lịch tỉnh Điện Biên nói chung và khu dulịch Điện Biên Phủ - Pá Khoang nói riêng đã có những thay đổi đáng kể Lượng khách
33
Trang 34du lịch không ngừng tăng Tốc độ tăng trưởng chung về khách du lịch giai đoạn từnăm 2000 đến năm 2013 đạt 13%/năm, riêng giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2010 đạt14,6%/năm.
Giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2013 khách quốc tế đến Điện Biên và khu du
lịch Điện Biên Phủ - Pá Khoang mỗi năm tăng trung bình khoảng 23,7% (cả nước tăng
từ 12 đến 19%), khách nội địa đạt khoảng 11,8%/năm
Nếu so sánh với hai tỉnh Tây Bắc lân cận là Hoà Bình và Sơn La cho thấy lượngkhách quốc tế đến khu du lịch Điện Biên Phủ - Pá Khoang nói riêng và tỉnh Điện Biênnói chung đứng thứ 2 trong ba địa phương, nhưng khách du lịch nội địa đứng thứ 3trong ba địa phương trên Điều này có thể nhận thấy mặc dầu có tài nguyên du lịch nổibật, nhưng vì khoảng cách xa, đi lại còn khó khăn hơn hai địa phương trên nên lượngkhách du lịch chưa nhiều, đặc biệt đối với khách du lịch nội địa So với toàn vùngTrung du, miền núi Bắc Bộ, khách quốc tế đến Điện Biên đứng thứ 5/14 tỉnh, kháchnội địa đứng thứ 9/14 trong vùng
Như vậy, lượng khách du lịch đến khu du lịch Điện Biên Phủ - Pá Khoang nóiriêng và tỉnh Điện Biên nói chung còn khiêm tốn, chưa tương xứng với tiềm năng vàkhả năng phát triển
Thời gian lưu trú trung bình của khách du lịch: Đối với khách du lịch quốc tế đạt1,2 ngày năm 2000 tăng lên 1,5 ngày năm 2013; đối với khách du lịch nội địa đạt 1,5ngày năm 2000 tăng lên 1,8 ngày năm 2013
Mức chi tiêu bình quân một khách du lịch trong một ngày đêm: Đối với khách dulịch quốc tế đạt khoảng 450.000 đồng (tương đương 30 USD) năm 2000 tăng lên1.100.000 đồng (tương đương 50 USD) năm 2013; đối với khách du lịch nội địa đạt100.000 đồng năm 2000 và tăng lên khoảng 500.000 đồng năm 2013
1.2 Tổng thu từ du lịch và giá trị gia tăng (GDP) du lịch
Tổng thu từ du lịch bao gồm các khoản thu do khách du lịch chi trả từ các dịch
vụ lưu trú, ăn uống, bán hàng, vận chuyển và các dịch vụ khác ngoài xã hội Giai đoạn
từ năm 2000 đến năm 2013, tốc độ tăng trưởng trung bình từ nguồn thu du lịch nàycủa khu du lịch đạt khoảng 26,5%/năm Đây là tốc độ tăng cao, tuy nhiên vì là giaiđoạn đầu phát triển nên giá trị mức thu còn thấp
Bảng 4 Tổng thu từ du lịch và giá trị gia tăng du lịch
Trang 35Nguồn: Tổng cục Du lịch; Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Điện Biên
Có thể thấy, chỉ số giá trị tuyệt đối về mức thu vẫn còn ở mức thấp do khả năngchi tiêu của khách du lịch (đặc biệt là khách nội địa) còn ít Số liệu thống kê tổng thu
từ du lịch các năm được thể hiện ở bảng 4
Tốc độ tăng trưởng trung bình GDP du lịch đạt 26,5%/năm
Năm 2004 kỷ niệm 50 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, là một trong những năm
du lịch Điện Biên với nhiều sự kiện trọng đại đặc biệt là Tuần lễ Văn hóa, Du lịchĐiện Biên, vì vậy các số liệu về khách và doanh thu tăng mang tính đột biến Đâycũng là cơ sở để ngành du lịch tính toán dự báo những năm có sự kiện lớn sau này
1.3 Cở sở lưu trú và dịch vụ vận chuyển, lữ hành du lịch
Cơ sở lưu trú du lịch và dịch vụ vận chuyển, lữ hành phục vụ khách du lịch lànhững yếu tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả của hoạt động kinh doanh dulịch, thời gian qua đã được quan tâm đầu tư phát triển trên phạm vị toàn tỉnh và trênđịa bàn khu du lịch
1.3.1 Cơ sở lưu trú: Hệ thống cơ sở lưu trú ở thành phố Điện Biên Phủ đã được
chú trọng đầu tư xây dựng mới và cải tạo, nâng cấp Nhiều khách sạn các thành phầnkinh tế khác nhau được đầu tư xây dựng Năm 2000 khu du lịch có 20 cơ sở với 310buồng, năm 2005 tại khu vực đã có 32 cơ sở lưu trú với 720 buồng; năm 2010 có 37
cơ sở với hơn 780 buồng; năm 2013 có 90 cơ sở với 1.450 buồng (chiếm khoảng hơn90% toàn tỉnh), trong đó có 1 khách sạn 4 sao, 2 khách sạn 3 sao, 7 khách sạn đượccông nhận đạt tiêu chuẩn xếp hạng từ 1 đến 2 sao), còn lại là các khách sạn đạt tiêuchuẩn và các nhà nghỉ tư nhân
Hầu hết các khách sạn đều có quy mô nhỏ (chỉ có 2 khách sạn 70 buồng và 1khách sạn 71 buồng); chất lượng phục vụ, trang thiết bị các khách sạn nhìn chung cònthấp và chỉ đáp ứng được những nhu cầu tối thiểu của khách; thiếu dịch vụ bổ sung Trong tổng số các cơ sở lưu trú trên, khu vực hồ Pá Khoang có 3 cơ sở (1 trong
số đó đang được cải tạo, nâng cấp) với gần 100 buồng Khu vực Mường Phăng có 1 cơ
sở nhỏ với 3 buồng tập thể nhưng hiện không sử dụng
Bên cạnh hệ thống khách sạn, nhà nghỉ nêu trên, ở Điện Biên còn có hệ thốngnhà khách Tỉnh ủy, Ủy ban Nhân dân tỉnh, Ủy ban Nhân dân thành phố, Ủy ban Nhândân huyện Điện Biên và Điện Biên Đông có thể phục vụ lưu trú du lịch Ngoài ra,Điện Biên Phủ có các bản văn hoá được chọn phục vụ khách du lịch tham quan và lưutrú qua đêm theo hướng “Du lịch bản” như các bản Mển, Pe Luông, Co Mỵ, Ten, U
Va của huyện Điện Biên; các bản Noong Bua, Him Lam 2, Phiêng Lơi, Noong Chứncủa thành phố Điện Biên Phủ Năm du lịch Điện Biên Phủ 2004 hình thức lưu trú này
đã góp phần không nhỏ trong việc đón khách du lịch
35
Trang 36Công suất buồng trung bình tăng từ 50% năm 2000 lên 65% năm 2013 Tốc độ
tăng trưởng về buồng giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2013 đạt 12,6%/năm; riêng giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2010 đạt 9,7%/năm Tuy tốc độ tăng khá nhanh nhưng
chưa đáp ứng được yêu cầu khi diễn ra các sự kiện lớn tập trung
1.3.2 Dịch vụ vận chuyển, lữ hành: Phương tiện vận chuyển phục vụ du lịch chỉ
có một số lượng nhỏ thuộc Công ty Du lịch Lai Châu cũ và một số tư nhân tham giahoạt động du lịch Số lượng phương tiện tăng chậm, chất lượng phương tiện còn hạnchế Đến nay, mới có 1 doanh nghiệp thuộc khu du lịch có đủ điều kiện cần thiết đểkinh doanh lữ hành quốc tế và đã được Tổng cục Du lịch cấp giấy phép Đây là mặtcòn hạn chế của du lịch tỉnh Điện Biên nói chung và khu du lịch nói riêng trong côngtác vận chuyển, lữ hành
1.4 Lao động ngành Du lịch
Cùng với sự gia tăng của hệ thống cơ sở lưu trú, số lượng lao động phục vụ du
lịch ở khu du lịch Điện Biên Phủ - Pá Khoang không ngừng tăng Năm 2000 ngành Dulịch chỉ có 120 lao động trực tiếp trong các cơ sở kinh doanh du lịch, đến năm 2005 đãtăng lên hơn 550 lao động, năm 2010 toàn khu du lịch có khoảng 1.260 lao động trựctiếp, năm 2013 đạt 2.160 lao động du lịch Từ số lượng lao động trực tiếp, trên thực tếlực lượng lao động gián tiếp ngoài xã hội cũng được tăng nhanh, đặc biệt là lao độngtại hệ thống các nhà hàng ăn uống
Bảng 5 Hiện trạng cơ sở lưu trú và lao động của khu du lịch
Chỉ tiêu 2000 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 1)Toàn tỉnh Điện Biên
Nguồn: Tổng cục Du lịch; Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Điện Biên
Chất lượng lao động du lịch ở Điện Biên nói chung còn thấp Phần đông là laođộng phổ thông chưa qua đào tạo ngành nghề, chuyên môn nghiệp vụ vì vậy chấtlượng dịch vụ tại các khách sạn nhà hàng chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển dulịch hiện nay Bên cạnh đó, lực lượng thuyết minh viên tuy đã được đào tạo từ các cơ
sở đào tạo có uy tín (các trường đại học, cao đẳng…) nhưng kinh nghiệm chưa nhiều,trình độ ngoại ngữ, hiểu biết về các giá trị lịch sử, văn hóa bản địa chưa cao
Qua đánh giá thực hiện các chỉ tiêu phát triển du lịch chủ yếu có thể nhận thấytốc độ tăng trưởng của các chỉ tiêu giai đoạn sau (2011 - 2013) thấp hơn giai đoạn
Trang 37trước (2000 - 2010) mặc dù các giá trị tuyệt đối tăng cao Sự phát triển này là phù hợpvới tiến trình chung bởi vì điểm xuất phát du lịch giai đoạn sau cao hơn nhiều so vớigiai đoạn đầu.
2 Hệ thống sản phẩm du lịch
Mặc dù đang ở giai đoạn đầu phát triển du lịch, nhưng dựa trên đặc điểm tàinguyên sẵn có, tại khu du lịch Điện Biên Phủ - Pá Khoang đã từng bước hình thànhcác dòng sản phẩm du lịch chính theo các loại hình sau:
- Du lịch tham quan nghiên cứu, tìm hiểu: Được xây dựng dựa trên hệ thống di
tích lịch sử - văn hóa, các bản dân tộc, nhưng chủ yếu là dựa trên các giá trị lịch sử củaChiến thắng Điện Biên Phủ thông qua hệ thống di tích chiến trường
- Du lịch thăm lại chiến trường xưa, giáo dục, tâm linh: Được khai thác, phát
triển dựa trên các giá trị lịch sử quần thể di tích Chiến trường Điện Biên Phủ
- Du lịch văn hóa lễ hội, sự kiện lịch sử: Được phát triển gắn với các dịp lễ kỷ
niệm 50 năm (năm 2004), 55 năm (năm 2009) và 60 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ(năm 2014) là các năm du lịch quốc gia; lễ hội văn hóa dân gian các dân tộc Tây Bắc
- Du lịch cộng đồng: Được khai thác các bản văn hóa dân tộc Tây Bắc (bản Mển,
Pe Luông, Co Mị, Ten, UVa của huyện Điện Biên; các bản Noong Bua, Him Lam 2,Phiêng Lơi, Noong Chứn của thành phố Điện Biên Phủ)
- Du lịch sinh thái: Các sản phẩm du lịch sinh thái ở hồ Pá Khoang, hồ Huổi Phạ,
nước nóng U Va, tham quan hang động Pá Thơm đã được hình thành nhưng đang ởgiai đoạn đầu xây dựng nên chưa thu hút khách vì chất lượng dịch vụ còn thấp
Bên cạnh hệ thống sản phẩm du lịch, các sản phẩm hàng hóa sản xuất gắn với dulịch như hàng dệt thổ cẩm, các đặc sản tự nhiên vùng Tây Bắc như rượu chít, gạo…đãđược quan tâm khai thác phát triển và bước đầu có uy tín đối với khách du lịch
Hệ thống sản phẩm du lịch tại khu du lịch Điện Biên Phủ - Pá Khoang cũng lànhững sản phẩm điển hình của du lịch tỉnh Điện Biên và của vùng Trung du, miền núiBắc Bộ góp phần thu hút khách du lịch trong các chương trình du lịch qua miền TâyBắc, du lịch về nguồn hay du lịch thăm lại chiến trường xưa…
3 Đầu tư phát triển du lịch
Công tác đầu tư vào lĩnh vực du lịch của Điện Biên vừa qua đã được các cấpchính quyền quan tâm Đầu tư cho du lịch giai đoạn này nằm trong các hoạt động đầu
tư phát triển kinh tế - xã hội nói chung của tỉnh Điện Biên, diễn ra đồng thời với đầu tưcủa các ngành: giao thông, điện, nước, bưu chính viễn thông, y tế, bảo hiểm, bảo tồnbảo tàng Công tác này đã đem lại hiệu quả tích cực
Đầu tư trực tiếp cho các hoạt động du lịch do các chủ doanh nghiệp đảm nhiệmbao gồm các lĩnh vực: xây dựng, nâng cấp các khách sạn, nhà hàng; đào tạo, xúc tiến
37
Trang 38du lịch Trong giai đoạn từ năm 2001 đến năm 2005 các doanh nghiệp đã đầu tư tronglĩnh vực này mỗi năm hơn 100 tỷ đồng Năm 2005, đầu tư vào lĩnh vực cơ sở hạ tầngđạt 4 tỷ đồng vốn ngân sách (trên tổng số hơn 11 tỷ đầu tư vào lĩnh vực thương mại,
du lịch)
Từ năm 2006 đến năm 2013, số dự án đầu tư du lịch được cấp phép là 21 dự ánvới số vốn đăng ký khoảng 600 tỷ đồng chủ yếu phát triển hệ thống khách sạn, nhàhàng
Du lịch Điện Biên hầu như chưa thu hút được đầu tư nước ngoài ngoại trừ dự án
du lịch cộng đồng phối hợp với Dự án Chương trình Phát triển Năng lực Du lịch
có Trách nhiệm với Môi trường và Xã hội do Liên minh Châu Âu tài trợ (SNV).
4 Các công tác khác
4.1 Quy hoạch và quản lý quy hoạch
Công tác quy hoạch đã được địa phương quan tâm Ngành Du lịch tỉnh ĐiệnBiên đã tiến hành lập quy hoạch phát triển du lịch toàn tỉnh, quy hoạch chung khu dulịch hồ Pá Khoang, quy hoạch chi tiết xây dựng (1/2.000) khu du lịch hồ Huổi Phạ,động Pá Thơm làm cơ sở quản lý phát triển du lịch theo quy hoạch và kêu gọi các dự
án đầu tư Ngoài ra, Ủy ban Nhân dân tỉnh Điện Biên cũng đã phê duyệt quy hoạchchung xây dựng thành phố Điện Biên Phủ đến năm 2030, tầm nhìn 2050 trong đó địnhhướng sử dụng đất phát triển du lịch khu vực thành phố đến năm 2030 tạo tiền đề quantrọng cho công tác phát triển khu du lịch quốc gia
Tuy nhiên, trên bình diện tổng thể hiện quy hoạch khu du lịch chưa được nghiêncứu vì vậy công tác quản lý quy hoạch và phát triển khu du lịch đặt dưới sự quản lýchung của ngành Du lịch tỉnh Điện Biên (trước đây là Sở Thương mại và Du lịch nay
là Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch); quản lý tài nguyên du lịch thuộc nhiều ngànhkhác nhau như Văn hóa, Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn…
và quản lý quy hoạch, trong công tác thống kê.v.v Tuy nhiên, mức độ áp dụng còn ít,chưa theo kịp quá trình phát triển đặc biệt trong công tác thống kê
- Ứng dụng khoa học và công nghệ trong kinh doanh du lịch như: Ứng dụngkhoa học và công nghệ trong xúc tiến, tuyên truyền quảng bá, trong kinh doanh trựctuyến chưa đạt hiệu quả cao do điều kiện kinh kinh phí, cơ sở vật chất còn hạn hẹp
Trang 39tế xã hội của tỉnh trong từng năm, từng giai đoạn; đồng thời liên kết với các đơn vịtrong và ngoài tỉnh nhằm khai thác, cung cấp các dịch vụ về môi giới xúc tiến thươngmại, đầu tư và du lịch, thực hiện công tác tư vấn cho các đối tác có nhu cầu về đầu tư.Các Trung tâm này còn có chức năng như: làm công tác xúc tiến thương mại; công tácxúc tiến đầu tư; công tác thông tin thương mại điện tử và công tác xúc tiến du lịch Cáchình thức quảng bá chủ yếu của các địa phương như sau:
- Phát hành tài liệu, ấn phẩm, đĩa DVD, VCD quảng bá về tiềm năng du lịch địaphương về Chiến thắng Điện Biên Phủ
- Tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng như báo, đài địa phươngđặc biệt là trên internet - một trong những kênh thông tin hiệu quả nhất hiện nay Địaphương đã lập các trang thông tin điện tử để quảng bá du lịch
- Tham gia các hội chợ, triển lãm trong nước, tổ chức festival.v.v…Đây là mộttrong những hình thức quảng bá rất hiệu quả của du lịch Điện Biên
- Tổ chức các năm du lịch, tuần văn hóa, thể thao và du lịch, các sự kiện khácgắn liền với Chiến thắng Điện Biên Phủ vào các năm 2004, năm 2009 và năm 2014
- Tổ chức và tiếp đón các đoàn farmtrip để giới thiệu quảng bá tài nguyên dulịch địa phương
Tuy nhiên, do nguồn kinh phí còn hạn hẹp nên các hoạt động xúc tiến quảng bácủa các địa phương mới chỉ tập trung vào quảng bá chủ yếu vào thị trường khách nộiđịa, còn nhỏ lẻ, rời rạc thiếu tính liên tục; nội dung xúc tiến quảng bá còn nghèo nàn,chưa tạo ra nét đặc sắc riêng biệt của địa phương
4.4 Phát triển nguồn nhân lực
Phát triển nguồn nhân lực du lịch bao gồm công tác giáo dục, đào tạo, dạy nghề;tuyển dụng; sử dụng và bồi dưỡng; chính sách đãi ngộ nhân lực (lương thưởng, bảo hiểm)
Công tác giáo dục, đào tạo, dạy nghề: Thời gian qua, ngành Du lịch địa phương
rất quan tâm công tác đào tạo nâng cao trình độ nghiệp vụ cho lao động ngành củatỉnh Tỉnh Điện Biên đã tạo điều kiện để nhân lực du lịch tham gia các lớp đào tạongắn hạn và trung hạn tại chỗ và tại các trung tâm du lịch lớn, các lớp đào tạo ở nướcngoài, tham gia các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên sâu về một số lĩnh vực như công
39
Trang 40tác quản lý cơ sở lưu trú du lịch, tập huấn bồi dưỡng kiến thức quản lý du lịch (trongkhuôn khổ Chương trình hành động quốc gia về du lịch hoặc do dự án EU tài trợ) vànhiều hình thức khác
Chính sách tuyển dung và đãi ngộ nhân lực: Bên cạnh đó tỉnh Điện Biên cũng đã
ban hành và hiện một số chính sách khuyến khích thu hút cán bộ tốt nghiệp ở cáctrường đại học, cao đẳng về công tác tại địa phương, khu du lịch để đáp ứng nhu cầu
về số lượng lao động du lịch
Tuy nhiên, phát triển nguồn nhân lực du lịch tại tỉnh Điện Biên nói chung và khu
du lịch nói riêng chưa đáp ứng yêu cầu hiện tại và tương lai Đội ngũ hướng dẫn viên,thuyết minh viên vẫn còn thiếu về số lượng và trình độ chuyên môn chưa cao, chưađáp ứng yêu cầu thực tế tại khu du lịch gắn với di tích lịch sử văn hóa đòi hỏi phải cótrình độ nhất định về ngoại ngữ và kiến thức sâu về văn hóa, lịch sử
Lực lượng lao động gián tiếp chiếm tỷ trọng lớn nhưng chủ yếu lao động theothời vụ, ít được quan tâm để tập huấn nâng cao trình độ tay nghề
Là địa phương còn nghèo nên chế độ đãi ngộ đối với lao động nói chung và laođộng du lịch nói riêng còn hạn chế
4.5 Liên kết phát triển du lịch
Ngành Du lịch tỉnh Điện Biên đã hợp tác liên kết trong khuôn khổ 8 tỉnh TâyBắc mở rộng và với các trung tâm du lịch lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minhtrong các lĩnh vực đào tạo nguồn nhân lực, xúc tiến quảng bá, khai thác nguồnkhách…Tuy nhiên hiệu quả còn thấp
Đối với khu du lịch cho đến nay cũng chưa hình thành được sự kết nối với cáckhu, điểm du lịch khác trong vùng Trung du, miền núi Bắc Bộ hay trên cả nước đểkhai thác sản phẩm đặc trưng một cách có hiệu quả
5 Đánh giá chung về hiện trạng phát triển du lịch
5.1 Những điểm mạnh, thuận lợi và nguyên nhân
5.1.1 Những điểm mạnh, thuận lợi
Du lịch Điện Biên Phủ - Pá Khoang nói riêng và tỉnh Điện Biên nói chung pháttriển tương đối ổn định và ngày càng khẳng định vai trò đối với du lịch cả nước và vịtrí trong cơ cấu kinh tế địa phương
- Các chỉ tiêu phát triển du lịch đều tăng với tốc độ khá cao Lượng khách du lịchgiai đoạn từ năm 2000 đến năm 2013 không ngừng tăng với tốc độ khá nhanh đạt từ13% đến 15%/năm, trong đó tăng trưởng về khách du lịch quốc tế đạt 23,7%/năm,khách du lịch nội địa tăng 11,8%/năm Tổng thu và giá trị gia tăng từ dịch vụ du lịchtừng bước được nâng cao, đạt tốc độ tăng trưởng trung bình giai đoạn từ năm 2000 đếnnăm 2013 khoảng 26,5%/năm;