HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH ---QUÁCH SĨ HÙNG TĂNG CƯỜNG PHÁP CHẾ VỀ KINH TẾ TRONG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở NƯỚC TA HIỆN NAY Chuyê
Trang 1HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
-QUÁCH SĨ HÙNG
TĂNG CƯỜNG PHÁP CHẾ VỀ KINH TẾ TRONG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ
NGHĨA Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
Chuyên ngành: Lý luận Nhà nước và pháp quyền
Mã số: 5.05.01
LUẬN ÁN PHÓ TIẾN SĨ KHOA HỌC LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TRẦN NGỌC ĐƯỜNG
Phó tiến sĩ luật học
HÀ NỘI – 1996
Trang 2MỤC LỤC
TrangLời mở đầu
Chương
1
Vai trò của pháp chế về kinh tế trong quản lý nhà nướcđối với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa ở nước ta
Tiết 1 Pháp chế về kinh tế và các đặc trưng cơ bản của nó
trong quản lý nhà nước về kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa
Tiết 2 Pháp chế về kinh tế – phương pháp quản lý nhà nước
đối với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa
Chương 2 Tăng cường pháp chế về kinh tế trong quản lý nhà
nước ta hiện nay
Tiết 1 Thực trạng pháp chế về kinh tế của nhà nước ta trong
những năm đổi mớiTiết 2 Tính tất yếu khách quan của việc tăng cường pháp chế
về kinh tế trong quản lý nhà nước ở nước ta hiện nay
Tiết 3 Tăng cường pháp chế về kinh tế trong quản lý nhà
nước đối với nền kinh tế thị trường định hướng XHCN
ở nước ta hiện nay – phương pháp và giải pháp
Kết luậnDanh mục tham khảo
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Sau thắng lợi của cách mạng tháng Mười (1917), cùng với Đảng cộng sảnBôn-sê-vích, V.I.Lênin đã trực tiếp chỉ đạo xây dựng và củng cố nhà nước kiểumới đầu tiên trên thế giới Qua nhiều tác phẩm của mình, V.I.Lênin đã đặt nềntảng tư tưởng cho pháp luật và pháp chế cách mạng Từ đó, khái niệm pháp chế
xã hội chủ nghĩa (XHCN) được hình thành trong khoa học pháp lý, được vậndụng trong thực tế nhằm bảo vệ chế độ nhà nước và thiết lập trật tự kỷ cươngcho chế đội xã hội XHCN
Ở nước ta từ hiến pháp năm 1946 đến hiến pháp 1992 đều coi sự tôn trọng
và tuân thủ Hiến pháp và pháp luật là một nguyên tắc “hiến định” Trong nềnkinh tế quản lý theo cơ chế hành chính quan liêu bao cấp, tăng cường pháp chếXHCN xuất phát chủ yếu từ mong muốn chủ quan, duy ý chí, do vậy việc tuânthủ pháp luật chưa trở thành chế độ của Nhà nước và ý thức tự giác của côngdân Vì vậy, tăng cường pháp chế XHCN nói chung và pháp chế về kinh tế nóiriêng nứơc ta hiện nay không thể không đổi mới tư duy pháp lý hình thànhtrong cơ chế hành chính quan liêu bao cấp
Ở nước ta, từ sau Đại hội Đại biểu Đảng CSVN lần thứ VI nền kinh tế hànghoá nhiều thành phần có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCNtừng bước hình thành và phát triển Sự ra đời của cơ chế quản lý kinh tế mới,đặt ra những nhu cầu khách quan mang tính cấp bách phải đổi mới và hoànthiện hệ thống pháp luật Có thể nói, chưa có thời điểm nào các quan hệ xã hội,đặc biệt là các quan hệ kinh tế đòi hỏi cần phải điều chỉnh băng pháp luật nhưhiện nay Vì vậy tăng cường pháp chế XHCN nói chung và pháp chế về kinh tếnói riêng để một mặt đáp ứng nhu cầu đổi mới và hoàn thiện hệ thống pháp luật
và mặt khác tổ chức thực hiện hệ tháng pháp luật ấy một cách nghiêm minhtrong thực tiễn Đó là đòi hỏi cấp thiết, khách quan của việc nâng cao hiệu lựcquản lý nhà nứơc, đặc biệt là quản lý nhà nước về kinh tế ở nứơc ta hiện nay
Trang 4Tăng cường pháp chế XHCN nói chung và pháp chế về kinh tế nói riêng ởnứơc ta còn bắt nguồn từ đòi hỏi khách quan và cấp thiết của việc xây dựngnhà nước pháp quyền không thể không tăng cường pháp chế XHCN trên cáclĩnh vực của đời sống xã hội trong đó có lĩnh vực kinh tế.
Rõ ràng xuất phát từ đòi hỏi phải xoá bỏ tư duy pháp chế trong cơ chế cũ,hình thành tư duy pháp chế về kinh tế trong cơ chế kinh tế mới và xây dựngnhà nước pháp quyền, việc nghiên cứu đề tài “Tăng cường pháp chế về kinh tếtrong quản lý nhà nứơc nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nứơc tahiện nay” là đòi hỏi cấp thiết cả về phương diện lý luận lẫn phương diện thựctiễn
2.Tình hình nghiên cứu đề tài.
Pháp chế XHCN là một phạm trù cơ bản của khoa học pháp lý Nó đượchình thành và phát triển rực rỡ trong khoa học pháp lý Xô Viết và các nướcXHCN trứơc đây Nhiều nhà khoa học đã gắn tên tuổi của mình với các côngtrình về pháp chế XHCN Nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu về phápchế trong nền kinh tế Ở nửa cuối thập kỷ 80 trong điều kiện cải tổ, không ítcác nhà khoa học pháp lý đã quay sang nghiên cứu về Nhà nước pháp quyền.Khi đó thuật ngữ pháp chế XHCN bị “lãng quên” và dường như được thay thếbằng thuật ngữ Nhà nước pháp quyền
Ở nước ta tình hình cũng diễn biến tương tự như vậy
- Từ năm 1945 đến 1975 không có nhiều công trình nghiên cứu về pháp chếXHCN, đặc biệt là pháp chế trong lĩnh vực kinh tế, mặc dầu trong các văn kiệncủa Đảng, trong các bài viết và bài nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồngchí lãnh đạo Đảng và Nhà nước có đề cập đến
- Từ năm 1975 đến 1986 sau Đại hộ Đại biểu lần thứ IV, một số tác giả đãviết về tăng cường pháp chế XHCN theo yêu cầu tăng cường hiệu lực của Nhànước về mặt tổ chức quản lý kinh tế Từ năm 1976 trở đi, pháp chế XHCN nóiriêng và lý luận về Nhà nước pháp luật nói chung được đưa vào giảng dạy ởbậc đại học
Trang 5Từ năm 1986 đến nay, vấn đề tăng cường pháp chế XHCN đã thu hút được
sự quan tâm của nhiều tác giả Những nội dung về pháp chế XHCN đã đượccông bố có thể kể đến như: Tính thống nhất của pháp chế XHCN của HoàngCong [13], Đại hội VI với vấn đề củng cố kỷ cương tăng cường pháp chếXHCN của Lê Đức Tiết [79], khắc phục những mặt yếu về pháp chế XHCN ởnước ta của Phạm Hưng [37], Ngành tư pháp ở nước ta trong công cuộc tăngcường pháp chế XHCN, nâng cao hiệulực quản lý nhà nước của Phùng VănTửu [82], Tăng cường kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong lĩnh vực kinh tếcủa Hà Mạnh Trí [81]…Đáng chú ý là các tài cấp nhà nước và cấp bộ đã đượctriển khai nghiên cứu Đề tài: “Thực trạng và nguyên nhân tội tham ô, cố ý làmtrái, hối lộ ở Việt Nam từ năm 1986 đến nay” Mã số: 91-98-037/ĐT của tập thểtác giả do viện kiểm sát nhân dân tối cao chủ trì (năm 1991) Đề tài KX.03.13
“Luận cứ khoa học cho việc hoàn thiện và xây dựng hệ thống pháp luật vàquản lý kinh tế bằng pháp luật”do Viện nghiên cứu khoa học pháp lý – Bộ Tưpháp chủ trì (1994) Đề tài KX.05.07 “Xây dựng nhà nước pháp quyền ViệtNam” do Viện Nghiên cứu Khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp, chủ trì (1993).Các bài báo và công trình nghiên cứu trên tuy không phải là những côngtrình khoa học về pháp chế trong kinh tế, nhưng thông qua đó, việc tăng cườngpháp chế XHCN và vấn đề quản lý kinh tế bằng pháp luật và theo pháp luật đãtrở thành tư tưởng nổi trội
Ở thời điểm này các quan niệm truyền thống đang được đổi mới Từ chỗkhông chỉ tìm luận cứ khoa học cho các ngành luật cụ thể mà được đẩy tới việcxác định cả khung pháp luật cho nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhànước Trong các quan điểm và nội dung xây dựng Nhà nước pháp quyền ViệtNam của nhân dân, do dân, vì nhân dân, nổi bật là quan điểm: “Quyền lựcthuộc về nhân dân Nhà nước phải được tổ chức và hoạt động trên cơ sở Hiếnpháp và pháp luật Tính tối cao của Hiến pháp và pháp luật phải được tôn trọng
va thực hiện nghiêm chỉnh từ phía các cơ quan, viên chức Nhà nước Tuy vậyvẫn còn quá ít những công trình nghiên cứu trực tiếp pháp chế về kinh tế.”
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận án.
Trang 6Trước yêu cầu tăng cường pháp chế XHCN trong quản lý nhà nước đối vớinền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường, luận án có mụcđích góp phần làm sáng tỏ những cơ sở thực tiễn và lý thuyết nhằm xác địnhnội dung, đặc trưng của pháp chế về kinh tế và vai trò của nó trong quản lý nhànước Từ đó làm rõ những yêu cầu chủ quan và khách quan, hệ quan điểm vềphương hướng tăng cường pháp chế về kinh tế, kiến nghị những giải pháp chủyếu thiết lập, củng cố và tăng cường pháp chế về kinh tế Thực hiện mục đíchtrên nhiệm vụ của luận án là:
- Nghiên cứu những quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về pháp chếXHCN, từ đó xác định nội dung hàm của pháp chế về kinh tế, đặc trưng củapháp chế về kinh tế
- Phân tích vai trò của pháp chế về kinh tế trong quản lý nhà nước
- Khái quát thực trạng pháp chế về kinh tế trong quản lý nhà nước ở nướcta
- Phân tích những đòi hỏi khách quan tăng cường pháp chế về kinh tế trongđiều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta
- Xây dựng hệ thống các quan điểm cơ bản và các giải pháp chủ yếu tăngcường pháp chế về kinh tế trong quản lý nhà nước, nền kinh tế thị trường ởnước ta hiện nay
4 Phạm vi nghiên cứu của luận án:
Pháp chế XHCN là pháp luật trong đời sống Là một bộ phận rất cơ bản củapháp chế XHCN, pháp chế về kinh tế đang được đổi mới và tăng cường ở nước
ta Đây là vấn đề còn mới mẻ, phức tạp, quan hệ với nhiều hiện tượng Luận ánchỉ tập trung nghiên cứu pháp chế về kinh tế trong mối quan hệ với quản lý nhànước và pháp luật mà không nghiên cứu pháp chế về kinh tế nói chung Nhữngvấn đề lý luận chung về pháp chế XHCN được luận án sử dụng với tư cách là
cơ sở lý luận để làm rõ pháp chế về kinh tế trong quản lý nhà nước
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu:
Trang 7Thực tiễn đề tài trên, tác giả dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác –Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng ta về pháp luật, phápchế Đồng thời những nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước và tổ chức quản
lý nhà nước về kinh tế quy định trong Hiến pháp 1992, được luận án sử dụngvới tư cách là cơ sở pháp lý cho quá trình nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu: Dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Mác–Lênin, tác giả của luận án đặc biệt coi trọng phương pháp hệ thống, phân tíchtổng hợp, so sánh kết hợp chặt chẽ vơi phương pháp điều tra xã hội học cũngnhư kinh nghiệm thực tiễn trong và ngoài nước đưa vào luận án
6 Những đóng góp mới về khoa học của luận án:
Là công trình đầu tiên nghiên cứu pháp chế XHCN trong lĩnh vực kinh tếvới tư cách là phương pháp quản lý nhà nước nền kinh tế thị trường ở nước tahiện nay Vì vậy có thể xem những đặc điểm sau là cái mới của luận án:
- Dựa trên phương pháp phân tích và tổng hợp các luận điểm của V.I.Lênin
về pháp chế, đặc biệt là các luận điểm trong thời kỳ thực hiện chính sách kinh
tế mới Xuất phát từ thực tiễn đời sống xã hội có sự phân chia ra các lĩnh vựcchính trị, kinh tế…và ngày nay hệ thống pháp luật của bất kỳ nhà nước nàocũng có một bộ phận đặc biệt quan trọng là pháp luật điều chỉnh trực tiếp cácquan hệ kinh tế, luận án đã hình thành khái niệm pháp chế XHCN nói chung vàpháp chế về kinh tế nói riêng được phân tích trên cơ sở khoa học
- Với tư cách là một bộ phận có tính độc lập tương đối cấu thành pháp chếXHCN, luận án cho rằng pháp chế về kinh tế có những đặc trưng cơ bản riêngcủa nó Việc tìm kiếm và phân tích các đặc trưng cơ bản riêng này có ý nghĩaquan trọng trong việc chỉ đạo tăng cường pháp chế về kinh tế trên thực tế
- Xuất phát từ thực tiễn đổi mới, từ đòi hỏi của nền kinh tế thị trường địnhhưỡng XHCN, từ chính sách kinh tế mở và từ việc xây dựng nhà nước phápquyền, luận án đã phân tích một cách khoa học tính tất yếu khách quan phảităng cường pháp chế về kinh tế ở nước ta hiện nay Có thể xem đây là những
Trang 8căn cứ khách quan để xác định phương hướng tăng cường pháp chế về kinh tếtrong điều kiện hiện nay.
- Tiếp cận thực tiễn pháp chế về kinh tế ở nước ta hiện nay, luận án đã đềxuất một số kiến nghị thiết thực trong việc xây dựng hệ thống pháp luật về kinh
tế, tổ chức thực hiện pháp luật và cơ chế tài phán về kinh tế Các kiến nghị này
có ý nghĩa chỉ đạo hoạt động thực tiễn tăng cường pháp chế
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án:
Kết quả đạt được của luận án trước hết góp phần làm sáng tỏ vai trò củapháp chế XHCN nói chung và pháp chế về kinh tế nói riêng trong điều kiệnmới Việc hình thành khái niệm pháp chế về kinh tế và các đặc trưng cơ bảncủa nó là cơ sở lý luận đểhoàn thiện cơ chế, phương pháp quản lý nhà nướcbằng pháp luật đối với nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta hiệnnay Vì thế luận án có thể làm tài liệu tham khảo trong công tác nghiên cứu,giảng dạy và quản lý nhà nước về kinh tế
Các kiến nghị của luận án có ý nghĩa thực tiễn góp phần tăng cường phápchế về kinh tế trong quản lý nhà nước về kinh tế ở nước ta hiện nay
8 Kết cấu của luận án:
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận án gồm 2 chương 5 tiết va danh mụctài liệu tham khảo
Trang 9CHƯƠNG I VAI TRÒ CỦA PHÁP CHẾ VỀ KINH TẾ TRONG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA Ở NƯỚC TA
Ở nước ta hiện nay “Cơ chế vận hành nền kinh tế hàng hoá nhiều thànhphần theo định hướng XHCN là cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nướcbăng pháp luật, kế hoạch, chính sách, và các công cụ khác” (19.Tr.66) Hiếnpháp năm 1992 quy định: “Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, khôngngừng tăng cường pháp chế XHCN” (Điều 12) và “Nhà nước thống nhất quản
lý nền kinh tế quốc dân bằng pháp luật, kế hoạch, chính sách, ….”(Điều 26).Trong điều kiện đó, nghiên cứu vai trò của pháp chế về kinh tế trong quản lýnhà nước có ý nghĩa đặc biệt quan trọng
TIẾT 1: PHÁP CHẾ VỀ KINH TẾ VÀ CÁC ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA NÓ TRONG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN
1 Khái niệm pháp chế về kinh tế.
Nhà nước ra đời với tư cách sản phẩm tất yếu của những mâu thuẫn khôngthể điều hoà được trong xãhội Nhà nước và pháp luật là hai hiện tượng gắn bóhữu cơ trong lịch sử hình thành và phát triển của nó Lịch sử nhà nước cũngchính là lịch sử pháp luật Quan hệ giữa pháp luật và pháp chế cũng bắt nguồn
từ đó Tuy không phải khi nào hễ có pháp luật là có pháp chế Lý luận Mác –Lênin về nhà nước và pháp luật chỉ ra rằng, pháp chế là một hiện tượng xã hộiphong phú và phức tạp Nội dung cơ bản của nó là một chế độ pháp luật củađời sống xã hội, trong đó mọi thành viên quan hệ với nhau theo pháp luật Phápchế là một phương pháp quản lý nhà nước, phương pháp thực hiện ý chí củagiai cấp thống trị Là một phạm trù cơ bản của khoa học pháp lý ở các nướcXHCN, pháp chế là một trong những phương diện quan trọng của phương pháptiếp cận – theo quan điểm mác xít đối với việc nghiên cứu các vấn đề về nhànước, pháp luật Ngược lại xem xét pháp chế phải thông qua mối quan hệ giữapháp luật và những kiểu quan hệ sản xuất xác định tronglịch sử Quan hệ sản
Trang 10xuất là quan hệ vật chất – khách quan Pháp luật và pháp chế là cái chủ quanthể hiện ý chí, mục đich cơ bản của giai cấp thống trị đối với quan hệ kinh tếkhách quan Nếu các giai cấp thống trị không hiện thực hóa ý chí cơ bản ấy,tức pháp luật không trở thành một chế độ pháp chế trong đời sống xã hội, thìNhà nước cũng không thể ra đời và tồn tại Vì vậy, Nhà nước của giai cấp bóclột, bằng pháp luật của mình, thiết lập pháp chế nhằm mục đích trước tiên làthống trị về kinh tế để duy trì sự thống trị giai cấp về chính trị Lịch sử Nhànước và pháp luật cũng chính là lịch sử nối tiếp nhau của các chế độ pháp chếtương ứng Từ thời cổ các nhà nước Chủ nô đã sử dụgn pháp luật với tư cách làphương tiện chủ yếu để cai trị xã hội và bảo vệ quan hệ chiếm hữu nô lệ củachủ nô Điển hình nhất và hoàn thiện nhất của pháp luậth dựa trên quyền tưhữu, Người la mã đã đạt được những thành tựu đáng kể về mặt pháp trị Họ đãtạo nên các bộ luật dân sự và hình sự mà sau này nhiều quốc gia châu âu đã kếthừa và sử dụng để điều tiết, chỉnh các quan hệ kinh tế trong xã hội tư bản Các
bộ luật điển hình thời cổ đã quy định khá đầy đủ với các chế định về quyền sởhữu, về những điều kiện cho trách nhiệm dân sự theo hợp đồng và ngoài hợpđồng, về thừa kế, và về những quyền tố tụng để bảo vệ các quyền sở hữu tàisản…
Sự hoàn thiện và phát triển pháp luật trong các nhà nước chủ nô bắt nguồn
từ sự đòi hỏi phải bảo vệ một thứ hàng hoá đặc biệt lúc bấy giờ là hàng hoá conngười – Người nô lệ được xem như là hàng hoá Nhờ sự hoàn thiện về phápluật, quan hệ kinh tế về thị trường mà chủ yếu là thị trường nô lệ đã hình thành
và phát triển mạnh mẽ ở các nước La Mã, Hy Lạp cổ đại Chức năng kinh tếcủa các quốc gia phương tây và phương đông cổ đại, tuy có sự khác nhau,nhưng nhìn chung bắt nguồn từ các nhu cầu khách quan của xã hội Chẳng hạn,việc đúc tiền và phát hành tiền tệ, kiểm soát thị trường lương thực, điều hoà giá
cả thị trường và thu thuế lưu thông…Vì vậy có thể nói rằng ở các nước chủ nô
sự hình thành và phát triển pháp luật kinh tế bắt nguồn từ những nhu cầu và đòihỏi khách quan thì việc tuân thủ pháp luật kinh tế (tức là pháp chế về kinh tế)cũng là nhu cầu đòi hỏi khách quan Tất nhiên pháp chế về kinh tế trong cácnhà nước chủ nô là pháp chế chủ nô Sự tuân thủ và chấp hành pháp luật kinh
Trang 11tế, trước hết và chủ yếu là bảo vệ quan hệ hàng hoá nô lệ giữa các bạn hàngchủ nô.
Đến thời trung cổ, pháp luật của nhà nước Phong kiến ra đời Nhưng vìquan hệ hàng hoá kém phát triển, mang tính tự cung tự cấp và sự ảnh hưởngcủa thần quyền nên pháp luật điều chỉnh kinh tế cũng kém phần phát triển Do
đó pháp chế kinh tế hình thành và tồn tại một cách yếu ớt; Khi công việc quản
lý kinh tế đã trở thành một bộ phận chủ yếu bảo đảm trật tự xã hội thì thầnquyền và thế quyền, nhà nước và giáo hội đều tranh dành sự ảnh hưởng và tăngcường sự kiểm soát kinh tế cho riêng mình Sự tranh chấp chủ yếu diễn ratrong lĩnh vực sở hữu ruộng đất, phân phối lợi tức và đánh thuế các giáo sĩ Cácquan niệm đạo đức, phong kiến và luân lý nho giáo đã tác động đến các quan
hệ kinh tế Do tính nổi trội của các quy phạm mang tính chất xã hội và đạo đứcphong kiến đã chi phối sựhình thành chuẩn mực trong các quan hệ Vì vậy tưtưởng “đức trị”, “nhân trị” ở các quốc gia phương đông đã trở nên thịnh hành.Mặt khác khi nền kinh tế tự cấp tự túc chuyển sang nền kinh tế hàng hoá, nhất
là khi phân công lao động xã hội phát triển, đội ngũ thương gia và các đoànthể, phường hội có vị trí tự trị ngày càng phát triển trong kinhtế Có nơi,phưòng hội đã giành được những vị trí độc quyền địa phương, ít bị lệ thuộc vàoluật lệ hay đạo đức
Những điều nói trên chỉ ra rằng, mặc dầu các quan hệ kinh tế trong nhànước chủ nô và nhà nước Phong kiến còn kém phát triển, nhưng không vì thế
mà phủ nhận nguồn gốc kinh tế của các quy phạm pháp luật Hệ thống phápluật chủ nô và phong kiến là sự ghi nhận và phản ánh các quan hệ kinh tế.Nhưng để bảo vệ lợi ích kinh tế của giai cấp cầm quyền, pháp luật chủ yếu làphương tiện để nhà nước cai trị xã hội Nó kìm hãm sự phát triển của các quan
hệ kinh tế hàng hoá thị trường tự do Điều đó là một trong những tiền đề cơ bảncho sự ra đời của những tư tưởng pháp chế tiến bộ gắn với lịch sử tư tưởng về
tự do, dân chủ, trước hết là tự do trong kinh tế
Từ SALON, nhà thông thái Hy Lạp (thế kỷ VI trước CN) nhà triết học HyLạp Platôn (427 - 347 trước CN) đến Ari-stot (384-322 trước CN) Xixeron(106 - 43 trứơc CN) đều đề cao vai trò của pháp luật trong việc thiết lập bảo vệ
Trang 12trật tự xã hội các quan hệ kinh tế trên cơ sở tự do và bình đẳng Những tưtưởng này tiếp tục được các nhà tư tưởng chính trị, pháp lý của thời đại kế tiếpphát triển và mở rộng trong những điều kiện và hoàn cảnh mới.
Vào thế kỷ XVII khi các quan hệ kinh tế TBCN hình thành, phát triển vàngày càng tỏ ra chiếm ưu thế Điều đó báo hiệu thời kỳ suy tân của Nhà nướcphong kiến Mục tiêu đấu tranh của các cuộc cách mạng tư sản lúc đó mang thếgiới quan chính trị và pháp lý mới Những ý niệm mới nảy sinh về lý thuyếtkinh tế được gọi là “chủ nghĩa trọng thương” Những tư tưởng chống lại nhữnghạn chế về tự do kinh tế mà nhà nước phong kiến đã kìm hãm lâu nay Chủnghĩa trọng thương cho rằng: cần khuyến khích tự do sản xuất, lưu thông, tự doxuất nhiều hơn nhập nhằm thu về vàng bạc Ngoài mục đích làm cho kinh tếthịnh vượng thuyết này còn đòi hỏi quyền lực nhà nước trung ương phải chiphối quyền lực của địa phương Nhà nước có quyền can thiệp vào nền kinh tếtrong phạm vi cả nước Kinh tế, vì vậy bị chi phối bởi các mục đích chính trị vànhà nước có quyền tuyệt đối kiểm soát toàn bộ nền kinh tế
Nhà tư tưởng người Anh – G.Lo cơ (thế kỷ XVII) đã đưa ra một lý thuýêtmới về nhà nước Theo ông, chính quyền phai hành động theo pháp luật Phápluật quy định các quyền của Nhà nước nhằm thực hiện một chính quyền “hạnchế” chứ không thể là một chính quyền có quyền tuyệt đối trong lĩnh vực kinh
tế – xã hội Cơ sở của lý thuyết này, theo ông có một thứ luật “tự nhiên” về conngười Con người có những quyền tự nhiên xuất phát tự “luật tự nhiên” Nhữngquyền tự do cá nhân con người, cần được thừa nhận và Nhà nước phải tôntrọng Nhà nước tuân thủ pháp luật, không chấp nhận tình trạng vô pháp luật,tuỳ tiện của người nắm quyền
Tiếp theo G.Lo cơ là phái “trọng nông” của người pháp có tư tưởng chốnglại các tư tưởng và chính sách “trọng thương” của nhà nước Phái này muốnhạn chế quyền hạn của nhà nước đối với lĩnh vực kinh tế Để cho hoạt động sảnxuất nông nghiệp theo luật “tự nhiên” và con người lao động được sản xuất cáigì? bằng cách nào? và bán cho ai? Là tự do của họ Tư tưởng tự do và tư tưởngchống đối sự can thiệp của Nhà nước vào linh vực kinh tế được thể hiện rõ vàtập trung hơn trong lý thuyết “Bàn tay vô hình” của giáo su người Anh
Trang 13Ađamsmits (1723-1790) Lý thuyết này coi cá nhân là “con người kinh tế” Cánhân như một đơn vị của xã hội, nó gắn liền với quyền lợi riêng của họ vàquyền làm giàu về vật chất “Tự do kinh tế” cá nhân dẫn đến tự do cạnh tranhlẫn nhau Con người có quyền lựa chịn phương thức để đạt được mục đích và
tự chịu rủi ro trong cạnh tranh Quá trình hoạt động tự do của con người và mốiquan hệ giữa chúng đã hình thành “bàn tay vô hình” nhằm thoả mãn những nhucầu lợi ích xã hội Bàn tay vô hình này cũng chi phối hành vi của mỗi “conngười kinh tế” Đây là sự biến đổi cách mạng trong quan niệm của các nhàkinh tế về vai trò kinh tế của đất nước Lý thuyết “Bàn tay vô hình” củaAđamsmit chỉ ra một trật tự kinh tế, xã hội được coi là nền móng liên quan đếnnội dung của cơ chế thị trường Cùng với tư tưởng của phái “trọng nông” lýthuyết “bàn tay vô hình” hình thành chủ nghĩa “kinh tế tự do” được vận dụngvào hầu hết các nước trong thế kỷ XVIII và trở thành tư tưởng kinh tế phổ biếncủa thế kỷ tiếp theo Tác động của nó rất lớn lao đến quyền lực nhà nước tư sản
và luôn luôn có xu hướng hạn chế quyền lực nhà nước trong lĩnh vực kinhtế.Nhưng dù cho tự du kinh tế đòi hỏi tự do đến mức nào vẫn không thể đứngngoài sự can thiệp., kiểm soát của nhà nước Mối tương quan giữa quyền lựcchính trị và “quyền lực kinh tế” tất yếu nảy sinh nhu cầu và đòi hỏi cao hơn
Nó phải được thể chế hoá trong các định chế của Hiến pháp và pháp luật tưsản Sự thực hiện nó là nhu cầu đòi hỏi của pháp chế tư sản Cùng với sự pháttriển của các học thuyết kinh tế, các học thuyết về pháp luật, pháp chế cũngphát triển, thúc đẩy sự phát triển của tư duy chính trị, pháp lý thời đó
Tất cả các lý thuyết về kinh tế, chính trị pháp lý đều có sự liên hệ với nhau
Từ thuyết “trọng nông” đến lý thuyết “bàn tay vô hình” đều dẫn đến mộtkhuynh hướng đi tìm luật lệ riêng cho lĩnh vực kinh tế Quan niệm “Luật tựnhiên” của G.Lo cơ, tư tưởng “để mặc chúng tôi” của phải trọng nông, sự tintưởng vào đạo luật ở “tự nhiên” của Ađamsmit, tư tưởng tự do chính trị đi liềnvới tự do kinh tế và cho rằng “Con người sinh ra là tự do” của J.J.Rouseau đều
có cơ sở từ quan hệ kinh tế tư nhân tư bản chủ nghĩa gắn với hình tượng “conngưòi kinh tế tự do” Nội dung mức độ giới hạn của Luật pháp nhà nước sẽđược xác định trên cơ sở vận đọng của quy luật kinh tế tư bản chủ nghĩa Phápluật mang tính pháp quyền tư sản chính là sự mô hình hoá, phản ánh đích thực
Trang 14những quan hệ kinh tế khách quan trong các quá trình kinh tế Sự tác động,điều chỉnh các quan hệ kinh tế của pháp luật, đòi hỏi chính nhà nước và mọicông dân phải tuân thủ nó Chế độ tuân thủ pháp luật ấy, tạo nên trật tự xã hộinói chung và trật tự kinh tế nói riêng Cái trật tự xã hội mà nhờ đó các quyền tự
do của con người nói chung và quyền tự do kinh tế nói riêng của giới tư bảnmới có điều kiện thực hiện Từ thế kỷ XVIII J.J.rousseau đã khẳng định: “Trật
tự xã hội là một thứ quyền thiêng liêng làm nền tảng cho mọi thứ quyền khác.Nhưng trật tự xã hội không tự nhiên mà có, nó được xác định trên cơ sở nhữngcông ước” [67 Tr.156] Trên thực tế pháp chế tư sản không thể thực hiện được
“trật tự xã hội” ấy
Nhưng cùng với những tư tưởng tiến bộ, pháp chế tư sản đã là một trongnhững nhân tố làm cho nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa hình thành vàphát triển chưa từng có Sau đó, giai cấp tư sản vì quyền lợi ích kỷ của mình lại
tự phá vỡ pháp chế mà mình đặt ra Điều này, Lênin đã chỉ rõ: “Sự trớ trêu củalịch sử là ở chỗ: Các giai cấp thống trị ở Đức là những giai cấp đã lập nên mộtnhà nước mạnh nhất trong suốt nửa cuối thế kỷ XIX, đã củng cố những điềukiện cho một nền pháp chế lập hiến vững chắc nhất, thế mà giờ đây các giaicấp đó rõ ràng đang bước tới cái tình hình là phải phá vỡ pháp chế đó, pháp chếcủa họ, phải phá võ để duy trì sự thống trị của giai cấp tư sản” [3.tr.18] Nhìnchung trong các nhà nước tư sản trong thế kỷ XIX và nửa đầu thể kỷ XX, nềnpháp chế không thể mang tính triệt để
Sau đại chiến thế giới lần thứ 2, các nhà nước tư sản đi vào một giai đoạnphát triển mới Pháp chế tư sản cũng đựơc củng có và ổn định trong những điềukiện và hoàn cảnh mới Như nhiều ý kiến nhận định “thế giới tư bản bảo đảmcho pháp chế được thực hiện Sau cuộc khủng hoảng kinh tế 1929-1931, người
ta đã ý thức được rằng: nền kinh tế thị trường thuần tuý tư bản chủ nghĩa cần
có sự can thiệp, bổ sung và điều chỉnh, điều tiết của nhà nước Các quyền tự do
cá nhân trước hết là tự do sở hữu phải được xác lập và bảo đảm thực hiện Bảođảm tự do cho giới kinh doanh và vai trò của nhà nước trong kinh tế Các lýthuyết hiện đại về kinh tế thị trường ra đời theo nhu cầu phát triển của nền kinh
tế tư bản chủ nghĩa Đáng chú ý là lý thuyết về “nền kinh tế hỗn hợp” đại biểu
Trang 15là Sammuelson Thuyết này chủ trương phát triển kinh tế phải dựa vào cả “haibàn tay” “Điều hành một nền kinh tế không có cả chính phủ lẫn thị trường thìcũng như đinịh vỗ tay bằng một bàn tay” (71.tr.88).
Tóm lại: Nhà nước của các giai cấp bóc lột luôn luôn chi phối, kiểm soátnền kinh tế vì lợi ích của giai cấp mình Bằng việc hoàn thiện pháp luật, trướchết do yêu cầu phát triển các quan hệ kinh tế và vai trò quản lý nhà nước đốivới nền kinh tế mà pháp chế tư sản được thiết lập, thay đổi, củng cố và tăngcường; đáp ứng cho sự phát triển nền kinh tế thị trường TBCN Pháp chế tư sản
có vai trò quan trọng và phổ biến trong quản lý kinh tế của các nhà nước phápquyền tư sản hiện đại trong kinh tế ngày càng tăng lên Pháp chế đóng vai tròquan trong, phổ biến trong quản lý nhà nước tư sản đối với nền kinh tế
2 Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về pháp chế xã hội chủ nghĩa
Sau thắng lợi của Cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười Nga Xô Viết,pháp chế XHCN ra đời và phát triển xuất phát từ đòi hỏi cấp bách của việcthực hiện hai nhiệm vụ cơ bản là: xây dựng, củng cố chính quyền công nông và
tổ chức xây dựng kinh tế
Khi đó, trong những nhiệm vụ lớn nhất cảu Nhà nước chuyên chính vô sản
là xây dựng cơ sở kinh tế thích hợp với chế độ chính trị tiên tiến Vì vậy, vấn
đề không chỉ là xây dựng và củng cố chính quyền công nông mà chủ yếu là tổchức xây dựng kinh tế V.I.Lênin chỉ rõ: “Khi toàn bộ quyền lực – lần nàykhông phải chỉ quyền lực chính trị, mà là quyền lực kinh tế, tức là quyền lựcđụng đến những cơ sở sâu xa nhất của đời sống hàng ngày của con ngườichuyển vào tay một giai cấp mới Thì nhiệm vụ của chúng ta trở nên phức tạphơn.” (6.tr.467)
Chính vì vậy, pháp chế XHCN được hình thành và phát triển trước hết tronglĩnh vực kinh tế Đặc biệt là thời kỳ nước Nga thực hiện chính sách kinh tế mớitheo sáng kiến của V.I.lênin Chính sách đó đã tạo ra các quan hệ kinh tế củacác thành phần kinh tế tiểu chủ, tư bản tư nhân, tư bản nhà nước, tập thể và nhànước Những quan hệ kinh tế thị trường được Nhà nước khuyến khích và bảo
Trang 16trợ Toàn bộ những quan hệ kinh tế đó nằm trong phạm vi tổ chức, quản lýthống nhất và kiểm soát của “pháp chế cách mạng”.
Khi đất nước Xô Viết chuyển sang giai đoạn chinhs ách kinh tế mới, nhànước trước tiên “phải dùng pháp luật để khẳng định tính tất yếu của bước ngoặtấy” [6,tr.194] Sau đó, Nhà nước “đưa” pháp luật nói chung và pháp luật vềkinh tế nói riêng vào đời sống xã hội; đáp ứng yêu cầu diễn ra các cuộc hộithảo sôi nổi về pháp chế cách mạng và mối quan hệ của nó với nền kinh tế.Mới đầu là sự phân loại hai phạm trù “pháp chế cách mạng” và “tính hợp phápcách mạng” rồi đến sự phân biệt “pháp chế cách mạng” với “pháp chế tư sản”.Trong điều kiện mới “pháp chế cách mạng” được hiểu như là một trật tự phápluật được các cơ quan của nền chuyên chính vô sản thừa nhận và trật tự này cótính chất bắt buộc chung Do đòi hỏi của thực tiễn tổ chức và quản lý các lĩnhvực của đời sống xã hội, khoa học pháp lý cũng phát triển theo Các nhà khoahọc pháp lý xô viết đã xác định, phân biệt và nêu ra mối quan hệ giữa pháp luật
và pháp chế, giữa pháp chế và trật tự pháp luật Pháp chế đòi hỏi một chế độtuân thủ và chấp hành pháp luật đồi với mọi thành viên trong xã hội Mục đíchcủa nó là tạo lập được một trật tự pháp luật Trật tự pháp luật còn gọi là hệ quảcủa pháp chế Pháp chế XHCN trong thực tế và trong lý luận đã được hìnhthành và phát triển từ đó Sự hoàn bị của nền pháp chế XHCN và bản chất của
nó phụ thuộc vào bản chất xã hội chủ nghĩa của Nhà nước, phụ thuộc vào sựhoàn thiện hệ thống pháp luật và các điều kiện kinh tê, văn hoá, xã hội của mỗinước trong thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội Trongvând đề khó khăn và phức tạp này V.I.lênin đã chỉ rõ: “Trong giai đoạn đầucủa chủ nghĩa cộng sản…” pháp quyền tư sản “chưa bị xoá bỏ hoàn toàn màchỉ bị xoá bỏ một phần, chỉ bị xoá bỏ với mức độ phù hợp với cuộc cách mạngkinh tế đã được hoàn thành” [5,tr.116)Về thuộc tính của pháp chế nói chung,C.Mác và Ph.Ăngghen thường nhấn mạnh trong các tác phẩm của mình: “Phápchế là sự tuân thủ luật của những người tham gia các quan hệ xã hội”[2,tr.675] Từ thuộc tính đó, kế thừa những hình thức và phương pháp của phápchế tư sản, V.I.Lênin đã phát triển “pháp chế cách mạng” với những nội dungngày càng phong phú, nhằm thực hiện các nhiệm vụ của nhà nước chuyênchính vô sản Trong bối cảnh của nước Nga lúc bấy giờ, một chính sách kinh
Trang 17tế, một đạo luật, sắc lệnh được ban hành và thực hiện là một cuộc đấu tranhgiai cấp hết sức gian khổ Bên cạnh sự thù địch của các thế lực phản cách mạngcòn là sự cản trở của bệnh hành chính quan liêu trong bộ máy nhà nước vàhiện tượng không tuân thủ các đạo luật của chính quyền Xô viết trong đời sống
xã hội Một sự thật mà Lênin đã chỉ rõ: “ Chúng ta đang sống trong tình trạng
mà đâu đâu cũng có những hiện tượng không tôn trọng pháp luật, và ảnhhưởng của địa phương là một trong những trở ngại lớn nhất…cho công cuộcthiết lập pháp chế…” [9,tr.234]
Tư tưởng pháp chế của của Lênin thể hiện trong sáng kiến của mình, tại Đạihội bất thường các Xô viết toàn Nga làn thứ VI (tháng 11 năm 1917) đã xemxét và thông qua Nghị quyết về việc tuân thủ một cách nghiêm chỉnh của cácđạo luật của chính quyền Xô viết Ngay trong thư gửi công nhân và nông dânNgười cũng đề nghị: “phải duy trì được trật tự cách mạng chặt chẽ nhất, phảituân theo từng ly, từng tý những luật lệ và mệnh lệnh của chính quyền Xô viết
và đôn đốc mọi người tuân theo” [7, tr.78] Đến tháng 3 năm 1921, tại Đại hội
X Đảng Cộng sản (b) Nga Người đã phân tích những chính sách kinh tế cầnphải áp dụng triệt để, ngay cả những Pháp lệnh, Người chú ý đến việc chấphành trong thực tế Người nhấn mạnh: “Nừu không có một bộ máy đủ sứccưỡng bức người ta tuân theo những tiêu chuẩn của pháp quyền thì pháp quyền
có cũng như không” [5, tr.121]
V.I.Lênin đã sớm phát hiện vai trò quản lý kinh tế của Nhà nước và cho đó
là xu thế tất yếu của Nhà nước xã hội chủ nghĩa Trong thực tế, việc quản lýđiều hành nền kinh tế đã lấn át các công việc quản lý hành chính thuần tuý củaHội đồng dân uỷ và các Xô viết địa phương Hoạt động quản lý kinh tế đã dầndần phát triển để đảm bảo tàon bộ hoạt động chủ yếu nhất của x TheoV.I.Lênin: “Trong số tất cả các cơ quan nhà nước, chỉ có các Hội đồng kinh tếquốc dân là sẽ gữi được địa vị vững chắc mà thôi” Người luôn luôn chăm lotới việc xây dựng những hình thức quản lý xã hội mới kiểu như “Hội đồng kinh
tế quốc dân tối cao” và “Hội đồng kinh tế quốc dân địa phương” và điều lệ, cơcấu quản lý của các ngành kinh tế quốc dân
Trang 18Trong các cơ quan bảo vệ pháp chế, việc tổ chức và hoạt động của nó phảitrên cơ sở bảo vệ chế độ thực hiện pháp luật thống nhất trong cả nước cộnghoà Vì vậy, V.I.Lênin cho rằng tổ chức Viện kiểm sát theo nguyên tắc “songtrùng trực thuộc” như các cơ quan nhà nước khác là một sai lầm Viện kiểm sáttheo V.I.Lênin – là cơ quan kiểm soát toàn bộ chế độ tuân thủ pháp luật của các
cơ quan nhà nước, viên chức nhà nước và mọi công dân Nó đảm bảo cho “bất
cứ quyết định nào của bất cứ cơ quan hành chính địa phương nào cũng khôngđược đi ngược lại pháp luật” [9, tr 236]
Tòa án đã được V.I.Lênin đặc biệt quan tâm trong việc xét xử và đưa ra xét
xử các vụ án về kinh tế nhằm chống quan liêu, lơ là gây tổn thất kinh tế, đầu cơtích trữ lương thực, nạn hối lộ, lạm dụng chính sách kinh tế mới vi phạm phápluật nhà nước
Từ các vấn đề được trình bày trên có thể khái quát những nội dung cb của
họ thuyết pháp chế xã hội chủ nghĩa của Chủ nghĩa Mác – Lênin như sau:
Thứ nhất, pháp chế là sự tuân thủ và chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật đối
với mọi thành viên trong xã hội
Thứ hai, Pháp chế là pháp luật được thực hiện hoá g đời sống xã hội Quá
trình hình thành và phát triển của pháp luật phải gắn chặt với pháp chế Phápluật là điều kiện vật chất của pháp chế, nó tồn tại độc lập song song với phápchế
Thứ ba, tính tối cao của các đạo luật trong hệ thống các văn bản quy phạm
pháp luật Đây là nội dung thể hiện sự đòi hỏi mà nhờ đó các đạo luật trước hết
là Hiến pháp trở thành cơ sở pháp lý cao nhất để hình thành hệ thống các vănbản quy phạm pháp luật trong cả nước Đó là điều kiện tiền đề cho tính thốngnhất của pháp chế
Thứ tư, Pháp chế là phương pháp quản lý nhà nước đối với các lĩnh vực của
đời sống xã hội, phương pháp thực hiện quyền lực chính trị, tổ chức lãnh đạoquyền lực
Trang 19Thứ năm, Pháp chế là phương pháp của Nhà nước bảo đảm và bảo vệ quyền
con người, thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa và bình đẳng xã hội, xáo bỏ bóclột và bất công
Từ đó có thể khẳng định” Pháp chế là một chế độ đặc biệt của đời sống
chính trị – xã hội, trong đó tất cả các cơ quan nhà nước, các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân, nhân viên nhà nước, nhân viên các tổ chức xã hội và mọi công dân đều phải tôn trọng và thực hiện Hiến pháp và pháp luật một cách nghiêm chỉnh, triệt để và chính xác mọi hành động xâm
phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích của tập thể của công dân đều bị
xử lý theo pháp luật”
Pháp chế xã hội chủ nghĩa đã trở thành nguyên tắc tổ chức và hoạt động củacác Nhà nước xã hội chủ nghĩa trước đây Song từ sau khi các những xã hộichủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô sụp đổ, thuật ngữ pháp chế xã hội chủ nghĩa
ít được sử dụng Vai trò và nội dung của nó đang có nhiều quan niệm khácnhau Trong bối cảnh chính trị và kinh tế quốc tế hết sức phức tạp cũng nhưtrong điều kiện đổi mới đất nước, các ý kiến khác nhau về pháp chế xã hội chủnghĩa trước đây là điều dễ hiểu Hiện nay, có hai quan niệm về pháp quyền xãhội chủ nghĩa trong khi bàn về khái niệm Nhà nước pháp quyền
Thứ nhất, Nếu thừa nhận khái niệm Nhà nước pháp quyền thì trong quá
trình xây dựng và hoàn thiện nó, khái niệm pháp chế xã hội chủ nghĩa đã đượcthay bằng khái niệm nhà nước pháp quyền
Thứ hai, Khái niệm Nhà nước pháp quyền có nội hàm chính trị – pháp lý
phòngphú bao quát hơn khái niệm pháp chế Khái niệm pháp chế không mất đi
mà nó trở thành nội dung, nguyên tắc của khái niệm Nhà nước pháp quyền.Đến nay, khái niệm Nhà nước pháp quyền đã được mọi người thừa nhận.Nội dung cow bản của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đãđược khẳng định trong Nghị quyết Ban chấp hành Trung ương giữa nhiệm kỳ
khoá VII của Đảng ta: “Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền
Việt Nam Đó là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, quản lý
Trang 20mọi mặt của đời sống xã hội bằng pháp luật, đưa đất nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa” [2, tr 24] Đồng thời, khai niệm pháp chế xã hội chủ
nghĩa tiếp tục được thừa nhận trong đạo luật cơ bản của nước ta: “Nhà nước
quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa” (Điều 12 Hiến pháp 1992) Đó là nguyên tắc có ý nghĩa quan trọng như
điều kiện tiên quyết trong xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền ViệtNam
Vấn đề cố lõi nhất trong nguyên tắc và phương thức hoạt động của Nhànước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là nhà nước phải được tổ chức trên cơ sởHiến pháp và pháp luật; nhưng bản thân Nhà nước là người chấp hành, tuântheo pháp luật trước tiên, Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật và theo phápluật Với nội dung tiếp cận ấy cho thấy pháp chế xã hội chủ nghĩa không hềmất đi mà tồn tại đồng thời, không đối lập với khái niệm Nhà nước phápquyền Ngược lại, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam của nhân dân, donhân dân, vì nhân dân không thể tách dời pháp chế xã hội chủ nghĩa và việctăng cường nó trong quản lý nền kinh tế thị trường đinh hướng xã hội chủnghĩa ở nước ta
Trong các sách, báo và Văn kiện chính trị của nước ta cũng như các nước xãhội chủ nghĩa trước đây khái niệm pháp chế về kinh tế ít được sử dụng Thông
thường người ta viết và nói bằng thuật ngữ: “Pháp chế x chủ nghĩa trong quản
lý nhà nước về kinh tế” hoặc “pháp chế xã hội chủ nghĩa trong quản lý nèn kinh tế” hay ngắn hơn là “pháp chế về kinh tế” Phải chăng dùng các thuật ngữ
đó thì pháp chế mới thống nhất trong cả nước Ở nước ta đang trong quá trình
Trang 21chuyển từ nền kinh tế sản xuất nhỏ, tự cung, tự cấp sang nền kinh tế hàng hoánhiều thành phần,phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa Gắn liền với quátrình đó là quá trình chuyển từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu, baocấp sang có chế thị trường có sự quản lý nhà nước bằng pháp luật và theo phápluật Vì vậy, khái niệm pháp chế xã hội chủ nghĩa với nội hàm sâu rộng của nócần được cụ thể hoá trong điều kiện đổi mới nền kinh tế Pháp chế xã hội chủnghĩa là “cái chung” cần được xem xét trong mối quan hệ với pháp chế về kinh
tế – là “cái riêng”
Kinh tế (ECONOMICS) nguyên nghĩa là “quan trị gia đình”, khi mở rộng ta
là quản trị cộng đồng các gia đình Sự quản trị không khác biệt gì mấy vớichính quyền của cả cộng đồng với kinh tế Căn cứ vào nước và tính chất củacác quan hệ xã hội mà chúng được chia ra các lĩnh vực khác nhau như: kinh tế,chính trị, văn hoá,… là để phân biệt nó với các hiện tượng xã hội khác nhau.Các quan hệ về kinh tế thường được điều chỉnh bằng các quy phạm tậpquán về kinh tế, và cao hơn là cơ quan pháp luật về kinh tế của Nhà nước Phápluật kinh tế là một bộ môn thuộc kiến trúc thượng tầng, phản ánh “cơ sở kinh tế
xã hội”, cơ sở hiện thực của toàn bộ các quan hệ xã hội trong lĩnh vực kinh tế
Để lập luận pháp chế về kinh tế là một khái niệm có nội hàm riêng, cần căn cứvào hệ thống pháp luật nói chung và hệ thống pháp luật kinh tế nói riêng là cơ
sở khách quan trực tiếp Hệ thống pháp luật kinh tế là bộ phận cấu thành hệthống pháp luật của nhà nước Hệ thống pháp luật nói chung được hình thành,
về hình thức bao hàm Hiến pháp và các đạo luật, các bộ luật và các ngành luậtđiều chỉnh các nhóm quan hệ xã hội mang nhữn nội dung khác nhau và mỗingành luật có đối tượng và phương pháp điều chỉnh riêng của nó Hệ thốngpháp luật kinh tế hay pháp luật kinh tế điều chỉnh trực tiếp các quan hệ xã hộimang nội dung kinh tế Trước hết là các quan hệ gắn liền với sở hữu và quátrình hoạt động sản xuất kinh doanh, trao đổi, thương mại và các quan hệ gắnliền với chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước … ngày nay, các quan hệ kinh
tế trong nền kinh tế thị trường càng đa dạng và phong phú hơn Sự quản lý củaNhà nước trong khuôn khổ một nền kinh tế thị trường và bản thân nền kinh tếthị trường ấy đòi hỏi một môi trường pháp lý riêng phù hợp với nó Trên thế
Trang 22giới đã từng tồn tại nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa và môi trường pháp
lý do nhà nứoc tư sản tạo ra Nền kinh tế nước ta đang xây dựng là nền kinh tếthị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Quan niệm về luật kinh tế trước đây đãtrở nên hạn hẹp so với đa dạng của các quan hệ kinh tế Nhà nước ta đã vàđang xây dựng và hoàn thiện pháp luật về kinh tế theo hướng xây dựng một hệthống pháp luật kinh tế đầy đủ và đồng bộ Vì vây, các khái niệm mới như:
“Kết cấu hạ tầng pháp lý” (58,tr.82), “khung pháp lý của nền kinh tế thịtrường”, pháp luật kinh tế là “cơ sở hạ tầng mềm”…đang trở nên quen thuộc.Trên cơ sở tiền đề này đang đòi hỏi pháp chế phải được thiếtlập trong kinh tếvới nội dung và yêu cầu riêng của nó Khẳng định pháp chế về kinh tế là một
bộ phận của pháp chế XHCN Với quan niệm đó, có thể hình dung mối quan
hệ giữa pháp luật kinh tế với pháp chế về kinh tế như sau: Nếu gọi hệ thốngphap luật (ký hiệu A)là mặt thứ nhất thì pháp chế XHCN là mặt thứ hai (kýhiệu A’) Cũng lôgíc ấy nếu gọi pháp luật kinh tế (ký hiệu A1) là mặt thứ nhấtvới tư cách là tiền đề, cơ sở thì pháp chế về kinh tế (ký hiệu A’1) là mặt thứ haiphản ảnh thực trạng pháp luật kinh tế trong cuộc sống A và A’ là hai mặt củacùng một quá trình thống nhất, thì A1 và A’1 cũng quan hệ với nhau như vậy.Điều đó chứng tỏ rằng, pháp luật kinh tế (A1) thì tất yếu sẽ có trạng thái tuânthủ pháp luật ấy trong thực tế A’1 Do vậy pháp chế về kinh tế là một trạng tháicác quan hệ kinh tế trong đó các chủ thể quan hệ với nhau theo pháp luật kinh
tế và tuân thủ nghiêm minh pháp luật kinh tế; Trứơc hết, đó là các cơ quanquản lý kinh tế, các tổ chức kinh tế, các tổ chức chính trị xã hội và cá nhântham gia các quan hệ kinh tế Trật tự của các quan hệ kinh tế và trật tự của cácquan hệ pháp luật kinh tế chính là kết quả pháp chế về kinh tế Do nhà nướcthống nhất quản lý nền kinh tế quốc dân bằng pháp luật, nên trạng thái củapháp chế về kinh tế là trạng thái tuân thủ pháp luật kinh tế thống nhất trong cảnước Đặc trưng đó của pháp cóê kinh tế đòi hỏiphải xoá bỏ sự chia cắt thịtrường thống nhất Đó là phương pháp bảo đảm bình đẳng, bình quyền, loại bỏcác yếu tố bạo lực quyền uy và tham những trong các quan hệ kinh tế Vơi ýnghĩa này, trong lý thuyết về kinh tế thị trường xã hội ở Cộng hoà Liên bangĐức, PRANK MUZEL đã dùng khái niệm “Pháp chế kinh tế kế hoạch” và
“pháp chế kinh tế thị trường” [54,tr.112] Từ sự phân tích nói trên có thể khẳng
Trang 23định nội dung của pháp chế về kinh tế như sau: Pháp chế về kinh tế là một bộ
phận độc lập tương đối cấu thành pháp chế XHCN nói chung, trong đó nhà nước thống nhất quản lý và bảo vệ các quan hệ xã hội về kinh tế bằng pháp luật và theo pháp luật; tất cả các cơ quan Nhà nước, các tổ chức kinh tế, các
tổ chức chính trị – xã hội và mọi cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế chấp hành, tuân thủ nghiêm minh và trung thực pháp luật kinh tế; các quyền, lợi ích kinh tế hợp pháp của nhà nước, của các tổ chức và cá nhân được bảo vệ bằng pháp luật và các tổ chức tài phán kinh tế.
1.2 Những đặc trưng cơ bản của pháp chế về kinh tế trong quản lý nhà nước đối với nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.
Pháp chế về kinh tế trứơc hết là việc hiện thực hoá những giá trị kinh tế –
xã hội phổ biến của pháp luật kinh tế trong đời sống xã hội Nó còn là kết quảcủa việc thực hiện ý chí của các giai cấp thống trị trong lĩnh vực kinh tế
Trong các văn kiện chính trị, pháp lý của các Đảng cộng sản và các nhànước XHCN trước đây đều coi trọng pháp chế trong kinh tế và tăng cường nónhằm đề cao vai trò nhà nước trong lĩnh vực kinh tế Chế độ kinh tếXHCN đãtừng tồn tại và được voi là đối lập với chế độ kinh tế thị trường TBCN Nộidung của sự khác biệt thể hiện trên ba nguyên tắc phổ biến sau đây:
Chế độ kinh tế thị trường TBCN Chế độ kinh tế XHCN theo cơ chế tập
trung bao cấp
1 Chế độ chiếm hữu tư nhân về
tư liệu sản xuất là thiêng liêng
2 Tự do ký kết hợp đồng để thựchiện kế hoạch nhà nước giao
3 Lỗ thì nhà nước chịu, lãi thì nộpnhà nước
Trang 24Trong nền kinh tế XHCN vận động theo cơ chế kế hoạch tập trung, baocấp, Nhà nước XHCN quản lý nền kinh tế bằng pháp luật, nhưng chủ yếukhông phải là pháp luật kinh tê, mà là pháp luật hành chính với phương phápmệnh lệnh là chủ yếu Trong quản lý hành chính kinh tế, nhà nước can thiệp
cụ thể vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh ở cơ sở, điều đó làm cho bộ máy hànhchính luôn luôn có xu hướng phình ra và trở nên cồng kềnh bất hợp lý, cơ sở đểsinh ra bệnh quan liêu hàng hoá tiền ttệ trong lĩnh vực tiêu dùng của xã hội.Ngay cả ở Liên Xô trước đây pháp luật kinh tế cũng không phát triển Luậtkinh tế ở các nước XHCN dùng đẻ điều chỉnh các quan hệ kinh tế trong lĩnhvực công nghiệp quốc doanh giống nhau ở các chế định:
- Chế định về công tác kế hoạch hoá và các quan hệ hợp đồng kinh tế được
ký kết nhằm thực hiện kế hoạch kinh tế cụ thể
- Chế định về địa vị pháp lý của các tổ chức đơn vị sản xuất trong khu vựcnhà nước, và các quy định về quản lý theo ngành dọc
- Chế định về hạch toán chi tiêu trong nội bộ các tổ chức và đơn vị sản xuất
Thực tiễn đã chỉ ra rằng; pháp luật và pháp chế ở nước ta từ năm 1945 đếnnăm 1075 đã đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết nhiệm vụ xây dựngchủ nghĩa xã hội ở nmiền bắc và đấu tranh thống nhất đất nước Từ năm 1975đến năm 1987 (trước khi có luật đầu tư nước ngoài vào Việt Nam ) pháp chếXHCN nói chung và pháp chế về kinh tế nói riêng bị chi phối bởi cơ chế quản
lý tập trung, quan liêu bao cấp “Pháp chế kinh tế kế hoạch” trong thời kỳ nàyluôn luôn có xu hướng bị phá vỡ bởi những hiện tượng “xé rào”, “vượt rào”,
“bung ra” ngày càng phổ biến
Trang 25Ngày nay, khi các nước XHCN ở Đông Âu và Liên Xô sụp đổ, nền kinh tế
kế hoạch theo cơ chế tập trung bao cấp đã bộc lộ những khuyết điểm cần đượcđổi mới cho phù hợp với thực tế và xu hướng phát triển của nền kinh tế Tính
“hữu hiệu” và ưu việt của cơ chế kế hoạch hoá được vận dụng, kết hợp với cơchế thị trường
Đến nay, các nước trên thế giới hầu như đều phát triển nền kinh tế thịtrường Song, vai trò quản ly, điều tiết, kiểm soát, can thiệp của mỗi nhà nướcvào kinh tế theo cơ chế kết hợp kế hoạch với thị trường bằng các chính sáchkinh tế vĩ mô của nhà nước khác nhau tuỳ điều kiện cụ thể của từng nước.Nhưng phương tiện hàng đầu, phổ biến của nhà nước trong quản lý nềnkinh tế thị trường là pháp luật kinh tế Nó là phương tiện điều chỉnh các quan
hệ kinh tế và bảo đảm cho quan hệ kinh tế đựơc tồn tại và phát triển tự do trongmôi trường bình đẳng và ổn định
Ở nước ta pháp chế về kinh tế trong cơ chế t hị trường có sự quản lý củanhà nước bước đầu được hình thành Pháp chế, theo quan điểm đổi mới bắtnguồn từ nội dung đổi mới nền kinh tế và quản lý nền kinh tế bằng pháp luật
Tư duy pháp lý mới ra đời là sự vận dụng học thuyết pháp chế của chủ nghĩaMác-Lênin trong điều kiện đổi mới kinh tế xã hội ở nước ta
Trong thời kỳ đổi mới, pháp chế về kinh tế trong quản lý nhà nước đối vớinền kinh tế thị trừơng phải bảo đảm thực hiện được những nội dung kinh tếđược xác định trong cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủnghĩa xã hội Nội dung đó là: “Xoá bỏ triệt để cơ chế quản lý tậpt rung quanliêu bao cấp, hình thành cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước bằngpháp luật, kế hoạch, chính sách, và các công cụ khác…Xây dựng và phát triểnđồng bộ các thị trường hàng tiêu dùng, vật tư, dịch vụ, tiền vốn, sức laođộng…thực hiện giao lưu kinh tế thông suốt cả nước và với thị trường thế giới.Xác định quyền của người sỡ hữu, quyền của người sử dụng tư liệu sản xuất vàquyền quản lý của Nhà nước trong lĩnh vực kinh tế, bảo đảm cho tư liệu sảnxuất đều có người làm chủ, mọi đơn vị kinh tế đều tự chủ, tự chịu trách nhiệm
Trang 26về kết quả kinh doanh của mình Đổi mới và nâng cao hiệu lực hướng dẫn,kiểm soát và điều tiết của Nhà nước” [20,tr.12-13].
Những đổi mới về nền kinh tế đòi hỏi tăng cường vai trò quản lý của Nhànước, một mặt bảo đảm môi trường tự dovà bình đẳng cho các quan hệ kinh tếtồn tại và phát triển Mặt khác, sự quản lý của Nhà nước còn nhằm khắc phụctính tự phát của thị trường, những tiêu cực do nó nảy sinh ra Sự quản lý củaNhà nước về kinh tế chính là “hiệu lực hướng dẫn, kiểm soát và điều tiết” toàn
bộ nền kinh tế, bảo đảm sự hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển xãhội Trong nguyên tắc “Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừngtăng cường pháp chế XHCN” đã bao hàm hai vấn đề rất cơ bản Vấn đề thứnhất là Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, Nhà nước trứơc tiên phải xâydựng và ban hành pháp luật về kinh tế Có hệ thống pháp luật, đó mới là tiền đềquan trọng Vấn đề thứ hai có tính quyết định là tổ chức thực hiện pháp luật,tức là đưa pháp luật vào cuộc sống Tăng cường pháp chế về kinh tế chính làtăng cường các hành vi tuân theo pháp luật kinh tế đối với mọi loại chủ thể củacác quan hệ kinh tế
Pháp luật kinh tế “trong hành động” chính là chế độ pháp chế về kinh tế.Nhà nước phải luôn tăng cường nó Một chế độ pháp chế về kinh tế nghiêmminh thể hiện hiệu lực mạnh mẽ của sự quản lỷ nhà nước đối với nền kinh té
Từ cơ sở lý luận về pháp chế và thực tiễn đổi mới nền kinh tế ở nước ta có thểkhái quát những đặc trưng cơ bản của nó như sau:
a Pháp chế về kinh tế được quy định bơỉ chất lượng của hệ thống pháp luật kinh tế và cơ chế đìêu chỉnh bằng pháp luật các quan hệ kinh tế.
Trong nền kinh tế của mỗi nước, các quan hệ kinh tế tồn tại và phát triểntheo những chuẩn mực nhất định Nó được hình thành từ hoạt động kinh tế – xãhội của con người và được con người tuân theo Pháp luật kinh tế là một trongnhững chuẩn mực cơ bản nhằm mô hình hoá và điều chỉnh hành vi xử sự củacon người trong các quan hệ kinh tế, do nhà nước ban hành và bảo đảm thựchiện Hệ thống các mối quan hệ kinh tế được hình thành trong sản xuất lưuthông và phân phối đều phải được điều chỉnh bằng các chuẩn mực pháp luật
Trang 27Tất cả các loại quan hệ kể trên không thể hoạt động chỉ dựa trên cơ sở các quyước, những chỉ thị, mệnh lệnh, những giáo lý hoặc quy tắc đạo đức mà phảichịu sự tác động của pháp luật và điều chỉnh bằng pháp luật kinh tế.
Các quan hệ kinh tế chịu sự tác động của pháp luật nói chung và chịu sựđiều chỉnh bằng pháp luật nói riêng Sự tác động của pháp luật vào các quan hệkinh tế rộng hơn sự điều chỉnh bằng pháp luật Cũng như các chủ thể của cácquan hệ xãhội khác, các chủ thể của các quan hệ kinh tế chịu sự tác động tổngthể của cả toàn bộ thượng tầng pháp lý Sự ảnh hưởng chung của pháp luật vào
ý thức, tâm lý và hành vi của các chủ thể như là dạng tác động tư tưởng mangtính định hướng nhiều hơn, còn điều chỉnh bằng pháp luật nhằm vào yếu tốhành vi Điều chỉnh pháp luật thực chất là làm cho các chủ thể của các quan hệkinh tế có quyền năng và nghĩa vụ thực hiện những điều nói trong phần quyđịnh và chế tài của các quy phạm pháp luật “Những hoạt động có mục đíchtrực tiếp là nhằm đưa hành vi của những người tham gia quan hệ xã hội để đưanhững hành vi ấy vào những quỹ đạo, những định hướng nhất định, thông qua(bằng) quy phạm pháp luật mới là hoạt động điều chỉnh pháp luật” [83, tr.185]
Có thể nói rằng điều chỉnh bằng pháp luật các quan hệ kinh tế là biểu hiệntập trung nhất của sự điều chỉnh bằng pháp luật đối với các quan hệ xã hội nóichung Bởi vì, các tác động của pháp luật kinh tế vào các quan hệ kinh mangtính tổng hợp của các phương pháp điều chỉnh của Nhà nước Đặc trưng nhất làphương pháp thoả thuận, bình đẳng ngang quyền và hướng dẫn với các hìnhthức điều chỉnh như: cho phép, quy định, tuỳ nghi, cấm đoán
Điều chỉnh các quan hệ kinh tế bằng pháp luật được thực hiện thông quacác yếu tố tạo nên cơ chế điều chỉnh như sau:
Yếu tố thứ nhất: Mô hình hoá, thể chế hoá các quan hệ kinh tế thành các
khung, các hành lang, các chuẩn mực hành vi bằng các quy phạm pháp luật.Đây là yếu tố đâu tiên của cơ chế điều chỉnh pháp luât Các quy phạm phápluật kinh tế gồm nhiều loại: quy phạm bắt buộc, quy phạm cấm đoán, quyphạm giao quyền, quy phạm bảo vệ, quy phạm định nghĩa, quy phạm nguyêntắc, quy phạm xung đột…Mỗi quy phạm lại có cấu trúc riêng của mình, bao
Trang 28gồm ba bộ phận giả định, quy định và chế tài Mỗi quy pham là một khuônmẫu của hành vi sử sự, phản ánh chức năng điều chỉnh hành vi Các quy phạmđều là những nhận thức chủ quan và là bộ phận cấu thành cơ chế quản lý kinh
tế Mỗi quy phạm đều chứa đựng những lượng thông tin về trật tự hoạt động vềcác điều kiện của hoạt động và về hậu quả của các hoạt động đó nếu nó viphạm các quy định Mỗi quy phạm là một phương án xử sự hợp lý của hành viđối với các cơ quan quản lý cũng như các chủ thể sản xuất kinh doanh Môhình hoá các quan hệ kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước bằng cácquy phạm pháp luật bao gồm các lĩnh vực cụ thể sau đây:
1 Xác định địa vị pháp lý của các loại hình doanh nghiệp thuộc các thành
phần kinh tế (các thế nhân và pháp nhân) Ở nước ta có 5 loại hình doanh
nghiệp:
- Doanh nghiệp nhà nước
- Doanh nghiệp của các đoàn thể
- Doanh nghiệp tư nhân – công ty;
- Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam;
- Doanh nghiệp kinh doanh các ngành nghề đặc biệt
Các quy phạm pháp luật mô tả tổ chức của các doanh nghiệp trên, tạo chochúng có năng lực pháp lý (các quyền) và khả năng kinh doanh (năng lực hành
vi – hành động) Năng lực pháp lý và năng lực hành vi kinh doanh của chúngmang tính thống nhất và bình đẳng trong mối quan hệ kinh tế gc các doanhnghiệp
2 Bằng các quy phạm pháp luật xác định về mặt pháp lý các quyền chiếnhữu, sử dụng và đinh đoạt với những quy mô và phạm vi khác nhau trong cácloại hình sở hữu Sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân về đất đai,rừng, sông ngòi và biển, các tư liệu sản xuất, trí tuệ và tiền vốn Các quyền sởhữu có tính truyệt đối, các quyền sử dụng, chiếm hữu trong nền kinh tế thị
Trang 29trường càng phải được xác định một cách cụ thể chi tiết đến từng loại chủ thểkhác nhau.
3 Luật hợp đồng kinh tế là một lĩnh vực không thể thiếu trong nền kinh tếthị trường Các quan hệ kinh tế phải xuất phát từ năng lực hành vi được cácquy phạm pháp luật hợp đồng kinh tế Điều chỉnh bằngpl hợp đồng kinh tế, cáchành vi kinh doanh, phải được xác định là quyền tự do hợp đồng như sự thảothuận bình quyền gc hai hay nhiều bên; xuất phát từ nguyện vọng, mong muốncủa từng chủ thể Các quy phạm pháp luật chỉ mô tả các quy định về hình thức
df, các quy định về từng loại hợp đồng mà không mang tính cưỡng bức, bắtbuộc
Ba lĩnh vực quan hệ kinh tế trên tự chúng đòi hỏi các điều kiện mang tínhchất xã hội, và quyền lực nhà nước đảm bảo bằng pháp luật Chính ngay bướcđầu của quá trình được điều chỉnh bằng pháp luật đòi hỏi nhận thức kháchquánự vận động của các quan hệ kinh tế trong môi trường kinh tế, xã hội vàthiên nhiên Sự vận động ấy có những xung đột nảy sinh trong quan hệ kinh tếgiữa các chủ thể và đối với thiên nhiên (môi trường sinh thái) Cuối cùng là conngười với tư cách là nhân tố xã hội, mục đích là phục vụ con người Nhữngđiều kiện trên được quan niệm như những “điều kiện chung” của nền kinh tế.Những quy phạm quy định về bảo đảm mang tính chất trực tiếp là:
- Các quy phạm bảo hộ và an toàn lao động;
- Các quy phạm về bảo vệ môi trường;
- Các quy phạm bảo đảm về bảo hiểm xã hội, trong đó có vấn đề lao độngthất nghiệp
- Các quy phạm hình thành Luật tố tụng khi giải quyết các tranh chấp kinh
tế, quyền xét xử của tòa án kinh tế, dân sự, hành chính…;
- Các quy phạm hình thành trong mối quan hệ bảo vệ pháp luật kinh tế nhưViện kiểm sát, Tòa án, Thanh tra, Hải quan, Thuế và quản lý thị trường…
Trang 30Những quy phạm quy định về những bảo đảm mang tính gián tiếp:
- Các quy phạm pháp luật quy định tự do cạnh tranh
- Các quy phạm pháp luật quy định chống độc quyền trong cạnh tranh;
- Các quy phạm pháp luật quy định về phá sản doanh nghiệp
4 Điều chỉnh bằng pháp luật trong các quan hệ quản lý nhà nước về kinh
tế, xuất phát từ chức năng kinh tế của nhà nước xã hội chủ nghĩa Quản lý nhànước về kinh tế có thể phân ra các mối quan hệ, căn cứ vào thứ bậc của các chủthể quản lý
- Mối quan hệ của các cơ quan quản lý nhà nước trung ương với các cơquan nhà nước địa phương;
- Mối quan hệ của các cơ quan quản lý nhà nước trung ương với các loạihình doanh nghiệp;
- Mối quan hệ của các cơ quan quản lý nhà nước địa phương với các loạihình doanh nghiệp;
- Mối quan hệ giữa các cơ quan quản lý nhà nước về kinh tế ở trung ươngvới nhau
Các loại chủ thể quản lý nhà nước về kinh tế phải được quy phạm hoá bằngpháp luật Tổ chức và hoạt động quản lý nhà nước về kinh tế và cơ chế hoạtđộng của nó phải chịu sự điều chỉnh của các quy phạm pháp luật
Yếu tố thứ hai là các quyết định áp dụng của các cơ quan nhà nước có thẩm
quyền đối với từng trường hợp cá biệt cụ thể, để đảm bảo đưa các yêu cầu củaquy phạm pháp luật vào đời sống; hoặc là bảo đảm sự xuất hiện các quan hệpháp luật, các quyền và nghĩa vụ pháp lý trong các quan hệ pháp luật đượcthực hiện đúng đắn, đầy đủ
Trang 31Yếu tố thứ ba là trên cơ sở quy phạm pháp luật, các quyết định áp dụng
pháp luật và các sự kiện pháp lý làm nảy sinh quan hệ pháp luật Yếu tố nàyvới nội dung là quyền và nghĩa vụ pháp lý của các bên chủ thể trong quan hệ
Yếu tố thứ tư là các hành vi thực hiện quyền và nghĩa vụ pháp lý Hành vi
thực hiện pháp luật thường diễn ra dưới hình thức: Sử dụng các quyền, thựchiện các nghĩa vụ và tuân thủ các điều cấm đoán v thực hiện pháp luật chỉ cóthể là hành vi hợp pháp của các chủ thể Đây chính là mong muốn của sự điềuchỉnh pháp luật
Từ sự phân tích các yếu tố tạo nên cơ chế điều chỉnh pháp luật trong cácquan hệ kinh tế, có thể đinh nghĩa: cơ chế điều chỉnh pháp luật kinh tế là một
hệ thống, thống nhất các phương tiện pháp lý, thông qua đó mà thực hiện sự tácđộng của pháp luật lên các quan hệ kinh tế
Cơ chế điều chỉnh pháp luật có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá cácyếu tố tạo nên cơ chế và mối liên hệ phục thuộc lẫn nhau của chúng Điều đótạo ra cơ sở để sử dụng phương pháp hệ thống trong việc điều chỉnh bằng phápluật các quan hệ kinh tế Đổi mới, hoàn thiện và nâng cao chất lượng của cácyếu tố tạo thành cơ chế điều chỉnh pháp luật là đòi hỏi của các quan hệ kinh tếkhi huyển sang nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa Cơ chế điều chỉnh phápluật liên quan chặt chẽ với pháp chế về kinh tế và trật tự pháp luật về kinh tế.Trật tự pháp luật là kết quả hoạt động của cơ chế điều chỉnh pháp luật tất yếuđưa đến trật tự của các quan hệ pháp luật không được củng cố, pháp chế vềkinh tế bị vi phạm
b Pháp chế về kinh tế được quy định bằng hành vi hợp pháp của các loại chủ thể trong các quan hệ kinh tế, đặc biệt là các chủ thể quản lý nhà nước về kinh tế.
Mục đích của quá trình điều chỉnh các quan hệ kinh tế bằng pháp luật làthiết lập các hành vi tuân thủ pháp luật, tạo lập trật tự pháp luật trong lĩnh vựckinh tế Đó là quá trình đưa pháp luật kinh tế vào thực tiễn đời sống để phápluật trở thành chế độ pháp chế về kinh tế
Trang 32Tuân thủ pháp luật là một trong những hình thức (phương pháp) thực hiệnpháp luật nói chug và pháp luật kinh tế trong cơ chế thị trường nói riêng Tuânthủ pháp luật, trong đó bao gồm toàn bộ những hành vi (hoặc bất tác vi) củacác chủ thể trong các quan hệ kinh tế được thực hiện theo yêu cầu của các quyphạm pháp luật đòi hỏi Đó là những hành vi hợp pháp Trong nền kinh tế kếhoạch tập trung của các nước xã hội chủ nghĩa trước đây đã thực hiện cơ chếhành chính quan liêu bao cấp Trong cơ chế đó, pháp luật kinh tế chủ yếu làmcông việc liệt kê những điều phải làm theo kế hoạch và chỉ tiêu pháp lệnh, chỉđịnh ký kết hợp đồng kinh tế Nghĩa là đối với hai thành phần kinh tế chủ yếu
là quốc doanh và tập thể, các pháp nhân kinh tế thường được quy định như thếnào, với phạm vi mức độ nào, bắt buộc phảm làm như thế này, với điều kiệnnày… tức là ai? Sản xuất cái gì? đều do nhà nước cho phép, quy định hoặc cấmđoán… Trong nền kinh tế thị trường các quan hệ kinh tế vận động theo cơ chếthị trường, có sự quản lý của Nhà nước Pháp chế về kinh tế được quy định chủyếu bởi hành vi hợp pháp của các loại chủ thể quản lý nhà nước về kinh tế
Về hành vi hợp pháp của các thể nhân và pháp nhân kinh tế.
Thứ nhất, các chủ thể của quan hệ kinh tế từ chỗ không làm những gì mà
pháp luật không cho phép hoặc ngăn cấm, tiến tới các thể nhân và pháp nhânkinh tế được làm tất cả những gì mà pháp luật không cấm Đối với các chủ thểquản lý nhà nước về kinh tế chỉ được làm những gì mà pháp luật cho phép Dođòi hỏi khách quan của các quan hệ kinh tế tồn tại và phát triển trong cơ chế thịtrường các quy phạm pháp luật kinh tế chủ yếu không phục thuộc vào ý chí chủquan của các nhà làm luật; rằng cho phép ay không cho phép Sự điều chỉnhbằng pháp luật các quan hệ kinh tế chủ yếu không phải là chấm dứt, đình chỉquan hệ kinh tế này hay quan hệ kinh tế khác, mà chủ yếu là tạo ra hành lang,khuôn khổ, môi trường, điều kiện cho các quan hệ kinh tế nẩy sinh, tồn tại, vậnđộng đúng hướng và bảo vệ nó Sự “cấm đoạn” của nhà nước sẽ bớt đi nhưngkhông phải các chủ thể các quan hệ kinh tế không còn chỗ để tuân thủ Sự cấmđoán hay cho phép của nhà nước trong mọi trường hợp là biểu hiện quyền lựcnhà nước, quyền lực trong quản lý Nhà nước tạo ra năng lực pháp lý và quyềnnăng rộng rãi cho mọi người dân, mọi pháp nhân thuộc mọi thành phần kinh tế
Trang 33trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quan hệ kinh tế quốc tế (xuấtnhập khẩu, vay vốn, liên doanh sản xuất…) Ngược lại sự tuân thủ các quyđịnh và chế tài pháp luật của các chủ thể là các điều kiện bảo đảm sự tự do,bình đẳng, cơ sở pháp lý bảo vệ quyền và lợi ích của chính người kinh doanh.Tuân thủ “Luật chơi” chính là tự bảo vệ mình trong hành lang an toàn của
‘Luật chơi” đó Điều đó sẽ loại bỏ “các quan hệ kinh tế mà trong đó có một bênluôn luôn được hưởng các quyền năng rộng rãi với các lợi ích kinh tế và tinhthần ưu đãi, còn bên kia thì phải gánh vác các nghĩa vụ và hưởng các lợi íchmang tíh ban phát tặng cho” [24 Tr 21]
Thứ hai, các chủ thể của quan hệ kinh tế tuân thủ pháp luật, trước hết là
tuân thủ phạm vi, nội dung, tính chất kinh doanh thuộc các loại hình thị trườngkhác nhau như vốn, lao động, vật tư Điều đó sẽ tạo nên cơ cấu kinh tế hợp lý
và sự phân công lao động trong phạm vi cả nước; thể hiện, bảo đảm vai trò chủđạo của nền kinh tế quốc doanh và sự thu hút vốn, công nghệ kỹ thuật của nướcngoài Đặc trưng các quan hệ kinh tế thị trường rất đa dạng, phong phú, nhiềuhình vẻ thuộc nhiều thành phần kinh tế và nhiều hình thức sở hữu Nội dungcác quan hệ kinh tế phức tạp, đan xen nhau Thuộc tính các quan hệ kinh tế thịtrường là năng động, cạnh tranh, đua tranh quyết liệt Các chủ thể kinh tế phảituân thủ các quy định trong khuôn khổ cạnh tranh lành mạnh, chống độc quyềntrong kinh doanh Tính tự do trong khuôn khổ là ở chỗ tự chọn nghề kinhdoanh nhưng chỉ kinh doanh trong khuôn khổ giấy phép kinh doanh Khôngđược làm hàng giả, trốn thuế, lậu thuế hoặc kinh doanh các mặt hàng quốccấm Sự tuân thủ phạm vi, tính chất và nội dung kinh doanh nhằm loại bỏnhững ngẫu nhiên, tự phát, tuỳ tiện, ngăn ngừa rối loạn và khủng bố kinh tế,bảo vệ môi trường kinh tế và môi trường tự nhiên là cho nền kinh tế phát triểntheo định hướng xã hội chủ nghĩa
Về hành vi hợp pháp của các chủ thể quản lý nhà nước
Trong cơ chế hành chính quan liêu bao cấp, sự tuân thủ pháp luật kinh tếchủ yếu là bắt buộc các đối tượng bị quản lý tuân theo pháp luật, còn chủ thểquản lý nhà nước (cơ quan nhà nước có thẩm quyền) chỉ là người có quyền ralệnh Ngược lại, trong cơ chế thị trường các cơ quan nhà nước khi ra các quyết
Trang 34định, các nhân viên nhà nước khi thi hành công vụ (trong phạm vi quản lý nhànước về kinh tế) đều phải tuân thủ các quy phạm pháp luật trong quản lý nóiriêng và pháp luật kinh tế nói chung.
Toàn bộ những hành vi hợp pháp của các chủ thể quản lý nhà nước diễn rathường xuyên trong các quá trình quản lý là biểu hiện sinh động, hiện thực,đạm nét nhất của đặc trưng nhà nước pháp quyền trong kinh tế và dcs kinh tế.Hành vi hợp pháp của chủ thể quản lý nhà nước không những quy định trật tựquản lý kinh tế mà còn có vai trò quyết định đến trật tự kinh tế nói chung Đặcbiệt, hoạt động hợp pháp của chủ thể quản lý còn có tính dẫn dắt, nêu gương vàtạo ra uy tín, quyền uy đối với các đối tượng quản lý Mỗi một hành vi bất hợppháp của chủ thể quản lý ở các cấp quản lý càng cao bao nhiêu thì nó càng trởlên nguy hại bấy nhiêu Hậu quả khôn lường về kinh tế về chính trị, xã hội của
sự quan liêu, tuỳ tiện, lạm dụng hoặc làm trái đang cần phải được kắhc phục
Sự tuân thủ pháp luật kinh tế đối với các chủ thể quản lý nhà nước phải bảođảm các yêu cầu sau đây:
- Phân biệt quản lý nhà nước về kinh tế với quản lý sản xuất kinh doanh đểnhà nước không can thiệp vào quản lý sản xuất kinh doanh
- Các quyết định quản lý phải dựa trên cơ sở các văn bản quy phạm phápluật, cả về thẩm quyền lẫn nội dung quản lý Nghĩa là các hành vi quản lýkhông xảy ra theo kiểu “tiền trạm hậu tấu”, làm trước báo sau, bất chấp phápluật Sự tuân thủ pháp luật trong quản lý nhà nước về kinh tế trước hết thuộc vềcác chủ thể quản lý Điều đó, sẽ làm cho cơ chế quản lý kinh tế vận hành nhịpnhàng ăn khớp, hiệu quả
c Pháp chế về kinh tế còn được quy định bởi cơ chế tài phán các tranh chấp về kinh tế.
Trong cơ chế về kinh tế thị trường việc giải quyết các tranh chấp kinh tếchủ yếu bằng con đường hoà giải và tài phán Việc hoà giải và tài phán đượcthực hiện bởi các tổ chức hoặc cơ quan có chức năngvà phương thức hoạt độngkhác nhau Nhưng tập trung nhất, hình thức cao nhất phải là tòa án kinh tế,
Trang 35thương mại, hành chính, lao động và dân sự Trong cơ chế hành chính quanliêu, bao cấp việc giải quyết các tranh chấp kinh tế chủ yếu dùng mệnh lệnhhành chính Cơ quan trọng tài kinh tế nhà nước với tính chất vừa là cơ quanquản lý vừa là cơ quan giải quyết các tranh chấp kinh tế, theo cách thức cũ này
tỏ ra không phù hợp Vì vậy, Hiến pháp năm 1992 đã mở đường cho sự ra đờicác tòa án về kinh tế theo luật định, trong đó có các tòa kinh tế Căn cứ vàopháp luật về kinh tế các tòa án này đưa ra những phán quyết có hiệu lực thihành cao Sự độc lập của tòa án bảo đảm cho các phán quyết được công bằng,
vô tư Khác với các tòa án tư pháp, trình tự tố tụng giải quyết của tòa án vềkinh tế, đối với các án kinh tế có tính mền dẻo hơn Trước khi tòa án kinh tếxét xử thường đã qua trình tự hoà giải, đàm phán giữa các bên tranh chấp Chỉkhi nào đàm phán, thoả thuận không thành mới được đưa ra xét xử Tính linhhoạt trong tố tụng đảm bảo sự bình đẳng tự do của các bên tranh chấp với nhau.Ngay cả việc chọn tòa án để giải quyết, hoặc thông qua cơ quan trọng tài trunggian hoà giải, hoặc tài phán cũng do các bên tranh chấp quyết định
Xu thể đòi hỏi tòa án chuyên trách ra đời là xu thế khách quan bắt nguồn từtính đa dạng của các tranh chấp kinh tế trong cơ chế thị trường Ví dụ: Tòa ánkinh tế tài phán tranh chấp kinh tế giữa các tổ chức, các pháp nhân; Tòa án bảohiểm xã hội tài phán tranh chấp về bảo hiểm xã hội; Tòa án tài chính tài pháncác tranh chấp về quyết định của các cơ quan thuế…
Tài phán các tranh chấp kinh tế là đặc trưng của việc áp dụng các quyphạm pháp luật kinh tế phù hợp với từng vụ án cụ thể để xác định trách nhiệmpháp lý, quyết định các chế tài thích hợp và tương ứng với hành vi có lỗi vàmức độ vi phạm pháp luật đối với một chủ thể nhất định Các bản án đó cũngnhằm làm sáng tỏ pháp luật và bổ sung cho quá trình xây dựng và hoàn thiệnpháp luật kinh tế
Trong việc bảo đảm sự tuân thủ pháp luật, pháp chế xã hội chủ nghĩa baogiời cũng đặt trọng tâm vào công tác phòng ngừa các vi phạm pháp luật Coi đónhu những biện pháp, phương thức bảo đảm pháp chế nói chung và pháp chế
về kinh tế một cách vững chắc nhất Một trong những cơ quan đảm nhiệm chứcnăng này là hệ thống tổ chức Thanh tra nhà nước Như Điều 1 của Pháp lệnh
Trang 36Thanh tra khẳng định: “Thanh tra là một chức năng thiết yếu của cơ quan
quản lý nhà nước; là phương thức bảo đảm pháp chế, tăng cường kỷ luật trong quản lý nhà nước, thực hiện quyền dân chủ xã hội chủ nghĩa…” (Pháp lệnh
Thanh tra – Hội đồng nhà nước thông qua ngày 29-3-1990)
Ngoài các cơ quan nhà nước nói trên, nhà nước còn khuyến khích pháttriển các hình thức giúp đỡ pháp lý như: luật sư, công chứng, tư vấn pháp luật,giám định, hỗ trợ cho các chủ thể bảo vệ quyền và lợi ích kinh tế chính đángtheo pháp luật
Tóm lại, quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lênin về pháp chế xã hội chủnghĩa là sự kế thừa và vận dụng tư duy của loài người về giá trị, vai trò củapháp luật, pháp chế trong việc thực hiện chức năng kinh tế của nhà nướcchuyên chính vô sản Có thể xem những luận điểm trên là phương pháp chỉ đạohoạt động tăng cường pháp chế kinh tế theo những đặc trưng cơ bản của nótrong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
TIẾT 2 – PHÁP CHẾ VỀ KINH TẾ – PHƯƠNG PHÁP QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐÍNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
Dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước ta là chủ thểquản lý nền kinh tế quốc dân Đề thực hiện chức năng quản lý kinh tế vĩ mô,Nhà nước sử dụng các phương pháp và cách thức quản lý khác nhau Quản lýkinh tế bằng pháp luật và theo pháp luật là một nguyên tắc quản lý chủ yếu vàriêng có của nhà nước Vai trò của pháp chế về kinh tế trong quản lý nhà nước
đó chính là một trong những phương pháp quản lý nhà nước đối với nền kinh tếthị trường ở nước ta
1 Pháp chế về kinh tế – phương pháp bảo đảm cho việc sử dụng phương tiện pháp luật điều chỉnh các quan hệ kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa bằng pháp luật trở thành hiện thực trong đời sống kinh tế – xã hội.
Hiến pháp năm 1992, quy định chế độ kinh tế của Nhà nước ta như sau:
“Nhà nước phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị
Trang 37trường có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần với các hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh đa dạng dụa trên chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, trong
đó sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể là nền tảng” (Điều 15) Nội dung cơ bản
của nền kinh tế được Hiến pháp quy định trên, chính là sự thể chế hoá nhữngquan điểm, nội dung đổi mới sâu sắc nhất vê kinh tế của Đảng ta Tư tưởng ấy
đã được hình thành và phát triển qua Nghị quyết Đại hội VI và Đại hội VII.Mấy năm vùa qua, nền kinh tế nước ta đang chuyển mình theo hướng đó
Sự vận động đó là quá trình “xáo bỏ triệt để cơ chế quản lý tập trung, quanliêu, bao cấp, hình thành cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước” [20,tr.12]
Vấn đề đặt ra là trong cơ chế thị trường cần có sự điều chỉnh bằng phápluật không? Có quan niệm cho rằng cơ chế thị trường là cơ chế tự điều chỉnh,
“bàn tay vô hình” ấy không cần nhà nước và pháp luật Lại có quan điểm chorằng chỉ có sự điều chỉnh của nhà nước ở một lĩnh vực cụ thể nào đó mới cầnđến sự điều chỉnh bằng pháp luật Bởi vì “có sự quản lý của Nhà nước” chứkhông phải toàn bộ do nhà nước quản lý, như trong thời bao cấp Nhà nước phảiphân phối định lượng bằng chế độ tem phiếu các nhu yếu phẩm
Trước tiên cần phân biệt sự quản lý nền kinh tế bằng kế hoạch, các chínhsách và đòn bẩy kinh tế với sự điều chỉnh bằng pháp luật Phân biệt sự khácnhau ấy sẽ chỉ rõ vai trò không thể thiếu được sự điều chỉnh bằng pháp luật cácquan hệ kinh tế trong nền kinh tế thị trường Nhà nước thống nhất quản lý nềnkinh tế quốc dân bằng những phương tiện khác nhau như: pháp luật, kế hoạch,chính sách và các đòn bẩy kinh tế như giá cả, tiền tệ… Nhưng pháp luật làphương tiện không tách dời kế hoạch và chính sách kinh tế Chính sách phápluật là hình thức của kế hoạch kinh tế và chính sách kinh tế Kế hoạch kinh tế
và chính sách kinh tế phải được tồn tại dưới hình thức pháp luật Thực tiễn chỉ
ra rằng, pháp luật ;à phương tiện mang tính tổng hợp Các kế hoạch và chínhsách kinh tế phải được mô hình hoá bằng các quy phạm pháp luật, các chế địnhpháp luật kinh tế Như vậy, trong cơ chế thị trường, chỉ thuần tuý sử dụngphương tiện pháp luật điều chỉnh các quan hệ kinh tế, cũng như chỉ thuần tuý
Trang 38bằng tác động của các phương pháp kinh tế, đầu không đúng Tòa án quản lýnền kinh tế thị trường, phương tiện pháp luật và các phương pháp kinh tế tồntại trong thể thống nhất, không tách dời nhau Pháp luật là cơ sở là chỗ dựađồng thời là hình thức chứa đựng nội dung cho việc tiến hành các phương phápkinh tế và các phương tiện khác của quản lý nhà nước về kinh tế.
Chuyển từ nền kinh tế hiện vật, theo cơ chế tập trung quan liêu, bao cấpsang nền kinh tế hàng hoá, nhiều thành phần theo cơ chế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa, tuy mới bước đầu nhưng đã chỉ rõ vai trò của pháp luật kinh
tế như một phương tiện đầy hiệu lực và hiệu quả để thực hiện bước chuyển đó.Nền kinh tế nước ta hiện nay, trong trạng thái vận động theo dấu hiệu đặc trưngđòi hỏi sự điều chỉnh bằng pháp luật sau đây:
- Trong nền kinh tế hàng hoá theo cơ chế thị trường mọi quan hệ kinh tếđều diễn ra gc các chủ thể (thể nhân) hoặc (pháp nhân) độc lập thuộc các thànhphần kinh tế Tính độc lập ở chỗ, họ đều có quyền bình đẳng với nhau và đốivới cả nước Đối với thị trường họ hoàn toàn bình đẳng và tự do, có quyền tựchịu trách nhiệm về kinh tế, tự bày tỏ ý chí độc lập và tự chịu trách nhiệm pháp
lý trong các quan hệ kinh tế
Các phẩm chất đó của chủ thể kinh tế trong quan hệ kinh tế thị trường có
sự quản lý của nhà nước đều quy định bằng pháp luật Đó chính là các điềukiện được pháp luật “thừa nhận” Ví dụ từ khi Nhà nước ban hành Luật công ty(Công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần) Luật công ty tư nhân”; vàNghị định số 388/HĐBT ngày 20-11-1991 của Hội đồng Bộ trưởng ban hànhQuy chế về thành lập và giải thể doanh nghiệp nhà nước, tính đến tháng 3 năm
1993 đã có tác dụng “khai sinh” ra một lượng các doanh nghiệp như sa: [58,tr.109]
Loại hình doanh nghiệp Số lượng Tổng số vốn
(tỷ đồng)
Trang 39lý tàn sản hoặc phá sản doanh nghiệp đòi hỏi những cơ sở pháp luật về quyền
sở hữu tài sản của các doanh nghiệp quốc doanh và ngoài quốc doanh Các tổchức, cá nhân nước ngoài đầu tư và kỹ thuật vào Việt Nam phải tuân theo
“Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam”, theo Luật này họ có quyền sở hữu vốn(tiền mặt) và tài sản khác đưa vào Việt Nam Tính đa dạng của các chủ thể và
sự phát triển về số lượng các pháp nhân kinh tế là một biểu hiện về vai trò củapháp luật trong việc tạo lập tổ chức các quan hệ kinh tế thị trường Nền kinh tếthị trường ở nước ta là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Vìthế, vai trò của pháp luật càng trở nên quan trọng trong việc tạo lập môi trườngkinh tế có tính định hướng ấy Ví dụ, nếu thị trường tư bản lấy sở hữu tư nhânlàm nền tẳng, lấy doanh nghiệp tư nhân là thành phần chủ yếu của thị trường,thì ở nước ta các doanh nghiệp quốc doanh là các pháp nhân kinh tế quan trọngtrong sản xuất hàng hoá Đó là một trong những đặc thù của nèn kinh tế thịtrường xã hội chủ nghĩa Pháp luật là phương tiện ghi nhận và thể chế giá trịđặc thù ấy Thị trường ở nước ta đang hình thành và phát triển Nó cần đượcđiều chỉnh bằng pháp luật Bằng cách đó, nhà nước tạo ra các hành lang pháp
lý và pháp chế về kinh tế có nhiệm vụ bảo vệ những hành lang ấy của thịtrường Về lý thuyết thị trường có thể được phân ra như sau:
- Theo dấu hiệu lãnh thổ (theo chiều rộng) thị trường có thể chia thành:+ Thị trường địa phương;
+ Thị trường quốc gia;
+ Thị trường quốc tế
Trang 40- Theo dấu hiệu hàng, tiền tức là theo chiều sâu (tính chất hàng hoá) thịtrường được phân ra:
+ Thị trường tư liệu sản xuất;
+ Thị trường tư liệu tiêu dùng;
+ Thị trường dịch vụ cho sản xuất;
Mỗi một thị trường trên là một bộ phận của một thị trường thống nhất và
có mối quan hệ khăng khít với nhau hỗ trợ cho nhau phát triển Thực tiễn chỉ rarằng, cơ chế kinh tế nói chung và cơ chế kinh tế thị trường hay cơ chế kinh tếtập trung quan liêu, bao cấp đều được phản ánh, biểu hiện dưới các hình thứcpháp lý phù hợp với nó Điều đó có thể khẳng định pháp luật kinh tế là một bộphận cấu thành cơ chế kinh tế thị trường Mỗi một thị trường mà ta phân chiatheo bề rộng và chiều sâu ở trên, đều có các hành lang pháp lý riêng cho chúng
Và toàn bộ thị trường quốc gia như được sống trong môi trường pháp luật Dovậy, quan niệm cho rằng cơ chế thị trường tự điều chỉnh không có dấu hiệupháp lý, không cần đến pháp luật là không phù hợp Đó là quan niệm tách rời,biệt lập quyền lực kinh tế với quyền lực nhà nước (chính trị) là một sai lầm.Quan niệm đó dẫn đến việc coi thường pháp luật trong hành động Sự vi phạm
“Luật chơi” trong sản xuất kinh doanh có nguồn gốc từ đây Thực tiễn chỉ rarằng, trong cơ chế thị trường pháp luật trước hết là phương tiện bảo vệ sự tồntại và phát triển của các quan hệ kinh tế thị trường, bảo vệ tính hiệu quả vềkinh tế và xã hội của nó Có thể ví thị trường như là một trận bóng đá đẹp mắtnếu cầu thủ đua tài đúng luật Tự do kinh doanh phải là những hành vi cạnh