Một số khái niệm cơ bản: Các kiến thức về từ và câu trong sách Tiếng Việt lớp 5 trang bị cho học sinh thông qua hai loại bài học: bài hình thành kiến thức và bài thực hành, luyện tập..
Trang 1A PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
* Cơ sở lí luận:
Năm học 2011- 2012, tôi được nhà trường phân công chủ nhiệm lớp 5 Đ Trong
năm học này, toàn trường tiếp tục tập trung triển khai và đẩy mạnh phong trào
" Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực." Dạy học theo chuẩn kiến thức kĩ năng của chuương trình nâmg cao chất lượng giảng dạy và học tập Tiếp tục thực hiện cuộc vận động " Hai không" với bốn nội dung của ngành Đổi mới phương pháp giảng dạy, phát huy tính tích cưc, chủ động , sáng tạo của học sinh Đặc biệt quan tâm đến học sinh có hoàn cảnh khó khăn Mục tiêu giáo dục Tiểu học nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện Mỗi môn học ở Tiểu học đếu góp phần hình thành và phát triển nhân cách của học sinh và cung cấp cho học sinh những tri thức cần thiết Phân môn Luyện từ và câu giữ một vai trò chủ đạo Bởi lẽngay từ đầu của quá trình học tập ở Tiểu học, các em đã làm quen với lý thuyết ngôn ngữ đó là luyện từ và câu Luyện từ và câu là yếu tố quan trọng để phát triển năng lực, trí tuệ, ngôn ngữ, phẩm chất đức của học sinh Trên cở sở vốn từ và câu của học sinh trước khi đến trường, từ những hiện tượng cụ thể của từ và câu đó là tiếng mẹ đẻ Phân môn Luyện từ và câu ở trường Tiểu học nhằm cung cấp cho họcsinh một số kiến thức cơ bản cần thiết vừa sức với các em Luyện từ và câu trang
bị cho các em một hệ thống khái niệm, sự hiểu biết về cấu trúc ngôn ngữ và quy luật hành chức của nó Cụ thể Luyện từ và câu ở bậc Tiểu học giúp học sinh hiểu biết cấu tạo từ, khái niệm về các loại câu, các quy tắc chính tả, dấu câu, văn hóa lời nói Luyện từ và câu còn rèn cho các em biết nhận diện, phân loại các đơn vị
về từ, ngôn ngữ Nắm chắc các quy tắc cấu tạo và sử dụng các đơn vị này trong họat động giao tiếp của mình Đồng thời luyện từ và câu còn có nhiệm vụ rèn luyện tư duy và giáo dục thẩm mĩ cho học sinh Bởi lẽ đó có thể nói rằng việc dạy luyện từ và câu cho học sinh lớp 5 là hết sức cần thiết Vì bước vào trường phổ thông là bước ngoặt rất quan trọng trong cuộc đời các em Các em thấy mình lớn lên và đang bước vào quãng đời mới lạ có nhiều điều bổ ích và lý thú đang chờ đón Học tập trở thành hoạt động chủ đạo, đồng thời đây cũng là cấp học đầu tiên đặt nền móng để các em học tiếp lên các lớp trên
* Cơ sở thực tiễn:
Sau khi thực hiện cuộc vận động " Hai không: gồm bốn nội dung do Bộ Giáo dục
và Đào tạo phát động Ngành Giáo dục đã có nhiếu bước tiến mới Công tác tổ chức thi cử và chấm thi đã nghiêm túc không còn tiêu cực Việc đánh giá kết quả học tập không còn chạy theo thành tích Chất lượng giáo dục thực chất Tuy nhiên đối với phân môn Luyện từ và câu ở Tiểu học, nhiều vấn đề cụ thể của dạy học luyện từ và câu vẫn còn là điều băn khoăn, thắc mắc chưa được giải quyết ở mỗi giáo viên Mặt khác, giáo viên chưa có sự sáng tạo về đổi mới phương pháp dạy luyện từ và câu Về phía học sinh, một số em chưa chăm chỉ học tập, còn lười học bài và làm bài tập luyện từ và câu Khả năng phân tích cấu trúc và vận dụng bài
Trang 2học vào thực tiễn còn hạn chế.Trong quá trình học tập muốn thành công, muốn nóihay, viết đúng, muốn người đọc, người nghe hiểu được điều mình muốn nói, muốnviết thì mỗi chúng ta phải học tốt môn luyện từ và câu Vì vậy, để việc học tập củacác em đạt kết quả cao, giáo viên cần phải có biện pháp giúp học sinh học tốt phânmôn Luyện từ và câu Đó cũng là lý do chúng tôi chọn đề tài : “ Một số biện pháp giúp học sinh học tốt phân môn Luyện từ và câu lớp 5”.
2 Mục đích nghiên cứu:
- Tìm ra những biện pháp khả thi để dạy tốt phân môn luyện từ và câu lớp 5.
- Tìm hiểu đường lối chung để hướng dẫn học sinh học tốt phân môn luyện từ và
câu, góp phần nâng cao chất lượng môn Tiếng Việt cũng như các môn học khác
- Trên cơ sở phân tích, tìm hiểu thực trạng dạy học luyện từ và câu tìm được ý kiếnhay
3 Đối tượng nghiên cứu:
- Đối tượng khảo sát: Học sinh lớp 5 C - Năm học: 20110 - 2011 - Trường Tiểu học Cần Kiệm
- Đối tượng thực nghiệm: Học sinh lớp 5 Đ - Năm học 2011 - 2012 - Trường Tiểu học Cần Kiệm
4 Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nghiên cứu các cơ sở lí luận ( đã nêu trong phần mở đầu)
- Nghiên cứu thực trạng học sinh học tốt các bài luyện từ và câu
- Tổ chức thực nghiệm cho học sinh lớp 5Đ kĩ năng phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát, trừu tượng hóa, để học tốt LTVC
- Trên cơ sở lí luận ( đã nêu), tôi đã đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy và học luyện từ và câu ở trường Tiểu học cho năm học tiếp theo
5 Phạm vi nghiên cứu:
Để hoàn thành đề tài, tôi đã vận dụng và phối hợp kết hợp nhiều phương
pháp nghiên cứu nhằm phát huy những mặt tích cực của từng phương pháp, đồng thời để các phương pháp bổ sung, hỗ trợ cho nhau Cụ thể:
* Phương pháp điều tra khảo sát:
- Tiến hành điều tra, khảo sát học sinh bằng cách xây dựng hệ thống câu hỏi theo
phiếu, yêu cầu học sinh trả lời câu hỏi ghi trong phiếu
* Phương pháp tổng kết kinh nghiệm:
- Tổng kết kinh nghiệm là phương pháp kết hợp lý luận với thực tiễn, đem lý luận phân tích thực tiễn, từ phân tích thực tiễn rút ra kết luận
* Phương pháp đối chiếu so sánh kết quả:
- Từ những cơ sở lý luận, những giải thuyết ban đầu sử dụng phương pháp này tức
là kiểm tra khảo sát, bằng cách cho bài kiểm tra để nắm được trình độ của học sinh lớp 4 Cùng với kết quả trong việc học tập để so sánh kết quả ban đầu của học sinh.Qua đó rút được những kết luận xác đáng, từ đó mà có những biện pháp hữu hiệu
để dạy phân môn này có hiệu quả
* Phương pháp phân tích, tổng hợp kết quả:
2
Trang 3- Sử dụng phương pháp này nhằm mục đích các số liệu, các kết quả thu dược qua
thực tiễn, từ đó thống kê kết quả một cách chính xác, đòi hỏi phải thông qua việc thu nhập thông tin, số liệu sau đó phải phân tích tìm ra dấu hiệu bản chất và gạt bỏ những yếu tố không cần thiết, trong quá trình đó ta phải sắp xếp tổng hợp lại thành một chỉnh thể thống nhất Đây là một phương pháp rất quan trọng
Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 11/ 2010 đến tháng 8 năm 2011.
Phạm vi nghiên cứu: Học sinh lớp 5 - Trường Tiểu học Cần Kiệm.
Giới hạn nghiên cứu: " Các bài LTVC" trong môn Tiếng Việt 5
B NỘI DUNG:
CHƯƠNG 1: NGHIÊN CỨU CƠ SỞ LÝ LUẬN:
1.1.
Một số căn cứ khoa học:
Trong chương trình Tiếng Việt, môn Luyện từ và câu có vai trò lớn trong việc
tổ chức nên Tiếng Việt, bởi vì luyện từ và câu là hệ thống các quy tắc kết hợp từ dùng từ đặt câu tạo ra đơn vị ngôn ngữ giúp chúng ta có thể nói, viết và lĩnh hội cácnội dung trong hoạt đồng giao tiếp Đó là yếu tố quan trọng để phát triển tư duy và ngôn ngữ cho học sinh Theo nhận định của các nhà tâm lí học thì tư duy và ngôn ngữ không hề tách biệt và mâu thuẫn với nhau mà ngược lại đó là một khối thống nhất biện chứng có quan hệ hữu cơ mật thiết khi ngôn ngữ của con người phát triểnthì tư duy cũng phát triển, đó chính là hai mặt gắn bó chặt chẽ của một vấn đề Điều
đó đã được chứng minh ở buổi sơ khai ban đầu của con người Từ khi xuất hiện loài thì cũng là lúc ngôn ngữ ra đời, đó là sự sáng tạo rất thần kì và tuyệt vời của loài người Ngôn ngữ dùng để giao tiếp để tư duy giúp con người có thể trao đổi tư tưởng tình cảm với nhau, hiểu biết nhau, giúp con người trở thành một sinh vật có
tư duy, nó chính là cầu nối giữa con người và con người để tạo nên xã hội
Phân môn Luyện từ và câu ở Tiểu học thực hiện một chức năng lớn là rèn luyện và phát triển tư duy cho học sinh Bởi vì từ duy là một phần cực kỳ quan trọng trong tâm lý con người, quan trọng đến mức nhà triết học lỗi lạc Pháp Đề - Các đã nói: “Còn tư duy còn tồn tại” Như vậy nguyên tắc rèn luyện ngôn ngữ gắn liền với rèn luyện tư duy trong quá trình dạy học Tiếng Việt nói chung và trong dạyhọc phân môn Luyện từ và câu nói riêng là vô cùng quan trọng Có thể khẳng định thế mạnh của môn Luyện từ và câu là thúc đẩy năng lực tư duy cho học sinh ngày càng phát triển Qua đó, giúp các em học tập tốt các môn học trong nhà trường
1 2 Một số khái niệm cơ bản:
Các kiến thức về từ và câu trong sách Tiếng Việt lớp 5 trang bị cho học sinh
thông qua hai loại bài học: bài hình thành kiến thức và bài thực hành, luyện tập
Các bài Luyện từ và câu trong sách Tiếng Việt 5 cung cấp những kiến thức sơ giản
về tiếng Việt để các em có thể chủ động, tự tin lựa chọn từ ngữ, kiểu câu, các cách liên kết câu trong nói và viết nhằm đạt được hiệu quả giao tiếp Thông qua việc
trang bị cho học sinh những kiến thức về từ ngữ, ngữ pháp, sách Tiếng Việt 5 đã
góp phần bồi dưỡng cho các em thói quen dùng từ đúng, nói và viết thành câu theo
Trang 4một số mục đích nói thông thường, dùng một số dấu câu phổ biến khi viết Qua thực tế giảng dạy học sinh phân môn luyện từ và câu, tôi thấy khả năng sử dụng Tiếng Việt của học sinh còn nhiều hạn chế Ví dụ như đặt câu văn không có hình ảnh, một số em khi đặt câu vẫn còn thiếu dấu câu, xác định các thành phần trong câu chưa đúng, vốn từ cho các bài học mở rộng vốn từ còn ít, Do đó cần phải có biện pháp giúp học sinh học tốt phân môn Luyện từ và câu lớp 5 để góp phần thực hiện tốt sự nghiệp giáo dục.
CHƯƠNG 2: ĐIỀU TRA THỰC TRẠNG CỦA ĐỀ TÀI.
2.1 Một số nét về đặc điểm tình hình chung của nhà trường:
- Trường Tiểu học Cần Kiệm có 2 điểm trường: một địa điểm tại khu Bãi Bằng, một địa điểm tại khu Núi Nứa
- Có 24 lớp học với tổng số 753 học sinh
- Có 43 cán bộ giáo viên, nhân viên
2 2 Mục đích và yêu cầu điều tra thực trạng:
Giáo viên khá coi trọng việc giảng dạy phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạocủa học sinh Giáo viên luôn tìm tòi, nghiên cứu để chất lượng giảng dạy môn luyện từ và câu nhưng chất lượng chưa cao Bởi vì giáo viên cho là học sinh hiểu bài và làm đúng là được Ví dụ: Khi cho học sinh đặt câu, giáo viên chỉ gọi 1, 2 em lên đặt câu trên bảng, còn các em khác đọc câu mình đặt nên giáo viên vẫn cho là câu em đó đặt đúng mặc dù dấu câu vẫn còn viết chưa đúng hoặc thiếu Đối với những bài cần rút ra khái niệm từ, giáo viên gọi HS nêu ví dụ còn ít, Mặt khác, nhiều HS chưa hiểu rõ tầm quan trọng của phân môn Luyện từ và câu nên thái độ học tập phân môn này chưa được tốt Vì vậy, kết quả học môn LTVC của học sinh chưa cao
2 3 Nội dung và cách tiến hành điều tra thực trạng:
Tôi đã tiến hành kiểm tra chất lượng bài làm của học sinh lớp 5C - 30 HS vào đầutháng cuối tháng 10 năm 2010 ( năm học 2010 - 2011) với đề bài như sau:
- Ông tôi ốm nặng, đã đi hôm qua rồi
- Nó chạy còn tôi đi
b) Chạy:
- Cầu thủ chạy đón quả bóng
- Nhà ấy chạy ăn từng bữa
4
Trang 52 4 Kết quả điều tra thực trạng:
Sau khi thu bài và chấm, kết quả như sau:
để nâng cao hiệu quả giờ dạy để đáp ứng được nhiệm vụ của phân môn
Là giáo viên giảng dạy, tôi không khỏi băn khoăn nếu không tìm được nguyên nhân để nâng cao chất lượng phân môn luyện từ và câu
* Nguyên nhân thực trạng trên:
- Sự phát triển nhận thức của các em chưa đồng đều Nhiều em còn nhút nhát, không dám mạnh dạn hỏi những chỗ mà bản thân còn hoài nghi, thắc mắc
- Do bố mẹ các em mải làm kinh tế, một bộ phận nhỏ chưa thực quan tâm đến việc học của các em nên các em chuẩn bị bài ở nhà còn sơ sài, có nhiều em không chuẩn
bị bài ở nhà nên đến giờ học tiếp thu bài còn rất chậm
- Do trình độ phụ huynh còn hạn chế, một số phụ huynh có trình độ nhưng không biết cách hướng dẫn học sinh tự học ở nhà
- Phụ huynh ít gặp gỡ giáo viên để trao đổi về việc học tập và dạy cho các em lúc tựhọc ở nhà
2 5 Đề xuất giải pháp:
- Sau khi nhận lớp, tôi đã ổn định chung về cách tổ chức lớp
- Qua điều tra, tôi đã phân loại học sinh thành 3 nhóm:
- Đọc các tư liệu liên quan đến giảng dạy LTVC
- Lập ra kế hoạch dạy học đối với từng bài
- Nhắc nhở các em cần tích cực học tập; thường xuyên gặp gỡ phụ huynh học sinh
để trao đổi đến việc học của các em
Trang 6CHƯƠNG 3: TỔ CHỨC THỰC NGHIỆM KHOA HỌC: " MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH HỌC TỐT PHÂN MÔN LUYỆN TỪ VÀ CÂU
LỚP 5".
3.1 Mục đích và yêu càu tổ chức thực nghiệm khoa học:
Việc tổ chức thực nghiệm nhằm tìm ra giải pháp để dạy tốt môn LTVC cho học sinh lớp 5Đ Sau khi học sinh lớp 5Đ thực nghiêm, các em sẽ vận dụng để kết quả học tập cao hơn
3 2 Nội dung và cách tiến hành thực nghiệm khoa học:
Để học sinh học tốt phân môn LTVC, tôi đã tìm tòi và nghiên cứu và có được những biện pháp sau đây:
3.2.1 Giáo viên cần nắm được mục tiêu phân môn Luyện từ và câu lớp 5 gồm:
- Mở rộng, hệ thống hóa vốn từ và trang bị cho HS một số hiểu biết sơ giản về từ,câu và văn bản
- Rèn luyện cho HS các kỹ năng dùng từ đặt câu và sử dụng các dấu câu
- Bồi dưỡng cho HS thói quen dùng từ đúng, nói và viết thành câu; có ý thức sử dụng tiếng Việt văn hóa trong giao tiếp
3.2.2 Giáo viên nắm được nội dung chương trình phân môn Luyện từ và câu
lớp 5:
Phân môn LT&C lớp 5, HS cần đạt được chuẩn kiến thức và kỹ năng đã đề ra
trong CTTH như sau:
+ Biết thêm các từ ngữ (gồm cả thành ngữ, tục ngữ và một số từ Hán Việt
thông dụng) về tự nhiên, xã hội, lao động sản xuất, bảo vệ Tổ quốc
+ Hiểu thế nào là từ nhiều nghĩa; nghĩa gốc, nghĩa chuyển của từ nhiều nghĩa + Bước đầu nhận biết và có khả năng lựa chọn từ đồng nghĩa, từ trái nghĩa trong nói và viết
- Về ngữ pháp:
+ Nhận biết và có khả năng sử dụng các đại từ, quan hệ phổ biến
+ Nhận biết và có khả năng tạo lập câu ghép trong nói và viết
+ Biết dùng dấu chấm, dấu chấm hỏi, dấu chấm than, dấu hai chấm, dấu chấm phẩy, dấu ngoặc kép, dấu gạch ngang
- Phong cách ngôn ngữ và biện pháp tu từ:
+ Nhận biết và bước đầu cảm nhận được cái hay của những câu văn có sử dụngbiện pháp so sánh, nhân hóa trong các bài học
+ Biết dùng các biện pháp nhân hóa và so sánh để nói và viết được câu văn hay
Nội dung dạy LT&C trong sách Tiếng Việt 5:
6
Trang 7Nội dung Số tiết dạy
Học kì I Học kì II Cả năm
- Mở rộng và hệ thống hóa vốn từ
- Nghĩa của từ (từ đồng nghĩa, từ trái nghĩa,
từ đồng âm, từ nhiều nghĩa)
- Từ loại (đại từ, quan hệ từ)
- Câu ghép
- Văn bản (liên kết câu)
- Ôn tập (về từ loại, cấu tạo từ, câu đơn,
dấu câu, tổng kết vốn từ ở Tiểu học)
Tổng số
12115
432
10
84830
2211
5841262
3.2.3 GV cần lập ra kế hoạch dạy học đối với từng bài để các em tích cực chủ động, sáng tạo nhằm đạt mục tiêu trong từng tiết học
3.2.4 Thực hiện đúng quy trình dạy đối với phân môn luyện từ và câu:
* Đối với các tiết thực hành luyện tập:
- Cho HS đọc đầu bài, nêu yêu cầu của bài.
- GV giúp HS nắm yêu cầu bài tập
- Hướng dẫn HS chữa một phần của bài tập để làm mẫu
- Hướng dẫn HS làm bài tập vào vở (hoặc bảng nhóm, vở nháp, vở bài tập); làm cá nhân hoặc nhóm,
- Tổ chức cho HS trao đổi nhận xét về kết quả; rút ra những điểm cần ghi nhớ
- Sau mỗi bài tập, HS (GV) chốt lại kiến thức cần ghi nhớ
* Đối với bài hình thành kiến thức mới:
Bài dạy kiến thức mới về từ và câu thường gồm 3 phần: Nhận xét, Ghi nhớ vàLuyện tập
- Nhận xét là phần cung cấp ngữ liệu có liên quan đến nội dung bài học và nêu
câu hỏi (bài tập) gợi ý cho HS phân tích nhằm giúp các em tự hình thành kiến thức Ngữ liệu thường được rút ra từ chính các bài tập đọc mà HS đã học Các ngữliệu mang tính điển hình cao để đảm bảo cho việc hình thành kiến thức mới cho các em đạt hiệu quả cao GV tổ chức cho HS khai thác ngữ liệu ở phần nhận xét theo các hình thức:
+ Trao đổi chung cả lớp
+ Trao đổi theo từng nhóm
+ Tự làm bài cá nhân
Dù theo hình thức nào thì GV cũng cần chú ý dẫn dắt HS để hướng cho các em
tự rút ra những điểm cần ghi nhớ về kiến thức
- Ghi nhớ là phần chốt lại những những điểm cốt lõi về kiến thức được rút ra qua
việc phân tích ngữ liệu HS cần nắm vững kiến thức này bằng cách:
+ Tự rút ra những điểm chính cần ghi nhớ qua phân tích ví dụ
Trang 8+ Đọc phần Ghi nhớ trong SGK.
+ Nêu những điểm cần ghi nhớ (không cần nhìn SGK)
- Luyện tập là phần bài tập thực hành nhằm củng cố và vận dụng kiến thức đã
học HS cần chủ động nhiều hơn khi thực hiện các yêu cầu của bài tập GV có thể cho HS nhắc lại một số kiến thức có liên quan, sau đó tổ chức cho HS
làm bài tập theo các hình thức cá nhân, cặp đôi, nhóm, Chú ý:
+ Hướng dẫn HS tìm hiểu kỹ yêu cầu của bài tập
+ Chữa mẫu cho HS một bài hoặc một phần của bài tập
+ Hướng dẫn HS bảng lớp, bảng nhóm, vở nháp, vở bài tập,…
+ Hướng dẫn HS tự kiểm tra hoặc đổi bài để bạn kiểm tra
+ Hướng dẫn HS chữa bài tại lớp để rút kinh nghiệm chung và củng cố kiến thức, kỹ năng cần đạt
3.2 5 Sử dụng các phương pháp dạy học đối với phân môn LTVC lớp 5:
Phân môn Luyện từ và câu có nhiệm vụ rèn cho HS dùng từ đúng, nói viết thành câu, bởi vậy cần khai thác triệt để thế mạnh của PPDH luyện tập theo mẫu,
phương pháp phân tích ngôn ngữ, phương pháp thực hành giao tiếp,
* Phương pháp luyện tập theo mẫu:
Đối với HS Tiểu học nói chung và HS lớp 5 nói riêng, khi dạy Luyện từ và câu
GV nên sử dụng phương pháp luyện tập theo mẫu để các em dễ dàng lĩnh hội được kiến thức và kĩ năng sử dụng tiếng Việt Trong giờ dạy, GV đưa ra các mẫu
cụ thể về lời nói hoặc mô hình lời nói (cũng có thể cùng HS xây dựng mẫu lời nói), để thông qua đó, hướng dẫn HS nhận xét, phân tích để rút ra những kiến thức, kĩ năng của bài học yêu cầu, từ đó có thể thực hành, luyện tập theo mẫu Mẫu ở đây được coi là một phương tiện để “thị phạm hóa”, giúp HS tiếp nhận những lý thuyết ngôn ngữ không phải chỉ bằng cách nghe qua lời giảng của GV
mà còn được tận mắt chứng kiến, tận mắt được “nhìn” một cách tường minh mẫu
mà mình cần làm theo
Ví du: Khi dạy nội dung bài học Mở rộng vốn từ thiên nhiên (tuần 9, TV 5 tập 1,
trang 87) Với bài tập 1:
- Giúp HS nắm vững yêu cầu bài tập
- GV nói: Trong mẩu chuyện “ Bầu trời mùa thu”, mỗi bạn nhỏ có cách cảm nhận miêu tả bầu trời rất khác nhau
- GV ghi câu làm mẫu lên bảng: Các em hãy nhìn lên bầu trời mà xem Mùa
hè, nó rất nóng và cháy lên những tia sáng của ngọn lửa.
- Tổ chức cho HS làm bài, trình bày kết quả Cả lớp, GV nhận xét ghi ý đúng:
xanh như mặt nước mệt mỏi trong ao
được rửa mặt sau cơn mưa
bầu trời xanh biếc
dịu dàng
buồn bã
8
Trang 9* Phương pháp phân tích ngôn ngữ:
Đây là PPDH trong đó HS dưới sự tổ chức và hướng dẫn của GV, tiến hành tìm hiểu các hiện tượng ngôn ngữ, quan sát và phân tích các hiện tượng đó theo định hướng của bài học, cũng tức là theo định hướng của nội dung khoa học bộ môn, trên cơ sở đó rút ra những nội dung lí thuyết hoặc thực hành cần ghi nhớ Cụ thể
là, GV hướng dẫn HS phân chia đối tượng (chứa hiện tượng ngôn ngữ cần lĩnh hội) ra thành những bộ phận, những khía cạnh, những mặt khác nhau để lần lượttìm hiểu một cách kĩ càng hơn, sâu sắc hơn, nhằm mục đích nhận thức về đối
tượng một cách đầy đủ, chính xác
* Phương pháp thực hành giao tiếp:
Phương pháp thực hành giao tiếp rất cần được sử dụng trong giờ Luyện từ và
câu , bởi vì, mọi hiện tượng từ ngữ, ngữ pháp trong SGK không nằm ngoài môi trường giao tiếp của lứa tuổi HS Phương pháp này không phải chỉ là cách hướng dẫn HS vận dụng lí thuyết được học vào thực hiện các nhiệm vụ của quá trình giaotiếp, mà còn là phương pháp cung cấp lí thuyết cho HS trong chính quá trình giao tiếp Khi vận dụng phương pháp thực hành giao tiếp vào dạy học Luyện từ và câu,chúng ta đã tận dụng vốn hiểu biết về từ ngữ, ngữ pháp của HS vào dạy học để HScảm thấy nhẹ nhàng hơn trong việc tiếp nhận kiến thức và rèn luyện các kĩ năng mới
Ví dụ:
Em chọn dấu chấm, dấu chấm hỏi hay dấu chấm than để điền vào từng ô
trống trong mẫu chuyện vui sau đây
Tùng bảo Vinh:
- Chơi cờ ca – rô đi
- Đề tớ thua à Cậu cao thủ lắm
- A Tớ cho cậu xem cái này Hay lắm
Vừa nói, Tùng vừa mở tủ lấy quyển ảnh lưu niệm gia đình đưa cho Vinh xem
- Ảnh chụp cậu lúc lên mấy mà nôm ngộ thế
- Cậu nhầm to rồi Tớ đâu mà tớ Ông tớ đấy
- Ông cậu
- Ừ Ông tớ ngày còn bé mà Ai cũng bảo tớ giống ông nhất nhà
Theo HẢI HỒ
(Tiếng Việt 5, tập 2, trang 115)
Để hướng dẫn HS làm bài tập này, GV có thể cho HS đọc theo vai hoặc đóng vai Các lời thoại hoặc lời dẫn chuyện phải làm sao thể hiện đúng mục đích nói của câu Sau khi được nghe giọng nói, ngữ điệu lời nói, các em sẽ xác định được loại dấu câu cần đặt vào mỗi chỗ trống
Trang 10Khi vận dụng phương pháp thực hành giao tiếp vào dạy học dấu câu, chúng ta
đã tận dụng vốn hiểu biết về ngôn ngữ nói của HS vào dạy học để trẻ cảm thấy nhẹ nhàng hơn trong việc tiếp nhận kiến thức và rèn luyện các kĩ năng học tập mới
Ngoài 3 phương pháp nêu trên, trong giờ Luyện từ và câu ở lớp 5, tùy từng nội dung bài học, điều kiện của lớp học và đối tượng HS từng vùng miền, GV có thể
vận dụng nhiều phương pháp khác nhau để HS có thể chiếm lĩnh kiến thức như phương pháp trò chơi học tập, phương pháp thảo luận nhóm, phương pháp đóng vai, v v
3.2 6 Nhấn mạnh những điều cần lưu ý khi dạy phân môn LTVC 5:
* Đối với dạng bài mở rộng và hệ thống hóa vốn từ: Nếu trình độ HS trong lớp
còn hạn chế về Tiếng Việt, GV chỉ có thể yêu cầu tìm được một vài từ thông dụng theo gợi ý trong SGK (tùy thuộc khả năng và vốn sống của HS) hoặc chủ động dẫn dắt, gợi ý, giải nghĩa từ ngữ bằng nhiều hình thức khác nhau để bổ sung vốn Tiếng Việt và giúp các em dễ thực hiện yêu cầu của bài tập; hạn chế HS tự làm bàihoặc trao đổi theo nhóm để bớt khó khăn cho HS đối với giờ học Luyện từ và câu
Ví dụ: Trong bài Mở rộng vốn từ: Hữu nghị - Hợp tác (Tuần 6)
Bài tập 2 yêu cầu như sau: Xếp các từ có tiếng hợp cho dưới dây thành hai nhóm a
và b:
( hợp tình, hợp tác, phù hợp, hợp thời, hợp lệ, hợp nhất, hợp pháp, hợp lực, hợp lí, thích hợp)
a Hợp có nghĩa là ‘’gộp lại” (thành lớn hơn) M: hợp tác.
b Hợp có nghĩa là “ đúng với yêu cầu, đòi hỏi nào đó” M: thích hợp.
GV có thể giúp HS hiểu nghĩa từ hợp pháp (đúng với pháp luật) để các em có
thể xếp vào nhóm b
Khi HS tập giải nghĩa từ, GV cũng cần chấp nhận nhiều cách diễn đạt khác nhau (đôi khi còn vụng về, “ngây ngô”), miễn sao thể hiện được sự cảm nhận đúng và biết cách dùng từ không sai lạc về ý nghĩa Từ đó, GV uốn nắn để các em biết cách giải nghĩa từ cho chính xác
* Đối với loại bài hình thành kiến thức lý thuyết: Để phù hợp với đặc điểm
nhận thức của HS lớp 5, GV cần khai thác và vận dụng hiệu quả phương pháp phân tích ngôn ngữ Tư duy phân tích, tổng hợp của HS lớp 5 đã bước đầu hình
thành, các em đã biết tri giác các tài liệu học tập để tìm ra những hiện tượng lặp lại
và phát hiện bản chất của sự vật, hiện tượng Để giờ học lí thuyết đảm bảo tính vừa
sức và tạo được hứng thú với HS, GV cần phối hợp sử dụng phương pháp luyện tập theo mẫu, phương pháp thực hành giao tiếp, phương pháp thảo luận nhóm
Ví dụ: Khi dạy bài Từ đồng âm, để giúp HS nhận biết khái niệm về từ đồng âm
và phân biệt nghĩa của các từ đồng âm, GV nên cho HS thảo luận nhóm để các em huy động vốn hiểu biết của mình về từ đồng âm và cùng nhau trao đổi những hiểu biết của mình về từ đồng âm mà bài học yêu cầu
10
Trang 11* Đối với loại bài luyện tập: Tùy từng nội dung cụ thể, GV có thể sử dụng phối
hợp các phương pháp dạy học: phương pháp thực hành giao tiếp, phương pháp thảo luận nhóm, phương pháp trò chơi học tập, để HS có thể thực hành các kiến
thức lí thuyết được học một cách linh hoạt vào các tình huống sử dụng ngôn ngữ
cụ thể
3.2.7: Ngoài các biện pháp đã nêu, GV cần:
- Tham khảo các loại sách như: 35 đề ôn luyện Tiếng Việt ( Lớp 5- 2 tập); Tiếng việt nâng cao 5, từ điển Tiếng Việt, phương pháp dạy LTVC lớp 5,
- Thường xuyên dự giờ đồng nghiệp để trao đổi kinh nghiệm, học tập các chuyên
đề LTVC do huyện, trường tổ chức
- Nhắc nhở HS chăm học, chuẩn bị bài ở nhà, tham khảo từ điển và các loại sách liên quan đến môn LTVC; trao đổi thường xuyên với phụ huynh về việc học của các em
- Vào 15 phút truy bài đầu giờ, từng cặp học sinh kiểm tra chéo vở bài cũ, phần chuẩn bị cho bài mới
Tóm lại: Để giúp học sinh học tốt phân môn LTVC lớp 5 không chỉ là nhiệm
vụ của giáo viên và nhà trường, mà cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa gia đình và nhà trường Bởi khi học sinh chưa đi học chưa hề biết một quy tắc nào nhưng các
em vẫn có thể nói được thành câu đúng Chính vì vậy, gia đình phải là cơ sở để các
em xác định tốt thái độ học tập Những lỗ hổng về kiến thức cần được bù đắp bằng cách gia đình kèm cặp thêm, kết hợp với giáo viên phải nhắc nhở, hướng dẫn tỉ mỉ
để các em lắp được phần còn yếu đó
DẠY THỰC NGHIỆM ( TUẦN 7) Tiết 13: TỪ NHIỀU NGHĨA
I Mục tiêu:
- Nắm được kiến thức sơ giản về từ nhiều nghĩa (Nội dung Ghi nhớ)
- Nhận biết được từ mang nghĩa gốc và nghĩa chuyển của một số từ nhiều nghĩa
- Tìm được ví dụ về sự chuyển nghĩa của 3 trong số 5 từ chỉ bộ phận cơ thể người
và động vật (BT2)
II Đồ dùng dạy - học:
- Viết sẵn bài tập 1 (phần Nhận xét) trên bảng lớp
- Bảng phụ viết ví dụ trong phần Ghi nhớ; bài 1- Luyện tập
- Tranh ảnh về các sự vật, hiện tượng, hoạt động có thể minh hoạ cho các từ nhiều nghĩa
- Vở bài tập Tiếng Việt 5 - Tập 1; từ điển Tiếng Việt
III Các hoạt động dạy- học:
A Kiểm tra bài cũ:
Trang 12- Em hiểu từ đồng âm như thế nào? Cho
ví dụ
- GV nhận xét, cho điểm
B Bài mới:
1 Giới thiệu bài:
- GV nêu mục tiêu tiết học
2 Phần Nhận xét:
Bài 1:
- Cho HS đọc nội dung bài 1
- Bài tập yêu cầu gì?
- Hướng dẫn HS làm bài: Để tìm nghĩa ở
cột B thích hợp với nghĩa ở cột A các em
hãy dùng thước nối từ với nghĩa
- Yêu cầu HS tự làm bài GV theo dõi,
+ Bộ phận ở hai bên đầu người hoặc
động vật, dùng để nghe được gọi là gì?
+
- 3 HS lên làm bài; lớp theo dõi và nhận xét
- HS nghe giới thiệu, ghi vở đầu bài
- 1 HS đọc to, lớp theo dõi SGK
- Tìm nghĩa ở cột B thích hợp với nghĩa
ở cột A
- HS nghe
- 1HS lên bảng làm; HS dưới lớp làm bài vào vở
- Lớp nhận xét, chữa bài
Lời giải: răng - b; mũi - c; tai- a
- 3 đến 4 cặp HS thực hành hỏi - đáp: + Tai
Tai a) Bộ phận ở hai bên đầu người hoặc động vật, dùng để nghe
Răng b) Phần xương cứng, màu trắng, mọc trên hàm, dùng để cắn, giữ và nhai
thức ăn
Mũi c) Bộ phận nhô lên ở giữa mặt người hoặc động vật có xương sống,
dùng để thở và ngửi
- GV nhấn mạnh: Các nghĩa mà các em
vừa xác định cho các từ răng, mũi, tai là
nghĩa gốc ( nghĩa chính của từ - nghĩa
ban đầu)
- Nghĩa ban đầu của từ được gọi là gì?
- Nghĩa gốc là gì?
- GV ghi bảng, yêu cầu HS ghi vở:
Nghĩa ban đầu của từ được gọi là nghĩa