1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

BẢN THUYẾT MINH CHI TIẾT VỀ DỰ ÁN LUẬT VIỆC LÀM

25 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 258 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính sách việc làm, hệ thống chính sách và giải pháp cụ thể hoá quan điểm đường lối của Đảng và Nhà nước trong việc thựchiện mục tiêu giải quyết việc làm cho lao động xã hội, phát triển

Trang 1

BẢN THUYẾT MINH CHI TIẾT

VỀ DỰ ÁN LUẬT VIỆC LÀM

Việc làm và thất nghiệp là một trong những vấn đề có tính chất toàn cầu,

là mối quan tâm của hầu hết các quốc gia, bởi nó ảnh hưởng trực tiếp tới sự phát triển của một đất nước Tăng việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp là một trong những biệnpháp tốt nhất để từng bước ổn định và nâng cao đời sống nhân dân, đảm bảo sự pháttriển bền vững

Việc làm đang là vấn đề kinh tế - xã hội bức xúc và nhạy cảm nhất vì nó đã vàđang gõ cửa đến từng gia đình Đối với Quốc gia, thất nghiệp, thiếu việc làm là sự lãngphí nguồn nhân lực Đối với gia đình và xã hội, thất nghiệp, thiếu việc làm, “nhàn cư

vi bất thiện” là mầm mống đưa con người mắc các tệ nạn xã hội, vào vòng phạm pháp,làm mất nhân cách con người Do vậy, tạo việc làm đi đến toàn dụng nhân lực đượcxem là một quốc sách trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

Quyền lao động và đảm bảo việc làm của người lao động đã được khẳng địnhtrong Hiến pháp nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và đã được cụ thể hoátrong Bộ luật Lao động đầu tiên ở nước ta Chính sách việc làm, hệ thống chính sách

và giải pháp cụ thể hoá quan điểm đường lối của Đảng và Nhà nước trong việc thựchiện mục tiêu giải quyết việc làm cho lao động xã hội, phát triển thị trường lao động,góp phần giảm tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị, tăng tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ởnông thôn, là một trong những chính sách cơ bản nhất của quốc gia nhằm giải quyếtthoả đáng nhu cầu việc làm, bảo đảm cho mọi người có khả năng lao động đều có cơhội có việc làm; góp phần đảm bảo an toàn, ổn định và phát triển xã hội

I SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH LUẬT VIỆC LÀM

Việc làm là một trong những nhu cầu cơ bản của người lao động để bảo đảmcuộc sống và phát triển toàn diện.Tạo việc làm cho người lao động, bảo đảm quyềnbình đẳng về việc làm cho mọi người lao động là trách nhiệm của mọi quốc gia Nhận

thức rõ tầm quan trọng của vấn đề, Hiến pháp năm 1992 đã quy định “Nhà nước và xã hội có kế hoạch tạo ngày càng nhiều việc làm cho người lao động” (Khoản 2 Điều 55) Theo đó, Bộ luật lao động năm 2012, Luật bảo hiểm xã hội năm 2006, Luật người

lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2006, Luật dạy nghềnăm 2006, và các văn bản hướng dẫn thi hành luật bước đầu đã điều chỉnh một sốnội dung trong quan hệ xã hội về việc làm Các quy định này bước đầu đã tạo hànhlang pháp lý cho các quan hệ xã hội về việc làm, thị trường lao động phát triển theocác quy luật của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, góp phần tạongày càng nhiều việc làm và giảm tỷ lệ thất nghiệp Tuy nhiên, cùng với sự hình thành

và phát triển thị trường lao động trong nền kinh tế thị trường, các quan hệ xã hội vềviệc làm ngày càng phát triển đa dạng và linh hoạt hơn, vì vậy thực hiện chính sáchpháp luật về việc làm đã và đang bộc lộ nhiều hạn chế, ngoài ra còn có một số vấn đềmới về việc làm phát sinh cần được pháp luật điều chỉnh Cụ thể như sau:

Trang 2

- Việc làm là mối quan tâm của toàn xã hội, là chỉ tiêu kinh tế xã hội quan trọngđối với một đất nước nhưng đến nay chưa có một luật riêng điều chỉnh tất cả các quan

hệ xã hội về việc làm Vấn đề việc làm được quy định trong nhiều văn bản luật khácnhau và chủ yếu trong các văn bản dưới luật nên thiếu đồng bộ, chưa có sự thống nhất,gây nhiều khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai;

- Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về việc làm hiện nay chủ yếu điềuchỉnh quan hệ xã hội về việc làm của nhóm đối tượng có quan hệ lao động (thông quahợp đồng lao động), trong khi đó số lượng lao động không có quan hệ lao động ởnước ta lại rất lớn1 nhưng chưa có luật điều chỉnh, quản lý;

- Chính sách, chế tài về việc làm và tạo việc làm chưa đủ mạnh để xóa bỏ mọirào cản, giải phóng năng lực của mọi người cho phát triển kinh tế-xã hội; chính sáchđầu tư, huy động vốn kém hiệu quả đã tác động không nhỏ đến giải quyết việc làm;chính sách thu hồi, chuyển đổi mục đích sử dụng đất từ đất nông nghiệp sang đất phinông nghiệp, đô thị hóa đang gây ra thiếu việc làm ở nông thôn;

- Chất lượng lao động hạn chế, có khoảng cách lớn giữa học và làm việc dochưa xây dựng được bộ tiêu chuẩn yêu cầu kỹ năng nghề nghiệp theo ngành nghề, vịtrí công việc để tổ chức đánh giá, công nhận kỹ năng nghề nghiệp của người lao độnggây lãng phí lớn về sử dụng nhân lực; gây hạn chế trong việc di chuyển lao động trongnước cũng như quốc tế, đặc biệt trong khu vực các nước ASEAN;…

- Yêu cầu về chính sách phát triển thị trường lao động đã được Văn kiện Đạihội Đảng toàn quốc đề cập khá rõ2, song chưa được thể chế hóa bằng các quy địnhpháp luật cụ thể, mô hình hoạt động dịch vụ việc làm chưa đáp ứng được sự phát triểncủa thị trường lao động, Xu hướng trên thế giới hiện nay, dịch vụ việc làm côngđang giữ vai trò chủ đạo trong thực hiện chính sách bảo đảm việc làm và kết nối hiệuquả cung, cầu lao động

Ngoài ra, các quy định của pháp luật về thị trường lao động còn thiếu hoặckhông phù hợp với thực tiễn Những hạn chế về chính sách thị trường lao động làmmất cân đối cung, cầu lao động, hạn chế cơ hội tham gia thị trường lao động của ngườilao động Các vấn đề như thông tin thị trường lao động, kết nối cung, cầu lao động,hợp tác công - tư trong hoạt động dịch vụ việc làm, chưa được điều chỉnh bằng vănbản luật

- Chính sách bảo hiểm thất nghiệp còn hạn chế trong việc thực hiện đúng chức

1 Theo Báo cáo Kết quả điều tra lao động – việc làm năm 2011 của Tổng cục Thống kê, lao động làm công ăn lương chiếm khoảng 34,6% tổng số lao động đang làm việc trong nền kinh tế, trong khi đó lao động không có quan hệ lao động chiếm 65,4%.

2 Phát triển đa dạng các ngành, nghề để tạo nhiều việc làm và thu nhập; khuyến khích, tạo thuận lợi để người lao động học tập, nâng cao trình độ, tay nghề, đồng thời có cơ chế, chính sách phát hiện, trọng dụng nhân tài Đẩy mạnh phát triển thị trường lao động là một trong những yêu cầu trong nội dung Phát triển đồng bộ các yếu tố thị trường và các loại thị trường của định hướng “Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” - Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI.

2

Trang 3

năng và vai trò là chính sách bảo đảm về việc làm toàn diện cho người lao động Cácquy định hiện hành về bảo hiểm thất nghiệp mới chỉ dừng ở việc hỗ trợ người lao độngsau khi họ bị mất việc làm mà chưa có chính sách để ngăn ngừa, hạn chế thất nghiệp,

hỗ trợ người sử dụng lao động Đồng thời, trong quá trình thực hiện chính sách bảohiểm thất nghiệp cũng bộc lộ một số hạn chế như về đối tượng, điều kiện, tổ chức thựchiện,…Do vậy, cần cụ thể hóa trách nhiệm của Nhà nước, của người lao động, người

sử dụng lao động trong việc phòng ngừa, hạn chế thất nghiệp và mở rộng cơ hội thamgia, cũng như tổ chức thực hiện lại chính sách bảo hiểm thất nghiệp cho mọi người laođộng

Việc ban hành Bộ luật Lao động năm 2012 bước đầu góp phần định hướng choviệc khắc phục những hạn chế nêu trên; tuy nhiên, Bộ luật Lao động chỉ mới điềuchỉnh lao động có quan hệ lao động, nhiều quy định trong Bộ luật mang tính chấtkhung, chưa khắc phục những hạn chế và điều chỉnh toàn diện quan hệ xã hội về việclàm Do vậy, một dự án Luật để quy định, thể hiện vai trò chính sách của Nhà nước vềviệc làm, vị trí của chính sách việc làm trong đời sống xã hội được đặt ra, cụ thể:

- Chính sách việc làm là chính sách quan trọng trong hệ thống chính sách ansinh xã hội, nhằm phòng ngừa rủi ro cho người lao động, hướng đến mục tiêu việc làmbền vững cho người lao động và tạo cơ hội bình đẳng về việc làm cho mọi người trong

xã hội, nâng cao trách nhiệm của nhà nước và xã hội đối với vấn đề thúc đẩy việc làm,cải thiện điều kiện làm việc, thu nhập hợp lý và chất lượng việc làm tốt hơn cho ngườilao động

- Có những chính sách ưu tiên thúc đẩy việc làm đối với nhóm lao động yếuthế, lao động nữ, lao động trong khu vực nông nghiệp, nông thôn, lao động tự làm,thanh niên,… nhằm tăng cường tính bền vững đối với việc làm ở nhóm đối tượng vàcác khu vực

- Khuyến khích sự tham gia của xã hội để phát triển việc làm thông qua việchuy động và đa dạng hóa các nguồn lực; xã hội hóa dịch vụ công; mở rộng sự tham giacủa cộng đồng, các tổ chức xã hội và cá nhân; phát triển thị trường lao động chủ động,trong đó người lao động và doanh nghiệp đóng vai trò tích cực

- Bảo đảm khuôn khổ pháp lý nhằm xây dựng cơ chế thông tin - dự báo, địnhhướng cho việc phát triển thị trường lao động phù hợp với nền kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho quá trìnhtái cơ cấu nền kinh tế và thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội

Chính vì vậy, việc xây dựng Dự án Luật việc làm là hết sức cần thiết, phù hợpvới các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, góp phần khắc phục các hạnchế của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hiện hành về việc làm, đáp ứng với yêucầu thực tiễn, bảo đảm yêu cầu hội nhập quốc tế, thúc đẩy, ổn định, bảo đảm việc làm

và việc làm bền vững cho người lao động Việc xây dựng và ban hành Dự án Luật việclàm cũng nhằm thực hiện Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 25 tháng 7 năm 2008 của

3

Trang 4

Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương khóa X3 cũng như bảo đảm thực hiệncác Công ước quốc tế về việc làm mà Việt Nam đã và đang chuẩn bị tham gia4.

II MỤC TIÊU, QUAN ĐIỂM, ĐỊNH HƯỚNG LUẬT VIỆC LÀM

1 Mục tiêu

Luật việc làm được xây dựng nhằm các mục tiêu chính sau đây:

- Khẳng định quyền làm việc của người lao động Nhà nước tạo điều kiện thuậnlợi để người lao động có được việc làm phù hợp với nhu cầu, năng lực và điều kiệnthực tế

- Thể chế hóa thị trường lao động trong nền kinh tế thị trường định hướng xãhội chủ nghĩa

- Phát triển lực lượng lao động, phát triển kỹ năng nghề cho người lao độngnhằm tăng năng suất lao động, vị thế của người lao động khi hội nhập kinh tế quốc tế

và tiến tới việc làm bền vững

- Tiếp tục hoàn thiện và triển khai thực hiện tốt các quy định của pháp luật vềviệc làm

- Kịp thời điều chỉnh cả người lao động có quan hệ lao động và người lao độngkhông có quan hệ lao động

- Việc làm là một trong những lưới an sinh xã hội tốt nhất cho người lao động,

do vậy Luật việc làm thể hiện cụ thể các chính sách an sinh xã hội

2 Quan điểm

Soạn thảo Luật việc làm phải dựa trên những quan điểm cơ bản, xuyên suốt cácvấn đề về việc làm để: (i) phù hợp với thực tiễn của lao động, việc làm, thị trường laođộng của Việt Nam hiện hành và (ii) dự báo tốt xu hướng phát triển của việc làm, quan

hệ việc làm, thị trường lao động của Việt Nam đặt trong bối cảnh hội nhập kinh tếquốc tế

a) Những quan điểm cơ bản, chỉ đạo xuyên suốt quá trình xây dựng Luật việc làm:

- Khẳng định và bảo vệ quyền làm việc của người lao động thể hiện sự quántriệt tư tưởng chiến lược của Đảng "vì con người, và phát huy nhân tố con người", màtrước hết là người lao động Đây là đặc trưng của Luật việc làm của bất kỳ nước nào

có cơ chế thị trường Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, trước bối cảnh của toàncầu hoá ngày càng sâu sắc và biến động của nền kinh tế, điều này càng cần phải đượcquan tâm…

3 Nghị quyết về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về thanh niên và công tác thanh niên.

4 Công ước 122 về Chính sách việc làm (1964), Công ước số 111 về Phân biệt đối xử trong việc làm và nghề nghiệp (1958), Công ước 159 về Tái thích ứng nghề nghiệp và việc làm của người lao động có khuyết tật (1959), Công ước 88 về Dịch vụ việc làm (1948), Công ước 181 về tổ chức việc làm tư nhân (1997), và Công ước 168 về Xúc tiến việc làm và bảo vệ chống thất nghiệp (1988), Công ước số 100 về Trả công bình đẳng giữa lao động nam và nữ cho một công việc ngang nhau (1951) và Công ước 102 về Quy phạm tối thiểu về an sinh xã hội (1952)

4

Trang 5

- Khẳng định và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động.

Đó là quyền tự chủ sản xuất kinh doanh của người sử dụng lao động dù đó là doanhnghiệp Nhà nước hay doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp trong nước hay doanhnghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Đó là quyền tuyển chọn và sử dụng lao động: ngườilao động có quyền lựa chọn việc làm thì người sử dụng lao động có quyền tuyển chọnlao động, quyền tăng giảm lao động theo nhu cầu sản xuất kinh doanh và theo quyđịnh pháp luật Người sử dụng lao động chính là cầu lao động, là nơi tạo việc làmchính thống

- Kết hợp hài hoà chính sách kinh tế và chính sách xã hội: Coi trọng chính sách

xã hội là động lực để phát triển kinh tế, đồng thời phải coi phát triển kinh tế là cơ sở vàtiền đề để thực hiện các chính sách xã hội, đặc biệt là chính sách về việc làm Do vậyviệc đưa ra các bảo đảm cho người lao động, nhất là về chính sách xã hội là điều hếtsức cần thiết, nhưng phải cân nhắc mức độ phù hợp theo từng thời kỳ để nâng dầntừng bước, có tính đến các khả năng kinh tế chung của đất nước và khả năng chi trảcủa người sử dụng lao động, cần xét tới phạm vi, biện pháp và bước đi nếu không sẽ

có thể gây thiệt hại cho chính bản thân người lao động, trước hết là về việc làm, và dovậy có thể không đạt được mục tiêu của chính sách, không bảo vệ được người laođộng trong thực tế

- Dựa trên tình hình thực tế của đất nước, kế thừa di sản tốt đẹp của dân tộc, coitrọng truyền thống lịch sử và tâm lý xã hội của nhân dân, đồng thời tiếp thu có chọnlọc tinh hoa trí tuệ của nhân loại trong lĩnh vực lao động, quản lý lao động, pháp luậtlao động Luật việc làm là sự pháp điển hoá dựa trên tổng kết kinh nghiệm lịch sử việclàm và quản lý lực lượng lao động của đất nước, có tham khảo rộng rãi kinh nghiệmcủa nhiều nước trên thế giới, đồng thời cố gắng tìm ra mô hình của mối quan hệ việclàm mới, mang đặc tính Việt Nam

- Tiếp tục tăng cường và đổi mới quản lý nhà nước về việc làm Việc làm chịu

sự điều chỉnh chính của thị trường, Nhà nước đóng vai trò là bà đỡ của quan hệ việclàm, thị trường lao động Nhà nước không can thiệp trực tiếp vào quyền tự do lựa chọnviệc làm của công dân và quyền tự chủ sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp, nhưng

có trách nhiệm ngày càng lớn trong chức năng quản lý của mình Bằng các chính sách

và pháp luật, tạo ra những chuẩn mực, hành lang pháp luật hợp lý và mềm dẻo để cảngười lao động và người sử dụng lao động có thể kết nối được

b) Những quan điểm mới:

- Cụ thể hoá Hiến pháp năm 1992, phù hợp với định hướng sửa đổi, bổ sungHiến pháp năm 1992 và kịp thời thể chế hoá mục tiêu, quan điểm, định hướng xâydựng đất nước của Đảng Cộng sản Việt Nam được thể hiện qua các văn kiện Nghịquyết Đại hội Đảng lần thứ X, lần thứ XI, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳquá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), Chiến lược phát triển kinh

tế - xã hội 2011-2020; Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị vềChiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định

5

Trang 6

hướng đến năm 2020; Nghị quyết số 15-NQ/TW ngày 01/6/2012 của Ban chấp hànhTrung ương Đảng khóa XI về một số vấn đề về chính sách an sinh xã hội giai đoạn2012-2020.

- Nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn việc thực hiện chính sách pháp Luậtviệc làm trong thời gian qua để thấy những mặt được, cũng như những hạn chế để từ

đó kế thừa và phát triển các quy định phù hợp đã đi vào cuộc sống; tiếp tục pháp điểnhoá chính sách việc làm để khắc phục tình trạng phải ban hành nhiều văn bản hướngdẫn

- Tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm xây dựng pháp luật lao động của các quốcgia trên thế giới, đặc biệt là các quốc gia thành viên ASEAN 5, thông lệ quốc tế và nộidung của các Điều ước, Công ước quốc tế mà nước ta đã phê chuẩn sao cho phù hợpvới điều kiện phát triển kinh tế xã hội của Việt nam

3 Định hướng

Định hướng soạn thảo Luật việc làm sẽ bao gồm:

- Tăng cường và tiếp tục đổi mới quản lý nhà nước về việc làm, phát triển thịtrường lao động linh hoạt Hoàn thiện chính sách pháp luật về việc làm, thị trường laođộng với mục tiêu là việc làm bền vững cho người lao động thông qua chính sách hỗtrợ tạo việc làm cho người lao động nói chung, trong đó ưu tiên thúc đẩy đối với ngườilao động thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ bị thu hồi đất nông nghiệp; người lao động

là người khuyết tật, người dân tộc ít người; người lao động thuộc khu vực biên giới,hải đảo…; cung cấp dịch vụ việc làm cho người tìm việc và người sử dụng lao động;đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia nhằm công nhận năng lực làm việcthực sự của người lao động tạo điều kiện cho người lao động tìm được việc làm phùhợp; chính sách hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ, kỹ năng nghề để duy trìviệc làm cho người lao động; chính sách hỗ trợ học nghề, hỗ trợ tìm việc làm, trợ cấpthất nghiệp đối với lao động bị mất việc làm…

- Điều chỉnh toàn bộ lực lượng lao động, bao gồm cả người lao động chưa cóviệc làm, người lao động có việc làm nhưng không có quan hệ lao động Xây dựngchính sách việc làm thống nhất để phát triển và kết nối cả cung, cầu lao động, tiến tớiviệc làm bền vững cho mọi người lao động

- Kế thừa pháp Luật việc làm hiện hành: Những vấn đề đã được điều chỉnh bởicác quy định pháp luật hiện hành và được kiểm nghiệm trong thực tiễn thì sẽ được quyđịnh chi tiết, cụ thể trong Luật việc làm để tạo thuận lợi cho việc thực thi và giảm bớtcác văn bản hướng dẫn thực hiện Những vấn đề mới phát sinh chưa được pháp luậtđiều chỉnh, chưa được thực tiễn kiểm nghiệm thì sẽ được quy định khung trong Luậtviệc làm và quy định chi tiết trong các văn bản hướng dẫn

- Giải quyết tốt mối quan hệ giữa các quy định của Luật việc làm với quy địnhcủa Bộ Luật Lao động, Luật Dạy nghề, Luật Bảo hiểm xã hội, Luật người người laođộng Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng và theo hướng thể chế hóa

5 Xây dựng một thị trường và cơ sở sản xuất duy nhất (khoản 5 Điều 1 của Hiến chương ASEAN).

6

Trang 7

những vấn đề mới về việc làm chỉ được quy định trong Bộ luật Lao động (sửa đổi); bổsung những nội dung về chính sách việc làm và thị trường lao động chưa được quyđịnh; chuyển và phát triển một số nội dung thuộc quan hệ việc làm hiện đang quy địnhtrong Luật Bảo hiểm xã hội, Luật dạy nghề vào Luật việc làm.

- Tham khảo và tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm chính sách việc làm của cácquốc gia trên thế giới, thông lệ quốc tế và nội dung của các Điều ước quốc tế mà nước

ta đã phê chuẩn hoặc tham gia phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội củaViệt Nam

III QUÁ TRÌNH SOẠN THẢO, LẤY Ý KIẾN

Thực hiện Chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh của Quốc hội nhiệm kỳ khoáXIII (2011-2015),6 được sự phân công của Chính phủ, Bộ Lao động - Thương binh và

Xã hội đã tiến hành chuẩn bị dự án Luật việc làm kể từ năm 2011

Nhiệm vụ soạn thảo Dự án Luật việc làm đã được cơ quan chủ trì soạn thảothực hiện tích cực, với tinh thần trách nhiệm cao, nghiêm túc và tuân theo đúng trình

tự thủ tục ban hành văn bản quy phạm pháp luật thể hiện trên những điểm chính sau:

1 Hoạt động của Ban soạn thảo, Tổ Biên tập

Ban soạn thảo Luật việc làm được thành lập kể từ ngày 10/10/2011 (theo Quyếtđịnh số 1245/QĐ-BLĐTBXH), là đại diện của các cơ quan: Bộ Lao động - Thươngbinh và Xã hội, Văn phòng Chính phủ, Bộ Tư pháp, Bộ Nội Vụ, Bộ Tài chính, BộCông an, Bộ Công thương, Bộ Giáo dục Đào tạo, Bộ Kế hoạch Đầu tư, Bộ Xây dựng,

Bộ Thông tin Truyền Thông, Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam, Phòng Thương mại

và Công nghiệp Việt Nam, Tòa án nhân dân tối cao, Liên minh Hợp tác xã Việt Nam,Trưởng Ban soạn thảo là Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội

Đến nay Ban soạn thảo đã tiến hành các phiên họp để: tổng kết đánh giá thihành pháp Luật việc làm; quyết định quan điểm, định hướng soạn thảo Luật việc làm;đặt ra kế hoạch soạn thảo và bố cục của dự thảo Luật việc làm; thảo luận và cho ýkiến về những nội dung lớn của Luật việc làm; thảo luận chi tiết về Dự thảo Luật việclàm

Tổ Biên tập Luật việc làm được thành lập kể từ ngày 10/10/2011 (theo Quyếtđịnh số 1246/QĐ – BSTLVL) gồm 26 thành viên để giúp Ban soạn thảo xây dựng dự

án Luật việc làm Tổ Biên tập đã tiến hành họp nhiều lần để: chuẩn bị nội dung chocác cuộc họp Ban soạn thảo; tiếp thu ý kiến Ban soạn thảo để trực tiếp soạn thảo Dựthảo Luật việc làm; lấy ý kiến các đối tượng chịu sự tác động về nội dung Luật việclàm để tiếp thu và soạn thảo dự thảo Luật việc làm

2 Về tổng kết đánh giá công tác xây dựng pháp luật về việc làm

- Tháng 9/2011, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã đề nghị các địaphương tiến hành tổng kết, đánh giá thi hành pháp Luật việc làm Trên cơ sở 34 Báocáo tổng kết của địa phương và từ thực tiễn quản lý nhà nước về việc làm, thị trường

6 Ban hành kèm theo Nghị quyết số 20/2011/QH13 ngày 17/02/2012, Nghị quyết số UBTVQH13 ngày 29/12/2011.

428/NQ-7

Trang 8

lao động, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội tiến hành thực hiện pháp luật về việclàm từ năm 1994 trở lại đây trên 3 nội dung chính: Công tác xây dựng quy phạm phápluật về việc làm; Công tác quản lý nhà nước về việc làm; Đánh giá việc thi hành phápluật về việc làm.

Qua tổng kết đánh giá thi hành, các quy định pháp luật về việc làm đã kịp thờithể chế hoá quan điểm, đường lối xây dựng kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa của Đảng ta; phù hợp với thực tiễn phát triển đất nước, thực tiễn phát triển quan

hệ việc làm, thị trường lao động từng thời kỳ và từng bước hội nhập quốc tế Tuynhiên, vẫn còn một số tồn tại bất cập cần được nhìn nhận khách quan để tiếp tục bổsung sửa đổi một cách cơ bản và toàn diện để tiếp tục hoàn chỉnh thể chế kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa, sự phát triển của quan hệ việc làm và thị trườnglao động

Bên cạnh đó, để thu thập các thông tin về tình hình thực hiện pháp luật về việclàm và lấy ý kiến địa phương về dự án Luật việc làm, Bộ Lao động - Thương binh và

Xã hội đã phối hợp với Liên hiệp các hội khoa học Việt Nam tiến hành khảo sát đánhgiá tác động của Luật việc làm tại 9 tỉnh, thành phố Nội dung cuộc khảo sát tập trungvào tình hình thực hiện quy định pháp luật về việc làm và đánh giá tác động những nộidung cơ bản của Luật việc làm

3 Việc nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng và pháp luật quốc tế

- Ban soạn thảo đã tổng hợp các quan điểm chỉ đạo của Đảng thể hiện qua Nghịquyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, lần thứ XI, các Nghị quyết Hội nghị trungương Đảng lần thứ X như: Nghị quyết số 08-NQ/TW Hội nghị lần thứ 4 của Ban Chấphành Trung ương Đảng khóa X về một số chủ trương, chính sách lớn để nền kinh tếphát triển nhanh và bền vững, Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28/1/2008 Hội nghị lầnthứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khoá X về tiếp tục xây dựng giai cấp công nhânViệt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Nghị quyết số 21-NQ/T.Ư Hội nghị lần thứ 6 BCHTW Đảng khóa X "về tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh

tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa", Nghị quyết số 31-NQ/TW ngày02/02/2009, Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành Trung ương khóa X về một số nhiệm

vụ, giải pháp lớn nhằm tiếp tục thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội toàn quốc lầnthứ X của Đảng, Chỉ thị số 22-CT/TW ngày 05/6/2008 của Ban Bí thư về tăng cườngcông tác lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ trongdoanh nghiệp, Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiếnlược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướngđến năm 2020 Các quan điểm, chủ trương của Đảng về lao động, việc làm, thị trườnglao động thể hiện qua các Nghị quyết đã được Ban soạn thảo nghiêm túc thể chế hoátrong nội dung Luật việc làm

4 Việc nghiên cứu tham khảo pháp luật quốc tế về việc làm

8

Trang 9

Ban soạn thảo đã chỉ đạo sưu tầm, nghiên cứu và dịch những bộ luật, đạo luật

về các nội dung liên quan đến Luật việc làm của các nước trên thế giới và các nướcASEAN như Luật xúc tiến việc làm Trung Quốc, Luật đào tạo, phát triển kỹ năng nghềcủa Trung Quốc, Luật đào tạo phát triển kỹ năng nghề Philippines, Luật Nhân lựcIndonexia, Đạo luật về dịch vụ việc làm của Thái Lan, Luật đảm bảo việc làm NhậtBản, Luật khung về chính sách việc làm của Hàn Quốc, Luật đào tạo, phát triển kỹnăng nghề của Hàn Quốc, Luật Bảo hiểm thất nghiệp Hàn Quốc, Luật quản lý lao độngnước ngoài của Hàn Quốc, Luật đảm bảo hiểm thất nghiệp Hàn Quốc,…Trên cơ sở cácđạo luật của các quốc gia trên, cơ quan soạn thảo đã tiến hành nghiên cứu, tham khảotrong quá trình soạn thảo Luật việc làm

Cơ quan soạn thảo cũng đã chỉ đạo nghiên cứu, tiếp thu hợp lý tinh thần nộidung các Công ước của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) mà nước ta đã phê chuẩn saocho phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam

Quá trình soạn thảo, Ban soạn thảo đã nhận được nhiều ý kiến góp ý của cácchuyên gia pháp luật các nước Đức, Hàn Quốc, Trung Quốc, Vương quốc Anh, Vươngquốc Bỉ, Đan Mạch, Nhật Bản, và tổ chức lao động quốc tế ILO - thể hiện qua việcthường xuyên tổ chức các cuộc trao đổi, hội thảo và nghiên cứu với các chuyên giaILO về tiêu chuẩn lao động, pháp luật về việc làm, dịch vụ việc làm, phát triển kỹnăng nghề

Tháng 3 và tháng 5/2011, Tổ chức lao động quốc tế (ILO) có bình luận kỹ thuậtcho dự thảo lần thứ 1 và lần thứ 2 Luật việc làm Tháng 3/2011, ILO đã gửi bản Bìnhluận kỹ thuật về dự thảo Luật việc làm Việt Nam; tháng 3/2013, ILO đã gửi Bản ghinhớ những bình luận kỹ thuật đối với dự thảo Luật việc làm Việt Nam Ngay sau khinhận được bản bình luận kỹ thuật của ILO, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã

tổ chức trao đổi và tiếp thu các ý kiến của ILO

5 Về quá trình lấy ý kiến góp ý Luật việc làm

- Ban soạn thảo, Tổ biên tập tổ chức nhiều cuộc hội thảo về từng chuyên đề,từng Chương của Dự thảo Luật việc làm để tham vấn ý kiến của các nhà khoa học, nhàquản lý lao động, quản lý doanh nghiệp, các hiệp hội, ngành nghề trong nước và nướcngoài, chuyên gia về lao động xã hội và về pháp luật lao động, các đại biểu Liên đoànlao động, Liên minh hợp tác xã, Liên hiệp các hội khoa học kỹ thuật Việt Nam, cácdoanh nghiệp và người lao động Các cuộc Hội thảo được tổ chức nghiêm túc và thuđược nhiều ý kiến tâm huyết, xác đáng

- Trong quá trình biên tập dự thảo Luật, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội

đã nghiên cứu kỹ Luật, chính sách việc làm và mô hình tổ chức thực hiện chính sáchviệc làm của các nước trong khu vực và trên thế giới để chọn lọc những quy định phùhợp với Việt Nam

- Dự thảo Luật việc làm đã được Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội gửi trựctiếp đến các Bộ, ngành, địa phương để lấy ý kiến rộng rãi 2 lần vào tháng 3 và tháng5/2012

9

Trang 10

- Dự thảo Luật việc làm cũng đã được đăng trên website của Chính phủ (ngày7/5/2012) và cổng thông tin việc làm (từ tháng 11/2011) để lấy ý kiến rộng rãi các đốitượng chịu sự tác động của Luật

- Dự thảo Luật việc làm đã trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIII cho ýkiến vào tháng 10/2012 và tháng 4/2013

- Việc soạn thảo nội dung Luật việc làm cũng đã nhận được quan tâm của các tổchức người sử dụng lao động có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (như Eurocharm,Manpower…)

IV NỘI DUNG CHỦ YẾU CỦA LUẬT VIỆC LÀM

1 Về bố cục

Luật việc làm gồm 7 Chương và 61 Điều Các điều đều được đặt tên theo quyđịnh của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật

2 Về Nội dung Luật việc làm

2.1 Chương I: Những quy định chung

a) Đối tượng áp dụng:

Luật việc làm áp dụng đối với 2 nhóm đối tượng, đó là:

- Người lao động là công dân Việt Nam từ đủ 15 tuổi trở lên, đang có việc làmhoặc không có việc làm nhưng có khả năng lao động và có nhu cầu làm việc

- Cơ quan, đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân sử dụng lao động có liên quan đến việc làm

b) Phạm vi điều chỉnh:

Luật việc làm điều chỉnh 5 nhóm vấn đề lớn:

- Hỗ trợ tạo việc làm: gồm các chính sách hỗ trợ tạo việc làm trực tiếp nhằmthúc đẩy tạo việc làm cho mọi người lao động

- Thông tin thị trường lao động: nhằm mục tiêu hình thành một cơ sở dữ liệu,một mạng lưới thông tin thị trường lao động lành mạnh, phục vụ cho việc xây dựngchính sách, quản lý các nguồn lực quốc gia, phục vụ kết nối cung, cầu lao động

- Đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia: nhằm công nhận cấp độ kỹnăng nghề nghiệp theo trình độ của người lao động tương ứng với một ngành nghềnhất định, không phân biệt trình độ của họ có được do bất kỳ loại hình, phương thứcđào tạo nào kể cả do tự rèn luyện, tích lũy kinh nghiệm, nâng cao kỹ năng nghề nghiệptrong quá trình lao động thực tiễn hay được truyền nghề

- Dịch vụ việc làm: quy định tổ chức và hoạt động dịch vụ việc làm nhằm kếtnối cung, cầu lao động, cung cấp những sản phẩm dịch vụ về việc làm cho người laođộng

- Bảo hiểm thất nghiệp: nhằm mục đích duy trì việc làm, phòng chống thấtnghiệp và trợ giúp người thất nghiệp ổn định cuộc sống, sớm quay trở lại với thịtrường lao động

Các nội dung này áp dụng đối với mọi người lao động, bao gồm cả người laođộng có việc làm (có hoặc không có quan hệ lao động) và người lao động không có

10

Trang 11

việc làm (chưa có việc làm hoặc mất việc làm), người lao động phổ thông và người laođộng có trình độ chuyên môn kỹ thuật Trong đó, chính sách hỗ trợ tạo việc làm ápdụng chủ yếu đối với người lao động chưa có việc làm, chính sách bảo hiểm thấtnghiệp áp dụng chủ yếu đối với người lao động bị mất việc làm Các quy định về dịch

vụ việc làm, thông tin thị trường lao động, đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốcgia được áp dụng chung đối với tất cả người lao động

- Người lao động được tạo cơ hội việc làm, làm việc trong điều kiện an toàn

d)Chính sách của nhà nước về việc làm

Nhà nước có trách nhiệm tạo hành lang pháp lý, để phát triển việc làm, thịtrường lao động Khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi để các tổ chức, cá nhân đầu tư,

hỗ trợ tài chính và kỹ thuật để tạo việc làm, việc làm có năng suất, chất lượng và hiệuquả Thực hiện chính sách ưu đãi đối với các ngành nghề sử dụng lao động có trình độchuyên môn kỹ thuật cao; các ngành nghề sử dụng nhiều người lao động phù hợp vớiđiều kiện phát triển kinh tế - xã hội từng địa phương Hỗ trợ người sử dụng lao động

sử dụng nhiều lao động là người khuyết tật, lao động nữ, lao động là người dân tộc ítngười để giải quyết việc làm Có chính sách phát triển thị trường lao động, bảo hiểmthất nghiệp và đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia

hệ thống đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề cho người lao động; Hướng dẫn, triểnkhai thực hiện chính sách về việc làm, bảo hiểm thất nghiệp; Tuyên truyền, phổ biến

và giáo dục pháp luật; Thưc hiện thống kê, báo cáo và Kiểm tra, thanh tra việc thựchiện pháp luật về việc làm; giải quyết khiếu nại, tố cáo về việc làm

- Tránh nhiệm của các tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghềnghiệp Việc quy định về tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghềnghiệp tham gia vào phát triển việc làm để nêu cao vai trò của các tổ chức, hội đoànthể, thực hiện cơ chế ba bên, góp phần vào việc thúc đẩy tạo việc làm Vai trò của các

tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp trong việc làm chủ

11

Trang 12

yếu là tham gia ý kiến với cơ quan nhà nước, tham gia kiểm tra, giám sát cũng như bảo

vệ quyền lợi của người lao động

- Hành vi bị nghiêm cấm: Quy định những hành vi nghiêm cấm về việc làm, thịtrường lao động, bảo hiểm thất nghiệp bao gồm: Phân biệt đối xử trong việc làm vànghề nghiệp; Xâm phạm thân thể, nhân phẩm, danh dự, tài sản, quyền, lợi ích hợppháp của người lao động, người sử dụng lao động; Sử dụng lao độngvào làm việc tráiquy định pháp luật; Dụ dỗ, hứa hẹn và quảng cáo gian dối để lừa gạt người lao độnghoặc lợi dụng dịch vụ việc làm để thực hiện những hành vi trái pháp luật; Gian lận, giảmạo hồ sơ trong việc thực hiện chính sách việc làm; Gây phiền hà, làm thiệt hại đếnquyền và lợi ích hợp pháp của người lao động, người sử dụng lao động trong lĩnh vựcviệc làm

e) Thẩm quyền quản lý nhà nước về việc làm

- Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về việc làm trong phạm vi cả nước

Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội giúp Chính phủ và chịu trách nhiệm trước Chínhphủ thực hiện quản lý nhà nước về việc làm

- Bộ, cơ quan ngang Bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có tráchnhiệm phối hợp với Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội trong quản lý nhà nước vềviệc làm

- Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý nhà nước về việc làm trong phạm

vi địa phương mình

2.2 Chương II Hỗ trợ tạo việc làm

Nội dung Chương II bao gồm các chính sách của Nhà nước nhằm hỗ trợ tạoviệc làm

- Chính sách tín dụng tạo việc làm: Đây là chính sách phát triển trên chính sách

cho vay vốn tạo việc làm từ Quỹ quốc gia về việc làm Nhà nước sử dụng Quỹ quốcgia về việc làm để cho vay đối với doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh và ngườilao động có nhu cầu và có dự án tạo việc làm (được cơ quan nhà nước có thẩm quyềnphê duyệt) Ưu tiên đối với doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh sử dụng nhiều laođộng nữ; người khuyết tật, người dân tộc thiểu số; người lao động là người khuyết tật,người dân tộc ít người, lao động thuộc hộ bị thu hồi đất nông nghiệp; thanh niên hoànthành nghĩa vụ quân sự

Quỹ quốc gia về việc làm được hình thành từ những năm 90, mục tiêu chínhcủa Quỹ là hỗ trợ tự tạo việc làm cho lao động chưa có việc làm, lao động phi chínhthức,… Quỹ này là quỹ độc lập được trích từ ngân sách nhà nước và các nguồn khác

do Ngân hàng chính sách xã hội quản lý, thực hiện cho vay ưu đãi hỗ trợ tạo và tự tạoviệc làm; đầu tư phát triển thị trường lao động trong và ngoài nước; hỗ trợ thực hiệnbảo đảm việc làm cho người lao động; thực hiện các chương trình việc làm công,…

Quỹ Quốc gia về việc làm đã được quy định khung tại chương II-Việc làm của

Bộ luật Lao động Do vậy, Luật việc làm cụ thể hóa các nội dung hoạt động của Quỹ(chính sách tín dụng tạo việc làm, hỗ trợ phát triển thị trường lao động) để dễ đi vào

12

Ngày đăng: 25/11/2021, 22:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w