1 PHẦN 1 : LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1.1 Cơ sở về pháp lí Các văn bản có nội dung liên quan như sau : - Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về “Ðổi mới
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH
KHOA SƯ PHẠM
TIỂU LUẬN KHOA HỌC QUẢN LÝ GIÁO DỤC VÀ NHÀ TRƯỜNG
ĐỀ TÀI:
QUẢN LÝ DỰA VÀO NHÀ TRƯỜNG TẠI TRƯỜNG TIỂU HỌC NGUYỄN THỊ NHỎ QUẬN 11 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH
KHOA SƯ PHẠM
NGUYỄN MỸ QUYỀN
QUẢN LÝ DỰA VÀO NHÀ TRƯỜNG TẠI TRƯỜNG TIỂU HỌC NGUYỄN THỊ NHỎ QUẬN 11 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TỪ LÍ LUẬN ĐẾN THỰC TIỄN
TIỂU LUẬN MÔN HỌC KHOA HỌC QUẢN LÝ GIÁO DỤC VÀ NHÀ TRƯỜNG
Trà Vinh, Tháng 8/2021
Trang 3i
MỤC LỤC NỘI DUNG TRANG PHẦN 1 : MỞ ĐẦU
1.1 Cơ sở về pháp lí
1.2 Cơ sở về lí luận
1.2.1 Định nghĩa của Quản lý dựa vào nhà trường (SBM –
School-based management)
1.2.2 Nguyên nhân hình thành quản lý dựa vào nhà trường
1.2.3 Trách nhiệm của các bên có liên quan trong Quản lý dựa
vào nhà trường (SBM – School-based management)
1.2.4 Nội dung chính của Quản lý dựa vào nhà trường (SBM –
School-based management):
1.2.5 Các kiểu mô hình quản lý dựa vào nhà trường
1.2.6 Các quy tắc cơ bản để áp dụng quản lý dựa vào nhà trường
1.2.7 Các nguyên tắc để quản lý dựa vào nhà trường có hiệu quả
1.2.8 Đặc trưng của quản lý dựa vào nhà trường
1.3 Cở sở về thực tiễn
1.3.1 Thực tiễn thực hiện quản lý dựa vào nhà trường trên thế
giới
1.3.2 Thực tiễn thực hiện quản lý dựa vào nhà trường trên tại
trường tiểu học Nguyễn Thị Nhỏ
2.2.3 Quản lý trường tiểu học
2.2.3.1 Trường tiểu học trong hệ thống giáo dục quốc dân
2.2.3.2 Quản lý nhà nước về giáo dục tiểu học
2.2.3.3 Quản lý trường tiểu học của Hiệu trưởng
2.3 Thực trạng về Trường Tiểu học Nguyễn Thị Nhỏ Quận 11 Thành
phố Hồ Chí Minh
2.3.1 Môi trường bên trong nhà trường
2.3.1.1 Đặc điểm của nhà trường năm học 2020-2021
Trang 4ii
2.4 Đánh giá chung
2.4.1 Mặt đạt được
2.4.2 Mặt chưa đạt được
2.5 Đề xuất biện pháp xây dựng quản lý dựa vào nhà trường tại
trường tiều học Nguyễn Thị Nhỏ Quận 11 Thành phố Hồ Chí Minh
2.5.1 Biện pháp 1 Xây dựng môi trường làm việc thân thiện -
lành mạnh, đoàn kết, dân chủ
2.5.2 Biện pháp 2 Nâng cao năng lực lãnh đạo, quản lý nhà
trường, nâng cao chất lượng và phát triển đội ngũ
2.5.3 Biện pháp 3 Chỉ đạo thực hiện kế hoạch giảng dạy, đổi mới
phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá theo hướng phát triển
năng lực học sinh
2.5.4 Biện pháp 4 Xây dựng cơ sở vật chất, tăng cường trang
thiết bị dạy học theo hướng đa dạng hóa và hiện đại hóa
2.5.5 Biện pháp 5 Thực hiện hiệu quả chính sách giáo dục, huy
động nguồn lực tài chính, xã hội hóa giáo dục
2.5.6 Biện pháp 6 Tăng cường mối quan hệ giữa nhà trường –
gia đình – xã hội, tăng cường giao lưu, hợp tác quốc tế
Trang 5iii
DANH MỤC HÌNH, SƠ ĐỒ
Hình 1 Sơ đồ Quản lý dựa vào nhà trường (SBM) Trang 3 Hình 2 Khung trách nhiệm quản lý dựa vào nhà trường Trang 6 Hình 3 Cơ sở Trường Tiểu học Nguyễn Thị Nhỏ Quận 11 Trang 15
Trang 61
PHẦN 1 : LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1.1 Cơ sở về pháp lí
Các văn bản có nội dung liên quan như sau :
- Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về “Ðổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo” yêu cầu tách quản lý nhà nước với quản trị cơ sở giáo dục; giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các cơ sở đào tạo, phát huy vai trò của Hội đồng trường, thực hiện sự giám sát của các chủ thể trong nhà trường và xã hội; tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra của cơ quan quản lý các cấp; bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch Kế hoạch triển khai chương trình tổng thể và sách giáo khoa mới đặt ra điều kiện bảo đảm là: Nhà trường phải được tự chủ về chuyên môn, tài chính và nhân sự;
- Nghị quyết số 88/2014/QH13 ngày 28/11/2014 của Quốc hội về đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông;
- Căn cứ Nghị quyết số 44/NQ-CP ngày 09/6/2014 của Chính phủ về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo và Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 18/6/2018 của Thủ tướng Chính phủ về đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông;
- Nghị định số 60/2021/NĐ-CP của Chính phủ Quy định cơ chế tự chủ tài chính cơ chế tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập khắc phục những hạn chế của Nghị định số 16/2015/NĐ-CP là các quy định về quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong việc thực hiện quy định về danh mục sự nghiệp công; giá, phí và
lộ trình tính giá dịch vụ sự nghiệp công; phân loại mức độ tự chủ tài chính; tự chủ
sử dụng nguồn tài chính; tự chủ trong hoạt động liên doanh, liên kết; quản lý, sử dụng tài sản công và các quy định khác có liên quan
- Thông tư số 41/2010/TT-BGD&ĐT ngày 30/12/2010 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc Ban hành Điều lệ trường Tiểu học kèm theo Văn bản hợp nhất số 03/VBHN-BGDĐT ngày 22/1/2014 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục & Đào tạo;
Trang 72
- Luật giáo dục số 43/2019/QH14 quyền tự chủ được cụ thể hóa ở Điều 60 Nhiệm vụ và quyền hạn của Nhà trường với các nội dung: 1/ Tổ chức tuyển sinh, giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học, chuyển giao kết quả đào tạo và nghiên cứu khoa học phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn; xác nhận hoặc cấp văn bằng, chứng chỉ theo thẩm quyền; 2/ Chủ động đề xuất nhu cầu, tham gia tuyển dụng nhà giáo, người lao động trong trường công lập; quản lý, sử dụng nhà giáo, người lao động; quản lý người học; 3/ Huy động, quản lý, sử dụng nguồn lực theo quy định của pháp luật; xây dựng cơ sở vật chất theo yêu cầu chuẩn hóa, hiện đại hóa; Các nội dung tự chủ tiếp tục cụ thể hóa tại Nghị định số 60/2021/NĐ-CP của Chính phủ Quy định cơ chế tự chủ tài chính cơ chế tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập
Tuy nhiên theo Nghị định này thì điều kiện để các trường được tự chủ hay không tự chủ và tự chủ ở mức độ nào lại phụ thuộc vào khả năng tự đảm bảo các khoản chi; điều này khó khăn cho các trường phổ thông công lập vì ngân sách nhà nước chủ đạo cho các hoạt động nhà trường
- Thông tư số 55/2011/TT-BGDĐT ngày 22/11/2011 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc Ban hành Điều lệ Ban đại diện cha mẹ học sinh; Thông tư số 16/2018/TT-BGDĐT ngày 03/8/2018 của Bộ giáo dục và Đào tạo Quy định về tài trợ cho các cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân;
- Nghị định 115/2020/NĐ-CP ngày 25/9/2020 của Chính Phủ về tuyển dụng,
sử dụng và quản lý viên chức; Nghị định 106/2020/NĐ-CP ngày 10/9/2020 của Chính phủ về vị trí việc làm và số lượng người làm việc trong đơn vị sự nghiệp công lập;
- Thông tư 37/2020/TT-BGDĐT ngày 05/10/2020 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Quy định về tổ chức hoạt động, sử dụng thư điện tử và cổng thông tin điện tử tại sở giáo dục và đào tạo, phòng giáo dục và đào tạo và cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông và giáo dục thường xuyên;
Trang 83
- Nghị định 163/2016/NĐ-CP ngày 21/12/2016 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Ngân sách; Thông tư số 342/2016/TT-BTC ngày 30/12/2016 của Bộ Tài chính Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định 163/2016/NĐ-CP;
Ngoài luật và nghị định, có nhiều văn bản hướng dẫn về quyền tự chủ của các nhà trường, song các văn bản vẫn chưa nhất quán gây sự khó khăn trong thực tiễn
1.2 Cơ sở về lí luận
Mô hình lý thuyết về quản lý dựa vào nhà trường gồm các nội dung:
1.2.1 Định nghĩa của Quản lý dựa vào nhà trường (SBM – School-based management)
Hình 1 Sơ đồ Quản lý dựa vào nhà trường (SBM)
- Quản lý dựa vào nhà trường (SBM – School-based management) là một
mô hình quản lý ngày càng được áp dụng rộng rãi ở các nhà trường trên thế giới, đặc biệt là trong hệ thống trường công
Trang 94
- Đặc điểm cơ bản của mô hình này là việc chuyển giao quyền lực quản lý tập trung sang phi tập trung và ủy thác cho nhà trường, lấy nhà trường làm cơ sở phân cấp quản lý
- Một nhà trường khi đã chọn cơ chế SBM thì sẽ trở thành một nhà trường
Mọi thành viên của nhà trường (ban giám hiệu, giáo viên, học sinh, cha mẹ học sinh…) có rất nhiều quyền tự chủ và trách nhiệm đối với việc sử dụng nguồn lực để giải quyết các vấn đề nhằm tiến hành có hiệu quả các hoạt động giáo dục, đảm bảo sự phát triển dài lâu của nhà trường
1.2.2 Nguyên nhân hình thành quản lý dựa vào nhà trường
Xét về khía cạnh tổ chức, cơ chế tập trung đã tạo ra rào cản đối với các trường, làm giảm khả năng của họ trong việc đạt tới mục tiêu giáo dục của quốc gia Thêm vào
đó, chương trình giáo dục được giới thiệu định kỳ bởi các chuyên gia và cộng đồng chịu
áp lực chính trị ngày càng lớn từ phía nhà nước, sự kỳ vọng của các cơ quan quản lý từ cấp trung ương đến địa phương, hệ thống luật pháp, tất cả khiến các công việc của nhà trường trở nên phức tạp, điều này khiến hệ thống giáo dục trở thành nạn nhân của chính
nó Mặt khác nhà nước đã thiếu sự hỗ trợ hiệu quả cho hệ thống giáo dục và đầu ra
Trong bối cảnh đó, cuộc khủng hoảng kinh tế những năm 1970 và 1980 đã ảnh hưởng sâu sắc đến hệ thống giáo dục Nhiều người tin rằng chất lượng giáo dục
sẽ có những bước phát triển mới khi cuộc cải cách giáo dục chuyển từ bình diện giáo dục trên lớp sang bình diện tổ chức nhà trường, tái cấu trúc hệ thống giáo dục
và phong cách quản lý giáo dục
Trang 105
Xét trên bình diện các yếu tố của bản thân nhà trường có ảnh hưởng rất lớn tới sự xuất hiện của quản lý dựa vào nhà trường, bao gồm: Các yếu tố cạnh tranh; Nhu cầu của dân cư; Xu hướng nâng cao chuẩn giáo dục; Sự hạn chế của cơ chế hành chính quan liêu bao cấp; Khủng hoảng do thiếu giáo dục và nhu cầu nâng cao
chất lượng học tập
1.2.3 Trách nhiệm của các bên có liên quan trong Quản lý dựa vào nhà
trường (SBM – School-based management)
Quản lý dựa vào nhà trường là mô hình hướng tới cho người dân và các thành viên trong nhà trường được tham gia vào các hoạt động quản lý theo hướng
tự chủ, tự chịu trách nhiệm nhiệm nhằm phát huy dân chủ Trong mô hình này tiềm năng của tất cả các thành viên trong và ngoài trường đều được huy động và phát triển đến mức tối đa Đặc trưng của mô hình là có sự giám sát của cộng đồng địa phương trong suốt quá trình xây dựng các vấn đề: tài chính, nhân sự, đánh giá học sinh, sử dụng hiệu quả các nguồn lực và sự phù hợp giữa nhu cầu của nhà trường với các chính sách về giáo dục nhằm mục tiêu nâng cao thành tích học tập và những kết quả khác Trách nhiệm của các thành viên và các bên liên quan trong mô hình này được xác định ở phương diện: 1/ tiếng nói, 2/sự thỏa thuận, 3/ quản lý, 4/ quyền lực khách hàng Các phương diện này có quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động đến nhà nước và cấp quản lý trong hoạch định chính sách, tác động đến nhà trường và cá nhân tiên phong
Trong mối quan hệ thứ nhất, người dân/khách hàng của giáo dục thể hiện quan điểm để nhà nước đưa ra chính sách thúc đẩy phát triển giáo dục của địa phương họ Còn sự thỏa thuận liên quan đến tiến trình dài hạn về trách nhiệm, trong đó làm rõ trách nhiệm của các cơ quan liên quan và mục tiêu được đề cập đến trong các chính sách giáo dục được thông qua Ở góc độ nhà trường thì cơ quan trực tiếp quản lý sẽ phân rõ trách nhiệm của Hiệu trưởng và Nhà trường trong việc cung cấp dịch vụ đến khách hàng, ngược lại khách hàng có tiếng nói để chính
Trang 116
quyền nêu cao trách nhiệm trong việc thực hiện Khi phân định rõ chức năng, nhiệm vụ thì trách nhiệm của Nhà trường được tăng lên, các thành viên trong bộ máy quản lý và trường tiên phong trong cải cách đổi mới sẽ đạt được hiệu quả trong các hoạt động giáo dục Như vậy, các mối quan hệ có sự ràng buộc chặt chẽ với nhau, ở một mức độ nào đó khách hàng đã trở thành bộ phận quản lý cùng với người cung cấp dịch vụ tiên phong
Tự phân tích trên và tham khảo mô hình SBM của World Bank (2009), cùng với việc quan sát sự tham gia của nhà nước và các cấp quản lý đến trường phổ thông công lập, chúng tôi khái quát trách nhiệm của các bên liên quan trong mô hình “quản lý dựa vào nhà trường” trong điều kiện của Việt Nam như sau:
Hình 2 Khung trách nhiệm quản lý dựa vào nhà trường
Quản lý trường phổ thông theo mô hình “quản lý dựa vào nhà trường”, chúng ta cần tập trung vào xây dựng cơ sở pháp lý, hoạch định chính sách; vai trò của Nhà trường/Hội đồng trường trong tự chủ thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn, tài chính và nhân sự; vai trò của các thành viên Hội đồng trường trong việc tham
Trang 12School Phân quyền cho đội ngũ giáo viên, cha mẹ học sinh;
- Sự tham gia của nhiều người và tính sáng tạo, đúng đắn trong việc ra quyết định của nhà trường;
- Các quyết định phù hợp nhất với nhu cầu của học sinh;
- Quyền tự quản và tự chịu trách nhiệm của nhà trường đối với ngân sách, nhân sự và chương trình dạy học;
- Chia sẻ truyền thông thông tin
Có 22 tiêu chuẩn đánh giá nhà trường thực hiện thành công quản lý lấy nhà trường làm cơ sở như sau:
(1) Nhà trường thực hiện hàng loạt các cải cách: đổi mới phương pháp giảng dạy; linh hoạt trong việc thực hiện và quản lí chương trình; có hệ thống chỉ dẫn quá trình dạy học;
(2) Được tự quản về tài chính;
(3) Tự quản về nhân sự, chủ động trong việc điều hành nhân sự;
(4) Xây dựng được tầm nhìn của nhà trường trên cơ sở ý kiến của tập thể; (5) Có chuẩn đán giá chất lượng của học sinh phù hợp với chuẩn chung của quốc gia và yêu cầu của địa phương;
(6) Chất lượng học sinh đạt chuẩn cao;
(7) Thay đổi cơ cấu tổ chức của nhà trường để cho nhiều người tham gia vào việc ra quyết định: giáo viên, nhân viên phục vụ, cha mẹ học sinh, các thành viên cộng đồng;
(8) Phân quyền quản lí rõ ràng;
(9) Thường xuyên đầu tư nâng cao năn lực đội ngũ;
Trang 138
(10).Có hệ thống khen thưởng bằng vật chất và tinh thần cho các cố gắng của đội ngũ và toàn bộ nhà truờng;
(11) Thoả mãn các yêu cầu của phụ huynh và cộng đồng;
(12) Cha mẹ và cộng đồng tham gia tích cực vào việc giáo dục học sinh; (13) Có hệ thống thông tin và thường xuyên tuyên truyền thông tin về nhà trường trong nội bộ và trong cộng đồng;
(14) Đảm bảo sự công bằng trong giáo dục;
(15) Kiểm tra, đán giá dựa trên chuẩn;
(16) Ứng dụng công nghệ thô tin trong dạy học và quản lí nhà truờng;
(17) Bầu không khí sư phạm hợp tác, dân chủ;
(18) Giáo viên và nhân viên nhà trường có nhiều sáng kiến cải tiến, chủ động trong công việc;
(19) Giáo viên và nhân viên nhà trường có tinh thần trách nhiệm cao, hoàn thành mọi công việc được giao;
(20) Phát triển năng khiếu của học sinh;
(21) Học sinh có phương pháp tự học, tự quản tốt;
(22) Nhà trường được chính quyền địa phương hỗ trợ và khuyến khích các hoạt động cải cách táo bạo như hỗ trợ về kĩ thuật, đáp ứng các yêu cầu của nhà trường, tạo điều kiện để trường tự quản
1.2.5 Các kiểu mô hình quản lý dựa vào nhà trường
Mỗi quốc gia đều có một cách tiếp cận và áp dụng riêng đối với quản lý dựa vào nhà trường Một mô hình quản lý dựa vào nhà trường luôn cấu thành từ
hai yếu tố cơ bản: “Ai”(who) tức người đưa ra quyết định là ai và “Cái gì” (what) tức cái được quyết định là gì Đây gọi là mối liên hệ tham gia quyết định (The
autonomy-participation nexus) Sự khác nhau ở mỗi yếu tố hoặc sự kết hợp đa dạng của hai yếu tố sẽ tạo nên các kiểu quản lý dựa vào nhà trường khác nhau Dưới đây
là một mô hình quản lý dựa vào nhà trường chủ yếu theo các tiêu chí phân loại phổ
Trang 149
biến nhất:
* Dựa vào quyền lực (The Authority Continuum)
Giới hạn quyền lực phụ thuộc vào mức độ mở rộng các thành viên tham gia quản lý và phạm vi các vấn đề mà trường học đó được quyền tự quyết Dựa vào cách phân loại này chúng ta có 5 kiểu quản lý dựa vào nhà trường
Loại quyền lực yếu (Weak Authority)
Loại quyền lực trung bình (Moderate Authority)
Loại quyền lực hơi mạnh (Somewhat Strong Authority)
Loại quyền lực mạnh (Strong Authority)
Loại quyền lực rất mạnh (Very Strong Authority)
* Dựa vào trách nhiệm (The Accountability)
Trách nhiệm là mắt xích kết nối các khâu trong quản lý Một số nước thực hiện quản lý dựa vào nhà trường nhằm tăng tính trách nhiệm và minh bạch của quá trình quản lý Có ba kiểu trách nhiệm đối với người quản lý trong quản lý dựa vào nhà trường:
- Chịu trách nhiệm thực hiện đúng các nguyên tắc và chịu trách nhiệm trước
cơ quan quản lý cấp trên
- Chịu trách nhiệm xây dựng các quy chuẩn và chịu trách nhiệm trước đồng nghiệp
- Chịu trách nhiệm về chất lượng đào tạo và chịu trách nhiệm trước cộng đồng
Trang 1510
1.2.6 Các quy tắc cơ bản để áp dụng quản lý dựa vào nhà trường
- Xây dựng phạm vi và cơ cấu chương trình cải cách
- Điều chỉnh thể chế quản lý ở TW và địa phương để hỗ trợ chương trình quản lý dựa vào nhà trường đồng thời xác định rõ vai trò, trách nhiệm của các bộ phận quản lý nhà trường
- Các quyết định đối với hoạt động của nhà trường được ban hành một cách linh hoạt hơn
- Cải thiện cơ chế và cách thức quản lý tài chính để chuyển các nguồn lực cho nhà trường
- Thiết lập các phương thức trao đổi thông tin nhằm đảm bảo trách nhiệm của nhà trường đối với các nguồn lực và quyền tự chủ mà họ được giao
- Đảm bảo cho tất cả mọi thành viên tham gia hiểu về chương trình và có các kỹ năng cần thiết để thực hiện quản lý dựa vào nhà trường
1.2.7 Các nguyên tắc để quản lý dựa vào nhà trường có hiệu quả
- Nguyên tắc hợp lý: Quản lý nhà trường linh hoạt; Phải chủ động, sáng tại trong hoạt động
- Nguyên tắc phân quyền: Giải quyết kịp thời có hiệu quả các tính huống
- Nguyên tắc tự quản: nhân sự, ngân sách, chuyên môn
- Nguyên tắc phát huy sáng tạo của đội ngũ: Xây dựng môi trường sư phạm thân thiện
Điều kiện
- Hiệu trưởng là nhà quản lý giỏi, nhà lãnh đạo giỏi
- Đội ngũ có trình độ chuyên môn nghiệp vụ, có đội ngũ cốt cán đi đầu trong cải tiến, đổi mới của nhà trường;
- Có triết lý nhà trường hướng vào chất lượng giáo dục, tính nhân văn và dân chủ trong giáo dục;
- Môi trường sư phạm: Cảnh quan sư phạm xanh, sạch đẹp
Trang 1611
- Văn hóa nhà trường: tin cậy, cộng tác, giúp đỡ lẫn nhua giữa các thành viên; hỗ trợ, khuyến khích các thành viên, đặc biệt là học sinh tham gia vào đời sống nhà trường
- Chủ động, sáng tạo thực hiện chương trình giáo dục phù hợp với điều kiện
cụ thể của nhà trường, hướng đến phát triển tất cả tiềm năng, xã hội và hình thành
kĩ năng sống của mỗi học sinh;
- Cơ cấu tổ chức nhà trường hỗ trợ học sinh học tập như: các tổ chức tư vấn tâm lý giáo dục, tư vấn hướng nghiệp, các câu lạc bộ năng khiếu, giúp đỡ học sinh khó khắn trong học tập các nguồn lực, bồi dưỡng phát triển chuyên môn cho đội ngũ….;
- Sư tham gia của cha mẹ học sinh, cộng đồng xã hội vào đời sống nhà trường Cha mẹ học sinh tham gia các hoạt động của lớp, của trường; tạo điều kiện cho con mình học tâọ và giúp chúng học tập tốt
1.2.8 Đặc trưng của quản lý dựa vào nhà trường
Các nét đặc trưng chung về quản lý dựa vào nhà trường được thể hiện trên một số phương diện như sau:
- Trách nhiệm, quyền quyết định và quản lý được trao cho hiệu trưởng, giáo viên, cha mẹ học sinh, cộng đồng xã hội và đôi khi là cả học sinh Tuy nhiên, không phải tất cả các thành viên trên luôn nằm trong ban quản lý Ở một số nơi, hiệu trưởng và giáo viên là những người duy nhất có quyền ra quyết định Cha mẹ học sinh và đại diện của các cộng đồng xã hội chỉ được khuyến khích tham gia hoặc được uỷ nhiệm một nhiệm vụ nhất định nào đó Như vậy, quản lý dựa vào nhà trường sẽ căn cứ vào tình huống cụ thể để xác định người tham gia quản lý Đặc điểm này đã phần nào thể hiện tính mềm dẻo, linh hoạt của quản lý dựa vào nhà trường
- Mục đích mà quản lý dựa vào nhà trường hướng đến là đảm bảo tính công bằng, đúng đắn và minh bạch của các quyết định được đưa ra để nâng cao chất
Trang 1712
lượng giáo dục Do đó, một trong những vấn đề cần quan tâm là phải phát huy được tính tích cực, sáng tạo của con người thông qua xây dựng văn hóa chia sẻ và tham dự ở các mức độ khác nhau tùy thuộc vào bối cảnh khác nhau
- Các thành viên tham gia quản lý trong hội đồng trường sẽ có quyền quyết định về một hoặc nhiều mảng hoạt động quan trọng của trường như: xác định tầm nhìn, chiến lược hoạt động, phân bổ tài chính, tuyển dụng hay sa thải giáo viên và nhân viên trong trường, xây dựng chương trình, lựa chọn tài liệu học tập, đầu tư cơ
sở vật chất, đánh giá giáo viên và học sinh, xử lý các khoản phúc lợi, quan hệ hợp tác
- Hiệu trưởng nhà trường là thành viên trong hội đồng trường, có vị trí pháp
lý nhưng lại phải thu hút đông đảo các thành phần khác nhau cùng tham gia trong quá trình ra quyết định đối với các vấn đề của nhà trường
1.3 Cở sở về thực tiễn
1.3.1 Thực tiễn thực hiện quản lý dựa vào nhà trường trên thế giới
Các dự án dành cho quản lý dựa vào nhà trường trong danh mục tài trợ hiện tại của Ngân hàng thế giới chủ yếu là các quốc gia ở khu vực Mỹ La tinh và Nam
Á, bao gồm Argentina, Bangladesh, Guatemala, Honduras, Ấn Độ, Mexico, và Sri Lanka Hơn nữa, một số lượng lớn các dự án hiện tại và sắp tới ở khu vực châu Phi tập trung tăng cường năng lực của các thành viên thuộc Hội đồng trường Đồng thời, có hai dự án quản lý dựa vào nhà trường được Ngân hàng thế giới hỗ trợ ở châu Âu và Trung Á(ở Cộng hoà Nam Tư thuộc Macedonia và ở Serbia và Montenegro), một quốc gia ở Đông Á và Thái Bình Dương (Philippines), Trung Đông và Bắc Phi (Li băng)
1.3.2 Thực tiễn thực hiện quản lý dựa vào nhà trường trên tại trường tiểu
học Nguyễn Thị Nhỏ
Thực tế trong nhiều năm qua, công tác quản lý dựa vào nhà trường giáo viên ở Trường Tiểu học Nguyễn Thị Nhỏ đã được thực hiện nhưng chưa đi vào
Trang 1813
chiều sâu, còn làm qua loa, hình thức đơn điệu, trùng lặp, ít hấp dẫn Trong thời đại ngày nay, từ thực tiễn xu thế phát triển nói chung, sự nghiệp đổi mới giáo dục và đào tạo nói riêng mà đặc biệt đáp ứng mục tiêu giáo dục Tiểu học thì việc tổ chức kiểm tra hoạt động sư phạm nhà giáo là hoạt động hết sức cần thiết, nhà quản lý trường tiểu học cần phải nhận thức đầy đủ tầm quan trọng của việc quản lý dựa vào nhà trường, từ đó có biện pháp quản lý khoa học và phù hợp với thực tế Để làm được điều này nhà quản lý cần nghiên cứu sâu cơ sở lý luận của việc quản lý dựa vào nhà trường
Xuất phát từ thực tế trên, tôi nhận thấy công tác quản lý rất quan trọng đặc biệt là công tác quản lý dựa vào nhà trường là một trong những nhiệm vụ then chốt quyết định sự phát triển toàn diện của nhà trường trong công cuộc đổi mới hiện nay, nên tôi đã quyết định chọn đề tài: “Quản lý dựa vào nhà trường tại trường Tiểu
học Nguyễn Thị Nhỏ Quận 11 từ lý luận đến thực tiễn” làm đề tài tiểu luận
Trang 1914
PHẦN 2: NÊU CÁC VẤN ĐỀ TẠI TRƯỜNG TIỂU HỌC NGUYỄN THỊ
NHỎ QUẬN 11 2.1 Giới thiệu về Trường Tiểu học Nguyễn Thị Nhỏ Quận 11 Thành phố Hồ Chí Minh
Trường Tiểu học Nguyễn Thị Nhỏ được thành lập theo Quyết định số 231/QĐ-UBND-NV ngày 14 tháng 4 năm 2014 của Ủy ban nhân dân Quận 11, tổng diện tích của trường là 1457,6 m2 gồm 01 trệt, 04 lầu, có 16 phòng học và các phòng chức năng đảm bảo đủ điều kiện để tổ chức 100% học sinh học 2 buổi/ngày
có bán trú Năm 2014 trường hoàn tất xây dựng và được chính thức đưa vào hoạt động Trường Tiểu học Nguyễn Thị Nhỏ có địa chỉ số 1 đường Nội bộ C khu chung
cư Phú Thọ Phường 15 Quận 11, trường nằm khu chung cư Trường Tiểu học Nguyễn Thị Nhỏ là công trình được xây dựng trên tinh thần NQ 29 về đổi mới căn bản toàn diện Giáo dục - Đào tạo
Trong điều kiện khó khăn vì trường vừa mới thành lập, tập thể sư phạm nhà trường vẫn luôn giữ tinh thần trách nhiệm, tâm huyết trong công tác, với tinh thần
“Tất cả vì học sinh thân yêu”
Nhà trường luôn nhận được sự quan tâm của Phòng Giáo dục và Đào tạo Quận 11 cũng như chính quyền các cấp Chi bộ Đảng hoạt động dưới sự quản lý của Đảng ủy phường 15, Quận 11 Đảng viên luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm Các đoàn thể hoạt động tốt, hỗ trợ cho hoạt động của nhà trường Trẻ thích đến trường và tạo được sự tín nhiệm của phụ huynh nhà trường
Đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên luôn đoàn kết, có ý thức trách nhiệm
và phấn đấu vì mục tiêu chung Bên cạnh đó, nhà trường luôn phát huy vai trò tham mưu với cấp ủy, chính quyền địa phương nhằm đẩy mạnh công tác xã hội hóa giáo dục tại đơn vị Các ban ngành, đoàn thể địa phương luôn quan tâm hỗ trợ nhà trường về mọi mặt Ban đại diện Cha mẹ học sinh nhiệt tình phối hợp với nhà trường trong các hoạt động nuôi dưỡng chăm sóc giáo dục trẻ