1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Phân tích và bình luận các quy định của pháp luật hiện hành về chuyển mục đích sử dụng đất

18 56 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 179 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy, các quyết định về giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất là tổng hợp các hành vị pháp lý có liên quan chặt chẽ với nhau của các cơ quan nhà nước có thẩm quy

Trang 1

MỤC LỤC

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

A MỞ ĐẦU 1

B NỘI DUNG 1

I Cơ sở lý luận về chuyển mục đích sử dụng đất 1

1 Khái niệm 1

2 Đặc điểm của chuyển mục đích SDĐ 2

II Quy định của pháp luật hiện hành về chuyển mục đích sử dụng đất 4

1 Căn cứ chuyển mục đích sử dụng 4

2 Các trường hợp chuyển mục đích sử dụng đất 5

3 Điều kiện chuyển mục đích sử dụng đất 8

4 Thẩm quyền quyết định chuyển mục đích sử dụng đất 9

III Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật hiện hành về chuyển mục đích sử dụng đất và giải pháp hoàn thiện 10

1 Thực tiễn 11

2 Giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật 13

C KẾT LUẬN 15

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 16

Trang 2

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Bộ TN&MT: Bộ Tài nguyên và Môi trường

2 HĐND: Hội đồng nhân dân

3 NSDĐ: Người sử dụng đất

Trang 3

A MỞ ĐẦU

Vốn đất đai của Nhà nước là hiện nay là hơn 33 triệu ha Và nhu cầu, mục đích sử dụng đất với mỗi tổ chức, cá nhân là vô cùng đa dạng Để đáp ứng những nhu cầu đó Nhà nước phải thực hiện việc phân phối và phân phối lại đất đai hợp lí và công bằng Vì vậy, các quyết định về giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất là tổng hợp các hành vị pháp lý có liên quan chặt chẽ với nhau của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc phân chia

và phân chia lại một cách hợp lý quỹ đất đai thống nhất vì lợi ích của Nhà nước

và mọi tổ chức, cá nhân sử dụng đất Trong đó, chuyển đổi mục đích SDĐ là nhu cầu của các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng, nhằm khai thác tối

đa giá trị kinh tế do đất đai đem lại Tuy nhiên, việc chuyển đổi không đúng quy hoạch, sử dụng sai mục đích, gây lãng phí, trái với quy định của pháp luật cần phải kiên quyết ngăn chặn, xử lý Chính vì những vậy, em đã lựa chọn đề số 08:

“Phân tích và bình luận các quy định của pháp luật hiện hành về chuyển mục đích sử dụng đất” để tìm hiểu, nghiên cứu làm rõ những nội dung trên.

B NỘI DUNG

I Cơ sở lý luận về chuyển mục đích sử dụng đất

1 Khái niệm

Trước hết, để xây dựng khái niệm về chuyển mục đích sử dụng đất, chúng

ta cần làm rõ thế nào là chuyển đổi; mục đích sử dụng và mục đích sử dụng đất Theo Từ điển tiếng Việt (2018), “mục đích” có nghĩa là “cái vạch ra làm đích để đạt cho được” [6,tr.820]; còn “sử dụng” có nghĩa là “đem dùng vào mục đích nào đó” [6,tr.108] Như vậy, có thể hiểu mục đích sử dụng là định hướng và khai thác công dụng, đặc tính hữu ích của đối tượng nào đó vào một hoặc một số mục tiêu cụ thể Trong trường hợp pháp luật quy định cụ thể mục đích sử dụng của đối tượng nào đó thì quy định đó tạo ra những hạn chế đối với việc khai thác công dụng của đối tượng theo đúng mục đích đã xác định

Từ điển tiếng Việt thông dụng cho rằng: “Chuyển đổi là đổi loại này ra loại khác, theo tỷ lệ nào đó” [9, tr.175].

Và theo Từ điển Luật học (2006): “Mục đích sử dụng đất là cách thức mà Nhà nước phân loại đất đai và yêu cầu người quản lý phải tuân thủ các quy định khi giao đất, cho thuê đất, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ,

Trang 4

người sử dụng đất có nghĩa vụ phải sử dụng đúng mục đích đất được giao ghi trong quyết định giao đất, cho thuê đất” [7, tr.545]

Dưới góc độ ngôn ngữ là vậy, còn dưới góc độ pháp lý thì chuyển mục đích

sử dụng đất được định nghĩa là gì? Pháp luật đất đai hiện hành mà đơn cử là Luật đất đai năm 2013 không đưa ra bất kỳ định nghĩa cụ thể thế nào là mục đích sử dụng đất cũng như chuyển mục đích sử dụng đất Tuy nhiên, Thông tư

số 27/2018/TT-BTNMT ngày 14/12/2018 của Bộ TN&MT đã giải thích mục đích sử dụng đất bằng cách căn cứ vào 3 nhóm đất, 19 loại đất cụ thể quy định tại Điều 10 Luật đất đai năm 2013 để xác định 61 loại đất cụ thể nhằm làm rõ phạm vi sử dụng của từng loại đất Và trên cơ sở các quy định của pháp luật về phân loại đất, chế độ sử dụng đất, quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất, có thể hiểu mục đích sử dụng đất là mục đích mà cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định cho một thửa đất cụ thể làm căn cứ để Nhà nước thực hiện các mục tiêu quản lý đất đai, đồng thời để người sử dụng đất có thể sử dụng và khai thác công dụng của thửa đất trong giới hạn của mục đích sử dụng đất nhằm thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội

Trên thực tế, việc chuyển mục đích sử dụng đất đưa đến thửa đất được chuyển từ nhóm đất này sang nhóm đất khác, ví dụ, chuyển đất nông nghiệp thành đất phi nông nghiệp …Chuyển mục đích sử dụng đất được phân thành 2 nhóm: Chuyển mục đích sử dụng đất hợp pháp và chuyển mục đích sử dụng đất bất hợp pháp (chuyển mục đích sử dụng đất trái phép)

Từ những quy định của pháp luật đất đai và những phân tích trên đây có thể

hiểu chuyển mục đích sử dụng đất như sau: “Chuyển mục đích SDĐ là việc

thay đổi mục đích sử dụng từ loại đất này sang loại đất khác theo đúng căn cứ, điều kiện, thẩm quyền, trình tự, thủ tục do pháp luật quy định nhằm đáp ứng nhu cầu của người sử dụng đất trong quá trình sử dụng đất”[3,tr.13;5,tr.11].

2 Đặc điểm của chuyển mục đích SDĐ

Là một hoạt động quan trọng nên việc chuyển mục đích SDĐ có một số đặc đềm sau[3,tr.14-15]:

Một là, thể hiện sự kiểm soát chặt chẽ của Nhà nước Theo đó, việc chuyển

mục đích bằng cách trực tiếp hay gián tiếp Nhà nước đều kiểm soát hành vi chuyển mục đích của các chủ thể SDĐ như nhà đầu tư phải xin phép hoặc đăng

Trang 5

ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền Mọi sự chuyển mục đích mà không đăng

ký hoặc xin phép đều là hành vi trái pháp luật và bị xử lý theo quy định của pháp luật Được quy định cụ thể tại nghị định 91/2014/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai, cụ thể các hành vi tự ý chuyển đổi mục đích SDĐ có thể bị phạt tiền từ 2 triệu đến 100 triệu đồng cùng với đó là các biện pháp khắc phục hậu quả như buộc khôi phục tình trạng của đất trước khi vi phạm, buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được đo thực hiện hành vi vi phạm

Hai là, việc chuyển mục đích xuất phát từ nhiều lý do khác nhau nên thái

độ trong xử và sự kiểm soát của nhà nước về việc chuyển mục đích cũng rất khác nhau Theo đó, trường hợp chuyển mục đích SDĐ phải xin phép cơ quan Nhà nước có thẩm quyền được quy định tại khoản 1 Điều 57 LĐĐ năm 2013 thì người SDĐ chỉ được chuyển đất đang sử dụng từ mục đích này sang sử dụng với mục đích khác khi có quyết định hành chính của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền Trong khi đó, trường hợp chuyên mục Cách SDĐ không phải xin phép cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thì người SDĐ chỉ phải đăng ký với văn phòng đăng ký quyền SDĐ hoặc UBND cấp xã nơi có đất

Ba là, về chủ thể SDĐ và diện tích đất Khi chuyển mục đích SDĐ thì chủ

thể SDĐ và diện tích đất đang sử dụng không thay đổi, cù là trường hợp chuyển mục đích SDĐ phải xin phép hay không phải xin phép cơ quan nhà nước có thẩm quyền Điều này được thể hiện tại nội dung của việc chuyển mục đÍch SDĐ Hoạt động chuyển mục đích SDĐ chỉ thay đổi mục đích SDĐ của thửa đất được chuyển đổi, chứ nó không tác động đến chủ thẻ SDĐ Tuy không có sự thay đổi chủ thể nhưng sẽ thay đổi quyền và nghĩa vụ của chủ thể đó trước và sau khi chuyển mục đích SDĐ

Bốn là, khi chuyển mục đích SDĐ thì chế độ SDĐ, quyền và nghĩa vụ của

người SDĐ được áp dụng theo loại đất sau khi được chuyển mục đích SDĐ Sau khi thực hiện hoạt động chuyên mục Cách SDĐ, chủ thể SDĐ phải SDĐ đúng với mục đích đã chuyển đổi và chỉ được sử dụng với mục đích mới trên tổng số cáện tích đất được chuyển đối, không được phép cơi nới, lấn chiếm đất đai Bên cạnh đó, các nghĩa vụ tài chính liên quan đến thuế, phí cũng có sự thay đổi, mỗi loại đất lại có các mức thu thuế, phí, tiền SDĐ khác nhau do đó chủ thẻ SDĐ phải tuân thủ nghiêm ngặt chế độ SDĐ, quyền và nghĩa vụ theo loại đất sau khi

Trang 6

chuyển mục đích SDĐ Thay đổi mục đích SDĐ của chủ đầu tư phần lớn nhằm nâng cao hiệu quả SDĐ trong phạm vì khả năng và tiềm lực của mình Theo đó, giá trị và khả năng sinh lợi của đất có thể theo đó mà tăng cao Vì vậy, sự thay đổi quyền và nghĩa vụ của người SDĐ được Nhà nước kiểm soát cũng là thể hiện sự kiểm soát chặt chẽ của Nhà nước đối với nhà đầu tư khi chuyển mục đích SDĐ, đảm bảo sự công bằng trong SDĐ của các chủ thể, cũng góp phần tận thu cho ngân sách nhà nước từ đất đai

II Quy định của pháp luật hiện hành về chuyển mục đích sử dụng

đất

1 Căn cứ chuyển mục đích sử dụng

Không phải bất cứ trường hợp sử dụng đất nào cũng được chuyển đổi mục đích sử dụng Việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất được thực hiện theo trình

tự, thủ tục chặt chẽ do pháp luật quy định mà trước hết là phải tuân thủ quy định

về căn cứ chuyển đổi mục đích sử dụng đất Điều 52 của Luật Đất đai năm 2013 quy định chuyển đổi mục đích sử dụng đất phải dựa vào các căn cứ sau đây:

Thứ nhất, việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất phải phù hợp, căn cứ vào

kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt (khoản 1 Điều 52) Theo đó, mục đích sử dụng đất sau khi chuyển đổi phải được thể hiện trong kế hoạch sử dụng đất cấp huyện, bao gồm cả thông tin về vị trí, diện tích đất phải thu hồi để thực hiện dự án nhà ở và phù hợp với bản đồ kế hoạch sử dụng đất cấp huyện Đây là một điểm mới của Luật Đất đai năm 2013 khi quy định căn cứ cho phép chuyển mục đích sử dụng đất là “kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện”

Qua phân tích nêu trên, có thể thấy rằng, Điều 52 của Luật Đất đai năm

2013 đã sửa đổi căn cứ chuyển mục đích sử dụng đất, quy định việc cho phép chuyển mục đích sử dụng đất căn cứ vào kế hoạch sử dụng đất hàng năm cấp huyện; bỏ các loại căn cứ là quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất hoặc quy hoạch xây dựng đô thị hoặc quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn như quy định của Luật đất đai năm 2003 Điều này nhằm khắc phục tình trạng giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất tràn lan (thường tập trung vào những năm đầu của kỳ kế hoạch sử dụng đất 5 năm trước đây) Góp phần quản lí chặt chẽ hơn việc UBND cấp tỉnh, huyện, xã quyết định cho phép chuyển mục đích

Trang 7

sử dụng đất theo thẩm quyền Đồng thời, nâng cao vai trò của quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trên cơ sở nâng cao chất lượng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, đặc biệt là kế hoạch sử dụng đất hàng năm cấp huyện[8]

Thứ hai, việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất phải dựa trên cơ sở nhu cầu

sử dụng đất thể hiện trong đơn xin phép chuyển mục đích sử dụng đất; các dự án nhà ở, khu đô thị được thể hiện trong luận chứng kinh tế-kỹ thuật, báo cáo nghiên cứu khả thi của dự án, văn bản đề nghị thực hiện dự án, bản đề xuất thực hiện dự án Trong các tài liệu này phải xác định rõ mục tiêu, quy mô của dự án nhà ở, khu đô thị làm căn cứ để Nhà nước xem xét, đánh giá hiệu quả sử dụng đất mà dự án đó có thể mang lại

Như vậy, pháp luật đất đai hiện hành dựa vào nhu cầu sử dụng đất của người sử dụng để xem xét việc cho phép chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp sang đất ở Có nghĩa là chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp sang đất ở gắn với nhu cầu sử dụng đất: Nếu nhu cầu sử dụng đất lớn thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ xem xét, cho phép chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp sang đất ở với diện tích lớn và ngược lại nhằm đảm bảo việc sử dụng đất đúng mục đích, tiết kiệm, đạt hiệu quả kinh tế

2 Các trường hợp chuyển mục đích sử dụng đất

Đất nước ta đang trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá nên nhu cầu SDĐ cho các mục tiêu kinh tế là một tất yếu, mặt khác ngay trong sản xuất NN việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi cũng khiến NSDĐ phải suy nghĩ về khả năng khai thác công năng từ đất đai Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là Nhà nước không thực hiện việc quản lý chặt chẽ trong quá trình chuyển mục đích SDĐ mà trái lại, trong Luật đất đai năm 2013, Nhà nước đã dự liệu các trường hợp khác nhau khi chuyển mục đích SDĐ để vừa không gây phiền hà cho người SDĐ đồng thời động viên sự đóng góp của họ khi chuyển mục đích SDĐ thực hiện các nghĩa vụ tài chính Theo quy định tại Điều 57 Luật đất đai năm

2013, việc chuyển mục đích SDĐ được chia thành hai loại: chuyển mục đích phải xin phép cơ quan nhà nước có thẩm quyền và không phải xin phép

II.1 Các trường hợp chuyển mục đích sử dụng đất phải xin phép

Điều này có nghĩa là người sử dụng đất phải thực hiện những thủ tục hành chính thông qua văn phòng đăng ký QSDĐ để được cơ quan nhà nước có thẩm

Trang 8

quyền giao đất, cho thuê đất đồng ý cho phép chuyển sang sử dụng vào mục đích khác và phải thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước Như vậy, thủ tục xin phép là một trình tự pháp luật, Cơ quan cho phép phải căn cứ vào tình hình hiện trạng sử dụng đất, quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất đai đã được phê duyệt (căn cứ để chuyển) để chấp thuận việc chuyển mục đích SDĐ Những trường hợp phải xin phép bao gồm (khoản 1 Điều 57 Luật đất đai năm 2013):

“a) Chuyển đất trồng lúa sang đất trồng cây lâu năm, đất trồng rừng, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối;

b) Chuyển đất trồng cây hàng năm khác sang đất nuôi trồng thủy sản nước mặn, đất làm muối, đất nuôi trồng thủy sản dưới hình thức ao, hồ, đầm;

c) Chuyển đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng hộ, đất rừng sản xuất sang

sử dụng vào mục đích khác trong nhóm đất nông nghiệp;

d) Chuyển đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp;

đ) Chuyển đất phi NN được Nhà nước giao đất không thu tiền SDĐ sang đất phi NN được Nhà nước giao đất có thu tiền SDĐ hoặc thuê đất;

e) Chuyển đất phi nông nghiệp không phải là đất ở sang đất ở;

g) Chuyển đất xây dựng công trình sự nghiệp, đất sử dụng vào mục đích công cộng có mục đích kinh doanh, đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp không phải là đất thương mại, dịch vụ sang đất thương mại, dịch vụ; chuyển đất thương mại, dịch vụ, đất xây dựng công trình sự nghiệp sang đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp”.

Đối với các trường hợp chuyển mục đích mà phải xin phép nêu trên, người

sử dụng đất cần lưu ý một số điểm sau đây[2,tr.116-117]:

Một là, khi chuyển sang sử dụng vào mục đích khác thì các quyền và nghĩa

vụ của người sử dụng đất được áp dụng cho loại đất đã được chuyển mục đích

sử dụng đất, thời hạn cũng sẽ được áp dụng tương tự

Hai là, trong trường hợp chuyển mục đích mà phải thực hiện nghĩa vụ tài

chính thì nộp tiền SDĐ theo loại đất đã được chuyển mục đích SDĐ, ví dụ: trường hợp chuyển từ loại đất không thu tiền sang loại đất có thu tiền SDĐ thì thu theo loại đất có thu tiền, nếu là đất NN không thu tiền sang loại phi NN có thu tiền thì lấy giá trị quyền sử dụng của loại đất có thu tiền trừ đi giá trị quyền

sử dụng của loại không thu tiền trên cơ sở bảng giá đất do địa phương công bố,

Trang 9

nếu là đất phi NN không phải là đất ở, nay chuyển sang phi NN là đất ở thì tiền SDĐ phải nộp là tiền sử dụng đất ở trừ đi tiền sử dụng đất của đất phi NN

Ba là, trong trường hợp người sử dụng lựa chọn hình thức thuê đất thì trả

tiền thuê đất đối với loại đất đã được chuyển mục đích sử dụng đất

So với Luật đất đai năm 2003 (Điều 36) về các trường hợp chuyển mục đích SDĐ phải xin phép thì Điều 57 luật đất đai năm 2013 đã tăng thêm 2 trường hợp chuyển mục đích phải xin phép và có một số thay đổi trong nội dung các trường hợp còn lại

Trường hợp phải xin phép này áp dụng đối với cơ quan có thẩm quyền trong việc quyết định chuyển mục đích sử dụng đất nhằm đảm bảo an ninh, quốc phòng, bảo vệ nghiêm ngặt đất trồng lúa, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc, đảm bảo an ninh lương thực quốc gia và bảo vệ môi trường sinh thái, thích ứng với biến đổi khí hậu, đó là việc trình danh mục công trình đất lúa

2.2 Các trường hợp không phải xin phép khi chuyển mục đích sử dụng đất

Luật đất đai năm 2013 không quy định một cách cụ thể là trường hợp nào không phải xin phép, chỉ xác định tại khoản 1 Điều 57 các trường hợp có xin phép Có thể vận dụng một cách tương tự và ngược lại rằng, đất nuôi trồng thuỷ sản sang đất chuyên trồng lúa nước, chuyển từ đất phi nông nghiệp thành đất nông nghiệp…thì tuy không phải xin phép cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao đất, cho thuê đất nhưng phải đăng ký với văn phòng đăng ký QSDĐ để chỉnh lí trên giấy chứng nhận QSDĐ và nắm được tình hình hiện trạng sử dụng đất của người sử dụng Sở dĩ có sự phân biệt nêu trên vì, trong phạm vi nhóm đất nông nghiệp có nhiều phân nhóm đất và với quy định này thì việc chuyển mục đích trong cùng một nhóm đất sẽ trở nên tiện lợi hơn cho người sử dụng, còn việc chuyển từ đất nông nghiệp sang đất khác phải đăng ký bởi vì để bảo vệ quỹ đất nông nghiệp, hạn chế chuyển đổi đất nông nghiệp không cần thiết[2,tr.117]

Vấn đề này được cụ thể tại khoản 1 Điều 12 Thông tư 33/2017/TT-BTNMT ngày 29/9/2017 của Bộ TN&MT quy định chi tiết Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 6/1/2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số nghị định quy định chi tiết thi hành Luật đất đai và sửa đổi, bổ sung một số điều của các thông tư hướng dẫn thi hành Luật Đất đai thì trong 05 trường hợp sau đây,

Trang 10

khi chuyển mục đích sử dụng đất không phải xin phép cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhưng phải đăng ký biến động[10]:

“a) Chuyển đất trồng cây hàng năm sang đất nông nghiệp khác gồm: đất

sử dụng để xây dựng nhà kính và các loại nhà khác phục vụ mục đích trồng trọt; đất xây dựng chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm và các loại động vật khác được pháp luật cho phép; nuôi trồng thủy sản cho mục đích học tập, nghiên cứu thí nghiệm;

b) Chuyển đất trồng cây hàng năm khác, đất nuôi trồng thủy sản sang trồng cây lâu năm;

c) Chuyển đất trồng cây lâu năm sang đất nuôi trồng thủy sản, đất trồng cây hàng năm;

d) Chuyển đất ở sang đất phi nông nghiệp không phải là đất ở;

đ) Chuyển đất thương mại, dịch vụ sang đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp không phải là đất thương mại, dịch vụ; chuyển đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp không phải là đất thương mại, dịch vụ hoặc đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp sang đất xây dựng công trình sự nghiệp”.

Như vậy, căn cứ quy định nêu trên việc chuyển mục đích SDĐ bên cạnh nhu cầu của người sử dụng đất còn phải căn cứ vào việc quyết định mục đích SDĐ của Nhà nước thông qua quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử dụng đất hàng năm cấp huyện do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định

3 Điều kiện chuyển mục đích sử dụng đất

Để khắc phục tình trạng nhiều dự án đầu tư sau khi được chuyển mục đích SDĐ nhưng không sử dụng, chậm đưa đất vào sử dụng, gây lãng phí đất đai đã xảy ra khá phổ biến tại các địa phương trong giai đoạn vừa qua, Luật Đất đai

2013 đã bổ sung các quy định để kiểm soát chặt chẽ việc cho phép chuyển mục đích SDĐ[8] (bổ sung điều kiện chuyển) Theo đó, Điều 58 Luật đất đai năm

2013 đã quy định có hai loại điều kiện:

+ Điều kiện thứ nhất áp dụng đối với cơ quan có thẩm quyền trong việc quyết định giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử đất (khoản 1 và khoản 2 Điều 58) nhằm đảm bảo an ninh, quốc phòng, bảo vệ nghiêm ngặt đất trồng lúa, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng, đảm bảo an ninh lương thực quốc gia và bảo vệ môi trường sinh thái, thích ứng với biến đổi khí hậu

Ngày đăng: 25/11/2021, 20:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w