Tư tuởng cơ bản của mô hình này là chuyển số lao động dư thừa từ các ngành truyền thống sang các ngành hiện đại. Quá trình này sẽ tạo điều kiện cho các nước lạc hậu phát triển kinh tế nước mình.Việc chuyển lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp có hai tác dụng:Một là, chuyển bớt lao động trong nông nghiệp chỉ để lại đủ tạo ra sản lượng cố định. Từ đó, năng suất lao động trong nông nghiệp có khả năng tăng lên.Hai là, việc chuyển lao động này sẽ tạo điều kiện làm tăng lợi nhuận trong công nghiệp làm đẩy mạnh sức tăng trưởng kinh tế nói chung
Trang 1Câu 1(3 điểm): Trình bày sự khác nhau giữa A.Lewis và trường phái Tân cổ
điển về cách giải quyết mối quan hệ giữa nông nghiệp và công nghiệp trong quá trình phát triển kinh tế
Athur Lewis
Athur Lewis - nhà kinh tế học đạt giải Nobel năm 1979, đưa ra mô hình kinh tế nhị nguyên Sau đó, Fei và Gustav Raris áp dụng phân tích quá trình tăng trưởng kinh tế của các nước đang phát triển
Hàm sản xuất với các yếu tốL, K, T trong đó K và T là cố định
• Sản phẩm biên trong NN giảm dần và tiến tới bằng 0
• Nguyên tắc trả lương: tiền lương bằng sản phẩm biên Khi sản phẩm biên bằng 0 thì tiền lương bằng sản phẩm trung bình
• Trong điều kiện dư thừa lao động, tiền lương trong nông nghiệp chỉ ở mức tối thiểu
• KVSX CN trả cao hơn KVSX NN 30% đểthu hút lao động
• Hết lao động dư thừa, đường cung lao động bắt đầu tăng
• Lợi nhuận tư bản càng lớn khi lao động còn dư thừa, đây là cơ sở của tích luỹ
tư bản và phân hoá xã hội
• Khi hết dư thừa lao động, tiền lương tăng, lợi nhuận CN giảm, bất bình đẳng giảm -> CN cần đầu tư ngược lại vào NN
Tư tuởng cơ bản của mô hình này là chuyển số lao động dư thừa từ các ngành truyền thống sang các ngành hiện đại Quá trình này sẽ tạo điều kiện cho các nước lạc hậu phát triển kinh tế nước mình
Việc chuyển lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp có hai tác dụng:
Một là, chuyển bớt lao động trong nông nghiệp chỉ để lại đủ tạo ra sản lượng cố định Từ đó, năng suất lao động trong nông nghiệp có khả năng tăng lên
Trang 2Hai là, việc chuyển lao động này sẽ tạo điều kiện làm tăng lợi nhuận trong công nghiệp làm đẩy mạnh sức tăng trưởng kinh tế nói chung
Trường Phái “Tân Cổ Điển”
Điểm mới: coi khoa học công nghệ (T) là một yếu tố sản xuất trực tiếp
và có tính quyết định đối với TTKT
• Phê phán lý thuyết của trường phái cổ điển:
- Dưới sự tác động của T, SXNN vẫn có thể trì trệ nhưng khôngtuyệt đối -> không có hiện tượng dư thừa lao động tuyệt đối
- Lao động dư thừa trong NN khi bị hút sang CN sẽ làm mức tiền công tối thiểu tăng lên (WA tăng) -> đường cung lao động KVNN không phải hoàn toàn co giãn
Những quan điểm giống lý thuyết cổ điển:
- Giá cả và tiền công là hai nhân tố cơ bản khôi phục nền kinh tế
- Vai trò của Chính phủ trong sự phát triển nền kinh tế mờ nhạt
- Nền kinh tế đạt sự cân bằng ở sản lượng tiềm năng
- Những nội dung mới của mô hình “Tân cổ điển”:
- Yếu tố lao động và vốn có thể liên kết theo tỉ lệ khác nhau, vốn có thể thay thế nhân công
- Có nhiều cách phối hợp các yếu tố đầu vào trong quá trình sản xuất
- Yếu tố tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ là yếu tố cơ bản thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Câu 2 (3 điểm): Xác định đúng, sai cho các nhận định sau đây và giải thích ngắn
gọn sự đúng sai đó:
Khi tỷ giá hối đoái tăng thì:
a, Kích thích xuất khẩu
b, Nguy cơ mất cân đối trong cán cân thanh toán quốc tế gia tăng
Trang 3c, Kích thích thu hút đầu tư nước ngoài
a, Kích thích xuất khẩu: Đúng, vì tỉ giá hối đoái giữa ngoại tệ so với nội tệ tăng nghĩa là đồng nội tệ giảm giá, giá sản phẩm của quốc gia đó trên thị trường quốc
tế giảm, kích thích xuất khẩu, trong điều kiện các yếu tố khác không đổi
b, Nguy cơ mất cân đối trong cán cân thanh toán quốc tế gia tăng: Đúng vì khi tỷ giá hối đoái tăng thì kích thích xuất khẩu đồng thời hạn chế nhập khẩu, khi đó cán cân thanh toán quốc tế nghiêng về phía xuất khẩu hơn Đây cũng là điều tích cực đối với các quốc gia đang phát triển
c, Kích thích thu hút đầu tư nước ngoài: Đúng vì khi đó giá trị ngoại tệ tăng, nội
tệ giảm, điều đó giúp cho các nhà đầu tư FDI khi đầu tư vào các nước sở tại sẽ
có thể mua, thuê được nhiều đất hơn, mở được nhiều nhà xưởng, thuê được nhiều công nhân, mua được nhiều nguyên liệu hơn Vì vậy sẽ thu hút được nhiều vốn đầu tư nước ngoài hơn
Câu 3 (4 điểm): Phân tích vai trò của lao động đối với sự tăng trưởng và phát tri
ển kinh tế
Vai trò của lao động đối với quá trình phát triển kinh tế
Lao động, một mặt là một bộ phận của nguồn lực phát triển, đó là yếu tố đầu vào không thể thiếu được của quá trình sản xuất Mặt khác lao động là một bộ phận của dân số, những người được hưởng lợi ích của sự phát triển
Sự phát triển kinh tế suy cho đến cùng đó là tăng trưởng kinh tế để nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho con người
Lao động với tăng trưởng kinh tế
Vai trò của lao động với tăng trưởng kinh tế được xem xét qua các chỉ tiêu về số lượng lao động, trình độ chuyên môn, sức khoẻ người lao động và sự kết hợp giữa lao động và các yếu tố đầu vào khác
Các chỉ tiêu này được thể hiện tập trung quá mức tiền công của người lao động Khi tiền công của người lao động tăng có nghĩa chi phí sản xuất tăng, phản ánh khả năng sản xuất tăng lên Đồng thời khi mức tiền công tăng làm cho thu nhập
Trang 4có thể sử dụng của người lao động cũng tăng, do đó khả năng chi tiêu của người tiêu dùng tăng
Ở các nước đang phát triển, mức tiền công của người lao động nói chung là thấp, do đó ở những nước này lao động cha phải là động lực mạnh cho sự phát triển Để nâng cao vai trò của người lao động trưởng phát triển kinh tế cần thiết
có các chính sách nhằm giảm bớt lượng cung lao động, đồng thời tạo ra các nguồn lực khác một cách đồng bộ
Lao động có vai trò quyết định đối với sự phát triển kinh tế - xã hội Tài nguyên, vốn, khoa học công nghệ sẽ không trở thành nguồn lực phát triển kinh tế nếu không có lao động của con người Chính lao động là nhân tố quyết định việc tổ chức và sử dụng hiệu quả các nguồn lực ấy Hơn nữa, trong các yếu tố "đầu vào "của quá trình kinh tế, lao động được coi là yếu
tố cơ bản nhất Do tiền công lao động là một trong những chi phí hình thành nên giá thành của sản phẩm hàng hoá, dịch vụ, cho nên tiết kiệm chi phí lao động để giảm giá thành sản phẩm, tăng lợi nhuận là mục tiêu của các doanh nghiệp trong cơ chế thị trường
Ngoài ra, lực lượng lao động là những người tiêu dùng chính các sản phẩm hàng hoá, dịch vụ, vì thế phải tác động đến tổng cầu qua đó kích thích sản xuất, lưu thông và quá trình phát triển kinh tế