Nghiên cứu Tỷ lệ vận động thể lực và các yếu tố liên quan của thai phụ đến khám tại Bệnh viện Hùng Vương sử dụng bộ câu hỏi Pregnancy Physical Activity Questionnaire (PPAQ) đã được chuẩn hóa phiên bảng tiếng Việt.
Trang 1ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA Y TẾ CÔNG CỘNG
TỶ LỆ VẬN ĐỘNG THỂ LỰC
VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA THAI PHỤ ĐẾN KHÁM TẠI BỆNH VIỆN HÙNG VƯƠNG,
NĂM 2019
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN Y TẾ CÔNG CỘNG
Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2019
Trang 2ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA Y TẾ CÔNG CỘNG
TỶ LỆ VẬN ĐỘNG THỂ LỰC
VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA THAI PHỤ ĐẾN KHÁM TẠI BỆNH VIỆN HÙNG VƯƠNG,
NĂM 2019
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN Y TẾ CÔNG CỘNG
Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2019
Trang 3DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 3
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
DÀN Ý NGHIÊN CỨU 4
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN Y VĂN 5
1.1 Khái niệm VĐTL 5
1.2 Phân loại - Đơn vị đo lường VĐTL 5
1.2.1 Phân loại VĐTL 5
1.2.2 Đơn vị đo lường VĐTL 6
1.3 Tình hình VĐTL 7
1.4 Lợi ích của VĐTL trong thai kỳ 7
1.4.1 Lợi ích của VĐTL trong thai kỳ đối với thai phụ 7
1.4.2 Lợi ích của VĐTL trong thai kỳ đối với thai nhi 10
1.5 Nguy cơ của VĐTL trong thai kỳ 11
1.6 Các khuyến nghị về VĐTL dành cho thai phụ 12
1.6.1 Khuyến nghị Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) 13
1.6.2 Khuyến nghị tại các quốc gia trên thế giới 14
1.6.3 Khuyến nghị tại Việt Nam 15
1.7 Các công cụ đo lường vận động thể lực ở thai phụ 17
1.7.1 Bộ khảo sát hoạt động của phụ nữ Úc (The Australian Women’s Activity Survey - AWAS) 17
1.7.2 Bộ câu hỏi vận động thể lực trong hoạt động giải trí ở thai phụ (Pregnancy Leisure Time Physical Activity Questionnaire - LTPAQ) 17
1.7.3 Bộ câu hỏi vận động thể lực toàn cầu (Global Physical Activity Questionnaire - GPAQ) 18
Trang 4Questionnaires - IPAQ) 19
1.7.5 Bộ câu hỏi vận động thể lực ở thai phụ (Pregnancy Physical Activity Questionnaire - PPAQ) 19
1.8 Các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng vận động thể lực ở thai phụ 22
1.8.1 Yếu tố cá nhân 22
1.8.2 Yếu tố gia đình - xã hội 25
1.8.3 Yếu tố môi trường 27
1.9 Các nghiên cứu VĐTL ở thai phụ trên Thế Giới và tại Việt Nam 28
1.9.1 Các nghiên cứu VĐTL ở thai phụ trên Thế Giới 28
1.9.2 Các nghiên cứu VĐTL ở thai phụ tại Việt Nam 31
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34
2.1 Thiết kế nghiên cứu 34
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 34
2.3 Dân sô nghiên cứu 34
2.3.1 Dân số mục tiêu 34
2.3.2 Dân số chọn mẫu 34
2.3.3 Cỡ mẫu 34
2.3.4 Kỹ thuật chọn mẫu 35
2.3.5 Tiêu chí chọn mẫu 36
2.3.6 Kiểm soát sai lệch chọn lựa 36
2.4 Xử lý dữ liệu 37
2.4.1 Liệt kê và định nghĩa biến số 37
2.4.2 Phương pháp xử lý dữ kiện 48
2.5 Thu thập dữ liệu 48
2.5.1 Phương pháp thu thập dữ liệu 48
2.5.2 Công cụ thu thập dữ liệu 48
2.5.3 Kiểm soát sai lệch thông tin 49
2.6 Phân tích số liệu 50
2.6.1 Thống kê mô tả 50
2.6.2 Thống kê phân tích 51
Trang 52.7 Y đức 51
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ 53
3.1 Mô tả đặc tính mẫu nghiên cứu 53
3.1.1 Mô tả yếu tố cá nhân (n=365) 53
3.1.2 Mô tả yếu tố gia đình - xã hội (n=365) 57
3.1.3 Mô tả yếu tố môi trường (n=365) 58
3.2 Tỷ lệ VĐTL theo loại: việc nhà, đi lại, thể dục, công việc của thai phụ (n=365) 59
3.3 Tỷ lệ VĐTL theo mức độ: tĩnh tại, nhẹ, vừa, mạnh của thai phụ (n=365) 60
3.4 Tỷ lệ VĐTL đủ theo khuyến nghị WHO của thai phụ (n=365) 60
3.5 Mối liên quan giữa VĐTL đủ theo khuyến nghị WHO của thai phụ với yếu tố cá nhân, yếu tố gia đình xã hội, yếu tố môi trường (n=365) 61
3.5.1 Mối liên quan giữa VĐTL đủ theo khuyến nghị WHO của thai phụ với yếu tố cá nhân (n=365) 61
3.5.2 Mối liên quan giữa VĐTL đủ theo khuyến nghị WHO của thai phụ với yếu tố gia đình - xã hội (n=365) 65
3.5.3 Mối liên quan giữa VĐTL đủ theo khuyến nghị WHO của thai phụ với yếu tố môi trường (n=365) 66
3.6 Mối liên quan giữa VĐTL đủ theo khuyến nghị WHO của thai phụ với yếu tố cá nhân, yếu tố gia đình - xã hội, yếu tố môi trường bằng mô hình đa biến (n=365) 67
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 68
4.1 Đặc tính mẫu nghiên cứu 68
4.1.1 Yếu tố cá nhân 68
4.1.2 Yếu tố gia đình - xã hội 72
4.1.3 Yếu tố môi trường 73
4.2 Tỷ lệ VĐTL theo loại: việc nhà, đi lại, thể dục, công việc của thai phụ 73
4.3 Tỷ lệ VĐTL theo mức độ: tĩnh tại, nhẹ, trung bình, mạnh của thai phụ 75
4.4 Tỷ lệ VĐTL đủ theo khuyến nghị WHO của thai phụ 76
4.5 Mối liên quan giữa VĐTL đủ theo khuyến nghị WHO của thai phụ với yếu tố cá nhân, yếu tố gia đình - xã hội và yếu tố môi trường 77
Trang 6tố cá nhân 77
4.5.2 Mối liên quan giữa VĐTL đủ theo khuyến nghị WHO của thai phụ với yếu tố gia đình - xã hội 81
4.5.3 Mối liên quan giữa VĐTL đủ theo khuyến nghị WHO của thai phụ với yếu tố môi trường 82
4.6 Điểm mạnh và hạn chế của nghiên cứu 83
4.6.1 Điểm mạnh 83
4.6.2 Điểm hạn chế 83
4.7 Tính mới và tính ứng dụng của nghiên cứu 84
4.7.1 Tính mới 84
4.7.2 Tính ứng dụng 84
KẾT LUẬN 86
KIẾN NGHỊ 87 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7KTC Khoảng tin cậy
NVYT Nhân viên y tế
TP.HCM Thành phố Hồ Chí Minh
VĐTL Vận động thể lực
TIẾNG ANH
Từ viết tắt Nguyên văn Ý nghĩa tiếng Việt
ACOG The American College of
Obstetricians and Gynecologists
Viện Sản phụ khoa Hoa Kỳ
AWAS The Australian Women’s
Activity Survey
Bộ khảo sát hoạt động của phụ nữ
Úc BMI Body Mass Index Chỉ số khối cơ thể
CDC Centers for Disease Control Trung tâm Kiểm soát và Phòng
ngừa Dịch bệnh GPAQ Global Physical Activity
Physical Activity Questionnaire
Bộ câu hỏi vận động thể lực trong hoạt động giải trí ở thai phụ NCDs Noncommunicable diseases Các bệnh không lây
PCC Pearson correlation coefficient Hệ số tương quan của Pearson PPAQ Pregnancy Physical Activity
Questionnaire
Bộ câu hỏi vận động thể lực ở thai phụ
PR Prevalence Ratio Tỷ số tỷ lệ hiện mắc
SCC Spearman correlation coefficient Hệ số tương quan của Spearman USDHHS United States Department of
Health and Human Services
Sở y tế và dịch vụ nhân sinh Hoa
Kỳ WHO World Health Organization Tổ chức Y tế Thế giới
Trang 8Bảng 1 1: Tóm tắt các công cụ đo lường vận động thể lực ở thai phụ 21
Bảng 1 2: Tóm tắt các nghiên cứu về vận động thể lực ở thai phụ 32
Bảng 2 1: Chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống theo số thứ tự thai phụ đến khám 35
Bảng 2 2: Cách tính thời gian trung bình và mức độ vận động theo 33 hoạt động 47 Bảng 3 1: Mô tả yếu tố cá nhân (n=365) 53
Bảng 3 2: Mô tả yếu tố cá nhân (n=365) (tiếp theo) 55
Bảng 3 3: Mô tả yếu tố gia đình - xã hội (n=365) 57
Bảng 3 4: Mô tả yếu tố môi trường (n=365) 58
Bảng 3 5: Tỷ lệ VĐTL đủ theo khuyến nghị WHO của thai phụ (n=365) 60
Bảng 3 6: Mối liên quan giữa VĐTL đủ theo khuyến nghị WHO của thai phụ với yếu tố cá nhân (n=365) 61
Bảng 3 7: Mối liên quan giữa VĐTL đủ theo khuyến nghị WHO của thai phụ với yếu tố cá nhân (n=365) (tiếp theo) 63
Bảng 3 8: Mối liên quan giữa VĐTL đủ theo khuyến nghị WHO của thai phụ với yếu tố gia đình - xã hội (n=365) 65
Bảng 3 9: Mối liên quan giữa VĐTL đủ theo khuyến nghị WHO của thai phụ với yếu tố môi trường (n=365) 66
Bảng 3 10: Mối liên quan giữa VĐTL đủ theo khuyến nghị WHO của thai phụ với yếu tố cá nhân, yếu tố gia đình xã hội, yếu tố môi trường bằng mô hình đa biến (n=365) 67
Trang 9Biểu đồ 3 1: Tỷ lệ VĐTL theo loại: việc nhà, đi lại, thể dục, công việc của thai phụ (n=365) 59 Biểu đồ 3 2: Tỷ lệ VĐTL theo mức độ: tĩnh tại, nhẹ, vừa, mạnh của thai phụ trong 1 tuần (n=365) 60
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
Vận động thể lực (VĐTL) được Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) định nghĩa là bất
kỳ sự chuyển động nào của cơ thể được tạo ra bởi cơ xương mà đòi hỏi sự tiêu hao năng lượng [28] VĐTL đóng vai trò quan trọng trong giai đoạn mang thai, nhiều nghiên cứu chứng minh VĐTL đầy đủ giúp thai phụ giảm 31% nguy cơ đái tháo đường thai kỳ, 43% nguy cơ tiền sản giật, 44% các triệu chứng trầm cảm sau sinh [27, 56, 88] Ngoài ra, thai phụ VĐTL đầy đủ còn giúp tăng chỉ số phát triển thần kinh ở trẻ gấp 1,51 lần so với thai phụ thiếu VĐTL [58]
Năm 2010, WHO đã đưa ra Khuyến nghị Toàn cầu về vận động thể lực cho sức khỏe, theo đó hướng dẫn nhóm tuổi từ 18 đến 64 nên tham gia VĐTL trong thể dục
ít nhất 150 phút mức độ vừa phải hoặc ít nhất 75 phút mức độ mạnh mỗi tuần, hoặc kết hợp tương đương của cả hai mức độ VĐTL vừa và mạnh Hướng dẫn này cũng dành cho thai phụ và cần có tư vấn y tế phù hợp trước khi đạt được mức VĐTL theo khuyến nghị [83] Tuy nhiên, tỷ lệ thai phụ VĐTL đủ theo khuyến nghị của WHO là khác nhau tại các quốc gia và nhìn chung tỷ lệ này còn khá thấp Cụ thể, nghiên cứu tại Anh, Hoa Kỳ, Thụy Điển, Đan Mạch, Tây Ban Nha, Trung Quốc cho thấy tỷ lệ thai phụ VĐTL đủ theo khuyến nghị dao động từ 7,1% đến 48,8% [45, 49, 53, 55, 57, 87] Tại Việt Nam, tỷ lệ thai phụ VĐTL đủ theo khuyến nghị WHO tại Trung tâm Chăm sóc Sức khỏe sinh sản TP.HCM năm 2015 là 37,1% và tại huyện Trảng Bàng (Tây Ninh) năm 2018 là 23,6% [11, 12] Theo kết quả khảo sát, hầu hết thai phụ giảm hoặc ngừng tập thể dục khi mang thai, nghỉ ngơi và thư giãn được xem là quan trọng hơn việc tham gia các hoạt động thể dục [25, 87] Kết quả này cho thấy VĐTL ở thai phụ chưa được quan tâm đúng mức tại Việt Nam, các thông tin về VĐTL vẫn là nhu cầu cần thiết để hoàn thiện chương trình chăm sóc tiền sản tại các cơ sở y tế
Nghiên cứu tổng quan hệ thống của Thompson và cộng sự năm 2017 cho thấy các yếu tố liên quan đến VĐTL ở thai phụ là một tổng thể, bao gồm: yếu tố cá nhân, yếu
tố gia đình - xã hội và yếu tố môi trường Tuy nhiên, phần lớn các nghiên cứu được thực hiện chỉ tập trung vào yếu tố cá nhân, một số ít các nghiên cứu đánh giá yếu tố gia đình - xã hội và yếu tố môi trường nhưng chỉ dừng lại ở khảo sát định tính [34]
Vì vậy, việc đánh giá toàn diện vai trò động lực hay rào cản của các yếu tố liên quan
Trang 11này bằng nghiên cứu định lượng có ý nghĩa quan trọng, nhằm lập kế hoạch can thiệp thúc đẩy hành vi VĐTL ở thai phụ một cách hiệu quả [30]
Bệnh viện Hùng Vương là một trong hai bệnh viện sản khoa lớn nhất tại thành phố
Hồ Chí Minh cũng như toàn bộ khu vực phía Nam, đây là nơi tập trung đa dạng các đối tượng thai phụ đến khám thai Theo thống kê, trung bình hàng năm bệnh viện tiếp nhận hơn 650.000 lượt khám và có xu hướng ngày càng gia tăng [9] Vì vậy tác giả
mong muốn kết quả nghiên cứu “Tỷ lệ vận động thể lực và các yếu tố liên quan của thai phụ đến khám tại Bệnh viện Hùng Vương, năm 2019” có thể góp phần
mô tả chính xác tình trạng VĐTL của thai phụ, cũng như góp phần hoàn thiện chương trình chăm sóc tiền sản thai phụ đến khám tại Bệnh viện Hùng Vương
Trang 12CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
1 Tỷ lệ vận động thể lực đủ theo khuyến nghị Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) của thai phụ đến khám tại Bệnh viện Hùng Vương năm 2019 là bao nhiêu?
2 Có hay không mối liên quan giữa VĐTL đủ theo khuyến nghị WHO với yếu tố cá nhân, yếu tố gia đình - xã hội, yếu tố môi trường của thai phụ đến khám tại Bệnh viện Hùng Vương năm 2019?
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Trang 13TỶ LỆ VĐTL THEO MỨC ĐỘ
- Tĩnh tại
- Nhẹ
- Vừa
- Mạnh
YẾU TỐ MÔI TRƯỜNG
- Sự an toàn tại khu dân cư
- Không gian tập thể dục (công viên, đường bộ) tại khu dân cư
- Cơ sở tập thể dục (phòng tập thể hình, hồ bơi) tại khu dân cư
- Hội nhóm/câu lạc bộ tập thể dục tại khu dân cư
- BMI trước khi mang thai
- Tiền sử sinh non
- Tiền sử sẩy/nạo phá thai
- Đái tháo đường
- Thái độ của gia đình về tập thể dục khi mang thai
- Người tập thể dục cùng
- Người hỗ trợ chăm sóc con cái/việc nhà
Trang 14CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN Y VĂN 1.1 Khái niệm VĐTL
Theo Tổ chức Y tế Thế Giới (WHO), VĐTL là bất kỳ sự chuyển động nào của cơ thể được tạo ra bởi cơ xương mà đòi hỏi sự tiêu hao năng lượng VĐTL ở đây không chỉ bất kỳ một hoạt động cụ thể nào mà bao gồm tất cả hoạt động với các mục đích
và mức độ khác nhau [28]
Theo WHO khuyến nghị, VĐTL đủ ở nhóm tuổi từ 18 đến 64 là tham gia VĐTL trong thể dục ít nhất 150 phút mức độ vừa phải hoặc ít nhất 75 phút mức độ mạnh mỗi tuần, hoặc kết hợp tương đương của cả hai mức độ VĐTL vừa và mạnh Hướng dẫn này cũng dành cho thai phụ và cần có tư vấn y tế phù hợp trước khi đạt được mức VĐTL theo khuyến nghị [83]
VĐTL trong thể dục còn được gọi là VĐTL sức bền, bao gồm các bài tập có sự di chuyển nhịp nhàng của các nhóm cơ lớn trong một khoảng thời gian kéo dài (ví dụ:
đi bộ, chạy bộ, đạp xe đạp, nhảy dây, bơi lội, chèo thuyền, khiêu vũ, chơi quần vợt) [83]
1.2 Phân loại - Đơn vị đo lường VĐTL
1.2.1 Phân loại VĐTL
VĐTL diễn ra xuyên suốt thời gian trong ngày, bao gồm tất cả các khía cạnh hoạt động và mang tính phức tạp Ngoài ra, VĐTL còn là một trọng tâm nghiên cứu của khoa học dịch tễ vì vậy việc mô tả và phân loại VĐTL trở nên thực sự cần thiết
VĐTL theo loại hoạt động:
VĐTL trong công việc: là bao gồm tất cả các hoạt động được thực hiện khi đang làm việc
VĐTL trong đi lại: là các hoạt động được thực hiện để đi từ nơi này đến nơi khác bằng các loại phương tiện (xe đạp, xe buýt, xe hơi) hoặc đi bộ
VĐTL trong việc nhà: bao gồm các công việc trong nhà hoặc xung quanh nhà như nấu ăn, dọn dẹp, làm vườn
VĐTL trong tập thể dục: là các hoạt động thực hiện trong thời gian rảnh bao gồm các bài tập thể dục, đi dạo và các trò chơi thể thao
Trang 15VĐTL theo mức độ:
VĐTL mạnh: hoạt động có chi phí năng lượng lớn hơn hoặc bằng 6,0 MET, ví dụ
như đi bộ nhanh (4,5 - 5 dặm/giờ), chạy mang theo vật nặng, xúc tuyết bằng tay, cắt
cỏ hoặc tập thể dục nhịp điệu
VĐTL vừa phải: hoạt động có chi phí năng lượng từ 3,0 đến dưới 6,0 MET, ví dụ
như đi bộ nhanh (<4,5 dặm/giờ), lau nhà, hút bụi hoặc quét sân
VĐTL nhẹ: hoạt động có chi phí năng lượng từ 1,5 đến dưới 3,0 MET, ví dụ như
đi bộ chậm (2 dặm/giờ), nấu ăn hoặc đứng làm việc tại quầy thu ngân
VĐTL tĩnh tại: bao gồm bất kỳ hoạt động khi thức nào, đặc trưng bởi chi phí năng
lượng từ 1,0 đến dưới 1,5 MET trong khi ngồi, ngả hoặc nằm [28]
1.2.2 Đơn vị đo lường VĐTL
Đơn vị đo lường VĐTL có thể là "Metabolic Equivalent of Task" (MET),
kilocalories (kcal), joules (J) hoặc mức tiêu thụ oxy (ml/kg/phút) Trong đó MET là
đơn vị đo lường dành cho người lớn được sử dụng nhiều nhất để báo cáo Một MET
được định nghĩa là mức tiêu hao năng lượng khi ngồi nghỉ ngơi và tương đương lượng
tiêu thụ oxy là 3,5 ml/kg/phút hay 1,2 kcal/phút tính trên người cân nặng 70 kg Tiêu
hao năng lượng của các hoạt động khác được thể hiện bằng bội số của MET [28]
Phiên bản tóm tắt các hoạt động thể chất đầu tiên xuất bản năm 1993, nhằm cung
cấp một danh sách toàn diện về các loại VĐTL và giá trị mức độ năng lượng MET
tiêu hao tương ứng Tài liệu này cung cấp một sự nhất quán trong việc ước tính và
phân loại mức độ VĐTL, tăng cường khả năng so sánh kết quả các nghiên cứu VĐTL
trên thế giới Dựa trên phiên bản năm 1993 và năm 2000, một bản cập nhật thứ hai
được thay thế vào năm 2011 để bổ sung thêm các hoạt động sử dụng công nghệ (ví
dụ: tập thể dục trên máy tính và video) và các hoạt động chưa được công bố trước
đây (ví dụ: các công việc gia đình như chăm sóc trẻ em) Phiên bản tóm tắt các hoạt
động thể chất năm 2011 có tổng cộng 821 mã, được chia thành 21 mục hoạt động
chính có mô tả chi tiết các hoạt động cụ thể với giá trị MET đi kèm Ví dụ: mã 05186
mô tả các hoạt động chăm sóc trẻ ở tư thế đứng như tắm rửa, mặc quần áo, chải tóc,
cho trẻ ăn hoặc bồng bế trẻ Hoạt động này thuộc loại VĐTL trong việc nhà và được
xếp vào mức độ VĐTL vừa phải với chi phí năng lượng tiêu hao là 3 METs [15]
Trang 161.3 Tình hình VĐTL
VĐTL không đủ được xếp là yếu tố nguy cơ đứng thứ tư trong mười yếu tố nguy
cơ hàng đầu gây tử vong trên toàn cầu, tuy nhiên tỷ lệ VĐTL không đủ còn khá cao trong dân số Theo số liệu thống kê của WHO năm 2016 trên toàn thế giới có tới 27,5% dân số trưởng thành (≥ 18 tuổi) VĐTL không đủ theo khuyến nghị và tỷ lệ này chưa được cải thiện trong suốt 15 năm qua (năm 2001: 28,5%) Tỷ lệ VĐTL không
đủ tập trung nhiều hơn ở nữ giới, chiếm tới 32% so với nam giới chỉ chiếm 23% [85] Theo số liệu thống kê WHO 2016, khu vực Châu Mỹ của WHO (39%) và khu vực Đông Địa Trung Hải (35%) có tỷ lệ VĐTL không đủ cao nhất, trong khi tỷ lệ thấp nhất ở khu vực Tây Thái Bình Dương (19%) và khu vực Châu Phi (22%) Các quốc gia thu nhập cao có tỷ lệ lưu hành cao hơn gấp đôi so với các quốc gia thu nhập thấp
ở cả hai giới: 32% nam giới và 42% nữ giới VĐTL không đủ ở các quốc gia thu nhập cao so với 13% nam giới và 19% nữ giới ở các quốc gia thu nhập thấp Điều này được giải thích bởi các quốc gia thu nhập cao hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực dịch vụ, giải trí, công nghiệp và nông nghiệp cơ giới hóa; trong khi người dân ở các quốc gia thu nhập thấp lại hao phí năng lượng nhiều hơn cho công việc nặng và việc di chuyển,
đi lại [85]
Cũng theo thống kê năm 2016, Việt Nam có tỷ lệ VĐTL không đủ (25,4%) thấp hơn so với khu vực Đông Nam Á nói chung (30,5%) Nữ giới (30,6%) có đóng góp phần lớn vào tỷ lệ VĐTL không đủ so với nam giới [84]
1.4 Lợi ích của VĐTL trong thai kỳ
Các nghiên cứu hiện nay vẫn chưa nhất quán trong việc chứng minh tất cả các lợi ích của VĐTL trong thai kỳ Tuy nhiên, VĐTL mức độ vừa phải kèm với các bài tập thể dục hợp lý được xem là an toàn, mang lại nhiều lợi ích sức khỏe và tinh thần cho thai phụ và sự phát triển của thai nhi Vì vậy, các hoạt động thể dục phù hợp nên được xem xét và khuyến khích theo mức độ VĐTL của thai phụ [72]
1.4.1 Lợi ích của VĐTL trong thai kỳ đối với thai phụ
Đái tháo đường thai kỳ
Tập thể dục trong thời kỳ mang thai là một yếu tố bảo vệ đối với bệnh đái tháo
đường thai kỳ Mặc dù VĐTL không hoàn toàn ngăn ngừa được sự phát triển của bệnh nhưng có hiệu quả rõ ràng trong việc kiểm soát bệnh Điều này được giải thích
Trang 17vì sự vận động các nhóm cơ lớn giúp giữ lượng đường trong máu ở mức bình thường thông qua việc cải thiện việc sử dụng glucose và tăng độ nhạy insulin [64, 72] Một nghiên cứu đoàn hệ được thực hiện từ năm 1996 đến năm 2000 tại Hoa Kỳ cho thấy, thai phụ có tham gia bất kỳ hoạt động thể dục nào khi mang thai sẽ làm giảm đáng kể nguy cơ đái tháo đường thai kỳ Cụ thể, những thai phụ có thai tham hoạt động thể dục trong thai kỳ thì giảm 31% nguy cơ đái tháo đường thai kỳ so với những thai phụ không tham gia hoạt động thể dục trong thai kỳ (RR=0,69, KTC:0,37-1,29) Khi tiến hành phân tích đa biến, những thai phụ tham gia hoạt động thể dục khoảng 28 MET-giờ/tuần thì giảm 29% nguy cơ mắc đai tháo đường thai kỳ so với những thai phụ không tham gia hoạt động thể dục trong thai kỳ [27]
Tiền sản giật
Tiền sản giật là một trong những biến chứng xảy ra trong giai đoạn thai kỳ, với tỷ
lệ xuất hiện ở 3 - 7% thai phụ Một nghiên cứu đoàn hệ thực hiện trên thai phụ Canada
từ năm 1984 đến năm 1986 cho thấy thai phụ thường xuyên hoạt động thể dục/giải trí trong 20 tuần đầu tiên của thai kì thì giảm 43% nguy cơ tiền sản giật, 29% nguy
cơ tăng huyết áp so với nhóm thai phụ ít hoạt động thể dục/giải trí [56] Bổ sung cho kết quả trên là một nghiên cứu tổng quan có hệ thống của tác giả Kasawara K.T cùng cộng sự năm 2012 Kết quả cho thấy VĐTL có tác dụng bảo vệ khoảng 23% với nguy
cơ tiền sản giật (OR 0,77; KTC 95%: 0,64–0,91; p<0,01), và thời gian VĐTL trước khi mang thai là yếu tố bảo vệ khoảng 42% với nguy cơ tiền sản giật (OR: 0,56; KTC 95%: 0,41–0,76; p <0,01) Vì vậy nghiên cứu đã đề xuất tập thể dục như một phương pháp để giảm thiểu tác động của tiền sản giật Khi một thai phụ được chẩn đoán bị cao huyết áp hoặc tiền sản giật, họ sẽ được theo dõi chặt chẽ và phải tuân thủ theo hướng dẫn cụ thể của chuyên gia y tế về VĐTL cũng như các loại hình tập thể dục có thể tham gia [47]
Tăng cân quá mức trong thai kỳ
Tăng cân quá mức trong thai kỳ được định nghĩa là tăng trên 10% trọng lượng cơ thể so với trước khi mang thai Tăng cân quá mức trong thai kỳ làm tăng nguy cơ cao huyết áp thai kỳ, đái tháo đường thai kỳ và tiền sản giật Một chế độ tập thể dục an toàn được áp dụng trong thai kỳ giúp chống lại tăng cân quá mức trong thai kỳ [64] Kết quả của một nghiên cứu bệnh chứng tại Thụy Điển từ năm 2003 đến năm 2005,
Trang 18cho thấy những thai phụ bị béo phì tham gia vào chương trình kết hợp tư vấn và tập thể dục 1-2 lần/tuần ít bị tăng cân hơn trong thời kỳ mang thai so với những thai phụ
bị béo phì chỉ được tiếp nhận chế độ chăm sóc sức khỏe thông thường [24] Bổ sung cho kết quả trên là nghiên cứu đoàn hệ tại Thường Châu (Trung Quốc) từ năm 2005 đến 2007 Cụ thể, trong ba tháng giữa thai kỳ những thai phụ năng động có nguy cơ tăng cân quá mức ít hơn nhóm thai phụ ít vận động khoảng 40% (p<0,001) Trong ba tháng cuối thai kỳ, những thai phụ năng động có nguy cơ tăng cân qua mức ít hơn nhóm thai phụ ít vận động khoảng 35% Kết quả phân tích đa biến cho thấy những thai phụ năng động thì giảm nguy cơ tăng cân quá mức khoảng 1,1 kg (p=0,04) và 1,4 kg (p=0,02) trong thai kỳ thứ hai và thứ ba khi so với thai phụ ít vận động [42]
Sinh mổ
Một số nghiên cứu đã tiến hành xem xét mối quan hệ giữa vận động thể ở thai phụ
và việc sinh mổ Điển hình là nghiên cứu đoàn hệ được thực hiện tại Iran từ năm 2012 đến 2013 trên 2029 thai phụ Kết quả phân tích đa biến chỉ ra rằng, những thai phụ tăng mức vận động thể lực trong cả các hoạt động thể dục và công việc từ khi mang thai thì giảm 32% nguy cơ sinh mổ so với những thai phụ có mức vận động thể lực không đổi (RR=0,68; KTC 95%: 0,47-0,97) [13] Bổ sung cho kết quả trên là nghiên cứu của Timothy J Bungum và cộng sự thực hiện năm 2000 tại Hoa Kỳ, VĐTL trong gia đoạn ba tháng đầu thai kỳ có liên quan đến việc giảm nguy cơ sinh mổ Cụ thể, kết quả sau khi kiểm soát các yếu tố gây nhiễu thì những thai phụ ít VĐTL có nguy
cơ sinh mổ cao gấp 4,5 lần so với những thai phụ năng động [77]
Trầm cảm sau sinh
Phụ nữ tập thể dục trong thời kỳ mang thai có tâm lý thoải mái hơn, ứng phó các
sự kiện bất lợi tốt hơn, có ý thức tốt hơn về hạnh phúc và còn giúp cải thiện giấc ngủ
Và hiệu ứng tích cực đối với sức khỏe tâm thần này vẫn tiếp tục kéo dài sau khi sinh
và làm giảm đáng kể tỷ lệ trầm cảm sau khi sinh [64] Một nghiên cứu của tác giả Zewditu Demissie cùng cộng sự tại Hoa Kỳ năm 2011 đã tìm thấy mối liên quan giữa VĐTL và các triệu chứng trầm cảm Trong mô hình đa biến, thai phụ có tổng VĐTL vừa từ 0-2,67 MET-giờ/tuần thì giảm 44% các triệu chứng trầm cảm so với thai phụ không VĐTL (OR=0,56; KTC 95%: 0,38-0,83) Thai phụ có chăm sóc trẻ và người lớn tuổi với ≤ 2,25 giờ/tuần thì tăng 1,84 lần có các triệu chứng trầm cảm [88]
Trang 19Ngoài các lợi ích kể trên, VĐTL thường xuyên và hợp lý ở thai phụ còn mang lại nhiều lợi ích khác: tăng cường lưu thông máu làm giảm tỷ lệ giãn tĩnh mạch và huyết khối tĩnh mạch sâu, giảm tỷ lệ đau lưng và đau vùng chậu, giảm táo bón, đầy hơi, sưng phù, ít biến chứng hơn trong quá trình sinh nở, cải thiện tư thế, phục hồi nhanh hơn sau khi chuyển dạ [64]
1.4.2 Lợi ích của VĐTL trong thai kỳ đối với thai nhi
Trọng lượng trẻ sơ sinh
Tập thể dục trong thai kỳ có liên quan đến việc giảm trọng lượng sơ sinh của trẻ nhưng không làm tăng nguy cơ sinh con nhẹ cân Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với thai phụ thừa cân/béo phì bởi họ có nhiều khả năng sinh con thừa cân Làm gia tăng các nguy cơ sau này cho trẻ như thừa cân/béo phì, cholesterol cao [64] Theo kết quả một nghiên đoàn hệ được thực hiện trên 1913 thai phụ ở Quebec (Canada) thực hiện từ tháng 5 năm 2010 đến tháng 8 năm 2012, hao phí năng lượng cho hoạt động thể dục thể thao trong ba tháng đầu có liên quan đến giảm cân nặng lúc sinh của trẻ nhưng không liên quan đến tình trạng thiếu cân của trẻ Cụ thể mỗi hoạt động thể dục/thể thao hao phí năng lượng 1 MET/giờ/tuần trong ba tháng đầu tiên làm giảm 2,5 gram trọng lượng của trẻ (p<0,05) Đồng thời việc tăng cường hoạt động thể dục/thể thao trong ba tháng đầu của thai phụ còn giảm 17% nguy cơ trẻ sơ sinh thừa cân Mối liên quan này sẽ khác nhau tùy theo tình trạng tiền sản của thai phụ, những thai phụ có tiền sản giật, khi tăng mức độ hoạt động mạnh 1 MET/giờ/tuần trong ba tháng đầu tiên sẽ làm giảm 20 gram cân nặng của trẻ lúc sinh Kết quả này vẫn đúng trong các giai đoạn thai kỳ tiếp theo, tức khi tăng mức độ hoạt động mạnh 1 MET/giờ/tuần trong các giai đoạn thai kỳ tiếp theo sẽ làm giảm 19,7 gram cân nặng của trẻ lúc sinh (p<0,05) [61]
Chỉ số phát triển thần kinh và chỉ số thông minh
Một nghiên cứu đoàn hệ được thực hiện trên 3792 trẻ sơ sinh tại thành phố Pelotas (Brazil) từ năm 2004 đến năm 2008, sự phát triển thần kinh của trẻ được đánh giá bằng thang điểm Battelles, chỉ số thông minh của trẻ được đánh giá bằng thang điểm Weschler và VĐTL trong thể dục khi mang thai của thai phụ được thu thập bằng phương pháp hồi cứu Kết quả phân tích đơn biến của nghiên cứu tìm thấy những thai phụ năng động thì có chỉ số phát triển thần kinh cao hơn ở trẻ 12 tháng và 24 tháng
Trang 20và chỉ số thông minh cao ở trẻ 48 tháng Cụ thể, những thai phụ tập thể dục trong thời
kỳ mang thai thì chỉ số phát triển thần kinh của trẻ cao hơn so với những thai phụ không tập thể dục, với điểm số tăng từ 2,5 đến 6,7 điểm ở nhóm trẻ 24 tháng tuổi và
12 tháng tuổi (p<0,001) Những thai phụ tập thể dục trong thời kỳ mang thai thì chỉ
số thông minh trung bình của trẻ cao hơn so với thai phụ không tập thể dục, với điểm
số tăng 4,8 điểm ở nhóm trẻ 48 tháng (p<0,001) Sau khi kiểm soát các yếu tố gây nhiễu, tìm thấy mối liên quan giữa chỉ phát triển thần kinh của trẻ 12 tháng tuổi với hoạt động thể dục của mẹ trong thời kỳ mang thai Cụ thể, ở nhóm trẻ 12 tháng tuổi
có mẹ tập thể dục trong thời kỳ mang thai thì có chỉ số phát triển thần kinh gấp 1,51 lần so với những trẻ có mẹ không tập thể dục trong thai kỳ (p<0,001) Như vậy, VĐTL dành cho hoạt động thể dục trong thời kỳ mang thai của mẹ có ảnh hưởng tích cực đến chỉ số phát triển thần kinh và chỉ số thông minh của trẻ [58]
1.5 Nguy cơ của VĐTL trong thai kỳ
Tập thể dục được cho là làm tăng nguy cơ liên quan đến thai kỳ nhưng niềm tin này chưa được chứng minh bằng chứng khoa học Điều này không có nghĩa là không
có rủi ro nào cả Tất cả phụ nữ tập thể dục trong khi mang thai nên tìm lời khuyên từ bác sĩ để chọn chương trình tập luyện phù hợp và đảm bảo rằng thai phụ không tham
gia vào các hoạt động cần tránh [4]
Tăng thân nhiệt
Mức độ VĐTL có liên quan trực tiếp đến sự gia tăng thân nhiệt của thai phụ, tuy nhiên cơ thể tự duy trì thân nhiệt ổn định thông qua việc tăng tần số hô hấp, tưới máu đến ngoại vi và thải mồ hôi Nếu tập thể dục trong điều kiện nóng ẩm, mức độ rất cao, thời gian kéo dài, cơ thể mất nước thì nhiệt độ cơ thể sẽ gia tăng Đặc biệt trong
ba tháng đầu của thai kỳ nếu thân nhiệt của mẹ tăng cao trên 39,2◦C có thể gây ra dị tật bẩm sinh lớn cho trẻ [4, 18] Tuy nhiên dữ liệu về ảnh hưởng của tập thể dục đến tăng thân nhiệt của mẹ trong thai kỳ còn hạn chế và không có báo cáo nào về tăng thân nhiệt liên quan đến tập thể dục gây quái thai ở người [18]
Thiếu máu thai nhi
Trong thời kỳ mang thai, nhu cầu oxy tăng dẫn tới tăng cả biên độ và tần số hô hấp Tập thể dục cũng làm tăng tiêu thụ glucose từ cơ bắp, làm cho máu được phân phối nhiều hơn đến các cơ quan nội tạng và cơ xương và kết quả là giảm đáng kể
Trang 21lượng oxy và chất dinh dưỡng được phân phối đến nhau thai Tuy nhiên quá trình này chỉ thoáng qua và chưa có bằng chứng trực tiếp nào chỉ ra sự bất lợi của tập thể dục đến sự vận chuyển oxy và chất dinh dưỡng đến thai nhi là kết quả lâu dài Lưu ý từ khoảng tháng thứ tư của thai kỳ, xuất hiện sự cản trở máu về tĩnh mạch chủ bụng do
tử cung phát triển theo tư thế nằm ngửa gây chèn ép tĩnh mạch chủ làm tăng nguy cơ giảm thể tích tâm thu và giảm huyết áp nên cần tránh các bài tập thể dục có động tác nằm ngửa [4, 18]
Co thắt tử cung
Khi mang thai tập thể dục làm sản sinh các kích thích tố có thể gây ra các cơn co thắt tử cung sớm và các cơn co thắt này thường ngắn Theo nghiên cứu đoàn hệ của tác giả Grisso J.A và cộng sự cho thấy VĐTL như đứng lâu, tập thể dục mức độ mạnh, không ảnh hưởng đến tỷ lệ co thắt tử cung, chỉ khi có sự kết hợp giữa hoạt động leo cầu thang và đi bộ mới làm tăng tỷ lệ co thắt tử cung [41] Cũng theo kết quả một nghiên cứu khác của tác giả Ralph W Hale và cộng sự cho thấy tập thể dục không liên quan đến sinh non ở thai phụ [68]
Chấn thương
Thai phụ trải qua nhiều thay đổi sinh lý và giải phẫu, đặc biệt là gia đoạn muộn của thai kỳ Sự thay đổi nội tiết tố do thai nghén như tăng phóng thích relaxin làm nới lỏng các dây chằn và các khớp xương trở nên linh hoạt hơn Cân nặng tăng khi mang thai làm tăng áp lực lên khung xương, hệ cơ xương khớp và dây chằng Đồng thời, trọng tâm của cơ thể thay đổi theo hướng ngả về phía trước làm căng thêm các
cơ phía sau, tạo ra sức ép mạnh lên phần thắt lưng Do đó, khả năng giữ thăng bằng của cơ thể trở nên khó khăn hơn Tất cả những thay đổi đó làm tăng tính nhạy cảm của thai phụ với chấn thương Vì vậy thai phụ cần được tư vấn y tế về mức độ VĐTL phù hợp cũng như các môn thể dục có thể tham gia, tránh các môn có nguy cơ ngã cao như trượt tuyết, trượt băng, cưỡi ngựa, các môn gây nguy cơ mất thăng bằng và tổn thương cho thai nhi khi bị ngã [64]
1.6 Các khuyến nghị về vận động thể lực dành cho thai phụ
Các khuyến nghị về VĐTL ở thai phụ được ghi lại từ thế kỷ XVIII nhưng nội dung chỉ phản ánh chuẩn mực văn hóa - xã hội của thời đại, chứ không mang tính khoa học Các nghiên cứu đầu tiên về VĐTL và lợi ích sinh lý ở thai phụ đã được tiến hành
Trang 22vào khoảng cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX Nhiều khuyến nghị có bằng chứng khoa học đã được xây dựng, cập nhật và phát triển liên tục, đây được xem là tài liệu hướng dẫn cho các chuyên gia y tế khi tư vấn về VĐTL cho thai phụ [50]
1.6.1 Khuyến nghị Tổ chức Y tế Thế giới (WHO)
Năm 2010, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã đưa ra “Khuyến nghị toàn cầu về VĐTL cho sức khỏe” với trọng tâm chính để phòng ngừa các bệnh không lây nhiễm thông qua VĐTL trên quy mô cộng đồng Khuyến nghị này cung cấp hướng dẫn về tần suất, thời gian, mức độ và loại VĐTL cần thiết để tăng cường sức khỏe và phòng ngừa các bệnh không lây nhiễm Các mức VĐTL được khuyến nghị tập trung theo ba nhóm: 5-17 tuổi, 18-64 tuổi và trên 65 tuổi:
Trẻ em và thanh thiếu niên từ 5-17 tuổi: được khuyến khích tham gia vào nhiều hoạt động thể chất khác nhau nhằm hỗ trợ sự phát triển tự nhiên, mang lại hứng thú
và phải đảm bảo an toàn Thời gian VĐTL tích lũy ít nhất là 60 phút với mức độ trung bình đến mức độ mạnh mỗi ngày, các hoạt động mức độ mạnh nên được thực hiện ít nhất 3 lần mỗi tuần Khuyến nghị này áp dụng cho tất cả trẻ em và thanh thiếu niên, không phân biệt giới tính, chủng tộc, dân tộc hoặc mức sống
Người trưởng thành từ 18-64 tuổi: được khuyến khích tham gia VĐTL trong thể dục ít nhất 150 phút mức độ vừa phải hoặc ít nhất 75 phút mức độ mạnh mỗi tuần, hoặc kết hợp tương đương của cả hai mức độ VĐTL vừa và mạnh Để tăng thêm lợi ích về sức khỏe cần tăng mức VĐTL mức độ trung bình lên 300 phút mỗi tuần hoặc tương đương nếu kết hợp mức độ trung bình và mạnh Vận động tăng cường cơ được thực hiện ở các nhóm cơ lớn trong 2 ngày hoặc hơn 2 ngày mỗi tuần Tuy nhiên lưu
ý thai phụ trước khi đạt được mức VĐTL theo khuyến nghị cần được sự tư vấn chi tiết từ chuyên gia y tế về những lợi ích, rủi ro sức khỏe từ đó đưa ra một chế độ VĐTL phù hợp
Người lớn từ 65 tuổi trở lên: được khuyến khích tham gia VĐTL trong thể dục trong thời gian ít nhất 10 phút, nên thực hiện ít nhất 150 phút hoạt động với mức độ trung bình trong một tuần hoặc ít nhất 75 phút hoạt động với mức độ mạnh hoặc kết hợp một hoạt động tương đương với mức độ trung bình và mạnh trong một tuần Những người có khả năng di chuyển kém nên thực hiện VĐTL để tăng cường sự cân bằng và ngăn ngừa nguy cơ té ngã với 3 ngày trở lên mỗi tuần Theo khuyến nghị tỷ
Trang 23lệ chấn thương cơ xương là không phổ biến tuy nhiên để giảm nguy cơ này cần khuyến khích mức độ VĐTL vừa phải, bắt đầu VĐTL ở mức độ thấp và dần tiến đến mức độ cao hơn Đối với trường hợp người lớn tuổi không thực hiện được các khuyến nghị VĐTL do điều kiện sức khỏe thì có thể VĐTL tùy theo khả năng và điều kiện
mà họ cho phép [83]
1.6.2 Khuyến nghị tại các quốc gia trên thế giới
Một số quốc gia trên thế giới đã ban hành hướng dẫn chi tiết về VĐTL trong thai
kỳ bởi cơ quan chuyên môn hoặc cơ quan chính phủ, hướng dẫn dựa trên nhiều bằng chứng khoa học với sự đồng thuận của các chuyên gia Đại diện là 6 khuyến nghị của
5 quốc gia, bao gồm khuyến nghị của Đại học sản khoa và phụ khoa Hoàng gia Anh [69], khuyến nghị của Trường Y khoa Nhật Bản [51], khuyến nghị của Liên đoàn Y học Thể thao Úc [75], khuyến nghị của Ủy ban Y tế Quốc gia Đan Mạch [55], khuyến nghị Viện Sản phụ khoa Hoa Kỳ (ACOG) [14] và Sở y tế và dịch vụ nhân sinh Hoa
Kỳ (USDHHS) [79]
Hầu hết các khuyến nghị đều hướng dẫn cụ thể về tần suất, thời gian và mức độ tập thể dục Cụ thể, Vương quốc Anh khuyến nghị thai phụ bắt đầu các bài tập thể dục với thời gian tập thể dục tối thiểu 15 phút/3 lần/tuần, sau đó tăng dần lên 30 phút/3 lần/tuần và đạt 30 phút/4 lần/tuần ngay cả khi giảm mức độ vận động ACOG khuyến nghị nên tích lũy VĐTL ít nhất 20-30 phút cho mỗi lần tập với mức độ trung bình vào tất cả các ngày trong tuần trong trường hợp thai phụ không có chống chỉ định nào, đối với thai phụ ít VĐTL nên được đánh giá trước khi đưa ra chế độ tập luyện và nên tăng dần theo thời gian USDHHS Hoa Kỳ chỉ ra rằng “những phụ nữ khỏe mạnh không VĐTL tích cực hoặc VĐTL mức độ mạnh nên có ít nhất 150 phút tập thể dục mức độ vừa phải mỗi tuần trong suốt thời gian mang thai và sau sinh Tốt nhất là hoạt động này nên được chia đều trong cả tuần” Ủy ban Y tế Quốc gia Đan Mạch khuyến nghị thai phụ VĐTL ít nhất 30 phút mức độ vừa phải hàng ngày, Nhật Bản khuyến nghị tập thể dục aerobic tối đa 60 phút với tần suất 2 đến 3 lần mỗi tuần, Pháp khuyến cáo rằng thai phụ có thể bắt đầu hoặc tiếp tục VĐTL mức độ vừa phải trong thời gian mang thai Các khuyến nghị đưa ra thời gian và mức độ VĐTL khác nhau nhưng nhìn chung phần lớn các khuyến nghị đều ủng hộ thai phụ VĐTL ở mức
Trang 24độ vừa phải và tốt nhất nên tìm lời khuyên từ chuyên gia y tế trước khi bắt đầu hoặc tiếp tục một chương trình tập thể dục
Các khuyến nghị về VĐTL này là tài liệu tham khảo được sử dụng để tư vấn và khuyến khích thai phụ tăng cường VĐTL, là cơ sở để xây dựng các khuyến nghị riêng
và phù hợp cho từng quốc gia, hoặc phát triển một khuyến nghị thống nhất trên toàn thế giới dành riêng cho đối tượng thai phụ [50]
1.6.3 Khuyến nghị tại Việt Nam
Tại Việt Nam, hiện vẫn chưa có một khuyến nghị chính thức nào về VĐTL ở thai phụ Việc lựa chọn các khuyến nghị sẵn có để tham khảo vẫn chưa đồng nhất giữa các cơ sở y tế “Khuyến nghị toàn cầu về VĐTL cho sức khỏe” của WHO và “Vận động thể lực trong phòng và điều trị bệnh” của Thụy Điển cũng được xem là một tài liệu tham khảo phù hợp [4, 83]
Các bài tập thể dục được khuyến khích
Tất cả các bài tập có nhịp điệu và tạo sự vận động các nhóm cơ chủ yếu đều có hiệu quả như đi bộ chậm, đi bộ nhanh, đi bộ với gậy, chạy bộ, đạp xe, các bài tập nâng bước, các bài tập mềm dẻo và khiêu vũ, yoga tiền sản, bơi lội cũng là bài tập lý tưởng Đặc biệt các bài tập dưới nước rất thích hợp với những người có các vấn đề ở vùng chậu hông và lưng Tuy nhiên thai phụ cần lưu ý nên sử dụng trang phục tập luyện mỏng, bổ sung nước trong và sau khi tập, không tập các bài tập có mức độ mạnh trong môi trường nóng ẩm để tránh hiện tượng tăng thân nhiệt trong ba tháng đầu thai kỳ
Đối với bài tập sức mạnh, trong thời kỳ mang thai nên tập trung vào các cơ vùng đáy chậu, vùng lưng và vùng bụng nhưng có thể phối hợp tập luyện ở cơ chân và tay
Ở thai phụ từ tuần thứ 16 trở đi, tử cung phát triển làm tăng nguy cơ tắc nghẽn dòng máu từ tĩnh mạch chủ đổ về tim, làm tăng nguy cơ giảm thể tích tâm thu và giảm huyết áp Do đó, nên thực hiện các bài tập sức mạnh cho vùng bụng ở tư thế ngồi, nằm nghiêng một bên hoặc đứng Nói chung, các bài tập được khuyến cáo với 3 lần tập mỗi tuần, mỗi lần thực hiện 8-12 nhịp Thai phụ nên tránh tập nặng quá sức dẫn đến căng thẳng Nhiều người gặp khó khăn trong việc xác định các cơ vùng đáy chậu khi tập Trong trường hợp này, nên tham khảo ý kiến của chuyên gia vật lý trị liệu để đánh giá mức độ tập luyện chính xác trước khi sinh [4]
Trang 25Các trường hợp cần tư vấn về chế độ VĐTL từ nhân viên y tế
Các lưu ý với các trường hợp thai phụ bệnh tim, loạn nhịp tim chưa được chẩn đoán, bệnh phổi hạn chế, viêm phế quản mạn tính, cao huyết áp thai kỳ, bệnh lý tuyến giáp, đái tháo đường, động kinh, bệnh thiếu máu, chảy máu âm đạo trong thời gian
từ tháng thứ 4 đến tháng thứ 9, thai chậm phát triển trong tử cung, cổ tử cung yếu, thai đôi, bệnh lý xương khớp gây hạn chế vận động, có tiền sử tiền sản giật, chuyển
dạ sớm, vỡ màng ối sớm, béo phì quá mức (BMI > 40), suy dinh dưỡng, rối loạn ăn uống hoặc hút thuốc > 20 điếu/ngày Cần phải có đánh giá, tư vấn của chuyên gia y
tế để chỉ định hình thức, mức độ tập luyện phù hợp cho từng thai phụ
Trong phần lớn các trường hợp, vận động thể lực trong thời kỳ mang thai đều an toàn cho người mẹ và thai nhi, do đó tất cả các thai phụ được khuyến cáo thực hiện các bài tập thể dục nâng cao thể chất như là một phần của lối sống lành mạnh Thai phụ nên vận động thể lực với mức độ trung bình trong thời gian khoảng 30 phút mỗi ngày Nên chọn các bài tập an toàn, giảm thiểu nguy cơ ngã và ảnh hưởng không tốt đến thai nhi [4]
Trang 261.7 Các công cụ đo lường vận động thể lực ở thai phụ
Sử dụng bộ câu hỏi là một phương pháp đo lường VĐTL thường được sử dụng
Bộ câu hỏi bao gồm danh mục các hoạt động, thông tin được thu thập từ quá trình tự khai báo của đối tượng về hành vi VĐTL Ngoài ra, một phương pháp đo lường VĐTL khác là sử dụng thiết bị để đánh giá các chuyển động vật lý một cách chính xác (máy đo bước chân, gia tốc kế, máy đo chuyển động thân mình hoặc các chi), nhưng chi phí của phương pháp này khá cao Việc lựa chọn công cụ và phương pháp
để đo lường VĐTL không chỉ xem xét tính chính xác mà đòi hỏi chi phí thực hiện phải phù hợp, đây là điều rất quan trọng Bởi vậy nghiên cứu sử dụng bộ câu hỏi để
thu thập thông tin về hành vi VĐTL của đối tượng nghiên cứu [28]
1.7.1 Bộ khảo sát hoạt động của phụ nữ Úc (The Australian Women’s Activity
Survey - AWAS)
Bộ khảo sát hoạt động của phụ Úc (AWAS) được phát triển dựa trên một đánh giá
có hệ thống và nghiên cứu định tính nhằm đo lường mô hình hoạt động của thai phụ
có con nhỏ Bộ khảo sát gồm 68 câu bao gồm các hoạt động trên 5 khía cạnh: hoạt động có kế hoạch (giải trí, tập thể dục), hoạt động trong công việc, hoạt động di chuyển và đặc biệt tập trung chú trọng hoạt động chăm sóc trẻ và việc nhà Các hoạt động cũng được ước tính theo từng mức độ (hoạt động ngồi, hoạt động nhẹ, đi bộ nhanh, hoạt động vừa phải và hoạt động mạnh mẽ), tuy nhiên ước tính này mang tính tương đối theo số ngày trong tuần và không sử dụng đơn vị đo lường MET [59] Năm 2013 Bell R và cộng sự đã thực hiện một nghiên cứu để kiểm tra tính chấp nhận của bộ khảo sát AWAS trên đối tượng thai phụ Có 59 thai phụ thừa cân/béo phì (BMI ≥25 kg/m2) được đưa vào nghiên cứu, thông tin được ghi nhận đồng thời bằng
bộ khảo sát AWAS, bộ câu hỏi RPAQ và đo bằng máy gia tốc kế Kết quả được tìm thấy có mối tương quan thấp về tổng thời gian VĐTL giữa phép đo gia tốc kế với phép đo AWAS (r=0,36), tổng thời gian VĐTL mức độ vừa phải bị ước lượng trội đáng kể trong tự báo bằng AWAS và không có mối tương quan nào [70]
1.7.2 Bộ câu hỏi vận động thể lực trong hoạt động giải trí ở thai phụ (Pregnancy
Leisure Time Physical Activity Questionnaire - LTPAQ)
Bộ câu hỏi vận động thể lực trong hoạt động giải trí ở thai phụ (LTPAQ) được dựa trên Bộ câu hỏi vận động thể lực quốc tế (IPAQ) có sự hiệu chỉnh về cấu trúc và nội
Trang 27dung Đây là bộ câu hỏi bán cấu trúc, được chia thành hai phần: hoạt động trong giải trí (phần có cấu trúc) và hoạt động trong việc nhà (phần không có cấu trúc) Một số hoạt động được loại bỏ, như hoạt động trong công việc và được giải thích bởi vì đây
là hoạt động không mang tính tự nguyện trong một số trường hợp Nghiên cứu của tác giả Aittasalo M và cộng sự thực hiện năm 2010 đã kiểm tra độ tin cậy và tính giá trị của bộ câu hỏi này Tính giá trị được tìm thấy khá thấp với hệ số tương quan Spearman SCC=0,27theo tần suất và SCC=0,47 theo thời gian, tuy nhiên tính giá trị không áp dụng cho đối tượng thai phụ dưới 34 tuần và chỉ được khuyến cáo trong thời kỳ mang thai không biến chứng Để xem xét độ tin cậy của bộ câu hỏi, nghiên cứu sử dụng giới hạn tương đồng (LoA) cho thấy độ lặp lại của bộ câu hỏi giữa 2 lần nghiên cứu là khá cao từ 0,76 đến 0,93 Hệ số tương quan nội bộ nhóm (ICC) để đo lường độ tin cậy không được đề xuất Bởi vì giá trị ICC bị ảnh hưởng bởi tính không đồng nhất mẫu, đây là một lỗi không thể bỏ qua, có thể giải thích về giá trị ICC bằng tính ổn định của hành vi nhiều hơn là độ lặp lại [16]
1.7.3 Bộ câu hỏi vận động thể lực toàn cầu (Global Physical Activity
Questionnaire - GPAQ)
Việc giám sát tình trạng vận động thể lực theo thời gian, so sánh số liệu giữa các khu vực, các quốc gia với các đặc điểm văn hóa khác nhau là một thách thức Để giải quyết khó khăn này, WHO đã xây dựng và phát triển Bộ câu hỏi vận động thể lực toàn cầu (GPAQ) như một công cụ thống nhất [80] Bộ câu hỏi gồm 16 câu, thu nhận thông tin về các hoạt động trong công việc (6 câu), hoạt động đi lại (3 câu), hoạt động giải trí (6 câu), hoạt động tĩnh tại (1 câu) [82] Một thử nghiệm được tiến hành từ tháng 9/2003 đến tháng 1/2005 trên 2657 đối tượng từ 9 quốc gia (Thổ Nhĩ Kỳ, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Italia, Đức, Pháp, Anh, Thành phố Thiên Tân (Trung Quốc),
Ả rập) Kết quả cho thấy GPAQ đáng tin cậy (hệ số Kappa κ: 0,67-0,73) và hợp lệ (SCC: 0,67-0,81) để đánh giá hoạt động thể lực trên người trưởng thành [39]
Năm 2005, tác giả Âu Bích Thủy và cộng sự thực hiện một nghiên cứu nhằm đánh giá bộ câu hỏi GPAQ tại Việt Nam Độ tin cậy được đánh bằng cách so sánh kết quả của phép đo GPAQ và IPAQ theo từng nhóm, kết quả tìm thấy có sự khác nhau giữa nhóm người có công việc ổn định (tương quan tổng VĐTL r=0,39) và nhóm người
có công việc không ổn định (tương quan tổng VĐTL r=-0,05) Tính giá trị có mối
Trang 28tương quan vừa phải giữa kết quả thu được từ GPAQ so với phép đo bằng bộ câu hỏi khác (r=0,32), máy đếm bước mỗi ngày (r=0,39) và nhật ký vận động (r=0,31) [19]
1.7.4 Bộ câu hỏi quốc tế về vận động thể lực (International Physical Activity
CL và cộng sự đã thực hiện một nghiên cứu trên 12 quốc gia và kết luận IPAQ có các thuộc tính đo lường chấp nhận được để đánh giá VĐTL trên dân số có độ tuổi 18 –
65 tuổi Cụ thể độ tin cậy được đánh giá bằng cách so sánh kết quả lặp lại từ 2 lần đo, kết quả này năm trong khoảng từ 0,46 đến 0,96 và tính trung bình là 0,8 [26]
1.7.5 Bộ câu hỏi vận động thể lực ở thai phụ (Pregnancy Physical Activity
và đưa ra giá trị mức độ cho từng hoạt động, từ đó có thể phân tích theo loại, theo mức độ hoặc theo tổng chi tiêu năng lượng của từng hoạt động PPAQ đã được xác định độ tin cậy và tính giá trị bằng 7 ngày thử nghiệm với các phép đo gia tốc với hệ
số tương quan Spearman SCC=0,27, hệ số tương quan nội bộ nhóm ICC=0,78 [22] Hiện nay PPAQ đã được sử dụng trong nghiên cứu tại 54 quốc gia, đại diện như Bangladesh, Brazil, Đức, Ấn Độ, Iran, Jordan, Malaysia, Na Uy, Ba Lan, Singapore, Nam Phi, Hàn Quốc, Thụy Điển, Thụy Sĩ , Thái Lan và Vương quốc Anh PPAQ
Trang 29cũng được xác thực độ tin cậy, tính giá trị và dịch chuyển ngữ tại Nhật Bản, Trung Quốc, Pháp, Thổ Nhĩ Kỳ, Bồ Đào Nha và Việt Nam [78]
Năm 2008, Erika Ota và cộng sự dịch bộ câu hỏi về vận động thể lực ở thai phụ (PPAQ) sang tiếng Việt và kiểm tra độ tin cậy, tính giá trị của nó đối với thai phụ Việt Nam Quá trình dịch thuật gồm các phương pháp dịch xuôi và dịch ngược, các bản dịch được so sánh bởi cả hai bên gồm các nhà nghiên cứu Việt Nam, Hoa Kỳ, Nhật Bản PPAQ đã được dịch thành công từ tiếng Anh sang tiếng Việt và đạt được các yêu cầu nghiêm ngặt về mặt văn hóa Hệ số tương quan nội bộ nhóm (ICC) và phương pháp phân tích Bland, Altman được sử dụng để đánh giá độ tin cậy của PPAQ, kết quả cho ICC trong khoảng 0,87 đến 0,94, cụ thể là 0,88 với tổng số hoạt động, 0,94 với hoạt động tĩnh tại, 0,88 với hoạt động mức độ nhẹ, 0,9 với hoạt động mức
độ vừa, 0,87 với hoạt động mức độ mạnh Kết quả phép đo độ tin cậy PPAQ phiên bản tiếng Việt là cao hơn so với những phép đo trước đó Phân tích Bland và Altman cho thấy tổng điểm PPAQ ở lần đo đầu tiên và thứ hai không có sự khác biệt đáng kể
và hầu hết nằm trong khoảng 0 ± 1,96 Hệ số tương quan Pearson (PCC) giữa các phép đo PPAQ và kết quả thu được từ máy đếm (trung bình 10 ngày) được sử dụng
để xác định tính giá trị của bộ câu hỏi PPAQ, qua phân tích cho thấy có mối tương quan nhưng khá thấp giữa các bước đếm và tổng VĐTL (PCC=0,29, p=0,02) Tuy nhiên, hệ số tương quan có thể bị đánh giá thấp đi do các lỗi liên quan đến máy đếm bước Nghiên cứu đã kết luận PPAQ phiên bản tiếng Việt phản ánh các khái niệm tương tự như khái niệm gốc phiên bản tiếng Anh nên đủ độ tin và chấp nhận được, cung cấp thêm một công cụ hữu ích để đánh giá VĐTL ở thai phụ tại Việt Nam [33] Năm 2018, tác giả Matteo và cộng sự thực hiện một nghiên cứu Tổng quan hệ thống để đánh giá các bảng câu hỏi đo lường hoạt động thể chất của thai phụ Nghiên cứu xem xét tất cả các tiêu chí về nội dung đo lường, độ tin cậy, tính giá trị, chất lượng chứng cứ, từ đó tổng hợp các kết quả trên và đưa ra đề nghị sử dụng bộ câu hỏi PPAQ để đánh giá vận động thể lực ở thai phụ là phù hợp [59]
Trang 30Bảng 1 1: Tóm tắt các công cụ đo lường vận động thể lực ở thai phụ
Mô tả thang đo
PPAQ Yan Zhang,
Bộ công cụ PPAQ phiên bản tiếng Việt: độ tin cậy (ICC: 0,88), tính giá trị (PCC: 0,29) Gồm 33 câu hỏi chia làm 4 phần: VĐTL trong việc nhà (16 câu), VĐTL trong đi lại/di chuyển (3 câu), VĐTL trong giải trí/tập thể dục (9 câu), VĐTL trong công việc (5 câu)
Nhược điểm: bộ câu hỏi khá dài với 33 câu hỏi
AWAS Bell R (năm
2013), 59 thai
phụ [70]
Bộ khảo sát gồm 68 câu, 5 khía cạnh: hoạt động có
kế hoạch (giải trí, tập thể dục), hoạt động trong công việc, hoạt động di chuyển, chăm sóc trẻ và việc nhà Mối tương quan thấp giữa AWAS so gia tốc kế (r=0,36), thời gian VĐTL mức độ vừa bị ước lượng trội quá mức khi sử dụng phép đo bằng bộ khảo sát AWAS
Ưu điểm: khảo sát tất cả các loại hoạt động Nhược điểm: đo lường mức độ mang tính tương đối
(sử dụng số ngày trong tuần), bộ câu hỏi quá dài, kết quả đo lường không chính xác
Ưu điểm: độ tin cậy cao
Nhược điểm: bộ công cụ LTPAQ chỉ đo lường
VĐTL trong thể dục, tính giá trị bộ câu hỏi thấp
GPAQ phiên bản tiếng Việt: độ tin cậy ở nhóm người
có công việc ổn định (r=0,39) và nhóm người có công việc không ổn định (r=-0,05), tính giá trị giữa GPAQ so với phép đo bằng bộ câu hỏi khác (r=0,32), máy đếm bước mối ngày (r=0,39) và nhật ký vận động (r=0,31) Gồm 16 câu: hoạt động trong công
Trang 31Mô tả thang đo
trưởng thành
[38]
việc (6 câu), hoạt động đi lại (3 câu), hoạt động giải trí (6 câu), hoạt động tĩnh tại (1 câu)
Ưu điểm: bộ câu hỏi ngắn gọn, phù hợp với các quốc
gia phát triển, được nhiều quốc gia sử dụng thuận tiện
so sánh kết quả
Nhược điểm: bộ câu hỏi tại Việt Nam có độ tin cậy
và tính giá trị vừa phải, tuy nhiên chỉ phù hợp với đối tượng có công việc ổn định
Ưu điểm: bộ câu hỏi có phiên bản tiếng Việt, được
sử dụng rộng rãi dễ so sánh, đánh giá được VĐTL ở người trưởng thành
Nhược điểm: IPAQ không phù hợp áp dụng để đo
lường VĐTL trên đối tượng thai phụ
1.8 Các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng vận động thể lực ở thai phụ
1.8.1 Yếu tố cá nhân
Nhóm tuổi
Một số nghiên cứu trên thế giới đã tìm thấy mối liên quan giữa nhóm tuổi và tình trạng vận động thể lực ở thai phụ, nhưng kết quả có sự khác biệt Một nghiên cứu cắt ngang thực hiện tại Brazil năm 2007 cho thấy thai phụ càng lớn tuổi thì càng giảm tình trạng vận động thể lực Cụ thể, thai phụ từ 20-29 tuổi, 30-34 tuổi, lớn hơn 35 tuổi thì giảm vận động thể lực từ 14% đến 27% so với thai phụ nhỏ hơn 20 tuổi (p=0,01) [31] Tuy nhiên, một nghiên cứu thực hiện tại Canada năm 2009 lại cho kết quả ngược lại, thai phụ càng trẻ tuổi thì càng giảm mức vận động thể lực Cụ thể, thai phụ nhỏ hơn 25 tuổi, từ 25-34 tuổi thì giảm vận động thể lực đủ từ 20 đến 30% so với thai phụ
tử 35 tuổi trở lên (p<0,05) [37]
Giai đoạn thai kỳ
Hầu hết các nghiên cứu đều chỉ ra rằng VĐTL giảm đối với thai kỳ muộn Như nghiên cứu tại Bắc Carolina (Hoa Kỳ) năm 2008, VĐTL giảm từ ba tháng giữa sang
ba tháng cuối Với thời gian trung bình VĐTL được báo cáo giảm đáng kể từ 1,1 giờ cho mỗi hoạt động ở ba tháng giữa xuống còn 1,0 giờ cho mỗi hoạt động vào ba tháng
Trang 32cuối [48] Ngoài ra, nghiên cứu tại Thiên Tân (Trung Quốc) năm 2014 cũng ghi nhận kết quả tương tự, thai phụ trong ba tháng đầu có tổng hao phí năng lượng trung bình cao hơn đáng kể so với thai phụ trong ba tháng giữa và thứ ba [87]
Tuy nhiên, tìm thấy kết quả ngược lại trong nghiên cứu thực hiện tại Hồng Kông (Trung Quốc) năm 2015 Thai phụ có tổng hao phí năng lượng trung bình cho các hoạt động thể dục ở ba tháng đầu thai kỳ có sự tăng đáng kể (3,5 MET-giờ/tuần) so
với ba tháng giữa thai kỳ (2,4 MET-giờ/tuần) (p=0,001) [86]
Trình độ học vấn
Đa số các nghiên cứu đã thực hiện đều thống nhất, thai phụ có trình độ học vấn cao thì tăng khả năng VĐTL đủ cũng như tham gia các hoạt động thể dục Nghiên cứu thực hiện tại Thiên Tân (Trung Quốc) năm 2014, cho thấy thai phụ có trình độ đại học hoặc cao học làm tăng tỷ lệ VĐTL đủ theo khuyến nghị gấp 4,11 lần so với thai phụ có trình độ dưới bậc trung học (OR: 4,11; KTC 95%: 1,59–10,6) [87] Tìm thấy kết quả tương tự trong một nghiên cứu tại Đan Mạch năm 2015, thai phụ có trình
độ học vấn dưới bậc phổ thông thì giảm 31% khả năng đáp ứng VĐTL theo khuyến nghị so với nhóm thai phụ có bằng đại học trở lên (AOR=0,69; KTC 95%: 0,61-0,79) [55]
Tình trạng hôn nhân
Một số nghiên cứu trên thế giới đã tìm hiểu mối quan hệ giữa tình trạng hôn nhân với VĐTL, kết quả tìm thấy có sự khác biệt Nghiên cứu thực hiện tại Anh năm 2011 cho thấy kết quả VĐTL theo loại, tần suất và thời gian giống nhau có sự giống giữa thai phụ và chồng Những thai phụ có chồng VĐTL tích cực làm tăng khả năng VĐTL hơn so với thai phụ có chồng ít VĐTL [45] Tìm thấy kết quả ngược lại trong nghiên cứu thực hiện tại Columbia năm 2004, thai phụ đã ly thân, ly dị hoặc chưa kết hôn thì
có khả năng VĐTL cao gấp 1,5 lần so với thai phụ đã kết hôn [35]
Số con hiện có
Một nghiên cứu tại Hoa Kỳ năm 2012, kết quả cho thấy thai phụ có con làm tăng khả năng VĐTL trong thời gian mang thai so với thai phụ không có con Cụ thể, thai phụ có con thì tăng tổng hoạt động thể chất trung bình 9-12 MET/giờ/tuần (p<0,01)
so với thai phụ không có con và chủ yếu là tăng mức độ hoạt động vừa phải Đặc biệt, thai phụ có từ hai con trở lên thì tăng VĐTL trong hoạt động thể dục lên 3,43
Trang 33MET/giờ/tuần so với thai phụ không có con (p<0,01) [53] Ngược lại một nghiên cứu tại Brazil năm 2015 lại tìm thấy kết quả trái ngược, thai phụ chưa có con làm tăng tỷ
lệ tham gia các hoạt động thể dục khi mang thai gấp 1,49 lần so với thai phụ đã có con (OR=1,49; KTC: 95% 1,07-2,07) [74]
Năm 2011 tại bang Colorado (Hoa Kỳ), Thornton PL và cộng sự tiến hành một nghiên cứu định tính nhằm đánh giá tất cả các yếu tố có ảnh hưởng đến tình trạng VĐTL ở thai phụ Tổng hợp tất cả cuộc phỏng vấn cá nhân và phỏng vấn nhóm trên
25 thai phụ, kết quả khảo sát tìm thấy số con hiện có là một yếu tố liên quan Tuy nhiên có sự mâu thuẫn ý kiến giữa các thai phụ, một nhóm thai phụ cho rằng con cái
là một rào cản với việc tập thể dục vì họ phải dành thời gian để chăm sóc con, tuy nhiên một nhóm khác lại cho rằng con cái là một động lực để họ tập thể dục và làm tấm gương tốt cho con họ [54]
BMI trước khi mang thai
Một số nghiên cứu chỉ ra rằng chỉ số BMI trước khi mang thai cao có liên quan tiêu cực đến VĐTL trong thai kỳ Nghiên cứu của Mottola MF và cộng sự tại Canada năm 2003, kết quả thai phụ có BMI trước khi mang thai cao (BMI > 25 kg/m 2) có nhiều khả năng ngừng tập thể dục vào ba tháng cuối [62] Nghiên cứu thực hiện ở Đức năm 2016, kết quả cho thấy thai phụ có chỉ số BMI trước khi mang thai cao thì
ít VĐTL hơn so với những thai phụ có chỉ số BMI thấp hơn Cụ thể ở thai phụ nhẹ cân thì có khả năng tham gia VĐTL nhiều gấp 4 lần so với thai phụ thừa cân và gấp
12 lần so với thai phụ béo phì [20]
BMI tự báo cáo thường được sử dụng để thu thập thông tin trong các nghiên cứu nhưng giá trị BMI tự báo cáo dựa trên chiều cao, cân nặng có thể sai số Theo Khảo sát của Sức Khỏe và Dinh Dưỡng Quốc Gia (NHANES) lần thứ hai, đối tượng là người trưởng thành từ 30 đến 64 tuổi, nhằm đánh giá độ chính xác của BMI tự báo cáo Kết quả cho thấy mối tương quan giữa chỉ số BMI đo được và sai số ở BMI tự báo cáo là 0,37 đối với nam và 0,38 đối với nữ [60] Ngoài ra, Khảo sát của Sức khỏe
và Dinh dưỡng quốc gia (NHANES) với Khảo sát phỏng vấn sức khỏe quốc gia (NHIS) cũng đánh giá BMI tự báo cáo Tìm thấy xu hướng đánh giá quá cao với những người có giá trị BMI ở mức thấp (BMI<22) và có xu hướng đánh giá quá thấp
Trang 34với những người các giá trị BMI ở mức cao (BMI> 28) BMI tự báo cáo xuất hiện sai
số nhiều hơn với người cao tuổi, có xu hướng đánh giá thấp chỉ số BMI của họ [76]
Bệnh lý (bệnh phổi, tim mạch, cơ xương khớp)
Theo khuyến nghị “Vận động thể lực trong phòng và điều trị bệnh”, đối với các trường hợp thai phụ có tiền sử sinh non, sẩy thai/nạo phá thai, thai đôi, mắc các bệnh
lý bệnh tim mạch, bênh phổi hạn chế, viêm phế quản mạn tính, cao huyết áp thai kỳ, bệnh lý tuyến giáp, bệnh lý xương khớp gây hạn chế vận động thì cần phải có đánh giá của nhân viên y tế xem có nên tập luyện hay không và chỉ định mức độ tập luyện
phù hợp cho từng thai phụ [4] Năm 1989, Marcoux và cộng sự đã thực hiện một
nghiên cứu trên thai phụ Canada và báo cáo rằng những người tham gia thường xuyên trong hoạt động thể chất giải trí trong 20 tuần đầu tiên của thai kỳ đã giảm 43% nguy
cơ tiền sản giật và giảm 29% nguy cơ tăng huyết thai kỳ so với nhóm ít vận động [56]
Tần suất tập thể dục trước khi mang thai 3 tháng
Một nghiên cứu tại bang Massachusetts (Hoa Kỳ) trên 1355 thai phụ gốc Tây Ban Nha từ năm 2006 đến năm 2011, cho thấy thai phụ có mức độ VĐTL cao trước khi mang thai thì giảm 87% không VĐTL trong thai kỳ so với thai phụ không VĐTL trước khi mang thai (OR=0,13; KTC 95%: 0,05-0,29) [53]
Một nghiên cứu tại Hoa Kỳ trên 4253 phụ nữ, kết quả cho thấy tần suất tập thể dục thấp (<1 lần/tuần) trước khi mang thai có liên quan chặt chẽ với khả năng tuân thủ hướng dẫn về VĐTL ở thai phụ trong ba tháng cuối (AOR=0,10; KTC 95%: 0,04-0,30 so với tần suất tập thể dục 1-4 lần/tuần) [32]
1.8.2 Yếu tố gia đình - xã hội
Thông tin về chế độ VĐTL khi mang thai từ nhân viên y tế
Theo kết quả nghiên cứu định tính của Muzigaba M và cộng sự năm 2014 tại Nam Phi, tất cả các thai phụ tham gia nghiên cứu cho rằng bác sĩ hoặc nữ hộ sinh chịu trách nhiệm cung cấp cho các thông tin về chế độ VĐTL trong gia đoạn thai kỳ, điều này giúp cho thai phụ có thể cảm thấy an toàn khi bắt đầu tham gia một hoạt động thể dục nào Một số thai phụ bày tỏ mong muốn tại các phòng khám thai có những cuốn sách nhỏ hướng dẫn chi tiết các bài tập trong thai kỳ [63] Kết quả nghiên cứu trên 266
Trang 35thai phụ Ba Lan trong ba tháng cuối, có 32% thai phụ không VĐTL trong thai kỳ vì
lý do không biết phải làm gì [71]
Nghiên cứu tại Thành phố Thiên Tân (Trung Quốc), trong số 1056 thai phụ tham gia chỉ có 87 thai phụ (8,2%) đã nhận được lời khuyên về VĐTL trong thai kỳ từ nhân viên y tế Và việc nhận được thông tin về chế độ tập luyện từ nhân viên y tế cũng không làm tăng tỷ lệ VĐTL (OR=0,74; KTC 95%: 0,19-2,83) [87] Ngược lại, một nghiên cứu cắt ngang tại Brazil, kết quả có 47,4% thai phụ tham gia nhận được hướng dẫn chế độ tập thể dục từ nhân viên y tế Nhận được hướng dẫn làm tăng đáng kể tỷ
lệ tập thể dục trong thai kỳ (OR=2,54; KTC 95%: 1,80-3,57), từ 981 phụ nữ không
có thói quen tập thể dục trước khi mang thai có 117 phụ nữ (11,9%) bắt đầu tập thể dục khi mang thai [74]
Người quyết định hành vi VĐTL
Chồng/bạn tình, nhân viên y tế, thành viên trong gia đình là những người ảnh hưởng đến hoạt động thể dục của thai phụ Kết quả nghiên cứu tại Thành phố Thiên Tân (Trung Quốc) năm 2014, thai phụ coi chồng mình là người quan trọng nhất ảnh hưởng đến quyết định tập thể dục của họ [87], kết quả nghiên cứu khác tại thành phố Michigan - Hoa Kỳ năm 2006, người chồng khuyến khích thai phụ tập thể dục và đồng hành để giúp đỡ thai phụ tập thể dục [66]
Người tập thể dục cùng
Nghiên cứu tại Thành phố Thiên Tân (Trung Quốc) năm 2014, chỉ ra rằng thai phụ
có chồng tập thể dục thì làm tăng tỷ lệ VĐTL theo khuyến nghị gấp 2,21 lần (KTC 95%: 1,33-3,67) so với thai phụ có chồng ít tập thể dục [87]
Người hỗ trợ chăm sóc trẻ
Kết quả nghiên cứu của Albright C và cộng sự tại Hawaii năm 2005, trong số 79 thai phụ tham gia nghiên thì có 36% thai phụ đề cập đến việc nhận được sự hỗ trợ chăm sóc trẻ như là một động lực giúp họ năng động hơn, có thời gian để tham gia vào các hoạt động thể dục Đặc biệt là sự hỗ trợ chăm sóc trẻ từ chồng hay đối tác rất quan trọng, điều này sẽ giúp họ yên tâm hơn [17]
Trang 361.8.3 Yếu tố môi trường
Các yếu tố liên quan đến VĐTL ở phụ nữ trong thời gian mang thai là một tổng thể mô hình đa cấp, bao gồm: yếu tố cá nhân, yếu tố gia đình - xã hội và yếu tố môi trường Việc đánh giá toàn diện vai trò động lực hay rào cản của các yếu tố này có ý nghĩa quan trọng, nhằm lập kế hoạch can thiệp thúc đẩy hành vi VĐTL ở thai phụ một cách hiệu quả [30] Tuy nhiên, phần lớn các nghiên cứu được thực hiện chỉ tập trung vào yếu tố cá nhân, chỉ một số ít các nghiên cứu xem xét toàn diện tất cả các yếu tố liên quan [34]
Theo kết quả nghiên cứu định tính của Muzigaba M và cộng sự năm 2014 tại Nam Phi, một nhóm thai phụ bày tỏ khu phố an toàn là động lực để họ tập thể dục, đôi khi
họ phải tập thể cùng người khác vì khu phố họ sống không đủ an toàn [63] Cũng giống với kết quả trên, nghiên cứu của Kara Goodrich và cộng sự thực hiện tại Hoa
Kỳ năm 2015 cho thấy có tới 19 trong tổng số 33 thai phụ (58%) tham gia phỏng vấn trả lời rằng khu phố an toàn là động lực để họ tập thể dục [46]
Một nghiên cứu kết hợp định tính và định lượng được Kelly R Evenson và cộng
sự thực hiện trên thai phụ tại Hoa Kỳ Nghiên cứu định lượng được tiến hành từ tháng 3/2001 đến tháng 9/2005 trên 1525 thai phụ, kết quả có 3% thai phụ báo cáo yếu tố môi trường là rào cản với hoạt động thể dục Nghiên cứu định tính được tiến hành từ tháng 3/2003 đến tháng 9 năm 2004 trên 58 thai phụ, kết quả liệt kê chi tiết yếu tố rào cản môi trường với hoạt động thể dục là thiếu không gian, thiếu phương tiện hỗ trợ [36] Tuy nhiên, trong nghiên cứu của Santos PC và cộng sự thực hiện tại Bồ Đào Nha đã tìm thấy một tỷ lệ cao hơn về yếu tố môi trường là rào cản với hoạt động thể dục Cụ thể, trong 123 thai phụ ở ba tháng đầu thì có 17 thai phụ (10,2%), trong 105 thai phụ ở ba tháng giữa thì có 11 thai phụ (13,3%) báo cáo yếu tố môi trường là rào cản với hoạt động thể dục [73]
Cũng theo kết quả nghiên cứu của Muzigaba M và cộng sự năm 2014 tại Nam Phi, hầu hết thai phụ tham gia phỏng vấn trả lời rằng họ mong muốn có các nhóm hay câu lạc bộ tập thể dục dành cho các thai phụ tại khu dân cư họ đang sống Điều này sẽ thúc đẩy rất tích cực, khuyến khích họ tham gia vận động nhiều hơn trong giai đoạn mang thai và tiếp tục duy trì sau khi sinh [63]
Trang 371.9 Các nghiên cứu VĐTL ở thai phụ trên Thế Giới và tại Việt Nam
1.9.1 Các nghiên cứu VĐTL ở thai phụ trên Thế Giới
Trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu về VĐTL ở thai phụ được thực hiện, cho thấy tỷ lệ thai phụ VĐTL đủ theo các khuyến cáo khác nhau là không giống nhau tại các quốc gia Tham khảo nghiên cứu đã thực hiện tại các quốc gia như Anh, Ireland,
Na Uy, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Đan Mạch, Brazil, Trung Quốc cho thấy tỷ lệ VĐTL đủ theo khuyến nghị là khá thấp, dao động từ 7,1% đến 48,8% [40, 44, 45, 53,
55, 57, 74, 87]
Ngoài ra, một số nghiên cứu còn thống kê tỷ lệ VĐTL theo loại (việc nhà, đi lại, thể dục, công việc) và VĐTL theo mức độ (tĩnh tại, nhẹ, vừa, mạnh) ở thai phụ Một nghiên cứu thực hiện tại Hồng Kông (Trung Quốc) năm 2015 cho thấy, tỷ lệ VĐTL theo loại ở thai phụ chiếm phần lớn là hoạt động trong công việc (23,3-22,8%) và việc nhà (39,6-39,7%), tỷ lệ VĐTL theo mức độ ở thai phụ chủ yếu dành cho các hoạt động tĩnh tại (23,1-24,0%), hoạt động nhẹ (23,1-24,0%) và hoạt động vừa (33,6-34,2%) [86] Một số nghiên cứu khác cũng cho kết quả tương tự với nghiên cứu trên như nghiên cứu tại Thiên Tân (Trung Quốc) năm 2014 và nghiên cứu tại Brazil năm
2015 [74, 87]
Nhiều nghiên cứu đã tìm ra các yếu tố có liên quan đến tình trạng đáp ứng khuyến nghị về VĐTL ở thai phụ, bao gồm: độ tuổi, tình trạng hôn nhân, trình độ học vấn, số con hiện có, giai đoạn thai kỳ, chỉ số BMI trước khi mang thai, thói quen tập thể dục trước khi mang thai, hướng dẫn chế độ VĐTL, tình trạng sức khỏe hiện tại Như nghiên cứu cắt ngang của Yan Zhang và cộng sự thực hiện năm 2014 tại Thiên Tân (Trung Quốc) trên 1056 thai phụ Kết quả phân tích đa biến, thai phụ có trình độ học vấn cao (đại học hoặc sau đại học) thì khả năng dễ đáp ứng với khuyến nghị VĐTL hơn gấp 4,11 lần so với thai phụ có trình độ học vấn dưới bậc trung học với p<0,001 (KTC 95%: 1,59-10,62) [87] Một số nghiên cứu khác cũng tìm thấy kết quả tương
tự, như: nghiên cứu tại Thụy Điển năm 2016 [57] hay nghiên cứu tại Australia năm
2011 [39] Ngoài ra, nghiên cứu tại Trung Quốc còn tìm thấy một số yếu tố liên quan khác: thai phụ có thói quen tập thể dục trước khi mang thai, có chồng tập thể dục thường xuyên, có BMI trước khi mang thai thấp thì làm tăng đáng kể khả năng đáp ứng VĐTL theo khuyến nghị [87]
Trang 38Một nghiên cứu khác thực hiện tại Brazil năm 2015, sử dụng bộ công cụ PPAQ được dùng để thu thập thông tin về VĐTL ở phụ nữ trong giai đoạn mang thai Các yếu tố tích cực liên quan được tìm thấy tương tự các nghiên cứu khác là: trình độ học vấn, thói quen tập thể dục trước khi mang thai, sinh con đầu lòng Trong đó, thai phụ nhận được hướng dẫn về chế độ VĐTL khi mang thai cũng là một yếu tố tích cực, làm tăng khả năng VĐTL đủ theo khuyến nghị gấp 2,54 lần so với phụ nữ không nhận được hướng dẫn (KTC 95%: 1,80-3.57) [74] Ngược lại với kết quả nghiên cứu tại Thành phố Thiên Tân (Trung Quốc), chỉ có 8,2% thai phụ nhận được hướng dẫn
về VĐTL từ nhân viên y tế, và điều này không làm tăng tỷ lệ thai phụ VĐTL đủ theo khuyến nghị [87] Kết quả nghiên cứu tại một số quốc gia khác, như: Tây Ban Nha năm 2012, Đan Mạch năm 2015 cho thấy phụ nữ đã có con thì giảm khả năng VĐTL
đủ theo khuyến nghị Cụ thể, nghiên cứu tại Tây Ban Nha so với phụ nữ chưa có con thì phụ nữ có một hoặc nhiều con ít có khả năng tham gia các hoạt động thể dục hơn 0,15 lần (KTC 95%: 0,04-0,56) và giảm 0,73 lần (KTC 95%: 0,65-0,82) [53, 55] Ngoài ra, một số nghiên cứu định tính khác được thực hiện và tìm thấy một số yếu
tố mới có ảnh hưởng đến tình trạng VĐTL đủ của thai phụ Như kết quả nghiên cứu của Albright C và cộng sự tại Hawaii năm 2005, trong số 79 thai phụ thì có 36% thai phụ đề cập đến việc nhận được sự hỗ trợ chăm sóc trẻ như là một động lực giúp họ năng động hơn, có thời gian để tham gia vào các hoạt động thể dục Đặc biệt là sự hỗ trợ chăm sóc trẻ từ chồng hay đối tác rất quan trọng, điều này sẽ giúp họ yên tâm hơn [17]
Theo kết quả nghiên cứu định tính của Muzigaba M và cộng sự năm 2014 tại Nam Phi, một nhóm thai phụ bày tỏ khu phố an toàn là động lực để họ tập thể dục, đôi khi
họ phải tập thể cùng người khác vì khu phố họ sống không đủ an toàn [63] Cũng giống với kết quả trên, nghiên cứu của Kara Goodrich và cộng sự thực hiện tại Hoa
Kỳ năm 2015 cho thấy có tới 19 trong tổng số 33 thai phụ (58%) tham gia phỏng vấn trả lời rằng khu phố an toàn là động lực để họ tập thể dục [46] Cũng theo kết quả nghiên cứu tại Nam Phi năm 2014, hầu hết thai phụ tham gia phỏng vấn trả lời rằng
họ mong muốn có các nhóm hay câu lạc bộ tập thể dục dành cho các thai phụ tại khu dân cư họ đang sống Điều này sẽ thúc đẩy rất tích cực, khuyến khích họ tham gia vận động nhiều hơn trong giai đoạn mang thai và tiếp tục duy trì sau khi sinh [63]
Trang 39Một nghiên cứu kết hợp định tính và định lượng được Kelly R Evenson và cộng
sự thực hiện trên thai phụ tại Hoa Kỳ Nghiên cứu định lượng được tiến hành từ tháng 3/2001 đến tháng 9/2005 trên 1525 thai phụ, kết quả có 3% thai phụ báo cáo yếu tố môi trường là rào cản với hoạt động thể dục Nghiên cứu định tính được tiến hành từ tháng 3/2003 đến tháng 9/2004 trên 58 thai phụ, kết quả liệt kê chi tiết yếu tố rào cản môi trường với hoạt động thể dục là thiếu không gian, thiếu phương tiện hỗ trợ [36] Tuy nhiên, trong nghiên cứu của Santos PC và cộng sự thực hiện tại Bồ Đào Nha đã tìm thấy một tỷ lệ cao hơn về yếu tố môi trường là rào cản với hoạt động thể dục Cụ thể, trong 123 thai phụ ở ba tháng đầu thì có 17 thai phụ (10,2%), trong 105 thai phụ
ở ba tháng giữa thì có 11 thai phụ (13,3%) báo cáo yếu tố môi trường là rào cản với hoạt động thể dục [73]
Năm 2015, Erika L Thompson và cộng sự đã thực hiện một nghiên cứu tổng quan
hệ thống dựa trên việc phân tích kết quả của 14 nghiên cứu trước đó Phần lớn các yếu tố liên quan đến VĐTL ở thai phụ được xác định thuộc về yếu tố cá nhân, bao gồm: lợi ích và rào cản với VĐTL Những rào cản chẳng hạn như: giới hạn về thể chất, tình trạng sức khỏe, mệt mỏi, thiếu động lực hoặc thiếu tự tin Về yếu tố gia đình - xã hội là một yếu tố dự báo tích cực với tình trạng VĐTL ở thai phụ Như các câu lạc bộ, hội nhóm tập thể dục có thể ảnh hưởng đến sự cố gắng tham gia VĐTL trong thai kỳ Ngoài ra, nhân viên y tế được xác định là nguồn cung cấp thông tin quan trọng ảnh hưởng đến lựa chọn VĐTL ở thai phụ Điều này đặc biệt quan trọng
vì thai phụ có thể nhận được thông tin xung đột từ nhiều nguồn: gia đình, bạn bè, NVYT Về yếu tố môi trường bao gồm thời tiết, đặc điểm khu dân cư không an toàn được báo cáo là một rào cản với VĐTL [55]
Các yếu tố liên quan đến VĐTL ở phụ nữ trong thời gian mang thai là một tổng thể mô hình đa cấp, bao gồm: yếu tố cá nhân, yếu tố gia đình - xã hội và yếu tố môi trường Việc đánh giá toàn diện vai trò động lực hay rào cản của các yếu tố này có ý nghĩa quan trọng, nhằm lập kế hoạch can thiệp thúc đẩy hành vi VĐTL ở thai phụ một cách hiệu quả [30] Tuy nhiên, phần lớn các nghiên cứu được thực hiện chỉ tập trung vào yếu tố cá nhân, chỉ một số ít các nghiên cứu xem xét toàn diện tất cả các yếu tố liên quan [34]
Trang 401.9.2 Các nghiên cứu VĐTL ở thai phụ tại Việt Nam
Tỷ lệ VĐTL đủ theo khuyến nghị ở thai phụ trong các nghiên cứu tại Việt Nam tuy cao so với các quốc gia trên thế giới nhưng nhìn chung tỷ lệ này còn khá thấp và
có sự chênh lệch đáng kể giữa các nghiên cứu: tại Trung tâm Chăm sóc Sức khỏe sinh sản thành phố Hồ Chí Minh chỉ có 37,1% thai phụ đáp ứng VĐTL đủ theo WHO [11], tỷ lệ này cao hơn tại bệnh viện đa khoa khu vực Hóc Môn với 53,8% [3] và khá thấp tại huyện Trảng Bàng - Tây Ninh chỉ có 23,6% [11]
Theo kết quả nghiên cứu năm 2015 của tác giả Cao Hoàng Hương Trang tiến hành trên 151 thai phụ tại Trung tâm Chăm sóc Sức khỏe sinh sản thành phố Hồ Chí Minh,
tỷ lệ thai phụ VĐTL theo loại chủ yếu tập trung cao ở các hoạt động công việc (53,4%), việc nhà (36,7%) và các hoạt động đi lại (4,7%), thể dục/giải trí (5,2%) chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ Đối với tỷ lệ VĐTL theo mức độ thì thai phụ thường xuyên vận động ở mức độ tĩnh tại (47,21%) và mức độ nhe (35,41%), giảm vận động ở mức độ trung bình (15,36%) và hạn chế vận động ở mức độ mạnh (2,02%) [11] Kết quả tương tự được tìm thấy ở nghiên cứu của tác giả Lê Thị Thanh Hiền năm 2016 [3] và của tác giả Hồ Thị Như Ý năm 2018 [12]
Các yếu tố liên quan với tỷ lệ VĐTL đủ theo WHO quan được tìm thấy trong các nghiên cứu trên là: nhóm tuổi, trình độ học vấn, số con hiện có, tình trạng sức khỏe hiện tại, giai đoạn thai kỳ, BMI trước khi mang thai, tình trạng hôn nhân, thói quen tập thể dục trước khi mang thai Tuy nhiên một số biến chỉ mang tính tương đối, như thói quen tập thể dục trước khi mang thai, chưa thể hiện được tần suất tập thể dục trước và trong thai kỳ để đánh giá mức độ tăng giảm rõ ràng chính xác hơn [3, 11, 12] Các nghiên cứu hầu hết chưa đánh giá toàn diện tình trạng vận động thể lực: tỷ
lệ vận động theo mức độ, theo loại hình, theo khuyến nghị WHO Các yếu tố liên quan được đưa vào khảo sát cũng chưa toàn diện các mặt: yếu tố cá nhân, yếu tố gia đình - xã hội, yếu tố môi trường