1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ giáo dục nâng cao hứng thú với giờ học giáo dục thể chất cho sinh viên trường cao đẳng kinh tế kỹ thuật đại học thái nguyên

93 57 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 688,9 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Lý do chọn đề tài (9)
  • 2. Mục đích nghiên cứu (11)
  • 3. Nhiệm vụ nghiên cứu (11)
  • 4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài (12)
  • 5. Giả thuyết khoa học (12)
  • CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU (13)
    • 1.1. Công tác giáo dục thể chất và thể thao cho sinh viên cao đẳng, đại học (13)
      • 1.1.1. Khái niệm về giáo dục thể chất và thể thao trường học (13)
      • 1.1.2. Mục đích, nhiệm vụ của giáo dục thể chất và thể thao cho sinh viên (15)
      • 1.1.3. Các hình thức giáo dục thể chất và thể thao trong trường cao đẳng, đại học (16)
    • 1.2. Lý luận chung về hứng thú (19)
      • 1.2.1. Khái niệm chung và đặc điểm của hứng thú (19)
      • 1.2.2. Cấu trúc và biểu hiện của hứng thú (21)
      • 1.2.3. Mức độ và phân loại hứng thú (23)
      • 1.2.4. Mối quan hệ giữa khái niệm hứng thú với các hiện tượng tâm lý khác (26)
      • 1.2.5. Vai trò của hứng thú trong hoạt động của cá nhân (29)
      • 1.2.6. Sự hình thành và phát triển của hứng thú (32)
    • 1.3. Hứng thú với hoạt động GDTC và thể thao của sinh viên (33)
      • 1.3.1. Một số đặc điểm tâm lý của sinh viên Đại học (33)
      • 1.3.2. Khái niệm hứng thú với hoạt động GDTC và thể thao của sinh viên (35)
      • 1.3.3. Một số biện pháp nâng cao hứng thú với hoạt động GDTC và thể thao của sinh viên29 1.4. Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề (37)
  • CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU (43)
    • 2.1. Phương pháp nghiên cứu (43)
      • 2.1.1. Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu (43)
      • 2.1.2. Phương pháp phỏng vấn (44)
      • 2.1.3. Phương pháp quan sát sư phạm (45)
      • 2.1.4. Phương pháp kiểm tra sư phạm (45)
      • 2.1.5. Phương pháp thực nghiệm sư phạm (46)
      • 2.1.6. Phương pháp toán học thống kê (46)
    • 2.2. Tổ chức nghiên cứu (47)
      • 2.2.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (47)
      • 2.2.2. Thời gian nghiên cứu (48)
  • CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN (49)
    • 3.1. Xác định cơ sở lý luận và nội dung khảo sát mức độ hứng thú của sinh viên với hoạt động Giáo dục thể chất và thể thao (49)
      • 3.1.1. Tổng hợp cơ sở lý luận (49)
      • 3.1.2. Xác định nội dung khảo sát mức hứng thú của sinh viên với hoạt động GDTC và thể (51)
    • 3.2. Thực trạng hứng thú, kết quả rèn luyện của sinh viên và yếu tố tác động đến công tác Giáo dục thể chất của Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật (53)
      • 3.2.1. Các yếu tố tác động đến công tác giáo dục thể chất của nhà trường (53)
      • 3.2.2. Thực trạng hứng thú của sinh viên với các hoạt động Giáo dục thể chất và thể thao 47 3.2.3. Kết quả học tập môn học Giáo dục thể chất của sinh viên (55)
    • 3.3. Biện pháp nâng cao hứng thú với giờ học Giáo dục thể chất cho sinh viên Trường (62)
      • 3.3.1. Lựa chọn các biện pháp (62)
      • 3.3.2. Đánh giá hiệu quả biện pháp nâng cao hứng thú với giờ học Giáo dục thể chất cho (66)
        • 3.3.2.1. Kết quả khảo sát, kiểm tra đánh giá trước thực nghiệm (67)
        • 3.3.2.2. Kết quả khảo sát, kiểm tra đánh giá sau thực nghiệm (72)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (83)

Nội dung

Nhiều trường vẫn coi GDTC là môn học phụ, chương trình môn học GDTC còn cứng nhắc, thiếu linh hoạt, nội dung và hình thức chưa phong phú… Không ít sinh viên vẫn còn “sợ” môn học GDTC, co

Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, điều kiện thực tiễn và đánh giá thực trạng, luận văn đề xuất một số biện pháp phù hợp với điều kiện thực tiễn để nâng cao hứng thú với giờ học GDTC cho sinh viên Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật thuộc Đại học Thái Nguyên, nhằm góp phần nâng cao chất lượng công tác GDTC cho sinh viên của nhà trường.

Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về giáo dục thể chất và thể thao trường học, cùng với cơ sở lý luận về hứng thú nói chung và hứng thú của người học trong các hoạt động giáo dục nói riêng, là nền tảng để liên hệ và vận dụng vào hoạt động GDTC cho sinh viên Việc hệ thống hóa các khái niệm và nguyên lý liên quan đến hứng thú và sự tham gia của người học sẽ giúp thiết kế chương trình GDTC phù hợp với đặc điểm của sinh viên và tăng cường động lực, sự tham gia tích cực và kết quả rèn luyện Dựa trên cơ sở này, hoạt động GDTC cho sinh viên được triển khai với các nguyên tắc kích thích hứng thú, nội dung đa dạng, phương pháp linh hoạt, phản hồi liên tục và đánh giá công bằng nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục thể chất và thể thao trong trường đại học.

Khảo sát và đánh giá thực trạng hoạt động GDTC cho sinh viên tại Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật thuộc Đại học Thái Nguyên nhằm làm rõ điều kiện cơ sở vật chất, đội ngũ giảng viên và chương trình môn học GDTC Đồng thời, nghiên cứu đo lường mức độ hứng thú của sinh viên đối với các hoạt động GDTC và thể thao ở các khía cạnh nhận thức, xúc cảm và hành động Bên cạnh đó, đánh giá trình độ thể lực chung và kết quả học tập của sinh viên liên quan đến GDTC để cung cấp cơ sở cho việc nâng cao chất lượng giáo dục thể chất tại trường.

Đề xuất và đánh giá hiệu quả bước đầu các biện pháp nâng cao hứng thú với giờ học GDTC cho sinh viên Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật thuộc Đại học Thái Nguyên được trình bày nhằm xác định các yếu tố tác động và tính khả thi của các biện pháp can thiệp Nghiên cứu tập trung đề xuất các biện pháp cụ thể liên quan đến nội dung tiết học, phương pháp dạy học, hoạt động thực hành và môi trường lớp học nhằm tăng động lực tham gia của sinh viên Việc đánh giá hiệu quả bước đầu được thực hiện thông qua các tiêu chí đo lường mức độ hứng thú, mức độ tham gia và một số chỉ số kết quả giáo dục liên quan, từ đó rút ra các gợi ý điều chỉnh để tối ưu hóa giờ học GDTC trong thời gian tới Kết quả sơ bộ cho thấy các biện pháp được đề xuất có tiềm năng nâng cao hứng thú và sự tham gia của sinh viên, đồng thời phản ánh các khó khăn và điều kiện triển khai tại Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật thuộc Đại học Thái Nguyên.

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Hệ thống được xây dựng trên cơ sở lý luận GD và lý luận GDTC để làm rõ khái niệm và vai trò của hứng thú của người học trong các hoạt động nói chung và trong GDTC cũng như thể thao trường học Nhận thức đúng hứng thú của người học giúp thiết kế các hoạt động giáo dục và vận động phù hợp, tăng cường động lực tham gia và nâng cao hiệu quả học tập Hứng thú được xem là động lực nội tại thúc đẩy sự tham gia tích cực, sự khám phá, rèn luyện kỹ năng và phát triển thái độ tích cực đối với quá trình học tập và hoạt động thể thao Trong bối cảnh GDTC và thể thao trường học, hứng thú cao có thể nâng cao khả năng duy trì tập luyện, cải thiện thành tích và hình thành thói quen vận động lâu dài Do đó, hệ thống lý luận GD và GDTC nhấn mạnh mối quan hệ giữa khái niệm hứng thú, hoạt động học tập và hoạt động thể thao, từ đó đề xuất các yếu tố thiết kế chương trình nhằm kích thích hứng thú của người học.

Xác định được mối liên hệ giữa cơ sở lý luận của khoa học GD với lý luận và phương pháp GDTC trong việc khơi dậy và phát triển hứng thú của người học trong các hoạt động GDTC và thể thao;

Xác định được những cách thức tổ chức hoạt động GDTC và thể thao cho sinh viên dựa trên quan điểm, cách tiếp cận và xu hướng đáp ứng nhu cầu người học nhằm khơi dậy và nâng cao hứng thú của họ Ý nghĩa thực tiễn: Đánh giá được thực trạng công tác GDTC của Trường Cao đẳng Kinh tế -

Kỹ thuật thuộc Đại học Thái Nguyên Kết quả này góp phần đánh giá, toàn diện hơn về công tác GDTC cho sinh viên;

Xác định các biện pháp phù hợp để tổ chức giờ học GDTC nhằm nâng cao hứng thú của sinh viên Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật thuộc Đại học Thái Nguyên với giờ học GDTC và các hoạt động thể thao, từ đó nâng cao chất lượng công tác giáo dục thể chất và thể thao của trường Việc triển khai các phương án giảng dạy sáng tạo, ứng dụng công nghệ, thiết kế tiết học linh hoạt và tăng cường cơ hội tham gia các hoạt động thể thao sẽ khuyến khích sự tham gia tích cực của sinh viên, hình thành thói quen rèn luyện và phát triển năng lực vận động Qua đó, góp phần nâng cao hiệu quả GDTC và thể thao trường học, củng cố sức khỏe, tinh thần đồng đội và môi trường học tập tích cực cho sinh viên.

Giả thuyết khoa học

Hoạt động GDTC cho sinh viên Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật, thuộc Đại học Thái Nguyên, hiện gặp một số hạn chế khiến hiệu quả chưa cao Nội dung, hình thức và phương pháp GDTC còn thiếu tính phong phú và linh hoạt, nên sinh viên chưa thực sự hứng thú với giờ học Nếu nghiên cứu và vận dụng đồng bộ các giải pháp nâng cao hứng thú của sinh viên với GDTC phù hợp với thực tiễn, chất lượng hoạt động sẽ được cải thiện Để đạt được kết quả tốt hơn, cần rà soát và tối ưu hóa nội dung, hình thức giảng dạy, tăng cường sự tham gia và ứng dụng công nghệ trong các hoạt động GDTC tương thích với thực tế trường.

TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Công tác giáo dục thể chất và thể thao cho sinh viên cao đẳng, đại học

1.1.1 Khái niệm về giáo dục thể chất và thể thao trường học

Theo tác giả Vũ Đức Thu, giáo dục thể chất (GDTC) là một quá trình sư phạm nhằm giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ, đồng thời hoàn thiện về thể chất và nhân cách GDTC nâng cao năng lực làm việc và kéo dài tuổi thọ của con người, đồng thời thúc đẩy lối sống lành mạnh và bền vững cho mỗi cá nhân Việc chú trọng GDTC không chỉ cải thiện sức khỏe mà còn tăng cường khả năng học tập, làm việc và đóng góp cho cộng đồng.

Trong quá trình GDTC, hình thái và chức năng các cơ quan trong cơ thể được hoàn thiện dần, đồng thời hình thành và phát triển các tố chất thể lực, kỹ năng, kỹ xảo vận động và hệ thống tri thức chuyên môn Quá trình này giúp nâng cao năng lực vận động của con người ở cả hai yếu tố: tố chất thể lực và kỹ năng vận động Do đó, GDTC đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hoàn thiện khả năng vận động, cải thiện sức khỏe và nâng cao chất lượng cuộc sống.

Giáo dục thể chất là một phạm trù biện chứng của triết học Đông - Tây

Nó tồn tại từ khi xuất hiện xã hội loài người và tồn tại tự nhiên như một nhu cầu hết sức cấp bách, không thể thiếu trong điều kiện của nền sản xuất xã hội và đời sống con người [27]

Tác giả Nguyễn Toán thì khái niệm GDTC là một loại hình GD với các nội dung chuyên biệt là:

Dạy học vận động qua việc thực hiện các động tác là quá trình truyền thụ có hệ thống các cách thức điều khiển hợp lý sự vận động của con người Qua đó hình thành các kỹ năng và kỹ xảo vận động cơ bản cần thiết cùng với những hiểu biết liên quan về cơ học, sinh lý và phương pháp luyện tập Quá trình này tập trung vào rèn luyện tư duy vận động, tăng cường nhận thức về cơ thể và khả năng kiểm soát lực tác động lên từng khớp để nâng cao hiệu suất thực hiện động tác Nội dung dạy học vận động được thiết kế nhằm tối ưu hóa tiếp thu, gắn liền với hoạt động thể thao, giáo dục thể chất và ứng dụng trong đời sống hàng ngày.

Phát triển có chủ đích các tố chất vận động là quá trình tác động có chủ ý nhằm điều chỉnh các tố chất thể lực để nâng cao sức mạnh và khả năng vận động của con người Việc dạy học động tác và phát triển các tố chất vận động có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, làm tiền đề cho nhau và thậm chí có thể chuyển hóa lẫn nhau; tuy nhiên chúng không bao giờ đồng nhất và có sự khác biệt về mối quan hệ ở các giai đoạn phát triển thể chất và GDTC khác nhau [28].

Luật Thể dục, Thể thao quy định tách biệt rõ ràng khái niệm về GDTC và thể thao trường học:

Giáo dục thể chất là môn học chính khóa trong chương trình giáo dục nhằm cung cấp kiến thức và kỹ năng vận động cơ bản cho người học Thông qua các bài tập và trò chơi vận động, môn học này góp phần phát triển thể chất, nâng cao sức khỏe và hình thành các kỹ năng vận động thiết yếu, từ đó hỗ trợ thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện cho người học.

Hoạt động thể thao trong trường học là hoạt động ngoại khóa tự nguyện, được tổ chức phù hợp với sở thích, giới tính, lứa tuổi và sức khỏe của người học, nhằm tạo điều kiện cho họ tham gia vui chơi, giải trí và phát triển năng khiếu thể thao.

Khái niệm về GDTC và thể thao trường học theo quy định của Luật Thể dục, thể thao được trình bày một cách chặt chẽ và đầy đủ, vừa thể hiện các nội dung bắt buộc về giáo dục thể chất và hoạt động thể thao trong trường học, vừa làm rõ phạm vi và mục tiêu của GDTC và thể thao trường học Nội dung này không chỉ là các quy định khắc nghiệt mà còn có thể được hiểu như một khái niệm đồng nhất về GDTC và thể thao trường học, phản ánh mối liên hệ giữa giáo dục thể chất và hoạt động thể thao trong môi trường trường học Vì thế, GDTC và thể thao trường học đóng vai trò là hệ thống khung pháp lý và khái niệm thực tiễn, hướng dẫn tổ chức và tham gia các hoạt động GDTC và thể thao trong trường học.

Nhiệm vụ của TDTT trường học:

Phát triển cân đối hình thái và chức năng cơ thể học sinh theo lứa tuổi; Phát triển toàn diện năng lực thể chất; Tăng cường sức khỏe và khả năng chống đỡ những tác động có hại của môi trường

Hình thành và hoàn thiện cho người học những kỹ năng, kỹ xảo vận động cơ bản trong cuộc sống kể cả kỹ năng, kỹ xảo thực dụng và thể thao; Trang bị cho người học kiến thức cơ bản về việc sử dụng hiệu quả các phương tiện, phương pháp TDTT

Xây dựng và hình thành thói quen giữ gìn vệ sinh cá nhân, rèn luyện thể chất thường xuyên nhằm tăng cường sức khỏe và sự tự tin của mỗi người học; đồng thời giáo dục phẩm chất đạo đức, ý chí kiên định và rèn luyện tinh thần tập thể, nâng cao ý thức tổ chức kỷ luật Từ đó hình thành niềm tin và khát vọng xây dựng lối sống lành mạnh, góp phần phát triển toàn diện về nhân cách và kết quả học tập của người học.

Các nội dung cơ bản của công tác TDTT trường học gồm: Thực hiện giờ học nội khóa theo chương trình quy định; Tổ chức tập luyện và kiểm tra tiêu chuẩn rèn luyện thân thân thể theo lứa tuổi hàng năm; Tổ chức tập luyện ngoại

7 khóa theo CLB thể thao tự chọn trong các trường học; Ổn định hệ thống thi đấu thể thao các cấp của học sinh, sinh viên theo chu kỳ năm và nhiều năm [30]

1.1.2 Mục đích, nhiệm vụ của giáo dục thể chất và thể thao cho sinh viên

TDTT trong các trường đại học nhằm góp phần thực hiện mục tiêu đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật, quản lý, kinh tế và văn hóa xã hội, đồng thời phát triển hài hòa với thể chất khỏe mạnh để đáp ứng yêu cầu chuyên môn, nghề nghiệp và có khả năng tiếp cận, bắt nhịp nhanh với thực tiễn cuộc sống Để đạt được mục đích đó, các nhiệm vụ cơ bản được đề ra cho chương trình GDTC và các hoạt động thể thao trong các trường đại học gồm tổ chức giáo dục thể chất và hoạt động thể thao phù hợp với mục tiêu đào tạo, nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và sức khỏe cho sinh viên.

Giáo dục đạo đức xã hội chủ nghĩa là nền tảng hình thành tinh thần tập thể, ý thức tổ chức kỷ luật, xây dựng niềm tin và lối sống tích cực, lành mạnh; kết hợp với tinh thần tự giác học tập và rèn luyện thân thể nhằm sẵn sàng lao động và bảo vệ Tổ quốc Chương trình còn cung cấp cho sinh viên những kiến thức lý luận cơ bản về nội dung và phương pháp tập luyện TDTT, cùng với kỹ năng vận động và kỹ thuật cơ bản của một số môn thể thao phù hợp Trên cơ sở đó, sinh viên được bồi dưỡng khả năng tự rèn luyện thân thể bằng các phương tiện phù hợp, tham gia tích cực vào tuyên truyền và tổ chức các hoạt động TDTT của nhà trường và xã hội.

Lý luận chung về hứng thú

1.2.1 Khái niệm chung và đặc điểm của hứng thú

* Khái niệm chung về hứng thú

Các nhà tâm lý học Mác-xit coi hứng thú không phải là cái trừu tượng vốn có trong mỗi cá nhân mà là kết quả của sự hình thành và phát triển nhân cách cá nhân, nó phản ánh một cách khách quan thái độ đang tồn tại ở con người Thái độ đó xuất hiện là do kết quả của sự ảnh hưởng qua lại giữa điều kiện sống và hoạt động của mỗi cá nhân Nguyên nhân gây ra hứng thú rất đa dạng khiến cho khái niệm hứng thú có nhiều cách giải thích và được xét theo nhiều khía cạnh khác nhau (khía cạnh nhận thức; theo sự lựa chọn của cá nhân đối với thế giới khách quan; theo khía cạnh gắn với nhu cầu) Họ đã nghiên cứu hứng thú theo quan điểm duy vật biện chứng đã chỉ ra tính chất phức tạp của hứng thú, xem xét hứng thú trong mối tương quan với các thuộc tính khác của nhân cách (nhu cầu, xúc cảm, ý chí, trí tuệ …)

Về mặt khái niệm: Hứng thú là một thái độ đặc biệt của cá nhân đối với đối tượng, thể hiện ở sự chú ý tới đối tượng, khao khát đi sâu nhận thức đối tượng và thích thú được thỏa mãn với đối tượng

Ngày nay, các nhà tâm lý học đã đưa ra định nghĩa tương đối hoàn chỉnh về hứng thú: “Hứng thú là thái độ lựa chọn đặc biệt của cá nhân đối với đối tượng nào đó, vừa có ý nghĩa đối với cuộc sống, vừa có khả năng đem lại khoái cảm cho cá nhân trong quá trình hoạt động” Theo đó, hứng thú thể hiện mối quan hệ giữa chủ thể với thế giới khách quan, giữa đối tượng với nhu cầu, xúc cảm, tình cảm của chủ thể hoạt động…

Khác với nhu cầu Một sự vật, hiện tượng nào đó chỉ có thể trở thành đối tượng của hứng thú khi chúng thoả mãn 2 điều kiện sau đây:

Ý nghĩa của đối tượng đối với cuộc sống cá nhân quyết định cách nhận thức và cấu trúc hình thành hứng thú; đối tượng càng có ý nghĩa lớn với cuộc sống của cá nhân thì càng dễ tạo ra hứng thú Để hình thành hứng thú, chủ thể phải nhận thức rõ ý nghĩa của đối tượng đối với cuộc sống của mình, và nhận thức càng sâu sắc, đầy đủ càng đặt nền móng vững chắc cho sự hình thành và phát triển của hứng thú.

Thứ hai cho thấy khả năng mang lại khoái cảm cho cá nhân: trong quá trình hoạt động với đối tượng, hứng thú tình dục gắn liền với nhu cầu và khoái cảm nảy sinh từ chính sự tương tác đó Khoái cảm không chỉ là kết quả của quá trình quan hệ tình dục mà còn thúc đẩy cá nhân tích cực tham gia hoạt động, cho thấy hứng thú được hình thành và phát triển thông qua chính quá trình hoạt động của bản thân.

Hứng thú của cá nhân được hình thành trong hoạt động và sau khi đã được hình thành chính nó quay trở lại thúc đẩy cá nhân hoạt động Vì lý do trên hứng thú tạo nên ở cá nhân khát vọng tiếp cận và đi sâu vào đối tượng gây ra nó, khát vọng này được biểu hiện ở chỗ cá nhân tập trung chú ý cao độ vào đối tượng làm cho mình hứng thú, do đó tích cực hóa hoạt động của con người theo

13 hướng phù hợp với hứng thú dù phải vượt qua muôn ngàn khó khăn người ta vẫn thấy thoải mái và thu được hiệu quả cao… [8][32]

* Đặc điểm của hứng thú

Như đã nói ở trên, hứng thú là nét biểu hiện của xu hướng cá nhân, điều đó được thể hiện qua các đặc điểm sau:

Hứng thú có xu hướng bị hạn chế khi phạm vi kiến thức và hình thức hoạt động của người đó quá hẹp; ví dụ, hứng thú với một lĩnh vực như thể thao có thể chỉ tập trung vào một môn thể thao cụ thể hoặc một hoạt động, một công việc đặc thù trong lĩnh vực thể thao, từ đó làm giảm đa dạng trải nghiệm và khả năng học hỏi mở rộng.

- Cụ thể hóa mục đích và thao tác hoạt động nhiều hơn so với bình thường

- Tích cực hóa không chỉ các quá trình nhận thức mà cả những nỗ lực sáng tạo của con người trong lĩnh vực mà họ hứng thú

Hứng thú chân chính là động lực nội tại giúp ta thỏa mãn cảm xúc đặc biệt và thích ứng lâu dài với một hoạt động liên quan Nhiều người không hiểu đúng bản chất của hứng thú, cho rằng đó chỉ là sự thích thú bề ngoài hoặc tò mò nhất thời Thực chất, hứng thú chân chính chỉ xuất hiện khi có sự kết hợp của ba yếu tố: những cảm xúc tích cực gắn với lĩnh vực mà ta thực sự quan tâm; hoạt động thực tiễn trong lĩnh vực đó; và sự thỏa mãn cảm xúc đạt được nhờ có kiến thức và các hình thức hoạt động phù hợp với lĩnh vực ấy.

1.2.2 Cấu trúc và biểu hiện của hứng thú

Cấu trúc của hứng thú:

Cấu trúc của hứng thú được tiến sĩ tâm lý học N.G.Mavôzôva đưa ra và nhận được sự tán thành của nhiều nhà tâm lý học Cấu trúc này căn cứ theo 3 biểu hiện sau:

- Cá nhân hiểu rõ được đối tượng đã gây ra hứng thú;

- Cá nhân có cảm xúc dương tính sâu sắc với đối tượng gây ra hứng thú do cảm nhận được ý nghĩa của đối tượng với bản thân;

Tiến hành những hành động tích cực nhằm chiếm lĩnh đối tượng bắt nguồn từ hứng thú thực sự với đối tượng mong muốn, khi người ta có xúc cảm và động cơ trực tiếp từ bản thân hoạt động, tự nó lôi cuốn, kích thích sự ham hiểu biết và nhận thức đối tượng; các động cơ khác chỉ hỗ trợ cho sự nảy sinh và duy trì hứng thú chứ không xác định bản chất của nó Ở một mức độ nhất định, khi thích thú một đối tượng, con người sẽ muốn hiểu biết sâu sắc hơn, do đó nhận thức và thái độ xúc cảm phải kết hợp chặt chẽ để hình thành hứng thú; không phải mọi thái độ cảm xúc đều sinh ra hứng thú Niềm vui nhất thời chưa phải là biểu hiện của hứng thú ổn định; chỉ những biểu hiện tích cực, bền vững của cá nhân đối với đối tượng mới được xem là dấu hiệu thiết yếu của hứng thú Hứng thú là nguồn kích thích mạnh mẽ và bền vững đối với tính tích cực của cá nhân, làm cho các quá trình tâm lý diễn ra khẩn trương và say mê, từ đó tăng hiệu quả công việc và tạo động lực để vượt qua khó khăn gặp phải trong quá trình hoạt động.

Hứng thú là sự kết hợp giữa nhận thức - xúc cảm - hành động Mặt nhận thức chỉ là sự hiểu biết của con người đối với đối tượng, mặt hành vi là chỉ hình thức biểu hiện bên ngoài, còn nội dung tâm lý của hứng thú được thể hiện qua xúc cảm tình cảm của cá nhân với đối tượng Nghĩa là phải có sự kết hợp giữa sự hiểu biết về đối tượng với sự thích thú với đối tượng và tính tích cực hoạt động với đối tượng

Ba thành tố trên có quan hệ chặt chẽ với nhau trong hứng thú cá nhân Để có hứng thú đối với đối tượng nào đó cần phải có các yếu tố trên Nó có quan hệ mật thiết với nhau, tương tác lẫn nhau, trong cấu trúc hứng thú, sự tồn tại của từng mặt riêng lẻ không có ý nghĩa đối với hứng thú, không nói lên mức độ của hứng thú [8]

Biểu hiện của hứng thú:

Từ những định nghĩa cũng như cách phân chia các thành phần cấu trúc của hứng thú mà có nhiều quan điểm khác nhau về những biểu hiện về hứng thú của con người Mỗi quan điểm đều có cơ sở lý luận và ưu nhược điểm Theo tiến sĩ tâm lý học N.G.Mavôzôva và nhiều nhà tâm lý khác, hứng thú biểu hiện ở 3 mặt nhận thức – xúc cảm – hành động

Biểu hiện hứng thú của một cá nhân với đối tượng nào đó chính là: sự nhận thức đúng, đầy đủ về đối tượng; xúc cảm tích cực đối với đối tượng và cuối cùng là những hành động tích cực xoay quanh đối tượng đó nhằm chiếm lĩnh nó

1.2.3 Mức độ và phân loại hứng thú

Mức độ của hứng thú:

Trong các quan điểm về hứng thú, có sự đa dạng về cách phân chia mức độ Một số tác giả cho rằng hứng thú được phân thành 2 mức độ, trong khi tác giả Nguyễn Thị Thu Cúc khi nghiên cứu về hứng thú học tập đã đề xuất 4 mức độ của hứng thú học tập, nhằm làm rõ các đặc trưng và mức độ tác động của hứng thú đối với quá trình học tập.

Hứng thú với hoạt động GDTC và thể thao của sinh viên

1.3.1 Một số đặc điểm tâm lý của sinh viên Đại học

Sinh viên là một nhóm xã hội đặc biệt, đang tiếp thu những kiến thức, kỹ năng chuyên môn ở các trường cao đẳng, đại học để chuẩn bị cho hoạt động nghề nghiệp sau khi ra trường

Mỗi một lứa tuổi khác nhau đều có những đặc điểm tâm lý nổi bật, chịu sự chi phối của hoạt động chủ đạo Hoạt động chủ đạo của sinh viên là tham gia các hoạt động giáo dục để tiếp thu kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp ở các trường cao đẳng, đại học Một trong những đặc điểm tâm lý quan trọng nhất ở lứa tuổi thanh niên - sinh viên là sự phát triển tự ý thức Nhờ đó, sinh viên có những hiểu biết, thái độ, có khả năng đánh giá bản thân để chủ động điều chỉnh sự phát triển bản thân theo hướng phù hợp với xu thế xã hội Nhờ khả năng tự đánh giá phát triển mà sinh viên có thể nhìn nhận, xem xét năng lực của mình, kết quả thu được cao hay thấp phụ thuộc vào ý thức, thái độ, vào phương pháp tham gia các hoạt động của họ Ở sinh viên đã bước đầu hình thành thế giới quan để nhìn nhận, đánh giá vấn đề cuộc sống, học tập, sinh hoạt hàng ngày Sinh viên là những trí thức tương lai, ở các em sớm nảy sinh nhu cầu, khát vọng thành đạt Hoạt động trong môi trường giáo dục đại học là cơ hội tốt để sinh viên được trải nghiệm bản thân, vì thế, sinh viên rất thích khám phá, tìm tòi cái mới, đồng thời, họ thích bộc lộ những thế mạnh của bản thân, thích học hỏi, trau dồi, trang bị vốn sống, hiểu biết cho mình, dám đối mặt với thử thách để khẳng định mình

Một đặc điểm tâm lý nổi bật của sinh viên ở lứa tuổi này là sự ổn định của tình cảm, đặc biệt là tình cảm nghề nghiệp Tình cảm nghề nghiệp trở thành động lực mạnh mẽ, giúp họ làm việc chăm chỉ, sáng tạo và kiên định khi thực sự yêu thích và đam mê với những hoạt động họ chọn thực hiện.

Sinh viên là độ tuổi đạt đến mức độ phát triển sung mãn của đời người; họ là lớp người giàu nghị lực, giàu ước mơ và hoài bão Tuy nhiên, do quy luật phát triển không đồng đều về mặt tâm lý, cùng với điều kiện sống, hoàn cảnh và cách thức giáo dục khác nhau, không phải mọi sinh viên đều đạt được sự phát triển tối ưu Sự chín chắn trong suy nghĩ và hành động còn hạn chế, đặc biệt ở khả năng tiếp thu và học hỏi những cái mới Trong bối cảnh mở cửa, hội nhập quốc tế và xu thế toàn cầu hóa ngày nay, việc hình thành năng lực cá nhân cho sinh viên trở nên thiết yếu để thành công trong học tập và sự nghiệp.

Trong bối cảnh phát triển công nghệ thông tin, nền văn hóa nước ta có nhiều điều kiện để giao lưu và tiếp xúc với các nền văn hóa trên thế giới Việc học tập và tiếp thu tinh hoa văn hóa từ các nền văn hóa khác là cần thiết Tuy vậy, nhờ đặc điểm nhạy cảm, ham muốn sự mới lạ và sự bồng bột, thiếu kinh nghiệm ở thanh niên, sinh viên dễ tiếp nhận cả những nét văn hóa không phù hợp với chuẩn mực xã hội và với truyền thống tốt đẹp của dân tộc, từ đó gây hại cho bản thân họ.

Lứa tuổi sinh viên có những nét tâm lý điển hình nổi bật so với các lứa tuổi khác: tự ý thức cao, có tình cảm nghề nghiệp, có năng lực và tình cảm trí tuệ phát triển (khao khát tìm tòi, khám phá), có nhu cầu, khát vọng thành đạt, nhiều mơ ước và thích trải nghiệm, dám đối mặt với thử thách Song, do hạn chế của kinh nghiệm sống, sinh viên cũng có hạn chế trong việc chọn lọc, tiếp thu cái mới Những yếu tố tâm lý này có tác động chi phối hoạt động học tập, rèn luyện và phấn đấu của sinh viên.

1.3.2 Khái niệm hứng thú với hoạt động GDTC và thể thao của sinh viên

Khái niệm hứng thú được hiểu là thái độ lựa chọn đặc biệt của cá nhân đối với một đối tượng nhất định, vừa mang ý nghĩa thiết thực đối với cuộc sống vừa có khả năng mang lại khoái cảm trong quá trình hoạt động Dựa trên phân tích này, chúng tôi đưa ra định nghĩa hứng thú đối với hoạt động giáo dục thể chất (GDTC) và thể thao của sinh viên là sự quan tâm tích cực, động lực nội tại và sự hứng khởi mỗi khi tham gia các hoạt động GDTC và thể thao, được biểu hiện qua mức độ chú ý, sự tham gia tích cực và mong muốn cải thiện bản thân Định nghĩa này làm nổi bật vai trò của hứng thú trong việc thúc đẩy hiệu quả học tập, rèn luyện thể lực và phát triển toàn diện cho sinh viên.

“Hứng thú với hoạt động GDTC và thể thao của sinh viên là thái độ lựa chọn đặc biệt của sinh viên đối với các nội dung, hình thức nào đó của hoạt động GDTC và thể thao, do thấy được sự hấp dẫn và ý nghĩa thiết thực của nó đối với bản thân”

Biểu hiện hứng thú với hoạt động Giáo dục thể chất (GDTC) và thể thao của sinh viên được nhận diện thông qua ba khía cạnh: nhận thức, cảm xúc và hành động Sinh viên hứng thú sẽ chú ý và tham gia tích cực vào các buổi học GDTC, tìm kiếm cơ hội luyện tập thêm và thể hiện mong muốn đạt được thành tích tốt Biểu hiện nhận thức thể hiện ở việc nhận biết giá trị của hoạt động GDTC đối với sức khỏe và phát triển cá nhân, còn biểu hiện cảm xúc là niềm vui, sự phấn khích và tự tin khi tham gia Biểu hiện hành động thể hiện qua việc tham gia đều đặn, chủ động luyện tập, tham gia các phong trào và hoạt động thể thao, cũng như sẵn sàng hỗ trợ và truyền cảm hứng cho bạn bè Những dấu hiệu này giúp giáo viên và nhà trường đánh giá mức độ hứng thú của sinh viên với GDTC và điều chỉnh phương pháp giảng dạy để tăng động lực tham gia.

Hoạt động GDTC và thể thao diễn ra cả trong trường học lẫn cuộc sống hàng ngày ngoài xã hội, với các biểu hiện rất phong phú và đa dạng Những biểu hiện này có tính phức tạp và có thể đan xen với nhau, phản ánh sự kết nối giữa giáo dục thể chất, rèn luyện sức khỏe và thói quen vận động của cộng đồng.

Biểu hiện về mặt nhận thức của sinh viên thể hiện qua sự tích cực tìm hiểu và nhận thức đầy đủ về mục đích, ý nghĩa và tác dụng của thể dục thể thao, là nền tảng cho sự yêu thích và tham gia tích cực Những nguyên nhân này có thể trực tiếp liên quan đến đối tượng của hoạt động GDTC và thể thao như nội dung, hình thức và phương pháp tập luyện, hoặc gián tiếp liên quan thông qua việc nội dung tập luyện được ứng dụng nhiều vào thực tiễn và qua chất lượng giảng dạy của giáo viên Việc nhận thức đầy đủ giúp sinh viên hiểu rõ lợi ích của giáo dục thể chất, từ đó nâng cao động lực tham gia và hiệu quả của quá trình đào tạo.

Biểu hiện về mặt xúc cảm của sinh viên cho thấy họ có xúc cảm tích cực đối với các hoạt động giáo dục thể chất và thể thao; các em thực sự yêu thích các hoạt động thể dục thể thao hoặc môn thể thao, hình thức tập luyện cụ thể và coi việc tham gia là niềm vui, là niềm hạnh phúc khi được tham gia.

Biểu hiện về mặt hành động của sinh viên thể hiện qua các hành động tích cực, chủ động và sáng tạo trong các hoạt động GDTC và thể thao Đối với các hoạt động GDTC chính khóa, sinh viên tham gia tích cực, tuân thủ kỷ luật, tự giác luyện tập và đề xuất sáng kiến cải tiến chương trình; họ không chỉ tham gia thi đấu thể thao mà còn tổ chức, dẫn dắt và hỗ trợ đồng đội, áp dụng các kỹ thuật luyện tập hiệu quả, rèn luyện sức khỏe và tinh thần đồng đội Sự chủ động được thể hiện qua việc lên kế hoạch tập luyện cá nhân, chia sẻ phương pháp tập luyện và động viên bạn bè, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học GDTC cũng như phong trào thể thao của trường.

- Chấp hành tốt các nội quy của giờ học thể dục ( lên lớp đúng giờ và sử dụng trang phục đúng quy định của giờ học thể dục );

- Tập trung, chú ý, lắng nghe giảng viên giảng dạy và thực hiện động tác mẫu;

- Chủ động trao đổi với giảng viên, cán sự hoặc bạn về những kỹ thuật động tác khó;

- Tích cực tập luyện trong giờ học Đối với các hoạt động thể thao ngoại khóa:

- Tập luyện thêm khi có thời gian rảnh rỗi;

- Tham gia các CLB thể thao của trường và các tổ chức khác;

- Đọc, tìm hiểu các sách báo có liên quan đến GDTC và thể thao;

- Tuyên truyền về vai trò của thể dục, thể thao cho những người sống xung quanh;

- Vận động mọi người tham gia tập luyện thể dục, thể thao

Biểu hiện về mặt kết quả được thể hiện qua thành tích học tập và rèn luyện: hoàn thành tốt các yêu cầu của môn học, đạt tiêu chuẩn rèn luyện thân thể và có đóng góp tích cực cho giờ học cũng như các hoạt động thể thao của lớp, trường và địa phương.

* Mức độ hứng thú với hoạt động GDTC và thể thao của sinh viên

Như đã trình bày ở trên (trang 6), trong phạm vi chuyên đề, chúng tôi phân chia mức độ hứng thú đối với hoạt động GDTC và thể thao thành 3 cấp độ: cấp độ thấp, cấp độ trung bình và cấp độ cao Việc phân loại này giúp nhận diện và đánh giá mức độ quan tâm của học viên đối với giáo dục thể chất và các hoạt động thể thao, từ đó điều chỉnh nội dung giảng dạy và các biện pháp kích thích tham gia cho từng cấp độ.

PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN

Ngày đăng: 25/11/2021, 14:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Bộ Giáo dục và Đào tạo (1995), Chương trình GDTC trong các trường Đại học - Cao đẳng (không chuyên TDTT) giai đoạn 1. Ban hành theo Quyết định số 3244/GD - ĐT ngày 12/09/1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Giáo dục và Đào tạo (1995)
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 1995
4. Bộ Giáo dục và Đào tạo (1997), Chương trình GDTC trong các trường Đại học - Cao đẳng (không chuyên TDTT) giai đoạn 2. Ban hành theo Quyết định số 1262/GD - ĐT ngày 12/04/1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Giáo dục và Đào tạo (1997)
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 1997
5. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2008), Quy định về việc đánh giá, xếp loại thể lực học sinh, sinh viên. Ban hành theo Quyết định số 53/2008/QĐ-BGDĐT ngày 18 tháng 9 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Giáo dục và Đào tạo (2008)
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2008
6. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2015), Thông tư số 25/2015/TT-BGDĐT Quy định về chương trình Giáo dục thể chất thuộc các chương trình đào tạo trình độ đại học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Giáo dục và Đào tạo (2015), Thông tư số 25/2015/TT-BGDĐT
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2015
7. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2018), Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT Ban hành Chương trình Giáo dục phổ thông Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Giáo dục và Đào tạo (2018), Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2018
8. Lê Thị Bừng và các tác giả (2008), Những thuộc tính tâm lý điển hình của nhân cách, NXB ĐH Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những thuộc tính tâm lý điển hình của nhân cách
Tác giả: Lê Thị Bừng và các tác giả
Nhà XB: NXB ĐH Sư phạm
Năm: 2008
9. Chính phủ CHXHCN Việt Nam (2010), Chiến lược Phát triển thể dục, thể thao Việt Nam đến năm 2020. Ban hành theo Quyết định số 2198/QĐ-TTg ngày 03 tháng 12 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính phủ CHXHCN Việt Nam (2010)
Tác giả: Chính phủ CHXHCN Việt Nam
Năm: 2010
10. Chính phủ CHXHCN Việt Nam (2015), Nghị định số 11/2015 NĐ - CP ngày 31/01/2015 của Thủ tướng Chính phủ. Quy định về Giáo dục thể chất và hoạt động thể thao trong nhà trường Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính phủ CHXHCN Việt Nam (2015)
Tác giả: Chính phủ CHXHCN Việt Nam
Năm: 2015
11. John Dewey (2008), Dân chủ và giáo dục, Biên dịch: Phạm Anh Tuấn, NXB Tri thức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân chủ và giáo dục
Tác giả: John Dewey
Nhà XB: NXB Tri thức
Năm: 2008
12. R. Diamon (2003), Thiết kế và Đánh giá chương trình khoá học (Cẩm nang hữu dụng), NXB Đại học quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế và Đánh giá chương trình khoá học
Tác giả: R. Diamon
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia
Năm: 2003
13. Vũ Cao Đàm (2012), Giáo trình Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Phương pháp luận nghiên cứu khoa học
Tác giả: Vũ Cao Đàm
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2012
14. Lê Hoàng Hà (2012), Quản lý dạy học theo quan điểm dạy học phân hóa ở trường THPT Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ, Trường Đại học Giáo dục – Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý dạy học theo quan điểm dạy học phân hóa ở trường THPT Việt Nam hiện nay
Tác giả: Lê Hoàng Hà
Năm: 2012
15. Nguyễn Trọng Hải (2010), Xây dựng nội dung chương trình Giáo dục thể chất cho học sinh các trường dạy nghề Việt Nam, Luận án tiến sĩ giáo dục học, Viện Khoa học TDTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng nội dung chương trình Giáo dục thể chất cho học sinh các trường dạy nghề Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Trọng Hải
Năm: 2010
16. Đặng Xuân Hải (2012), Kỹ thuật dạy học trong đào tạo theo học chế tín chỉ, NXB Bách khoa Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật dạy học trong đào tạo theo học chế tín chỉ
Tác giả: Đặng Xuân Hải
Nhà XB: NXB Bách khoa Hà Nội
Năm: 2012
17. Nguyễn Vũ Bích Hiền (2012), “Các xu hướng phát triển chương trình đào tạo theo quan điểm lấy người học làm trung tâm”, Tạp chí khoa học Đại học Sư phạm Hà Nội (số 5/2012), tr 148 – 155 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các xu hướng phát triển chương trình đào tạo theo quan điểm lấy người học làm trung tâm”, "Tạp chí khoa học Đại học Sư phạm Hà Nội
Tác giả: Nguyễn Vũ Bích Hiền
Năm: 2012
18. Đặng Vũ Hoạt, Hà Thị Đức (2009), Lý luận dạy học đại học, NXB ĐHSP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận dạy học đại học
Tác giả: Đặng Vũ Hoạt, Hà Thị Đức
Nhà XB: NXB ĐHSP
Năm: 2009
19. Phạm Văn Lập (2000), Giáo dục học Đại học, NXB ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục học Đại học
Tác giả: Phạm Văn Lập
Nhà XB: NXB ĐHQG Hà Nội
Năm: 2000
20. Nguyễn Thị Mỹ Lộc và các tác giả (2004), Một số vấn đề về giáo dục đại học, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về giáo dục đại học
Tác giả: Nguyễn Thị Mỹ Lộc và các tác giả
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2004
22. Nguyễn Hồ Phong (2010), Nghiên cứu hiệu quả sử dụng đội ngũ cán sự thể dục đối với việc nâng cao chất lượng giáo dục thể chất cho sinh viên trường đại học nha trang, Luận văn cao học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu hiệu quả sử dụng đội ngũ cán sự thể dục đối với việc nâng cao chất lượng giáo dục thể chất cho sinh viên trường đại học nha trang
Tác giả: Nguyễn Hồ Phong
Năm: 2010
23. Lê Vinh Quốc (2011), “Một số vấn đề về triết lí giáo dục”, Tạp chí Khoa học ĐHSP TP Hồ Chí Minh (số 28), tr 117 – 125 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về triết lí giáo dục”, "Tạp chí Khoa học ĐHSP TP Hồ Chí Minh
Tác giả: Lê Vinh Quốc
Năm: 2011

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w