Với mục tiêu cung cấp hệ thống ký hiệu, những quy tắc, ý nghĩa, cách sử dụng các ký hiệu âm nhạc làm nền tảng kiến thức cũng như để người học vận dụng trong quá trình học tập chuyên ngàn
Trang 11.1 Khái niệm về âm nhạc, âm thanh và các đặc tính của âm thanh trong
4.1 Điệu thức – âm ổn định và âm không ổn định 68
Trang 22
Chương 5 Quan hệ họ hàng giữa các giọng 92
5.3 Chuyển giọng và các phương pháp chuyển giọng 95
7.1 Hòa âm bốn bè – Hệ thống công năng của các hợp âm ba chính 136
PHỤ LỤC 1:
MỘT SỐ KÝ HIỆU CÁCH DIỄN TẤU ÂM NHẠC THƯỜNG GẶP 147 PHỤ LỤC 2:
Trang 33
LỜI NÓI ĐẦU
Do âm nhạc bao gồm rất nhiều yếu tố biểu hiện: giai điệu, tiết tấu, hòa
âm, nhịp độ, các phương pháp diễn tả… nên đã được nghiên cứu, thể hiện bằng hệ thống ký hiệu để ghi chép lại (notation) Để có thể hiểu biết, thực hành âm nhạc, cần nắm được hệ thống các ký hiệu, phương pháp ghi chép lại
âm nhạc trên bản phổ Trong lịch sử âm nhạc của nhân loại cũng như hiện tại, mỗi nền âm nhạc có một cách ghi chép, hệ thống ký hiệu ghi chép âm nhạc khác nhau Tuy nhiên, LÝ THUYẾT ÂM NHẠC CƠ BẢN chính là học phần đầu tiên để người học nhạc tiếp cận một cách hệ thống các ký hiệu ghi âm nhạc của nền âm nhạc phương Tây nhưng lại đang hiện hành ở hầu hết các nước trên thế giới hiện nay
Giáo trình LÝ THUYẾT ÂM NHẠC CƠ BẢN được biên soạn theo yêu cầu của chương trình đào tạo các chuyên ngành âm nhạc tại Đại học Sài Gòn Trong rất nhiều tài liệu được biên soạn ở Việt Nam, các tài liệu được dịch thuật từ các nước Pháp, Nga, Mỹ trước đây và các tài liệu mới phát hành trong khoảng từ sau năm 2000 đến nay từ các nước Mỹ, Pháp, Malaysia, Singapore… giáo trình đã sử dụng các nội dung chính một cách chọn lọc Với mục tiêu cung cấp hệ thống ký hiệu, những quy tắc, ý nghĩa, cách sử dụng các ký hiệu âm nhạc làm nền tảng kiến thức cũng như để người học vận dụng trong quá trình học tập chuyên ngành âm nhạc và thực hành nghề nghiệp sau này, giáo trình đã được biên soạn đơn giản bằng những định nghĩa, giải thích khái niệm dễ hiểu cho sinh viên
Việc biên soạn giáo trình cũng đảm bảo bám sát nội dung được qui định của khung chương trình môn học do nhà trường thông qua và hiện được tổ chức giảng dạy Tất nhiên, với mục đích giúp cho người học dễ nhớ, nắm vững và sử dụng thành thạo các ký hiệu ghi âm nhạc trong quá trình học tập cũng như hành nghề sau này, giáo trình tập trung vào hệ thống bài tập gồm 2 phần:
Trang 4và sử dụng trong học tập các học phần khác của chương trình như: đọc, hiểu tác phẩm âm nhạc; hát (thanh nhạc), học diễn tấu nhạc cụ; nghiên cứu hòa
âm, hình thức, thể loại và phân tích tác phẩm âm nhạc
Hiện nay, tốc độ phát triển xã hội rất nhanh nhờ những thành tựu khoa học kỹ thuật, công nghệ thông tin và hệ thống mạng xã hội toàn cầu, lượng thông tin về giáo dục âm nhạc, lý thuyết âm nhạc cũng vô cùng phong phú và liên tục được bổ sung Do vậy, những nội dung kiến thức trong giáo trình chỉ mong đạt đến tính hệ thống và nêu được những mặt cơ bản, làm cơ sở cho những nghiên cứu - học tập, thiết lập kỹ năng cơ bản cũng như về phương pháp cho người học Chúng tôi sẽ vẫn tiếp tục nghiên cứu, bổ sung và xin chân thành cám ơn cũng như nghiêm túc tiếp thu những đóng góp hữu ích cho giáo trình ngày càng hoàn thiện
Trang 55
HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG GIÁO TRÌNH
Học phần LÝ THUYẾT ÂM NHẠC CƠ BẢN được biên soạn nhằm cung cấp các kiến thức về lý thuyết âm nhạc cơ bản cho người học Nội dung này được triển khai học tập trong thời gian là 45 tiết (3 tín chỉ) gồm bảy chương, là những kiến thức ban đầu về những ký hiệu đọc âm nhạc, đọc hiểu bản phổ để hát, diễn tấu nhạc cụ, phân tích tác phẩm âm nhạc… Để có thể nắm được nội dung của giáo trình và thực hiện thuần thục kỹ năng đọc – hiểu tác phẩm âm nhạc, những kiến thức được cung cấp trong giáo trình rất ngắn gọn, nhưng người học phải thực hiện đầy đủ bài tập và thực hành trong thời gian lên lớp cũng như ngoài lớp Điều đó sẽ giúp người học dễ dàng nắm được bài học, nhớ và những kiến thức sẽ trở thành kỹ năng để sử dụng trong quá trình học các học phần khác cũng như sử dụng trong nghề nghiệp sau này Trong giáo trình, một số thuật ngữ chuyên ngành không thể dịch nghĩa sang tiếng Việt hoặc đã được sử dụng như một thói quen trong ngành cũng như ngoài ngành âm nhạc, sẽ được viết bằng tiếng Pháp (hoặc tiếng Ý, theo quy ước chung) và tiếp sau là chú thích tiếng Anh, do âm nhạc phương Tây đã du nhập vào Việt Nam từ người Pháp và rất nhiều thuật ngữ đã được phiên âm –
sử dụng từ tiếng Pháp
Nội dung giáo trình gồm 7 Chương và phần Phụ lục:
Chương 1 Cao độ của âm thanh
Giới thiệu, giải thích ý nghĩa, những khái niệm ban đầu về âm nhạc như: âm thanh, cơ sở vật lý của âm thanh, thang âm, hệ thống âm, các thuộc tính cơ bản của âm thanh và cách ghi cao độ âm thanh trên năm dòng kẻ với các khóa nhạc Ngoài ra, chương này còn giới thiệu hệ thống thang âm bình quân, nửa cung và nguyên cung; các bậc chuyển hóa và sự trùng âm thanh Người học cần được tiếp cận bằng các ví dụ thực tế bằng âm thanh khi được
Trang 66
giới thiệu các kiến thức này để mở đầu cho sự tiếp cận với âm nhạc và các ký hiệu ghi âm nhạc một cách thú vị
Chương 2 Trường độ của âm thanh
Chương này giới thiệu và giải thích các ký hiệu ghi trường độ và dấu lặng (hình dạng nốt nhạc và sự im lặng trong âm nhạc) với trường độ cơ bản; trường độ tự do; các ký hiệu bổ sung trường độ; các dấu nhắc lại; sự tương quan và các nhân tố của tiết tấu: trọng âm, ô nhịp, tiết nhịp, các loại nhịp, … Người học có thể áp dụng những kiến thức này với những bài tập ghi tiết tấu, tiết điệu để hiểu thêm về tiết nhịp Ngoài ra, các bài tập củng cố kiến thức chương cần được thực hiện trên đàn piano hoặc đàn phím điện tử
Chương 3 Quãng
Người học cần bắt đầu từ những kiến thức cơ bản về quãng: khái niệm, quãng hòa âm, quãng giai điệu, tên quãng, quãng cơ bản, quãng tăng, quãng giảm, quãng thuận, quãng nghịch, đảo quãng, trùng quãng Từ đó, có thể sử dụng những kiến thức về quãng để thực hiện các bài tập, nhất là tập nghe, nhận biết quãng
Chương 4 Điệu thức - Giọng
Để giới thiệu khái niệm điệu thức, người dạy có thể bắt đầu từ khái niệm âm ổn định và không ổn định, từ đó mở rộng đến khái niệm về điệu thức trưởng - giọng trưởng, điệu thức thứ - giọng thứ Chương có giới thiệu các điệu thức Trung cổ - Tây Âu, đặc biệt, giới thiệu một số điệu thức năm âm để sinh viên có thể sử dụng trong phân tích các tác phẩm có chất liệu âm nhạc
dân tộc
Chương 5 Quan hệ họ hàng giữa các giọng
Chương này nhằm giúp cho người học hiểu rõ về mối quan hệ cơ bản giữa các giọng Sau những kiến thức chung của phần lý thuyết, cần cho người học tiếp cần với sự chuyển giọng bằng cách nghe chuyển điệu trên đàn Đặc
Trang 77
biệt, nội dung này rất hữu ích cho các học phần Ký Xướng Âm, Hòa âm, Phân tích tác phẩm âm nhạc… nên cần cho người học thực hiện các bài tập chuyển điệu, dịch giọng…
Chương 6 Hòa âm
Giới thiệu những kiến thức ban đầu của Hòa âm thông qua giới thiệu các ký hiệu về hợp âm, các âm trong hợp âm, hợp âm trong điệu thức trưởng – thứ Khi giảng dạy và học tập, cần thực hiện các bài tập đầy đủ nhất là các bài tập trên đàn để cảm nhận được âm thanh
Chương 7: Nối tiếp hợp âm
Chương giới thiệu cách tiến hành các bè đơn giản, cơ bản của hòa âm bốn bè thông qua những kiến thức về hệ thống công năng của các hợp âm ba chính, phương pháp nối tiếp hợp âm
Phần bài tập ở mỗi chương đều được phân ra làm 2 phần: Câu hỏi gợi ý
ôn bài và các bài tập thực hành Sinh viên nên tự kiểm tra kiến thức, hiểu và nhớ được nội dung bài học thông qua các câu hỏi gợi ý ôn bài Các bài tập cần được thực hiện đầy đủ với sự hướng dẫn của giảng viên Một số câu hỏi trong phần bài tập thực hành có thể được sử dụng để thực hiện trên đàn Piano, hoặc đàn phím điện tử
Giáo trình còn có phần Phụ lục ghi chép, giải thích ý nghĩa và cách sử dụng một số ký hiệu thông dụng (thường được ghi trên các bản phổ) để sinh viên có thể tra cứu, sử dụng trong học tập, thực hành nghề nghiệp sau này
Trang 88
QUY ĐỊNH VỀ SỬ DỤNG TIẾNG NƯỚC NGOÀI TRONG
GIÁO TRÌNH Như nêu trên, do âm nhạc phương Tây được người Pháp đưa vào Việt Nam nên những thuật ngữ âm nhạc ban đầu được sử dụng là tiếng Pháp Tuy nhiên, trong các tác phẩm âm nhạc kinh viện, phần lớn các ký hiệu và thuật ngữ lại sử dụng tiếng Ý Do đó, những thuật ngữ tiếng Ý được ghi trên bản nhạc và sử dụng phổ biến trên thế giới sẽ được sử dụng nguyên gốc và giải thích thuật ngữ; các thuật ngữ có thể sẽ được sử dụng bằng tiếng Pháp (hoặc một số từ có xuất xứ từ tiếng Đức, Tây Ban Nha, tiếng La Tinh hay tiếng Anh sẽ được giải thích bằng tiếng Việt và sau đó có thể ghi thêm thuật ngữ tiếng Anh (trong ngoặc đơn) để người học dễ tra cứu:
[E.] English (tiếng Anh)
[F.] French (tiếng Pháp)
[G.] German (tiếng Đức)
[L.] Latin (tiếng La tinh)
[S.] Spanish (Tiếng Tây Ban Nha)
Trang 99
CHƯƠNG 1
CAO ĐỘ CỦA ÂM THANH
1.1 Khái niệm về âm nhạc, âm thanh và các đặc tính của âm thanh trong
âm nhạc
1.1.1 Khái niệm về âm nhạc
Âm nhạc: là nghệ thuật sử dụng âm thanh Giống như ngôn ngữ, âm
nhạc có thể truyền đạt được những cảm xúc: vui, buồn, ưu tư, phấn khởi, sầu
não, hân hoan…
Dựa trên quy luật thẩm mỹ, biểu hiện của nội dung cũng như theo
phương pháp – phương tiện thể hiện âm nhạc là giọng hát hay nhạc cụ, âm nhạc được chia ra hai loại chính: thanh nhạc và khí nhạc
- Thanh nhạc: là âm nhạc dựa trên lời hát để thể hiện ý tưởng và tình cảm, do giọng hát thể hiện, có hoặc không có phần đệm bằng nhạc cụ
- Khí nhạc: là âm nhạc dựa trên âm thanh thuần túy của các nhạc khí để thể hiện Khí nhạc không biểu lộ nội dung bằng lời, mà phải được hiểu, lĩnh hội bằng hình tượng của thanh âm, cần sự liên tưởng, cảm nhận, kể
cả cảm xúc thẩm mỹ (được giáo dục từ trước)
Ngoài hai thể loại thanh nhạc và khí nhạc, cho đến nay, con người đã sáng tạo nhiều thể loại âm nhạc hỗn hợp: âm nhạc kết hợp với múa như vũ kịch (ballet), âm nhạc kết hợp với sân khấu như các thể loại nhạc kịch (opera, musical, broadway…) hoặc như thể loại Tuồng, Chèo… của Việt Nam là nghệ thuật tổng hợp của văn chương, âm nhạc, sân khấu, vũ đạo, võ đạo
v.v…
1.1.2 Khái niệm về âm thanh
Âm thanh là một trong những hiện tượng vật lý, đồng thời là một cảm giác
Âm thanh được tạo ra do sự tác động vào vật thể có tính đàn hồi Vật thể rung động tạo ra những dao động tuần hoàn, lan truyền trong không khí gọi là sóng âm Sóng âm tác động vào màng nhĩ (trong tai người) làm cho
Trang 1010
màng nhĩ cũng dao động cùng tần số với sóng âm, được dây thần kinh truyền vào não, sinh ra cảm giác về âm thanh Vậy, âm thanh được sinh ra từ sự tác động vào nguồn âm, tạo sóng âm và được thính giác (màng nhĩ, dây thần kinh, não) của con người thu nhận
Âm thanh có hai loại:
- Âm thanh chưa xác định rõ tính nhạc: là những âm thanh chưa xác định được cao độ rõ ràng như tiếng rì rào của cây cỏ, tiếng sấm, tiếng xe chạy…
- Âm thanh có tính nhạc: những âm thanh được xác định bởi bốn đặc tính: cao độ, cường độ, trường độ và âm sắc Âm thanh mang tính nhạc được tổ chức lại để diễn tả tư tưởng, tình cảm của con người một cách
có nghệ thuật, đó là âm nhạc
Ngày nay, trong các xu hướng tìm tòi, khám phá và sáng tạo, nhiều tác phẩm âm nhạc có sự kết hợp giữa âm thanh có tính nhạc (có xác định bởi các đặc tính) và âm thanh không xác định rõ ràng về cao độ (chủ yếu là sự kết hợp âm sắc, trường độ, cường độ…)
1.1.3 Các đặc tính của âm thanh trong âm nhạc
Trong âm nhạc phổ biến hiện nay, âm thanh có nhạc tính được xác định bởi bốn đặc tính:
Cao độ: độ cao thấp của âm thanh Cao độ âm thanh phụ thuộc vào tần
số dao động (tốc độ dao động) của nguồn âm Tần số dao động càng lớn
Trang 1111
(nhanh), âm thanh càng cao Tần số dao động càng nhỏ (chậm), âm thanh càng thấp
Ví dụ: Âm thấp nhất của đàn Piano có tần số dao động là 16 dao
động/giây (16 Hertz, viết tắt Hz), âm cao nhất của đàn Piano có tần số dao
động là 4176 Hz (tai người có thể thu nhận được các âm có tần số từ 16 đến
20.000, nhưng chỉ phân biệt được độ cao thấp của các âm thanh có tần số dao
động từ 16 đến khoảng 4176 Hz)
Trường độ: độ dài ngắn của âm thanh Trường độ phụ thuộc vào thời
gian dao động và biên độ (độ lớn - quy mô) của sóng âm Do ma sát trong không khí, lực dao động vào nguồn phát âm giảm dần và làm cho dao động bị tắt dần Biên độ dao động khi bắt đầu của sóng âm càng lớn thì thời gian tắt dần của âm càng dài Độ dài ngắn không làm thay đổi tính chất vật lý của âm
thanh nhưng đóng vai trò quan trọng trong âm nhạc
Cường độ: độ mạnh nhẹ của âm thanh Cường độ âm thanh phụ thuộc
vào biên độ của dao động Biên độ càng rộng, âm thanh vang lên càng lớn và ngược lại Đơn vị để đo cường độ âm thanh trong khoa học vật lý là Decibel (viết tắt là db)
Âm sắc: màu sắc của âm thanh, là sự khác biệt của âm thanh do nguồn
phát âm tạo ra dù cùng cao độ, trường độ, cường độ Sự khác nhau về màu sắc của âm thanh được tạo ra bởi hình thức (đường biểu diễn) khác nhau của sóng
âm Người ta thường dùng những từ chỉ cảm giác để nói lên đặc điểm của âm sắc Mỗi nhạc cụ hay giọng người đều có âm sắc khác nhau
Ví dụ: tiếng đàn tranh trong trẻo; tiếng đàn nhị du dương, tiếng đàn bầu
u buồn, tiếng đàn guitare đầm ấm…
Trang 1212
Âm sắc cũng là lĩnh vực nghiên cứu của môn Tính năng nhạc cụ, môn Phối khí hoặc ngành Nhạc khí học
1.1.4 Âm Bồi – thang âm tự nhiên
Âm bồi: Khi một vật thể dao động (ví dụ như dây đàn), tạo nên sóng
âm Sóng âm bị khúc xạ ở những phần bằng nhau, tạo ra những dao động độc lập tương đối trong quá trình dao động chung của vật thể, là những làn sóng phụ, tương ứng với độ dài của chúng Các dao động phụ (đơn giản) tạo thành
bồi âm Cao độ của bồi âm không giống nhau vì tốc độ dao động của các sóng
(phụ) tạo ra chúng khác nhau
Chẳng hạn, khi một dây đàn được đánh lên, nó không chỉ dao động toàn bộ sợi dây đàn mà còn dao động từng phần 1/2 dây, 1/3 dây, 1/4 dây 1/5 dây v.v… Trong quá trình dao động chung của toàn bộ dây đàn, những dao động ở từng phần cũng tạo ra nhưng âm cục bộ Những âm này có cao độ khác nhau Tuy nhiên, người nghe chỉ nghe thấy được âm chính – âm cơ bản của sợi dây đàn, còn những âm bồi do dao động từng phần tạo nên không dễ nghe thấy
Sơ đồ dao động của dây đàn chỉ tạo ra âm cơ bản và sơ
đồ dao động của âm bồi thứ nhất
do một nửa dây đàn tạo nên, tần
Trang 1313
số dao động của nó nhanh hơn gấp đôi so với tần số dao động của âm cơ bản;
Sơ đồ dao động của âm bồi thứ hai do một phần ba dây đàn tạo nên, tần số dao động của nó nhanh hơn gấp ba so với tần số dao động của âm cơ bản v.v…
Thang âm tự nhiên: Thang âm là sự sắp xếp các âm thanh theo một
thứ tự độ cao nhất định Mỗi âm trong thang âm được gọi là các “bậc” của
thang âm
Nếu lấy số lượng dao động của âm thanh cơ bản của dây đàn làm đơn
vị, số lượng dao động tạo nên các âm bồi sẽ thể hiện bằng chuỗi số nguyên: 1,
2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17… Thang âm tự nhiên là thang âm gồm âm cơ bản của dây đàn và các âm bồi của nó
Ví dụ: Lấy âm Do ở quãng tám lớn làm âm cơ bản, ta sẽ có thang âm tự
ra thành các đoạn có khoảng cách 1/2, 1/4, 1/8, 1/16… sẽ có các âm như sau:
Trang 14âm nhạc khác nhau Hệ thống âm thanh dùng làm cơ sở cho hoạt động âm
nhạc hiện nay gồm 88 âm khác nhau sắp xếp theo cao độ gọi là hàng âm Mỗi
âm trong hàng âm là một bậc Hệ thống âm trải rộng từ âm thấp nhất có tần số dao động khoảng 16 HZ đến âm cao nhất có tần số dao động khoảng 4176Hz
Đây là nhưng âm thanh có cao độ mà tai người có khả năng phân biệt được 1.2.2 Các bậc cơ bản
Bậc cơ bản của hàng âm trong hệ thống âm gồm bảy bậc, có hai cách gọi tên: gọi theo hệ thống vần và gọi theo hệ thống chữ cái
- Gọi theo hệ thống vần: Do, Re, Mi, Fa, Sol, La, Si
- Gọi theo hệ thống chữ cái: C, D, E, F, G, A, B (H theo hệ thống ghi của Đức, Anh) Các bậc cơ bản này ứng với các phím trắng trên đàn piano hay các loại đàn phím khác
1.2.3 Quãng 8
Bảy tên gọi của các bậc cơ bản được lặp lại một cách có chu kỳ trong toàn bộ hàng âm đầy đủ của hệ thống âm nhạc Khoảng giữa hai âm cùng tên ở sau mỗi chu kỳ gọi là quãng tám
Toàn bộ các âm (88 âm) trong hệ thống âm được sắp xếp theo cao độ (hàng âm đầy đủ) bao gồm bảy quãng tám đủ và hai quãng tám thiếu ở hai đầu Các quãng tám tính từ thấp lên cao có tên gọi như sau: Quãng tám cực trầm (thiếu), Quãng tám trầm, Quãng tám lớn, Quãng tám nhỏ, Quãng tám thứ nhất, Quãng tám thứ hai, Quãng tám thứ ba, Quãng tám thứ tư, Quãng
Trang 1515
tám thứ năm (thiếu) Các quãng tám được ký hiệu bằng chữ “C” (in hoa), “c”
và được đánh số
Trong một số tài liệu âm nhạc của một số nước phương Tây, người ta
ký hiệu các quãng tám trong hàng âm thuộc hệ thống âm nhạc theo thứ tự các quãng tám của phím đàn piano Có 8 quãng tám trên phím đàn piano với ký
âm trên khuôn nhạc như sau:
Âm khu: là khu vực âm trong hàng âm trên, được phân chia làm 3
phần, gồm: âm khu trầm (trong khoảng từ quãng tám cực trầm đến quãng tám nhỏ - quãng tám trung), âm khu trung bình (trong khoảng từ quãng tám trung đến hết quãng tám thứ năm của hàng âm) và âm khu cao (phần còn lại của hàng âm) Âm khu có ảnh hưởng nhất định đến việc diễn tả âm nhạc, nhất là đối với giai điệu Giai điệu ở các âm khu khác nhau có ý nghĩa khác nhau về màu sắc âm thanh, phù hợp để thể hiện các khía cạnh khác nhau của hình tượng âm nhạc
Tầm cữ là khoảng âm từ âm thấp nhất đến âm cao nhất mà một giọng
hát, một nhạc cụ có thể diễn – tấu Ví dụ tầm cữ của giọng nữ cao (soprano 1)
Trang 1616
là từ c1 đến c3; của giọng nữ trầm (alto) là từ f đến e1; tầm cữ của đàn violon
là từ g đến c3 v.v…
Âm vực: là khoảng cách giữa âm thấp nhất đến âm cao nhất của một
giai điệu (có tài liệu gọi là “tầm âm của giai điệu”) Người ta cũng sử dụng thuật ngữ “âm vực” để chỉ các khu vực âm, các khoảng âm trong tầm cữ của một nhạc cụ, một giọng hát v.v… Các khu vực âm trong của một giọng hát, nhạc cụ có tính chất khác nhau
Ví dụ: Giai điệu mở đầu bài luyện thanh số 6 của Giuseppe Concone
Trang 1717
1.3 Một số ký hiệu ghi cao độ âm thanh trong âm nhạc
Để ghi chép lại âm nhạc, người ta sử dụng các ký hiệu như: nốt nhạc ghi trên khuôn nhạc, khoá nhạc, dấu hoá, các ký hiệu bằng chữ v.v…
1.3.1 Nốt nhạc
Để ký hiệu âm thanh trong âm nhạc, người ta dùng nốt nhạc Nốt nhạc
là một hình bầu dục, rỗng hoặc đặc ruột, có đuôi nốt là vạch thẳng đứng ở mép phải của nốt nếu quay lên và ở mép trái nốt nếu quay xuống Nốt nhạc được đặt ở các vị trí khác nhau trên khuông nhạc để thể hiện cao độ của âm
thanh
, , , v.v…
1.3.2 Khuông nhạc và dòng kẻ phụ
Khuông nhạc: Để xác định cao độ của âm thanh, các nốt nhạc được ghi
trên khuông nhạc Khuông nhạc là một hệ thống gồm năm dòng kẻ ngang và bốn khe, đánh số từ dưới lên Các nốt được ghi trên dòng kẻ hoặc trên các khe…
Dòng kẻ phụ: Để viết các nốt nhạc quá cao hoặc quá thấp nằm, ngoài khuông nhạc, ta phải dùng dòng kẻ phụ Dòng kẻ phụ là những vạch ngắn vừa
đủ để viết nốt nhạc, nằm trên hoặc dưới khuông nhạc, song song và cách đều như những dòng kẻ chính của khuông nhạc Thứ tự của các dòng kẻ phụ được tính từ khuông trở ra.Số lượng dòng kẻ phụ ít khi vượt quá năm dòng
Trang 1818
1.3.3 Khóa nhạc
Là ký hiệu được đặt ở đầu các khuông nhạc, dùng để xác định tên nốt
nhạc ghi trong khuông nhạc Khóa nhạc bắt đầu ở dòng kẻ nào sẽ quy định
tên nốt nhạc trên dòng kẻ đó cùng tên của khóa, từ đó xác định tên của các nốt
khác trong hàng âm lần lượt theo thứ tự của 7 tên nốt
Có ba loại khóa thường dùng: khóa Sol, khóa Fa và khóa Do Alto
Khóa Sol ( ): bắt đầu từ dòng kẻ thứ hai của khuông nhạc, xác định tên nốt
nhạc nằm trên dòng kẻ thứ hai là nốt Sol thuộc Quãng tám thứ nhất Khóa Sol
dùng để viết những nốt nhạc có âm thanh cao, điển hình là viết cho đàn
guitare, mandoline, violon, các loại sáo (Flute), Hautbois (Oboe – E.), phần tay
phải của đàn Piano, đàn phím điện tử (Orgue éléctric – F., Keyboard – E.)…
Các nốt cơ bản ở khuông nhạc khóa Sol:
Do Re Mi Fa Sol La Si Do Re Mi Fa Sol La
Khóa Fa ( ): bắt đầu từ dòng kẻ thứ tư của khuông nhạc, xác định tên nốt
nằm trên dòng kẻ thứ tư là nốt Fa thuộc Quãng tám nhỏ (Quãng tám trung)
Khóa Fa dùng để viết những nốt nhạc có âm thanh trầm, điển hình là viết cho
đàn Violon Cello, giọng Nam trầm, phần tay trái của đàn Piano, Keyboard…
Các nốt cơ bản ở khuông nhạc khóa Fa:
Mi Fa Sol La Si Do Re Mi Fa Sol La Si Do
Trang 1919
Khóa Do Alto ( ): bắt đầu từ dòng kẻ thứ ba của khuông nhạc, xác định tên
nốt nằm trên dòng kẻ thứ ba là nốt Do thuộc Quãng tám thứ nhất Khóa Do Alto dùng để viết nốt nhạc cho đàn Viola, kèn Trombone…
Các nốt cơ bản ở khuông nhạc khóa Do Alto:
Tương quan cao độ của nốt Do vị trí giữa ở các khóa nhạc khác nhau
1.4 Cung và nửa cung, các bậc chuyển hóa, dấu hóa
1.4.1 Hệ thống bình quân, cung và nửa cung
Hệ thống bình quân: Trong hệ thống âm nhạc được sử dụng rộng rãi
hiện nay, một quãng 8 được chia thành 12 phần bằng nhau, mỗi phần là nửa cung Hệ thống này được gọi là hệ thống bình quân hay còn gọi là hệ thống
điều hòa 12 âm (vì các nửa cung đều bằng nhau)
Cung và nửa cung: Nửa cung là khoảng cách cao độ hẹp nhất giữa hai
bậc cơ bản của hàng âm trong hệ thống âm điều hòa, là khoảng cách giữa Si –
Do và Mi – Fa Khoảng cách được tạo bởi hai nửa cung là một cung (còn gọi
Trang 2020
là cung, nguyên cung hay toàn cung) Trong một quãng tám, giữa các bậc cơ
bản tạo nên 5 nguyên cung và 2 nửa cung
Ký hiệu: nguyên cung: , nửa cung:
1.4.2 Các bậc chuyển hóa, dấu hóa
Các bậc cơ bản trong hàng âm có thể nâng cao hoặc hạ thấp nửa cung hay một cung, bậc âm cơ bản được nâng cao hoặc hạ thấp được gọi là bậc chuyển hóa Muốn thực hiện được điều này ta phải dùng đến dấu hóa Các bậc chuyển hóa được gọi tên của bậc cơ bản cùng với tên ký hiệu dấu hóa
Dấu hóa: là các ký hiệu dùng để thay đổi các bậc cơ bản và bậc chuyển hóa Dấu hóa đặt bên trái bậc cơ bản, dùng để thay đổi cao độ của bậc
Có năm loại dấu hoá:
Dấu thăng ( ): nâng cao độ nốt nhạc lên nửa cung
Dấu giáng ( ): hạ cao độ nốt nhạc xuống nửa cung
Dấu thăng kép ( ): nâng cao độ nốt nhạc lên một cung
Dấu giáng kép ( ): hạ cao độ nốt nhạc xuống một cung
Trang 21- Ghép thêm chữ “is” vào chữ cái tên bậc âm mang dấu thăng Ví dụ: La thăng =
Ais; Do thăng = Cis; Fa thăng = Fis…
- Ghép thêm chữ “isis” vào chữ cái tên bậc âm mang dấu thăng kép Ví dụ: La
Thăng kép = Aisis, Do thăng kép = Cisis ; Fa thăng kép = Fisis…
- Ghép thêm chữ “es” vào chữ cái tên bậc âm mang dấu giáng Ví dụ: Do giáng
= Ces; Fa giáng = Fes… Những bậc âm ký hiệu chữ cái là nguyên âm, sẽ được
bỏ bớt chữ “e” Ví dụ: La giáng = As; Mi giáng = Es
- Ghép thêm chữ “eses” vào chữ cái tên bậc âm mang dấu giáng kép Ví dụ: Do
giáng kép = Ceses; Fa giáng kép = Feses; La giáng kép = Ases ; Mi giáng = Eses…
Bảng chữ cái của tên các bậc chuyển hóa theo tiếng Latin: 1
1
Bảng chữ cái tên của các bậc chuyển hóa theo tiếng Anh sẽ được giới thiệu ở chương 6- Hợp Âm
Trang 22Thứ tự các dấu hóa theo khóa:
Dấu thăng (Fa, Do, Sol, Re, La, Mi, Si)
Dấu giáng (Si, Mi, La, Re, Sol, Do, Fa)
- Dấu hóa bất thường: xuất hiện bất thường, ở trước nốt nhạc, sẽ có hiệu lực với nốt đó và các nốt cùng tên, cùng bè trong toàn ô nhịp đó
Đặt dấu hóa theo khóa khi thay đổi và dấu hóa bất thường cả ở 2 dòng:
* Chú ý: tất cả năm loại dấu hóa kể trên đều được dùng làm dấu hóa bất
thường nhưng chỉ có dấu thăng và dấu giáng được dùng làm dấu hóa theo khóa
1.4.4 Cung và nửa cung diatonic , Cung và nửa cung Cromatic
Nửa cung diatonic [E.]: Nửa cung tạo bởi hai bậc cơ bản liền kề (khác tên) trong hàng âm gọi là nửa cung diatonic , như: Mi – Fa, Si – Do
Trang 2323
Ngoài ra, nửa cung diatonic có thể được tạo bởi một bậc cơ bản và một bậc chuyển hóa liền kề hoặc giữa hai bậc chuyển hóa liền kề Nói cách khác: nửa cung diatonic là nửa cung tạo bởi hai bậc khác tên
Cung diatonic : cung tạo bởi hai bậc cơ bản liền kề trong hàng âm gọi
là nguyên cung diatonic Ngoài ra, nguyên cung diatonic có thể được tạo bởi một bậc cơ bản và một bậc chuyển hóa hoặc hai bậc chuyển hóa
Nửa cung cromatic [E.]: nửa cung tạo bởi một bậc cơ bản và một bậc
chuyển hóa cùng tên, gọi là nửa cung cromatic, hoặc được tạo bởi các dạng
chuyển hóa trên cùng mộc bậc
Cung cromatic: Nguyên cung tạo bởi hai bậc cùng tên, khác dạng
chuyển hóa mà cách nhau một cung gọi là nguyên cung cromatic
1.4.5 Trùng âm
Trùng âm là các âm có cách viết và tên gọi khác nhau nhưng có cao độ như nhau Trùng âm có thể xảy ra giữa một bậc cơ bản và bậc chuyển hóa hoặc giữa hai bậc chuyển hóa Mỗi bậc cơ bản và bậc chuyển hóa có thể có hai biến đổi trùng (do đó, mỗi bậc có ba tên), trừ bậc La giáng và Sol Thăng (as – gis) có một biến đổi trùng (chỉ có hai tên)
Si thăng = Do; Do thăng = Re giáng
Trang 2424
1.5 BÀI TẬP CHƯƠNG 1
CÂU HỎI GỢI Ý THẢO LUẬN VÀ ÔN BÀI
1 Khái niệm về Âm nhạc?
2 Âm thanh là gì? Đặc tính vật lý của các âm thanh khác nhau có những đặc điểm giống hay khác nhau? Đặc tính vật lý có liên quan như thế nào đến âm thanh có nhạc tính?
9 Cách ghi ký hiệu các âm bằng chữ cái thuộc các quãng tám khác nhau?
10 Nửa cung là gì? Nguyên cung là gì?
11 Có bao nhiêu nửa cung giữa các bậc cơ bản của hàng âm? Là giữa các bậc nào?
12 Có bao nhiêu nguyên cung giữa các bậc cơ bản của hàng âm? Giữa các bậc nào?
13 Bậc chuyển hóa là gì? Cách đọc – gọi tên bậc chuyển hóa?
14 Ý nghĩa của dấu hóa?
15 Ý nghĩa của dấu thăng? Dấu thăng kép?
16 Ý nghĩa của dấu giáng? Dấu giáng kép?
17 Ý nghĩa của Dấu hóa theo khóa (Hóa biểu hay còn gọi là Bộ Khóa)?
18 Ý nghĩa của dấu hóa bất thường?
19 Cách gọi tên của bậc chuyển hóa có dấu thăng và thăng kép theo hệ thống chữ cái?
Trang 2525
20 Cách gọi tên của bậc chuyển hóa có dấu giáng và giáng kép theo hệ thống chữ cái?
21 Nửa cung và nguyên cung diatonic là gì?
22 Cách thành lập nửa cung và nguyên cung diatonic ?
23 Nửa cung và nguyên cung cromatic là gì?
24 Cách thành lập nửa cung và nguyên cung cromatic?
25 Trùng âm là gì? Hãy nói cách thành lập các trùng âm?
BÀI TẬP THỰC HÀNH
1 Viết các bậc cơ bản bằng hệ thống chữ vần và chữ cái
2 Viết trên khuông nhạc với khóa Sol các nốt nhạc sau: Do, Mi, Sol, Do, Si,
La, Fa thăng, Re giáng, Si giáng kép, Sol thăng kép…
3 Viết ngay dưới khuông nhạc tên của các nốt nhạc sau đây:
Trang 2626
f/
g/
h/
4 Viết ngay dưới khuông nhạc tên của các nốt nhạc sau đây:
5 Hãy viết khóa nhạc cho phù hợp với tên của các nốt trong dòng nhạc dưới đây:
E A F D G
Trang 2727
C F B G C
A G D C B
G A D F E
6 Hãy viết lại những nốt dưới đây ở khóa Fa 4:
7 Hãy viết lại những nốt dưới đây ở Khoa Do Alto:
8 Viết tên nốt bằng chữ cái và ký hiệu quãng 8 của các nốt nhạc sau:
9 Xác định số cung giữa các nốt nhạc sau:
10 Hãy viết lại những nốt dưới đây ở Khoa Do Alto:
Trang 2828
11 Từ các nốt dưới đây, thiết lập các nửa cung cromatic đi lên và đi xuống
12 Ghi dưới các cặp nốt dưới đây là nửa cung hay nguyên cung diatonic
13 a/ Ghi dưới các cặp nốt dưới đây là nửa cung hay nguyên cung diatonic
b/ Ghi dưới các cặp nốt dưới đây là nửa cung hay nguyên cung cromatic
14 Viết cạnh bên các nốt sau để thiết lập các bán cung diatonic
15 Viết cạnh bên các nốt sau để thiết lập các nguyên cung cromatic
Trang 2929
16 Viết cạnh bên các nốt sau để thiết lập các bán cung cromatic
17 Viết cạnh bên các nốt sau để thiết lập các nguyên cung cromatic
18 Hãy tính số cung giữa các cặp nốt dưới đây:
19 Viết hóa biểu trên khuông nhạc theo các yêu cầu sau:
a/ Viết thứ tự dấu thăng và dấu giáng ở hóa biểu
b/ Viết hóa biểu với ba dấu thăng, bốn dấu thăng
c/ Viết hóa biểu với hai dấu giáng, ba dấu giáng, bốn dấu giáng
20 Viết theo hệ thống chữ cái các nốt nhạc sau: Do, Mi, Sol, Do, Si, La, Fa thăng, Re giáng, Si giáng kép, Sol thăng kép…
21 Tìm các nốt nhạc trùng âm với những nốt sau và đánh trên đàn piano (hoặc đàn phím điện tử):
22 Đánh trên đàn các nốt có ký hiệu sau: A, C, G, D, Fis, Des, Gisis, Eses, B
23 Đánh trên đàn để thành lập các nửa cung diatonic từ các âm: C, D, E, F,
G, A, H …
Trang 302.1.1 Ký hiệu trường độ cơ bản của các âm
Để ghi trường độ của các âm, người ta dùng các hình nốt Hình nốt
là các dạng khác nhau của nốt nhạc, tượng trưng cho thời gian (trường độ)
dài, ngắn của âm thanh Có 7 dạng hình nốt thông dụng như sau:
Hai hay nhiều nốt móc có cùng hình dạng – trường độ đứng cạnh nhau có thể dùng vạch ngang để nối các nốt lại với nhau
Trước thế kỷ XVI, người ta có sử dụng nốt tròn kép (trường độ bằng hai nốt tròn, còn gọi là nốt Brevis, nốt dài, nốt vuông), hiện nay ít dùng:
Và, còn có những hình nốt nhỏ hơn nốt móc tư, nhưng cũng ít được sử dụng
Trang 3131
2.1.2 Dấu lặng: là ký hiệu chỉ sự ngừng vang của âm thanh
Các loại dấu lặng đều có độ dài tương đương với độ dài của hình nốt
Muốn nghỉ nguyên ô nhịp ở bất cứ loại nhịp nào, người ta sử dụng dấu lặng tròn
2.1.3 Dấu kéo dài trường độ
Có ba loại:
- Dấu nối (dấu liên kết): là một hình vòng cung, nối các nốt cùng tên, cùng
cao độ nằm cạnh nhau Trường độ của nhóm được liên kết bằng tổng
trường độ các nốt ở trong nhóm
* Chú ý: dấu nối khác dấu luyến (legato); dấu lặng không sử dụng dấu nối
- Dấu chấm sau nốt nhạc (dấu chấm dôi): là dấu chấm được đặt cạnh bên phải của nốt nhạc, có tác dụng kéo dài thêm một nửa giá trị trường độ của nốt đó
, , …
Ngoài ra còn có dấu chấm dôi kép (dấu chấm đôi) là dấu chấm thứ hai làm tăng thêm một nửa giá trị trường độ của dấu chấm thứ nhất
Trang 3232
- Dấu ngân tự do (dấu miễn nhịp): ký hiệu hoặc , được đặt ở trên hoặc dưới nốt nhạc, cho phép nốt nhạc có độ dài tự do tùy theo tính chất của tác phẩm hoặc sở thích của người biểu diễn
Người ta cũng sử dụng dấu chấm đặt ở sau dấu lặng và cũng có ý nghĩa như dấu chấm ở sau nốt nhạc (dấu chấm dôi) Không dùng dấu nối cho dấu lặng nhưng có thể dùng dấu ngân tự do để tăng độ dài cho dấu lặng
2.1.4 Cách viết nốt nhạc
Đối với tác phẩm một bè, các nốt từ dòng kẻ thứ ba trở lên sẽ viết đuôi nốt hướng xuống, các nốt từ dòng kẻ thứ ba trở xuống sẽ viết đuôi nốt hướng lên Như vậy, nốt ở dòng kẻ thứ ba có thể viết đuôi hướng lên hoặc hướng xuống tùy ý
Móc của các nốt móc có đuôi nốt hướng lên hoặc hướng xuống luôn luôn được đặt bên phải của đuôi Đuôi của nốt được kéo dài đến vị trí nốt cao hơn một quãng 8 của nốt đó (khoảng 3 dòng kẻ)
Trang 3333
Đối với những nốt móc (móc đơn, móc kép…), trong một nhóm nốt có thể sử dụng đường thẳng ngang thay cho viết móc, nốt có bao nhiêu móc sẽ
có bấy nhiêu đường thẳng
Trong nhóm nốt móc có các cao độ khác nhau, người ta chọn vị trí thuận lợi nhất cho đuôi nốt và thay các móc bằng đường kẻ nối nhóm nốt.
Cách viết nốt cho lời ca: trong bài hát, mỗi nốt tương đương với một từ của lời ca (được viết rời ra cho từng từ trong lời ca) Trường hợp lời ca có dấu luyến, ta được phép dùng các đường thẳng nối liền thay cho các dấu móc
Trong một bản nhạc có hai bè được viết trên cùng một dòng nhạc thì nốt của
bè trên viết đuôi lên, nốt bè dưới viết đuôi xuống Trong trường hợp này nếu
cả hai bè cùng một tiết tấu, đôi lúc, người ta cho 2 bè cùng một đuôi Nếu trong khuôn nhạc có ba bè hoặc nhiều hơn và tiết tấu giống nhau thì có thể viết đuôi chung Nhưng, cũng có thể viết đuôi về hai hướng khác nhau hoặc khi tiết tấu các bè khác nhau thì nhất thiết phải được viết theo các hướng khác nhau
Trang 3434
Nếu các bè có dấu nối thì chiều cong của dấu nối cùng chiều với đuôi nốt (chiều cong cùng hướng với bè)
2.2 Tiết tấu: Tiết tấu là sự nối tiếp có tổ chức các âm có trường độ giống
nhau hoặc khác nhau Khi liên kết các trường độ của các âm thanh tạo ra các nhóm tiết tấu gọi là âm hình tiết tấu Từ âm hình này sẽ hình thành đường nét
tiết tấu chung của tác phẩm âm nhạc
2.2.1 Trường độ cơ bản - Cách phân chia trường độ cơ bản
Trong âm nhạc, người ta có hai cách phân chia trường độ khi sử dụng hình nốt để ghi âm nhạc Các hình nốt - trường độ cơ bản là hình nốt được phân
chia chẵn
2.2.2 Cách phân chia trường độ tự do: là một trường độ được chia ra thành
nhiều phần bằng nhau với bất cứ số lượng nào Ta thường gặp các hình thức phân chia tự do sau:
- Liên ba (chùm 3): một trường độ cơ bản được chia thành ba phần
Trang 3535
Trong nhóm trường độ có chấm dôi, có thể gặp cách phân chia tự do sau:
- Chùm hai: được tạo bởi sự phân chia trường độ có chấm dôi không thành
Âm nhạc là sự tiếp nối các âm thanh vang lên, là sự tiếp diễn có tổ chức
về thời gian của âm thanh Trong sự chuyển động của các âm thanh, một số
âm được vang lên mạnh hơn, tạo nên sự đều đặn, lặp lại giữa các âm vang
Trang 3636
mạnh và các âm vang nhẹ hơn, là những chu kỳ thời gian trong một bản nhạc Các âm vang lên mạnh hơn gọi là trọng âm Trọng âm hoàn toàn có thực, tồn
tại trong vật lý âm thanh hoặc do cảm giác của người diễn tấu
Như vậy, trọng âm: là âm vang lên mạnh hơn các âm khác trong mỗi
chu kỳ chuyển động của âm thanh
Tiết nhịp là sự nối tiếp các âm thanh với những khoảng thời gian
trường độ bằng nhau có trọng âm và không có trọng âm, được lặp lại một cách chu kỳ
Những khoảng thời gian trường độ bằng nhau có trọng âm hoặc không
có trọng âm để hình thành tiết nhịp, gọi là phách Như vậy, phách: là những
trường độ bằng nhau được hình thành trong tiết nhịp Phách có trọng âm gọi
là phách mạnh và phách không có trọng âm gọi là phách nhẹ (còn gọi là phách yếu)
Trọng âm – phách mạnh phần lớn diễn ra theo một chu kỳ đều đặn, tức
là được nhắc lại qua một số phách bằng nhau, ví dụ qua một phách, hai phách,
ba phách… Nói cách khác, các phách trong tiết nhịp thể hiện chu kỳ trường
độ khác nhau, thể hiện các loại nhịp khác nhau
Nhịp là sự thể hiện tiết nhịp bao gồm chu kỳ của tất cả số phách trong
tiết nhịp Nói cách khác, nhịp là phần nhỏ của tác phẩm âm nhạc bắt đầu từ phách mạnh và kết thúc trước phách mạnh sau đó, là những đơn vị thời gian được chia đều trong một bài nhạc Nhịp được biểu hiện bằng ô nhịp Ô nhịp được giới hạn bởi hai vạch nhịp Nhịp được ký hiệu bằng số chỉ nhịp
2.3.2 Vạch nhịp:
Là đường thẳng đứng cắt ngang khuông nhạc để phân chia các nhịp với nhau, làm ranh giới cho ô nhịp Đường thẳng đứng này được vẽ từ dòng kẻ thứ nhất đến dòng kẻ thứ năm của khuông nhạc
Trang 3737
Vạch nhịp có 2 loại:
- Vạch nhịp đơn: là vạch nhịp chỉ có một đường thẳng dùng để ngăn các ô nhịp với nhau Ô nhịp là một phần nhỏ của tác phẩm được giới hạn bởi hai vạch nhịp hai bên
- Vạch nhịp kép (vạch đôi): là hai đường thẳng, dùng để bắt đầu một đoạn nhạc mới hay kết thúc một đoạn nhạc; dùng để thay đổi khóa nhạc hoặc thay đổi số chỉ nhịp Khi kết thúc bài nhạc, ta dùng vạch đôi có đường thẳng bên phải đậm hơn đường thẳng bên trái
2.3.3 Số chỉ nhịp
Mỗi ô nhịp đều có phách mạnh, phách nhẹ Phách mạnh là phách có trọng âm, phách nhẹ là phách không có trọng âm Nhờ có phách mạnh, phách nhẹ nên ta mới phân biệt được các loại nhịp với nhau Số lượng phách trong mỗi ô nhịp được ghi ở số chỉ nhịp
Số chỉ nhịp: là số được ghi sau khóa nhạc và sau các dấu hóa theo
khóa (nếu có), nhằm cho ta biết bài nhạc đó thuộc loại nhịp gì (nhịp đơn, nhịp kép…) Số chỉ nhịp gồm hai con số trên và dưới, số trên chỉ số lượng phách trong mỗi ô nhịp, số dưới chỉ giá trị trường độ của phách dài bằng một phần mấy của nốt tròn
Trang 38
38
2.3.4 Các loại nhịp và cách đánh nhịp
a Nhịp đơn: là loại nhịp có một trọng âm trong một, hai hoặc ba phách
Ví dụ: , , …
Loại nhịp 2/2 gọi là alla brève, thường ký hiệu
Khi xướng âm hoặc điều khiển nhiều người cùng diễn tấu, người ta đánh nhịp đối với các nhịp đơn như sau:
Sơ đồ và cách đánh nhịp 2 phách
Sơ đồ và cách đánh nhịp 3 phách
b Nhịp kép: là do hai hay nhiều nhịp đơn cùng loại hợp thành, vì vậy nó có
từ hai trọng âm trở lên trong mỗi ô nhịp Trọng âm thứ nhất là phách mạnh, các trọng âm kế tiếp là phách mạnh vừa
Trang 3939
Sơ đồ và đường nét đánh nhịp 6 phách (2 trọng âm nên có 2 cách đánh nhịp)
Sơ đồ nhịp 9 phách (có 3 trọng âm) và nhịp 12 (có 4 trọng âm)
c Nhịp hỗn hợp: là loại nhịp được hình thành bởi sự kết hợp hai hay nhiều
loại nhịp đơn khác nhau
Ví dụ: Nhịp ( + ) hoặc ( + )
Nhịp ( + ) hoặc ( + )
Nhịp ( + + ) hoặc ( + + )
Trang 4040
Trọng âm trong loại nhịp hỗn hợp phân bố không đều, nó phụ thuộc vào trọng
âm của từng loại nhịp đơn chứa trong nó Trọng âm của nhịp đơn thứ nhất là phách mạnh, trọng âm của các nhịp đơn kế tiếp theo là phách mạnh vừa
Cách đánh nhịp 5 phách (3 + 2) có 2 trọng âm
d Nhịp biến đổi: Đôi khi, trong tác phẩm âm nhạc có sự xáo trộn các chu kỳ
tiết tấu, sự thay đổi này gọi là nhịp biến đổi Sự biến đổi các loại nhịp có thể xảy ra một cách có chu kỳ hoặc không có chu kỳ
- Trường hợp loại nhịp biến đổi có chu kỳ sẽ được ký hiệu bằng hai hay nhiều số chỉ nhịp ở đầu bản nhạc hoặc đoạn nhạc theo trật tự tiếp nối của các loại nhịp Trường hợp này, nhịp biến đổi có chu kỳ giống loại nhịp hỗn hợp
- Trường hợp biến đổi loại nhịp không theo chu kỳ thì số chỉ nhịp được đặt ngay trước chỗ cần thay đổi