Đây là công trình nghiên cứu khoa học của tôi về ngộ độc lá ngón đượctiến hành nghiêm túc tại huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên.. Câu hỏiđặt ra là thực trạng ngộ độc lá ngón tại huyện
Trang 1NGUYỄN VĂN MINH
thực trạng và công tác sơ cấp cứu,
dự phòng ngộ độc lá ngón tại huyện
điện biên đông, tỉnh điện biên
LUẬN VĂN CHUYấN KHOA CẤP II
THÁI BèNH, NĂM 2019
Trang 3Trước hết, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới Ban Giám hiệu, phòng Quản lý đào tạo Sau đại học, Khoa Y tế công cộng và các thầy cô giáo đã trực tiếp tham gia giảng dạy, hướng dẫn tôi trong suốt 3 năm học tập
và hoàn thành luận văn tại trường Đại học Y Dược Thái Bình.
Tôi xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc tới TS Đỗ Quốc Hương – trưởng bộ môn Y học cổ truyền, TS Phạm Thị Dung Phó trưởng phụ trách bộ môn Dinh dưỡng & An toàn thực phẩm, khoa Y tế công cộng là những thầy cô đã hết sức tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình hoàn thành luận văn.
Tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban giám đốc và các khoa phòng chuyên môn Trung Tâm y tế huyện Điện Biên Đông Các phòng khám khu vực, các trạm y tế xã, nhân dân, chính quyền, đoàn thể của tất cả các xã huyện Điện Biên Đông, đặc biệt là ba xã Xa Dung, Húng Lìa, Phì Nhừ đã tạo điều kiện cho tôi điều tra nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn tới các thành viên trong gia đình, bạn bè những người luôn động viên và tiếp thêm sức mạnh và tạo mọi điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thành khóa học.
Thái Bình, ngày tháng năm 2019
Nguyễn Văn Minh
Trang 4Tôi là Nguyễn văn Minh, học viên lớp chuyên khoa II Quản lý Y tế khóa
10 (2016 - 2019) của trường Đại học Y Dược Thái Bình Tôi xin cam đoan:
1 Đây là công trình nghiên cứu khoa học của tôi về ngộ độc lá ngón đượctiến hành nghiêm túc tại huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên Kết quả nghiêncứu không trùng lặp với bất kỳ nghiên cứu nào khác đã được công bố
2 Các số liệu và thông tin trong nghiên cứu là hoàn toàn chính xác trungthực và khách quan, đã được xác nhận và chấp thuận của nơi nghiên cứu
Thái Bình, ngày tháng năm 2019
NGƯỜI CAM ĐOAN
Nguyễn Văn Minh
Trang 5CSSKBĐ Chăm sóc sức khỏe ban đầu
Trang 6Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Lá ngón và tình hình ngộ độc lá ngón 3
1.1.1 Lá ngón 3
1.1.2 Ngộ độc lá ngón 9
1.2 Kiến thức, thực hành của cộng đồng về dự phòng ngộ độc lá ngón 20
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
2.1 Đối tượng, địa bàn và thời gian nghiên cứu 27
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu .27
2.1.2 Địa bàn nghiên cứu 28
2.1.3 Thời gian nghiên cứu .30
2.2 Phương pháp nghiên cứu 30
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu .30
2.2.2 Cỡ mẫu và chọn mẫu 30
2.2.3 Biến số sử dụng trong nghiên cứu .32
2.2.4 Phương pháp thu thập thông tin .34
2.3 Xử lý số liệu 36
2.4 Các biện pháp khắc phục sai số trong nghiên cứu 36
2.5 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 37
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 38
3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 38
3.2 Thực trạng ngộ độc lá ngón và công tác sơ cấp ngộ độc lá ngón tại huyện Điện Biên Đông năm 2015 – 2017 41
3.3 Nhận thức thực hành của cộng đồng về dự phòng ngộ độc lá ngón tại huyện Điện Biên Đông năm 2018 56
Trang 7Điện Biên Đông năm 2015 – 2017 614.2 Nhận thức thực hành của cộng đồng về dự phòng ngộ độc lá ngón tại huyện Điện Biên Đông năm 2018 73
KẾT LUẬN 81 KIẾN NGHỊ 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8Bảng 3.2 Thông tin chung về đối tượng phỏng vấn là thân nhân người ngộ
độc lá ngón 39Bảng 3.3 Thông tin chung về người dân điều tra về kiến thức, thực hành dự
phòng ngộ độc lá ngón 40Bảng 3.4 Tỷ lệ ngộ độc lá ngón trong 3 năm (2015 - 2017) theo từng xã 41Bảng 3.5 Tỷ lệ người bệnh ngộ độc lá ngón theo giới và nhóm tuổi 42Bảng 3.6 Tỷ lệ ngộ độc lá ngón theo dân tộc của huyện Điện Biên Đông
trong 3 năm (2015-2017) 42Bảng 3.7 Tỷ lệ tử vong do ngộ độc lá ngón trong 3 năm (2015 – 2017) theo
từng xã 44Bảng 3.8 Thông tin về lý do sử dụng lá ngón 47Bảng 3.9 Thực trạng tập huấn về kỹ năng truyền thông cộng đồng của cán
bộ y tế tại địa bàn nghiên cứu 47Bảng 3.10 Tỷ lệ cán bộ y tế được tập huấn về các kỹ năng sơ cấp cứu 48Bảng 3.11 Kiến thức của cán bộ y tế về các việc cơ bản trong cấp cứu người
bệnh ngộ độc lá ngón 49Bảng 3.12 Kiến thức của đối tượng nghiên cứu về các biểu hiện của ngộ độc
lá ngón 50Bảng 3.13 Ý kiến của đối tượng về sơ cấp cứu ngộ độc lá ngón tại nhà 51Bảng 3.14 Kiến thức của đối tượng về hoạt động theo dõi sau cấp cứu người
ngộ độc lá ngón 52Bảng 3.15 Tỷ lệ đối tượng sơ cấp cứu cho người ngộ độc lá ngón 53Bảng 3.16 Địa điểm thân nhân người ngộ lá ngón đề xuất khi nên đưa nạn
nhân đến điều trị 53
Trang 9Bảng 3.18 Ý kiến của các đối tượng về những biện pháp để hạn chế tình trạng
tự tử bằng lá ngón tại địa phương 54
Bảng 3.19 Mức độ hài lòng của thân nhân người ngộ độc lá ngón với khả năng sơ cấp cứu của cán bộ y tế địa phương 55
Bảng 3.20 Tỷ lệ người dân đã từng xử trí tại nhà cho người ngộ độc lá ngón khi phát hiện 56
Bảng 3.21 Tỷ lệ đối tượng đã được tuyên truyền về lá ngón và hệ luỵ của ngộ độc lá ngón 57
Bảng 3.22 Tỷ lệ đối tượng biết về cây lá ngón 57
Bảng 3.23 Nguồn cung cấp thông tin về ngộ độc lá ngón 57
Bảng 3.24 Tỷ lệ đối tượng biết về tác hại của cây lá ngón 58
Bảng 3.25 Cách xử trí của đối tượng khi gia đình có người ngộ độc lá ngón 58
Bảng 3.26 Ý kiến của người dân về những biện pháp để hạn chế tình trạng tự tử bằng lá ngón tại địa phương 59
Trang 10Biểu đồ 3.1 Số lượng ngộ độc và tử vong do lá ngón trong 3 năm 2015-2017
theo từng xã của huyện Điện Biên Đông 43Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ tử vong/ngộ độc do lá ngón trong 3 năm 2015-2017 theo
từng xã của huyện Điện Biên Đông 45Biểu đồ 3.3 Tỷ lệ tử vong do ngộ độc lá ngón theo các năm 46Biểu đồ 3.4 Nơi tử vong của người ngộ độc lá ngón 46
DANH MỤC HỘP
Hộp 3.1 Ý kiến của lãnh đạo huyện về tình trạng và hậu quả của tự tử bằng lá
ngón tại địa phương 56Hộp 3.2 Ý kiến của lãnh đạo xã về hiệu quả của các biện pháp ngăn chặn tình
trạng tự tử và hậu quả của tự tử bằng lá ngón 59Hộp 3.3 Ý kiến của lãnh đạo huyện về những giải pháp để can thiệp, phòng
ngừa tình trạng tự tử bằng lá ngón ở địa phương trong thời gian tới60
DANH MỤC ẢNH
Ảnh 1.1 Hoa và lá của cây lá ngón 3Ảnh 1.2 Hình ảnh cây lá ngón mọc ven đường 4
Trang 11ĐẶT VẤN ĐỀ
Ngộ độc là tình trạng cơ thể bị nhiễm độc bởi một tác nhân nào đó từbên ngoài xâm nhập vào cơ thể Tác nhân gây độc còn gọi là độc tố Bệnhnày do cơ thể có sự xâm nhập của một lượng chất độc, hóa chất có thể gây ranhững hội chứng lâm sàng và tổn thương cơ quan và có thể đe dọa đến tínhmạng Một số chất độc có thể kể đến như hóa chất, thuốc, độc tố vi khuẩn,nọc độc của một số loài vật, độc tố có trong cây cỏ, môi trường Chất độc cóthể vào cơ thể qua đường tiêu hóa, da, niêm mạc hay hô hấp, khi vào máuchất độc có thể tồn tại trong các tổ chức tế bào hoặc bị đào thải qua thận,nước tiểu, phân Có nhiều phương pháp thải độc tùy vào tình trạng bệnh, cơthể của mỗi người, quan trọng là phải loại trừ các nguyên nhân gây ngộ độc,hoặc nếu bị nhiễm độc thì cần xác định do nguyên nhân nào mà có hướng xửtrí thích hợp Tại các cơ sở y tế, bác sĩ có thể tiến hành các biện pháp cấp cứunhư rửa ruột, truyền dịch, lọc máu Tại gia đình, khi có người bị ngộ độc, cácbiện pháp đơn giản nhất có thể làm để sơ cứu cho người bệnh như gây nôn,uống nước lọc …
Ngộ độc có thể do vô tình hoặc chủ ý Tại huyện Điện Biên Đông,hàng năm bệnh viện huyện tiếp nhận khoảng trên 100 trường hợp ngộ độctrong đó, ngộ độc lá ngón chiếm đa số (trên 80%) và chủ yếu là ngộ độc cóchủ ý (tự tử) Tỷ lệ tử vong do ngộ độc lá ngón cũng chiếm tỷ lệ cao Nghiêncứu của Unicef về sức khỏe tâm thần và tâm lý xã hội của trẻ em và thanhniên tại một số tỉnh Việt Nam cho thấy những người tự tử hoặc từng cố gắng
tự tử tại huyện Điện Biên Đông hầu hết là thanh niên và các em gái Đâycũng là nơi có lá ngón, một loại lá độc, rất dễ tiếp cận vì nó mọc dại nhiềutrong các khu rừng Việc tiếp cận với nguồn “lá ngón” sẵn có khiến cho việc
Trang 12tự tử trở nên tương đối dễ dàng Bên cạnh đó yếu tố văn hóa, xã hội cũng cótác động không nhỏ đến nguy cơ ngộ độc chủ ý do lá ngón
Trong khi đó hiện nay, các nghiên cứu về tình hình mắc, chết do ngộđộc lá ngón ở Việt Nam còn rất ít Các nghiên cứu về ngộ độc do lá ngón vàthực trạng sơ cấp cứu cũng như các biện pháp về dự phòng ngộ độc lá ngóncũng chưa có các công bố quốc tế Hiện mới chỉ có một số tác giả nghiên cứu
về thành phần hóa học của lá ngón, cơ chế gây ngộ độc lá ngón, liều độc, tácdụng dược lý trên động vật thực nghiệm của một số alkaloid được chiết xuất
từ lá ngón
Do đó, đứng trước thực trạng về tỷ lệ mắc và chết do nguyên nhân ngộđộc lá ngón của người dân huyện Điện Biên Đông ngày một gia tăng Câu hỏiđặt ra là thực trạng ngộ độc lá ngón tại huyện Điện Biên Đông như thế nào,hoạt động sơ cấp cứu tại thực địa và các cơ sở y tế ra sao, công tác truyềnthông giáo dục sức khỏe cho nhân dân trong huyện, cần phải có biện pháp gì,
có giải pháp nào tối ưu nhằm giảm và khống chế được tỷ lệ mắc và chết dongộ độc lá ngón này được không? Do vậy chúng tôi tiến hành thực hiện đề
tài: “Thực trạng và công tác sơ cấp cứu, dự phòng ngộ độc lá ngón tại
huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên" với mục tiêu:
1 Mô tả thực trạng và công tác sơ cấp cứu ngộ độc lá ngón tại huyện Điện Biên Đông năm 2015 - 2017.
2 Đánh giá nhận thức, thực hành của người dân trong phòng chống ngộ độc lá ngón tại huyện Điện Biên Đông năm 2018.
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Lá ngón và tình hình ngộ độc lá ngón
1.1.1 Lá ngón
Cây lá ngón (Gelsemium elegans) tiếng Thái gọi là (Bàư nguốn), tiếng
Hmông gọi là (Sụa nọ tùa) và còn có tên khác là (ngón vàng; cây rút ruột, congón, Đoạn trường thảo, Hồ mạn đằng, Hồ mạn trường, Câu vẫn) Trước đây,cây lá ngón được phân loại trong họ Mã tiền nhưng từ năm 1994 đến nay
được cho là thuộc họ mới là họ Hoàng đằng (Gelsemiaceae) Cây dạng thân
dây mọc leo, cây nhỡ, cành nhẵn có rãnh dọc, lá mọc đối, hình trứng thuôndài hoặc hình mác, mép nguyên, mặt nhẵn bóng, hoa thành cụm hình chuỳmọc ra từ lách lá, dạng gù có màu vàng, đài rời, tràng hoa gồm 5 cánh rờinhẵn dính thành ống hình phiễu, có 5 nhị, đỉnh ở phía dưới ống tràng, bầunhẵn, vòi dạng sợi, đầu nhuỵ được chia thành 4 thuỳ hình sợi Quả nang có
vỏ cứng, dai, hạt có rìa mỏng bao quanh, mép cắt khía
Ảnh 1.1 Hoa và lá của cây lá ngón
Trang 14Lá của cây lá ngón có hình dáng giống nhiều loại dược liệu và các loạithực phẩm ăn được như chè vằng, lá giang, thủ ô nam, lài gân, lá bép…Nhưng đặc điểm quan trọng để phân biệt là lá ngón có hoa màu vàng, cònhầu hết cây thuốc và rau ăn gần giống lá ngón đều ra hoa màu trắng.
Ảnh 1.2 Hình ảnh cây lá ngón mọc ven đường
Trên thế giới lá ngón có ở một số nước vùng nhiệt đới châu Á Ở TrungQuốc người ta thấy ở Phúc Kiến, Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam, TứXuyên và ở Thái Lan; Malaixia, Campuchia, Lào Ở Bắc Mỹ có loàiGelsemisum sempervirens và loài Gelsemium Rankinii
Cây lá ngón mọc hoang ở các vùng núi cao từ Hà Giang, TuyênQuang, Laò Cai, Lai Châu, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Hoà Bình, Thanh Hóacho đến cả các tỉnh vùng Tây Nguyên và đặc biệt là Tỉnh Điện Biên cây lángón mọc ở khắp nơi Đi đến đâu ở đất Điện Biên cũng có thể tìm và lấyđược cây lá ngón, lá ngón mọc hoang ven đường đi
Trang 15Thành phần chính của cây lá ngón gồm các Alkaloide indole;Gelsemine; Gelsemicine; Sempervirine; và các chất khác Các chất này có ởtoàn bộ cây nhưng nhiều nhất ở lá và rễ, thậm chí còn có cả ở mật hoa, ong
ăn phải mật cũng có thể bị nhiễm độc
Độc tính của cây lá ngón hiện chưa có các tài liệu nghiên cứu về cácliều gây chết tối đa và tối thiểu trên người Các tài liệu về cây thuốc ViệtNam cho thấy lá ngón là cây rất độc, chỉ cần ăn 3 lá và sau 30 – 60 phút làngười bệnh có thể tử vong Chất độc của cây lá ngón tác động lên các đầumút dây thần kinh vận động dẫn tới liệt các cơ vân Ngoài ra Gelsemin vàKoumin nó còn tác động trên tuỷ sống, cắt đứt sự ức chế trung gian Glycine
ở tuỷ sống, cạnh tranh với Glycine ức chế nhận cảm sau Synap ở cột sống,huỷ bỏ ức chế các Neurons tự động và tăng hoạt động cơ, xuất hiện cơn cogiật Khi có người bệnh nghi ngộ độc lá ngón, cần phân biệt với ngộ độc hạt
Mã tiền (Strychnin) hoặc thuốc chuột (Fluoroacetate) các triệu chứng ngộ độcxuất hiện nhanh, ngay sau ăn bao gồm: Buồn nôn và nôn; đau bụng dữ dội, ỉachảy; tim nhanh, thở nhanh, huyết áp tăng; nhìn mờ nhìn đôi, giãn đồng tử cóthể có lồi mắt; co thắt hay liệt cơ hô hấp dẫn tới suy hô hấp; suy thận cấp dotiêu cơ vân sau co giật; co cơ, giật cơ, kéo cơ và gây đau cơ; người bệnhthường tỉnh trong và sau cơn giật trừ khi có thiếu Oxy nặng Cận lâm sàngkhi làm xét nghiệm độc chất dùng A.Sulfuaric và Bicromate cho màu xanh venếu có Gelsemin và cho màu tím với Koumin
Theo các tài liệu của Đỗ Tất Lợi, Võ Văn Chi, Vũ Văn Chuyên, TrầnCông Khánh và một số tài liệu khác cho thấy cây lá ngón chứa nhiều alcaloidkhác nhau: Từ loài Gelsemium sempervirens mọc ở Bắc Châu Mỹ nhiều tácgiả đã chiết được các Alcaloid: Gelsemin độ nóng chảy là 178O Năm 1931,Triệu Thừa Cố và các tác giả Trung Quốc chiết tách được các alkaloid:
Trang 16kumin, kuminin, kuminicin, kumidin, gelsemin, sempervirin, trong đó kumin
là alcaloid chính, kuminicin là độc nhất
Kuminin vô định hình, không màu, dễ tan trong ether và trongnhiều dung môi hữu cơ khác, khó tan trong nước, từ dung dịch Ether để bốchơi sẽ cho chất có độ nóng chảy thay đổi nhưng trên 115° Kuminicin vô địnhhình, muối Clohydrat tan trong nước có năng suất quay cực trái Kuminicin làchất có tác dụng chủ yếu và rất độc Kuminidin có tinh thể hình trụ khôngmàu độ chảy 200° có thể tan nhiều trong dung môi hữu cơ và nước Chất nàyrất độc Hàm lượng của bốn alcaloid trên trong nguyên liệu là 0,3% Từ lángón, Triệu Thừa Cố cũng lấy ra 4 Alcaloid là Gelsemin (chất này rất độc,tác dụng vào tim), Kumin, Kuminin và một Alcaloid mới đặt tên
là Kaunide độ chảy là 315° Muối Clohydrat có độ chảy 318°, chất Alcaloidnày có tác dụng làm yếu cơ và ức chế hô hấp Ở cành và lá có Kuminin,Gelsemin và chất tan trong nước là Kumidin (C H 0 N), ngoài ra còn cóSempervirin Năm 1936 F Guichard nghiên cứu cây lá ngón mọc ở ViệtNam Tác giả đã chiết được Kumin từ lá, vỏ thân, rễ cây và thấy Kumin có cảtrong quả và hạt Ngoài ra còn thấy một chất có huỳnh quang dưới đèn tửngoại không tan trong Acid và ghi là chất thuộc nhóm Esculetin (Gelsemichay Acid gelseminic) Dù đã có những nghiên cứu về Alcaloid nhưng việcphát hiện chất độc trong lá ngón khi bị ngộ độc còn khó khăn, vì phản ứngđặc hiệu tiến hành trên những chất lấy được ở cơ thể người bị ngộ độc, nhất
là khi chỉ ăn có 3 lá là một việc không dễ dàng Năm 1936 F.Guichardnghiên cứu từ cây lá ngón mọc ở Việt Nam đã chiết từ lá, vỏ thân và rễ đượcnhững chất giống như cây lá ngón Trung Quốc Tác giả đã thấy chất kumin
có cả trong quả và hạt, ngoài ra còn tìm thấy một chất có huỳnh quang dướiđèn tử ngoại, không tan trong acid và ghi là chất thuộc nhóm esculetin.Năm 1953 M.M Janot xác định lá ngón Việt Nam có chứa gelsemin ở
Trang 17lá, kumin ở thân, rễ và sempervinrin ở các bộ phận của cây Năm 1971, PhanQuốc Kinh, Phạm Gia Khôi và Lương Văn Thịnh chiết được kumin từ rễ cây
lá ngón mọc ở Hoà Bình
Năm 1974, trong công trình “Nghiên cứu về mặt Hoá thực vật, Dược
lý và Độc học của loài Gelsemium elegans mọc ở miền Bắc Việt Nam” củaHoàng Như Tố không thấy có sự song song tồn tại của 2 AlcaloidGelsemin và Kumin trong lá hoặc trong rễ, và qua công trình nghiên cứu đãkết luận là Gelsemin chỉ có ở lá, Kumin chỉ có ở rễ, nghiên cứu công thứchoá học của Gelsemin và Kumin tác giả cho rằng Kumin là một Alcaloid cónhân Indol được tạo nên ở rễ, khi chuyển lên lá qua quá trình quang hợp đãchuyển thành Gelsemin Theo tác giả, loài Gelsemium Elegans cho Gelsemin
ở lá, có thể dùng Alcaloid rất ít độc để làm thuốc giảm đau đặc biệt khi kếthợp với các thuốc giảm đau không gây nghiện (Aspirin, Antipirin) Một sốnghiên cứu của các tác giả nước ngoài trong thời gian gần đây cũng có nhữngnhận định tương tự
Năm 1977, Hoàng Như Tố và cộng sự đã phân tích bằng sắc ký lớpmỏng thấy có 15 vết Alcaloid ở cây lá ngón trong đó đã tách được gelsemin
và kumin Các phân tích hiện đại trên các hệ thống sắc kí gần đây cũng chothấy sự có mặt của nhiều loại Alcaloid với các thành phần và hàm lượng khácnhau
Cho tới nay có rất ít báo cáo về độc học lâm sàng về độc chất của cây
lá ngón Trong cây lá ngón của ta và Trung Quốc có thành phần khác nhưng
so với tác dụng của những alcaloide của cây lá ngón Bắc Mỹ thì nhiều phầngiống nhau Chất kumin và kuminin ít độc hơn, gần giống tác dụng củagelsemin Chất kuminicin rất độc, nhưng chất gelsemicin lại độc hơn nữa Nhỏ dung dịch gelsemin và gelsemicin lên mắt thì thấy hiện tượng giãn đồng
Trang 18tử còn kumin và kuminin không làm giãn đồng tử Ngoài thành phần hoá học,Hoàng Như Tố còn kiểm tra độc lực độc chất cây lá ngón thấy:
- Liều độc: LD50 đối với chuột nhắt trắng của rễ là 102mg/kg thểtrọng (chiết bằng cồn 900), của lá là 600mg/kg (lá tươi chiết bằngnước), 200mg/kg (lá khô chiết bằng nước), 150mg/kg (lá khô chiết bằng cồn
700), 89mg/kg (lá khô chiết bằng cồn 900), của alcaloid toàn phần chiết từ lákhô là 200mg/kg, trong khi đó của gelsemin là 140mg/kg và kumin thìkhông độc Một nghiên cứu khác tại khoa sinh đại học Đà lạt: giã lá ngónthành nước (10 g lá, 10 ml nước) cho chuột uống 3 giọt sau 9 phút chuộtchết vì co giật (tương đương liều ngộ độc là 150mg)
Ngộ độc lá ngón là ngộ độc rất thường gặp đặc biệt ở vùng cao TâyBắc nước ta, tuy nhiên cũng gặp rải rác ở một số nơi như miền núi các tỉnhmiền Trung như Thanh Hóa, Nghệ An và ở Tây Nguyên Nguyên nhân ngộđộc thường do tự tử nhưng cũng có thể do bị đầu độc và vô tình trúng độc dokhông phân biệt được cây lá ngón với rau ăn dẫn đến ăn nhầm
Lá ngón có 4 Alcaloid độc là Kumin, Kuminidin, Kuminin vàKuminixin, các chất này rất độc Tác dụng dược lý của lá ngón chưađược nghiên cứu kỹ, chỉ biết rằng uống 2-3 lá tươi cũng đủ gây ngộ độc CácAlcaloid của cây lá ngón có độc tính rất mạnh, thường gây ức chế hô hấp,người bệnh có thể tử vong nhanh chóng Tuy nhiên, nếu được hỗ trợ hô hấpkịp thời thì có thể được cứu sống và cải thiện các triệu chứng lâm sàngnhanh chóng Nhân dân ta không dùng cây này làm thuốc mà chỉ dùng đểđầu độc hay tự tử, nhưng cần biết để tránh lấy lẫn vào những cây thuốckhác, gây độc chết
Ở Trung Quốc, người ta dùng để chữa mụn nhọn độc, chữa hủi, haychữa nấm tóc và chữa vết thương do ngã hay bị đánh đòn Cách dùng: Giãnhỏ đắp ngoài hay sắc lấy nước rửa chỗ đau Ngoài ra ở Trung Quốc và Bắc
Trang 19Mỹ người ta dùng rễ chữa bệnh động kinh và giảm đau nhưng cũng rất ítdùng Một số nghiên cứu trên động vật thực nghiệm cũng cho thấy tác dụngcủa một số dẫn chất Alcaloid chiết xuất từ lá ngón có tác dụng chống viêm,giảm đau, an thần như koumin, gelsenicine….
1.1.2 Ngộ độc lá ngón
Hiện nay ngộ độc lá ngón thông thường do người dùng chủ động sửdụng với mục đích tự sát Tuy nhiên, ngộ độc lá ngón đôi khi vẫn được cho làmột dạng ngộ độc thực phẩm, xếp trong nhóm ngộ độc do bản thân thựcphẩm có chứa chất độc như ngộ độc do nấm độc, măng, củ nần, củ thươnglục, ngộ độc cóc, cá nóc và các loại thực phẩm có độc khác Nguyên nhân cóthể do người dân nhầm lẫn lá ngón với các loại lá rừng ăn được khác hoặcnhầm lẫn là một loại dược liệu nên lấy rễ lá ngón ngâm rượu uống
1.1.2.1 Triệu chứng ngộ độc lá ngón
* Biểu hiện lâm sàng:
Ngộ độc lá ngón xuất hiện nhanh, nặng và dễ tử vong Việc xử trí cấpcứu đòi hỏi kịp thời, khẩn trương, tích cực, trong đó quan trọng là xử trí loạnnhịp tim, kiểm soát hô hấp tốt và cắt cơn co giật Các triệu chứng điển hìnhcủa ngộ độc lá ngón bao gồm:
+ Toàn thân: khó chịu, mệt mỏi, yếu mệt cơ, nặng gây liệt cơ
Trang 20* Chẩn đoán phân biệt:
Ngộ độc các hoá chất gây co giật, thường do:
Uống thuốc diệt chuột loại fluoroacetate, fluoroacetamide (thuốc diệtchuột loại hạt gạo hồng, ống nước)
Thuốc diệt chuột loại tetramine (thuốc diệt chuột Trung Quốc, bộtmàu trắng)
Phosphua nhôm, phosphua kẽm
Hóa chất trừ sâu clo hữu cơ
Ngộ độc mã tiền: thường do ăn hạt hoặc uống rượu ngâm hạt mã tiền,hạt có hình dẹt, có một mặt lõm Biểu hiện giật cơ và tăng trương lực cơtương tự như lá ngón nhưng không có liệt cơ, không có giãn đồng tử, không
có loạn nhịp tim chậm
Trang 21Có đồng tử giãn, liệt cơ
Sau khi bị rắn cạp nong, cạp nia cắn, xuất hiện dấu hiệu liệt mềm, nặng
nề tất cả các cơ, kiểu lan xuống, liệt nhiều tuần, hạ natri máu Đồng tử giãnkéo dài nhiều tháng Có nhịp tim nhanh và huyết áp thường tăng
- Nạn nhân tử vong có nguyên nhân do liệt cơ, suy hô hấp và ngừngtuần hoàn
Nếu không phát hiện sớm, sơ cứu, cấp cứu khẩn trương và điều trị kịpthời, người bệnh thường chết sau 1-7 giờ ngộ độc Do vậy, khi phát hiệnngười bị ngộ độc cây lá ngón, phương pháp xử trí ban đầu hết sức quan trọng,phải nhanh chóng loại bỏ chất độc ra khỏi cơ thể bằng các biện pháp như gâynôn: uống đầy nước rồi móc họng để kích thích gây nôn, sau đó nhanh chóngchuyển đến cơ sở y tế gần nhất để loại bỏ độc chất, ngăn cản hấp thu độc chấtbằng cách rửa dạ dày, uống than hoạt, truyền dịch Sau đó khẩn trương vậnchuyển người bệnh tới bệnh viện chuyên khoa có đầy đủ các trang thiết bịcấp cứu điều trị giải độc và tích cực tránh những biến chứng muộn nặng nề,nguy hiểm, nguy cơ dẫn đến tử vong
* Cơ chế tác động:
Các alkalloid của lá ngón là chất đồng vận của glycine Re: tác động lênGlyR và gây tác dụng như glycine Trong khi Strychnin là chất đối vận(antagonist) của glycine là cạnh tranh vị trí gắn của Glycine và mất tác dụng
Trang 22ức chế của glycine là hoạt động điện và tế bào rơi vào trạng thái kích thích.Alkaloid của lá ngón và strychnin hoạt động theo cơ chế hoàn toàn ngượcnhau: Strychnin làm mất tác dụng của gelsemium Vị trí của GlyR ở chất xámsừng trước tủy sống, hành não, hệ lưới và vỏ não Do vậy, tác động của cácalcaloid trong lá ngón sẽ gây ra:
+ Ức chế vận động tủy: liệt cơ tứ chi
+ Ức chế trung tâm hô hấp ở hành não: ngừng thở
+ Tổn thương cao hơn ở vỏ não gây hôn mê sâu
Ngoài ra, ở liều cao, các alkaloid của lá ngón ức chế tái hấp thudopamin, noradrenallin và serotonin tại xynap gây tăng tăng phản xạ gânxương và co giật Điều này giải thích được triệu chứng co giật ở người bệnhngộ độc lá ngón với hàm lượng lớn
Tuy nhiên, hai triệu chứng chưa giải thích thực sự thỏa đáng đó là dấuhiệu vã mồ hôi lạnh và co giật đơn thuần vì hiện tại chưa tìm thấy nghiên cứunào nói lên sự liên quan giữa alkaloid lá ngón và Hội chứng muscarinic vàkhông tìm thấy tác dụng của alkaloid lá ngón trên hệ nicotinic nên không giảithích được nguyên nhân co giật theo cơ chế cường nicotinic
Như vậy, có thể thấy alkaloid của lá ngón có hai tác dụng Thứ nhất,alkaloid là chất chủ vận (agonist) của GlyR có mặt ở tủy sống, hành não, hệlưới và vỏ não gây liệt cơ tứ chi, ức chế hô hấp, sụp mi, giãn đồng tử, hôn
mê Thứ hai, alkaloid của lá ngón liều cao gây ức chế tái hấp thu dopamin,noradrenallin, serotonin gây nên vã mồ hôi, mạch nhanh, tăng phản xạ gânxương, co giật
Trang 231.1.2.2 Xử trí ngộ độc lá ngón
* Nguyên tắc:
Phải đảm bảo các chức năng sống ổn định, đặc biệt đảm bảo kiể m soát
hô hấp, nhanh chóng cắt cơn co giật, ổn định tuần hoàn trước khi áp dụng cácbiện pháp khác
co giật rất dễ sặc phổi
- Cho người bệnh uống nước, khi thấy bắt đầu no thì gây nôn, tổngcộng 1 - 2 lít
b Rửa dạ dày:
- Tiến hành khi người bệnh mới ăn lá ngón trong vòng 6 giờ
- Xử trí co giật, suy hô hấp (nếu có) trước, bệnh nhân rối loạn ý thứcthì phải nằm nghiêng tư thế an toàn khi rửa, nếu hôn mê phải đặt nội khí quản
và bơm bóng chèn sau đó mới rửa dạ dày
- Rửa bằng 3 - 5 lít nước pha muối thành nồng độ 0,5 - 0,9%, ấm
c Than hoạt:
- Dùng sau khi gây nôn hoặc rửa dạ dày
- Không dùng khi đang co giật, suy hô hấp hoặc hôn mê chưa có ốngnội khí quản
- Liều dùng 1 g/kg cân nặng
Trang 24* Điều trị triệu chứng:
Sau khi người bệnh được xử trí theo các bước trên, cần theo dõi sát cácdấu hiệu co giật, nhịp tim chậm, liệt cơ có thể dẫn đến suy hô hấp Các biệnpháp điều trị hỗ trợ là quan trọng, không có thuốc giải độc đặc hiệu
- Diazepam (Seduxen, Valium):
Tiêm tĩnh mạch: người lớn 10mg/lần, trẻ em liều 0,2- 0,5mg/kg/lầntiêm, tiêm tĩnh mạch, nếu sau 5 phút vẫn còn co giật tiêm nhắc lại tĩnh mạch,tổng có thể tới 3-5 lần tiêm Tốc độ tiêm tối đa 5mg/phút
Thụt trực tràng: khi không tiêm tĩnh mạch được ngay và nếu có chếphẩm dạng thụt trực tràng Liều diazepam thụt trực tràng: người lớn0,2mg/kg, trẻ em 0,5mg/kg
Midazolam:
Tiêm tĩnh mạch chậm: 30-100mcg/kg, nhắc lại nếu cần
Trang 25Tiêm bắp: khi không tiêm được tĩnh mạch, liều trẻ em 0,2mg/kg(không quá 7mg)
Nhỏ mũi: khi không tiêm được tĩnh mạch, liều trẻ em 0,2mg/kg
Nhỏ miệng ngoài cung răng: liều ở trẻ em trên 5 tuổi và vị thành niên:10mg
- Phenobarbital (Luminal): dùng khi diazepam không cắt được cơn
co giật
Người lớn: liều ban đầu 10 - 20mg/kg, pha loãng và tiêm tĩnh mạchchậm tốc độ 25 - 50mg/phút (tiêm nhanh quá có thể gây tụt huyết áp, ngừngthở), liều duy trì 100-200mg nhắc lại sau mỗi 20 phút, tĩnh mạch Chưa xácđịnh được liều tối đa, các người bệnh trạng thái động kinh đã được dùng đến100mg/phút đến khi hết co giật
Trẻ em: liều ban đầu 15 - 20mg/kg, pha loãng, tiêm tĩnh mạch chậm.Liều nhắc lại: nếu sau mỗi 20phút, co giật chưa hết thì tiêm nhắc lại 5 -10mg/kg Liều tối đa: chưa xác định được liều tối đa Trẻ em bị co giật kiểutrạng thái động kinh đã được dùng đến 30 - 120mg/kg trong 24 giờ Ở trẻ nhũnhi, liều ban đầu 20-30mg/kg, tiêm tĩnh mạch tốc độ không quá 1mg/kg/phút,liều nhắc lại 2,5mg/kg/lần, 12 giờ/lần, điều chỉnh liều theo đáp ứng trênngười bệnh, liều tối đa trẻ nhũ nhi dung nạp được đã được báo cáo tới 20mg/kg/phút với tổng liều 30mg/kg
Gây mê, duy trì chống co giật: nếu co giật nhiều cơn tái diễn, dùng mộttrong các thuốc:
Thiopental: khi diazepam và phenobarbital không cắt được co giật Lọ
1 gam, người lớn, ban đầu 200mg, pha loãng, tiêm tĩnh mạch chậm, sau đóduy trì truyền tĩnh mạch 2mg/kg/h, điều chỉnh liều để cắt được co giật, có thểdùng 2 - 3g/ngày Trẻ em: tiêm tĩnh mạch 2 -7mg/kg, duy trì truyền tĩnh
Trang 26mạch tuỳ theo tình trạng co giật Kết hợp bóp bóng mask + ôxy 100%, đặtnội khí quản, sau đó bóp bóng hoặc thở máy
Liều lớn nhất đã dùng là 6 g trong 6 giờ cho 1 trẻ nặng 12 kg mớikhống chế được cơn giật; sau đó chuyển sang dùng midazolam và propofol;trẻ được cứu sống không di chứng
Midazolam: truyền tĩnh mạch, liều ban đầu 30 - 100mcg/kg, sau đóduy trì 20-200mcg/kg/ph, có thể pha truyền với fentanyl
Propofol: người lớn: liều ban đầu 1-2mg/kg, tiêm tĩnh mạch chậm,duy trì tĩnh mạch 30 - 200mcg/kg/phút Trẻ em: 1-2mg/kg tĩnh mạch chậm,duy trì tĩnh mạch 2 - 5mg/kg/h
Theo dõi và xử trí khi dùng thuốc chống co giật đường tĩnh mạch:
- Bản thân co giật toàn thân cũng dễ gây suy hô hấp, tụt huyết áp Tiêmtruyền thuốc chống co giật liều cao hoặc nhanh có thể gây thở yếu, ngừng thởhoặc tụt huyết áp
- Chú ý theo dõi sát tình trạng hô hấp, huyết áp, mạch và tri giác,chuẩn bị sẵn bóng ambu, oxy, hút đờm rãi, đường truyền tĩnh mạch, thuốcvận mạch để xử trí
- Gây mê tĩnh mạch liên tục chống co giật phải kết hợp với đặt ống nộikhí quản và thở máy
d Nhịp tim chậm:
- Atropin:
Người lớn: 0,5-1mg/lần, tiêm tĩnh mạch hoặc bơm qua nội khí quản,tiêm nhắc lại sau 5 phút nếu nhịp tim vẫn < 60 lần/phút Liều < 0,5mg ởngười lớn có thể gây nhịp chậm nghịch thường
Trang 27Trẻ em: 0,02 mg/kg/lần, tiêm tĩnh mạch hoặc tiêm trong xương, nhắclại sau 5 phút nếu cần Mỗi lần tiêm không quá 0,5mg với trẻ nhỏ và khôngquá 1mg/kg với trẻ lớn
Bơm qua ống nội khí quản: liều tăng gấp 2-3 lần so với liều tiêm tĩnhmạch Pha loãng với NaCl 0,9% ít nhất 3-5ml để bơm mỗi lần
Theo dõi không để quá liều gây khô đờm, tắc đờm, chướng bụng, kíchthích vật vã
Thuốc khác: Isuprel, adrenalin
Tạo nhịp tim: khi dùng thuốc không có kết quả, đặt máy tạo nhịp điệncực ngoài thành ngực hoặc đặt máy tạo nhịp tim tạm thời với điện cực trongbuồng tim
f Tiêu cơ vân:
- Do người bệnh bị co giật, tăng trương lực cơ
- Truyền dịch, lợi tiể u Nếu co giật nhiều, lượng nước tiểu ít dần, trởnên sẫm màu hoặc màu đỏ, CPK > 5000 đv/L, truyền dịch và dùng thuốc lợitiểu (nếu cần) đảm bảo lưu lượng nước tiểu 40 ml/kg/h, theo dõi điều chỉnh
để tránh rối loạn nước, điện giải
Thuốc giải độc đặc hiệu cho tới nay chưa có Tuy nhiên, dựa trên cơchế tác dụng strychnin là chất đối vận (antagonist) tại receptor của glycine ởtủy sống, hành não và vỏ não Trong khi alkaloid của lá ngón là chất đồng
Trang 28vận của glycine Strychnin sẽ tranh chấp vị trí gắn vào receptor glycine củaalkaloid lá ngón, giải phóng ức chế vận động ở sừng trước tủy sống và trungtâm hô hấp tuần hoàn ở hành não Do đó, người ta có thể dùng Strychninsulfate để giải độc với khuyến cáo về liều dùng thông thường là ống 1 mgtiêm dưới da, tối đa 2 mg/ngày.
Như vậy, cấp cứu NĐLN phải lập tức sử dụng phương pháp tổng hợp,
để cấp tốc loại chất độc ra khỏi cơ thể, lúc đầu rửa dạ dày, duy trì nhiệt độ, hôhấp nhân tạo, dùng thuốc kích thích, đồng thời tùy từng hiện tượng mà xử lýcho phù hợp
Suy hô hấp do liệt cơ, co giật
Tiêu cơ vân do co giật
Viêm phổi do hít: do bị liệt cơ, rối loạn ý thức
* Phòng bệnh:
Phát hiện và điều trị kịp thời các người bệnh có bệnh lý tâm thần (nhưtrầm cảm, stress), các người bệnh có ý định và hành vi tự sát Không đểnhững người này tiếp cận với lá ngón
Sau khi đã điều trị ngộ độc ổn định, cần cho các người bệnh ngộ độc
do tự sát khám và điều trị chuyên khoa tâm thần
Trang 291.1.2.3 Tỷ lệ ngộ độc lá ngón
Trên thế giới cũng như ở trong nước, đã có một số đề tài nghiên cứucũng như một số tài liệu nghiên cứu về lá ngón, nhưng chủ yếu đi sâu nghiêncứu về độc chất của cây lá ngón và nghiên cứu về triệu chứng lâm sàng khi bịngộ độc lá ngón và cách xử trí, điều trị khi người bệnh ngộ độc lá ngón vàođiều trị cấp cứu Hiện nay, có rất ít tài liệu nghiên cứu về tỷ lệ mắc và chết dongộ độc lá ngón Hiện mới có một nghiên cứu về tỷ lệ ngộ độc và tử vong do
lá ngón ở huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên Tác giả cho biết, trong giai đoạn2012-2014, tại Tủa Chùa có 165 đối tượng ngộ độc lá ngón với tỷ lệ nam/nữ
là tương đương nhau với trên 50% là nhóm dưới 20 tuổi và người Hmongchiếm đa số Một nghiên cứu khác của Unicef cũng cho thấy người tự tửbằng lá ngón chủ yếu là nhóm tuổi trẻ và người dân tộc Hmong
Trong khi đó, hiện chưa có các nghiên cứu về nguyên nhân và yếu tốtrực tiếp ảnh hưởng tới tình trạng ngộ độc Và thực tế cho thấy nhóm ngườidân tộc thiểu số chỉ tìm đến lá ngón làm phương tiện tự tử, để giải thoátnhững tiêu cực những bức bách của bản thân, tự huỷ hoại sức khoẻ của mình
và tự kết liễu đời mình bằng cách tự tử bằng lá ngón Đây là vấn đề sức khoẻcần được quan tâm và cần có những biện pháp gì nhằm giảm bớt những nỗiđau, những mất mát không đáng có này, vì mỗi sinh mạng mất đi khôngnhững chỉ là những tổn thất cho gia đình người bệnh mà còn ảnh hưởng tới
cả cộng đồng và xã hội
Vì lẽ đó mà việc nghiên cứu về tình hình ngộ độc do ăn lá ngón, là cầnthiết Nhằm tìm ra những nguyên nhân, cũng như những yếu tố có tính chấtliên quan mật thiết, tới tình trạng người dân khi có những vấn đề bức súc, bấtlợi trong cuộc sống, lại dễ tìm đến cây lá ngón giải thoát và tự kết liễu đờimình Kết quả đề tài nghiên cứu sẽ đóng góp một phần tích cực trong công
Trang 30tác bảo vệ sức khoẻ cộng đồng cũng như công tác tư vấn, tuyên truyền GDSKcho người dân, đặc biệt là người dân tộc thiểu số vùng sâu, vùng xa, vùng đặcbiệt khó khăn của huyện Điện Biên Đông, đang cần có sự quan tâm đặc biệtcủa các cấp, các ngành, chứ không chỉ riêng ngành y tế.
1.2 Kiến thức, thực hành của cộng đồng về dự phòng ngộ độc lá ngón
Trang 31Sức khoẻ là một quyền con người cơ bản và rất quan trọng, đối với sựphát triển xã hội và kinh tế Từ ngàn đời nay sức khoẻ được coi là vốn quý, làtài sản của mỗi con người, mỗi quốc gia Theo tổ chức y tế thế giới địnhnghĩa về sức khoẻ “Sức khoẻ là một tình trạng sống hạnh phúc, đầy đủ vềthân thể, tinh thần và xã hội, chứ không phải thuần tuý chỉ là không có bệnhhoặc khuyết tật” Và theo định nghĩa trên thì tất cả chúng ta điều biết sứckhoẻ bao gồm 3 mặt, (Sức khoẻ về thể chất - sức khoẻ về tinh thần - sức khoẻ
về xã hội) Khi cả 3 mặt này làm thành một thể thống nhất, tác động qua lạilẫn nhau, và không thể coi nhẹ một mặt nào Một tinh thần khoẻ mạnh chỉ cóđược trong một cơ thể khoẻ mạnh và trong một xã hội lành mạnh Một conngười không khoẻ mạnh nếu như họ mắc một bệnh, tật nào đó hoặc phải chịunhững tác động không tốt từ gia đình, xã hội như mâu thuẫn trong gia đình,bạn bè, công việc, kinh tế quá khó khăn Trong khi đó lại còn rất nhiều yếu
tố ảnh hưởng đến sức khoẻ của mỗi con người như: Yếu tố di truyền; môitrường tự nhiên; môi trường xã hội; lối sống, phong tục tập quán; Như vậy
“ Sức khoẻ là vấn đề to lớn, toàn diện, có chiều sâu, từ thế hệ này qua thế hệkhác, dính liền với kinh tế, với xã hội, với thiên nhiên với đời sống conngười, với phong tục tập quán, với truyền thống dân tộc, do đó việc GDSKphải bao hàm rất nhiều chức năng, để giải quyết rất nhiều những vấn đề sứckhoẻ Trong rất nhiều vấn đề sức khoẻ, cần được quan tâm ở huyện ĐiệnBiên Đông Có vấn đề về tình trạng người dân, khi có những bức xúc vànhững khó khăn trong cuộc sống Đã không đủ tỉnh táo, để tìm cho mình mộtphương cách, hay một hướng đi tốt đẹp, mà lại nghĩ ngay tới việc sử dụng lángón để giải quyết mọi vấn đề của cuộc sống Lý do thì rất nhiều, yếu tố ảnhhưởng thì cũng không ít, nhưng những vấn đề cốt lõi và cấp bách cần giảiquyết là gì? Can thiệp vào vấn đề đó như thế nào? Để tỷ lệ mắc và chết dongộ độc lá ngón trên, được kiểm soát một cách chặt chẽ và có hiệu quả
Trang 32Đã có rất nhiều chủ trương chính sách, nghị quyết của Đảng và Nhànước, trong đó có các chương trình dự án, ngân sách chi cho công tác tư vấn,tuyên truyền GDSK và công tác CSSKBĐ cho nhân dân, đặc biệt là nhân dâncác tỉnh miền núi, vùng sâu vùng xa, vùng biên giới hải đảo, quan tâm chămsóc và có chế độ đãi ngộ đặc biệt cho bà con các dân tộc thiểu số, trong đó cóngười dân huyện Điện Biên Đông
Chúng ta đã biết CSSKBĐ cho nhân dân là sự cần thiết và cấp bách,thực chất của việc này, là giải quyết những vấn đề sức khỏe và bệnh tật củacộng đồng, để từ đó đề ra các biện pháp, kế hoạch cụ thể cho việc phòngchống bệnh tật có hiệu quả, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống, và đem lại
sự công bằng về CSSKBĐ cho nhân dân Việc CSSKBĐ cho cộng đồng, làchiến lược hàng đầu của ngành y tế nói chung và tuyến y tế cơ sở nói riêng.Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến sức khỏe cho toàn dân, để góp phầnxây dựng đất nước phồn vinh thịnh vượng, xã hội công bằng văn minh
Quản lý sức khỏe là biện pháp rất cơ bản, giúp cho việc chăm sóc sứckhỏe, phòng và chữa bệnh, phòng chống và thanh toán các bệnh xã hội, đượcchủ động một cách có theo dõi, có kế hoạch và cần có sự tham gia, hưởngứng nhiệt tình của từng gia đình, từng cá nhân, từng cộng đồng dân cư Trong
đó vấn đề quản lý, chăm sóc và theo dõi bảo vệ sức khỏe cộng đồng, đã đượcđưa vào các chủ trương chính sách, có chương trình mục tiêu cụ thể
Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng và có tính quyết định đến sức khỏe conngười Trong đó yếu tố môi trường xã hội bao gồm: Chế độ chính trị, sự pháttriển kinh tế, điều kiện lao động sản xuất, nhà ở, tiện nghi sinh hoạt, đi lại,qui hoạch đô thị và nông thôn, giao thông vận tải, tai nạn, chiến tranh hayhòa bình, mức độ chăm sóc y tế, sự phát triển dân số và phân bố dân cư Mỗichế độ xã hội mang một mô hình sức khỏe khác nhau Luật khám chữa bệnhcùng với luật bảo hiểm y tế giúp xây dựng và hỗ trợ hoạt động chăm sóc sức
Trang 33khỏe người dân
Lối sống tập quán ăn uống, vui chơi giải trí, mức độ rèn luyện thân thể,phong tục, tôn giáo, lối sống gia đình, sinh dục, thuốc lá, rượu, ma túy, cóảnh hưởng lớn đến sức khỏe
Đảng và Nhà nước ta đã xác định, sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sứckhỏe nhân dân trong việc xây dựng nguồn lực con người Đây vừa là mụctiêu, vừa là nguồn lực của sự nghiệp phát triển, kinh tế - xã hội hiện nay ởnước ta Tại hội nghị lần thứ 4 ban chấp hành trung ương Đảng VII về nhữngvấn đề cấp bách, của sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cho nhân dân đãkhẳng định Y tế cơ sở có vị trí quan trọng, trong mạng lưới y tế của nước ta
và cần phải được củng cố, để thực hiện tốt công tác chăm sóc sức khỏe nhândân ,
Chỉ thị 06 - CT/TW của ban chấp hành trung ương Đảng cũng đã chỉ
rõ công tác CSSK cho nhân dân đã đạt được những thành tựu quan trọng.Mạng lưới y tế cơ sở từng bước được củng cố và phát triển Hiện nay 100%
số xã trong toàn quốc đã có cán bộ y tế hoạt động, trên 50% số xã có bác sỹ,trên 70% thôn bản có nhân viên y tế Tuy nhiên, trước yêu cầu của tình hìnhmới, mạng lưới y tế cơ sở, nhất là ở miền núi, vùng sâu, vùng xa còn bộc lộnhiều hạn chế: Cơ sở vật chất thiếu thốn, việc chăm sóc sức khỏe và khámchữa bệnh cho nhân dân hết sức khó khăn Nhiều cấp ủy, chính quyền chưanhận thức đầy đủ về vai trò và tầm quan trọng của y tế cơ sở, chưa quan tâmlãnh đạo, chỉ đạo đúng mức và đầu tư thỏa đáng để củng cố và phát triểnmạng lưới y tế cơ sở
Nghị định của Chính phủ về phương hướng và chủ trương xã hội hóacác hoạt động y tế trong đó nêu, công tác xã hội hóa chăm sóc và bảo vệ sứckhỏe nhân dân, là nhu cầu thiết yếu của mỗi người dân và của cả cộng đồng
Trang 34Đây không chỉ là nhiệm vụ của riêng ngành y tế, mà còn là trách nhiệm củacác cấp ủy Đảng và chính quyền, của các quần thể quần chúng và các tổ chức
xã hội Vì vậy thực hiện xã hội hóa công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏenhân dân là cần thiết và phù hợp với xu thế của thời đại Đặc biệt là việcchăm sóc, tư vấn giáo dục sức khoẻ cho nhân dân huyện Điện Biên Đông,cần được quan tâm và có sự vào cuộc của nhiều cơ quan ban ngành đoàn thể
Huyện Điện Biên Đông là một huyện vùng cao, vùng sâu, vùng xa củatỉnh Điện Biên, huyện có 13 xã và 01 thị trấn với tổng diện tích tự nhiên toànhuyện là 120.567ha Gồm có 06 dân tộc anh em chung sống Là một huyệnkhông có đường biên giới quốc gia, nhưng lại có một vị trí địa lý, chính trị,kinh tế - xã hội rất quan trọng đối với vùng Tây Bắc Bên cạnh đó những tiềmnăng về đất đai, khoáng sản, khí hậu cũng như con người nơi đây vốn cần
cù chịu khó và có truyền thống cách mạng, có nền văn hóa mang bản sắc dântộc độc đáo Đó là những thuận lợi rất cơ bản có thể khai thác cho sự pháttriển nền kinh tế xã hội của huyện
Bên cạnh đó huyện Điện Biên Đông vẫn còn rất nhiều hạn chế, đường
xá đi lại khó khăn đặc biệt vào mùa mưa, vẫn còn hơn nửa số bản và số xãchưa có điện lưới quốc gia, đây chính là điểm hạn chế và khó khăn, ảnhhưởng rất nhiều tới công tác tuyên truyền giáo dục sức khỏe, cho bà con cácdân tộc anh em chung sống trong huyện, đặc biệt là sự quan tâm đến công tác
xã hội hoá y tế và sự tham gia nhiệt tình của tất cả mọi người và các cấp cácngành và chất lượng hoạt động của ban chăm sóc SKBĐ huyện Điện BiênĐông
Những năm gần đây được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và cácban ngành đoàn thể Nhiều chương trình văn hoá văn nghệ, thông tintruyền thông lưu động, rồi thành lập cả ban tuyên truyền giáo dục sứckhỏe, thành lập các đội công tác xuống tận các xã bản cùng với dân tuyên
Trang 35truyền vận động đưa chủ trương, đường lối, chế độ chính sách của Đảng,nhà nước về với gần dân hơn.
Tuy nhiên do phần lớn dân cư trong huyện là người dân tộc thiểu số,sống rải rác ở các bản vùng sâu, vùng xa, còn nhiều tập tục lạc hậu, chưa cóđiện lưới quốc gia, chưa phủ sóng truyền thanh truyền hình xuống tới tậnthôn bản, điều kiện đầu tư cho giáo dục, y tế còn khó khăn Trình độ dân trí
và học vấn của dân cư trong huyện nhìn chung còn thấp tỷ lệ mù chữ và tái
mù chữ còn cao Sự phân bố dân cư còn mang đậm nét đặc thù của mộthuyện miền núi, hiện có nơi chỉ có 25,5 người/km2, phân bố dân cư khôngđồng đều, mức độ đô thị hóa, sự phát triển công nghiệp và dịch vụ còn rấtthấp Bên cạnh đó, hơn một nửa dân số của huyện là dân tộc Hmong, một dântộc có những đặc thù riêng về bản sắc văn hóa và tập tục Người Hmong xuấtphát từ căn tính tộc người là khả năng đương đầu với địa hình hiểm trở, khắcnghiệt, là tâm hồn mơ mộng trước núi non hùng vĩ, quanh năm sương mùbuông phủ; là thói quen du cư để kiếm chỗ sinh nhai, là định mệnh chạy đuavới các tộc người khác để tìm đất sống, là niềm hạnh phúc được hòa mình vớikhí hậu mát lành, thiên nhiên phóng khoáng Trên những đỉnh núi, với khônggian tách biệt các vùng cư trú thấp, với nền kinh tế phụ thuộc vào trồng ngô,
kê và nhất là cây thuốc phiện thời xưa, H’Mông đã tìm mọi cách để “có thểduy trì được nền tự trị tộc người”, tự do trên đỉnh núi Do vậy, cấu trúc niềmtin của người Hmong bao giờ cũng khát khao khi chết đi, được sang một thếgiới khác, thế giới hạnh phúc hơn, thế giới mang dáng dấp “thiên đường”.Người Hmong thường “mong muốn luân hồi làm kiếp ve để được hiện hữutrong tiếng nhạc, bất tử và an nhàn” Chính vì vậy, người Hmong có thểkhông quá coi trọng và nặng nề trước cái chết Khi gặp bế tắc, bất đồng nhỏtrong cuộc sống họ có thể dễ dàng tự tử Trong khi đó, lá ngón là loại cây kháphổ biến ở khu vực cộng đồng người Hmong sinh sống nên người dân thường
Trang 36sử dụng lá ngón khi có ý định tự tử.
Về công tác y tế - CSSK cộng đồng tại huyện Điện Biên Đông cũng đãđược Đảng ủy, Hội đồng nhân dân huyện đặc biệt quan tâm chỉ đạo nên cũngđạt được nhiều thành quả trên mọi mặt cả về số lượng và chất lượng phục vụ.Công tác tuyên truyền giáo dục sức khoẻ và công tác CSSKBĐ ở cơ sở đãđược quan tâm, chú trọng và có phân công cụ thể cho các cán bộ chuyêntrách đảm nhiệm chương trình
Thế nhưng cũng trong những năm qua số người bệnh bị mắc và chết dongộ độc lá ngón của huyện vẫn gia tăng, đặc biệt là số ca mắc và chết nguyênnhân do ngộ độc lá ngón năm sau lại tăng hơn so với cùng kỳ năm trước, dovậy đã đặt ra cho Ban giám đốc Trung tâm Y tế và ban CSSKBĐ của huyệnĐiện Biên Đông những câu hỏi tại sao? Vì cái gì? Yếu tố nào dẫn tới tỷ lệmắc và chết do nguyên nhân trên gia tăng trong những năm qua
Vậy đây có phải là lời cảnh báo, là hồi chuông báo động về thực chấttình hình chăm sóc bảo vệ sức khỏe, khám chữa bệnh cho nhân dân ĐiệnBiên Đông và đặc biệt là công tác tuyên truyền, tư vấn, giáo dục sức khỏecho cộng đồng và đặc biệt cho nhân dân các dân tộc thiểu số huyện ĐiệnBiên Đông, vậy đội ngũ cán bộ và nhân viên y tế, ban CSSKBĐ huyện ĐiệnBiên Đông, cần phải làm gì và có biện pháp nào? Giải pháp nào? Nhằm giảm
và khống chế được tỷ lệ mắc và chết do nguyên nhân ngộ độc là ngón này
Do đó công tác tuyên truyền giáo dục sức khỏe, công tác khám chữabệnh phục vụ nhân dân và công tác xã hội hóa y tế, đặc biệt là công tác tưvấn, tuyên truyền giáo dục sức khoẻ cho cộng đồng và cần được chú trọngđến các đối tượng là thanh, thiếu niên, nhất là những người dân tộc thiểu số,người có nguy cơ sử dụng lá ngón để tự tử
Đã có rất nhiều tài liệu nghiên cứu về cây lá ngón về mức độ gây độc
Trang 37của nó nhưng chưa có tài liệu nào nghiên cứu về tình hình mắc và chết dongộ độc lá ngón cấp và những yếu tố liên quan có ảnh hưởng trực tiếp tới tìnhtrạng này Do vậy việc nghiên cứu có hệ thống và khẳng định những yếu tốmang tính chất đặc thù, ảnh hưởng trực tiếp đến tình trạng sử dụng lá ngónnày là điều rất cần thiết Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu trên, tôi đã tiếnhành nghiên cứu bằng phương pháp điều tra cắt ngang và phương phápnghiên cứu hồi cứu thông qua việc thu thập số liệu qua hồ sơ bệnh án, báocáo thống kê lưu trữ tại trung tâm y tế và các trạm y tế xã trong toàn huyện.Trên cơ sở đó đánh giá một cách có hệ thống về tình hình ngộ độc lá ngóncủa huyện nhà, nhằm góp phần xây dựng kế hoạch về tư vấn, tuyên truyền,giáo dục sức khoẻ, quản lý và có các biện pháp phòng ngừa, khống chế tìnhtrạng sử dụng lá ngón để tự tử trong nhân dân một cách có hiệu quả.
Trang 38Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng, địa bàn và thời gian nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu.
* Đối tượng nghiên cứu phục vụ mục tiêu 1:
- Các báo cáo thống kê lưu trữ của người bệnh đến cấp cứu và điều trịngộ độc tại bệnh viện huyện, phòng khám đa khoa khu vực, tất cả các xãtrong huyện, từ tháng 01 năm 2015 đến hết tháng 12 năm 2017
- Hồ sơ bệnh án thu dung, cấp cứu, điều trị các ca bệnh ngộ độc, tửvong có liên quan đến việc sử dụng lá ngón trong khoảng thời gian trên
- Người thân trong gia đình của đối tượng NĐLN (thân nhân ngườiNĐLN)
- Nhân viên y tế thôn bản và y tế xã tham gia cấp cứu, điều trị ngườibệnh ngộ độc lá ngón
* Đối tượng nghiên cứu phục vụ mục tiêu 2:
- Lãnh đạo chính quyền từ xã đến huyện trong tỉnh (Phó chủ tịch xã,phó chủ tịch huyện phụ trách văn xã)
- Người đại diện các ban ngành đoàn thể trong địa phương (Ngành y
tế, Hội phụ nữ, Hội nông dân, Đoàn thanh niên)
- Người dân độ tuổi từ 18 trở lên sống tại huyện Điện Biên Đông tốithiểu từ 12 tháng trở lên, khỏe mạnh, không có rối loạn tâm thần và đồng ýtham gia nghiên cứu
Trang 39* Tiêu chuẩn lựa chọn:
Thân nhân đối tượng NĐLN: Tương ứng với mỗi đối tượng NĐLNchọn 01 người thân của đối tượng, độ tuổi từ 18 trở lên, là người đã từng pháthiện hoặc tham gia sơ cứu người NĐLN, sống cùng gia đình với đối tượngngộ độc lá ngón trong các năm theo danh sách tại 3 xã có tỷ lệ NĐLN caonhất đó là Húng Lìa, Phì Nhừ và Xa Dung Đối tượng đồng ý tham gianghiên cứu
Người dân: Người dân có độ tuổi từ 18 trở lên, đồng ý tham gianghiên cứu tại 3 xã Húng Lìa, Phì Nhừ và Xa Dung trong huyện Chọn đốitượng không phải là người thân sống cùng gia đình với người NĐLN Đốitượng đồng ý tham gia nghiên cứu
Cán bộ y tế thôn, bản, xã: Chọn các cán bộ y tế thôn, bản, xã ở 3 xã cóngười NĐLN cao nhất đó là Húng Lìa, Phì Nhừ và Xa Dung Đối tượng đồng
ý tham gia nghiên cứu
Cán bộ lãnh đạo xã, huyện và các tổ chức đoàn thể: lựa chọn chủ đíchtheo mục tiêu nghiên cứu Đối tượng đồng ý tham gia nghiên cứu
* Tiêu chuẩn loại trừ:
Người thân của các đối tượng NĐLN và người dân: Người già, yếu,không minh mẫn để trả lời câu hỏi trong bộ phiếu điều tra
2.1.2 Địa bàn nghiên cứu
Địa điểm nghiên cứu được chọn là bệnh viện huyện, hai phòng khám
đa khoa khu vực, tất cả các trạm y tế xã trong huyện Điện Biên Đông để điềutra toàn bộ về người NĐLN và chọn 3 xã có tỷ lệ NĐLN cao nhất để nghiêncứu về hoạt động sơ cấp cứu tại cơ sở và kiến thức thực hành của người dân
Huyện Điện Biên Đông là một huyện vùng cao đặc biệt khó khăn củatỉnh Điện Biên Địa hình toàn là đồi núi có độ dốc cao nhất của Việt Namtrung bình từ 800 - 1000m so với mực nước biển Địa hình hiểm trở gây rấtnhiều khó khăn trong việc đầu tư phát triển kinh tế và cấu trúc hạ tầng
Trang 40Là một huyện không có đường biên giới quốc gia, nhưng lại có vị trí địa
lý chính tri, kinh tế - Xã hội và an ninh quốc phòng hết sức quan trọng của khuvực Tây Bắc Có nền khí hậu đặc trưng của vùng nhiệt đới núi cao Tây Bắc,mùa hè mưa nhiều, kéo dài Mùa đông thời tiết khô hanh, có gió Lào thổi sang,chiều có nhiều sương mù, sương muối, gây ảnh hưởng rất lớn đến quá trìnhsinh trưởng và phát triển của cây trồng, vật nuôi cũng như sức khỏe của conngười Huyện Điện Biên Đông có 14 đơn vị hành chính gồm 1 thị trấn và 13
xã với dân số là 53 989 người Toàn huyện có 06 dân tộc anh em cùng chungsống, trong đó:
- Dân tộc H’Mông chiếm đại đa số: 51,92%
- Dân tộc Thái chiếm: 29,49%
- Dân tộc kinh chiếm: 3,95%
- Dân tộc lào chiếm: 3,48%
- Dân tộc Khơ Mú chiếm: 5,05%
- Dân tộc Sinh Mun chiếm: 3,31%
- Còn lại là dân tộc khác chiếm: 2,8%
Mỗi một dân tộc có một phong tục tập quán rất riêng biệt, mang đậmnét đặc trưng của vùng đồng bào các dân tộc khu vực miền núi Tây Bắc Mật
độ dân cư là 25,5 người/km2, đời sống người dân nơi đây còn gặp rất nhiềukhó khăn, tỷ lệ hộ đói nghèo chiếm 51,7% Mạng lưới y tế cơ sở tuy đã phủkhắp các xã trong toàn huyện, nhưng vẫn còn 03 xã và một thi trấn chưa cónhà trạm để hoạt động Cơ sở vật chất từ bệnh viện huyện, cho đến phòngkhám đa khoa khu vực và trạm y tế xã còn quá thiếu và không đồng bộ, làmảnh hưởng rất lớn tới công tác chẩn đoán và điều trị cũng như xử trí hồi sứccấp cứu