1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những vấn đề xã hội nảy sinh khi nhà nước thu hồi quyền sử dụng đất nông nghiệp ở tỉnh hải dương hiện nay

121 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 121
Dung lượng 921,2 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, quá trình Nhà nước thu hồi quyền sử dụng đất của nông dân và quá trình xây dựng các khu công nghiệp cũng nảy sinh các vấn đề xã hội bức xúc liên quan đến đời sống của người nô

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA

Ở TỈNH HẢI DƯƠNG HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC

HÀ NỘI – 2016

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA

Ở TỈNH HẢI DƯƠNG HIỆN NAY

Ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học

Mã số: 60 22 03 08

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS Nguyễn Thọ Khang

HÀ NỘI – 2016

Trang 3

Luận văn đã được chỉnh sửa theo khuyến nghị của Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ

CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG

PGS,TS Đỗ Công Tuấn

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Luận văn được hoàn thành dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS,TS Nguyễn Thọ Khang Các số liệu trích dẫn trong luận văn là hoàn toàn trung thực và không trùng lặp với bất kỳ công trình khoa học nào đã từng công bố trước đây

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Hoàng Thị Bích

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

NHỮNG VẤN ĐỀ XÃ HỘI NẢY SINH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 8

1.1 Một số khái niệm cơ bản 8 1.2 Những vấn đề xã hội nảy sinh trong quá trình thu hồi quyền sử dụng đất nông nghiệp và ý nghĩa của việc giải quyết những vấn đề đó trong thời

kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội 19

VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI QUYỀN

SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP Ở TỈNH HẢI DƯƠNG HIỆN NAY 34

2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và tình hình thu hồi đất nông nghiệp của tỉnh Hải Dương hiện nay 34 2.2 Thực trạng những vấn đề xã hội nảy sinh khi nhà nước thu hồi quyền

sử dụng đất nông nghiệp và nguyên nhân làm nảy sinh các vấn đề xã hội đó

ở Hải Dương 54 2.3 Giải quyết những vấn đề xã hội nảy sinh khi Nhà nước thu hồi quyền

sử dụng đất nông nghiệp ở Hải Dương 61

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM TIẾP TỤC GIẢI QUYẾT CÓ HIỆU QUẢ VẤN ĐỀ XÃ HỘI NẢY SINH KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP CỦA TỈNH HẢI DƯƠNG HIỆN NAY 82

3.1 Giải pháp chủ yếu nhằm giải quyết những vấn đề xã hội nảy sinh khi Nhà nước thu hồi quyền sử dụng đất ở Hải Dương hiện nay 82 3.2 Những kiến nghị góp phần giải quyết những vấn đề xã hội nảy sinh khi Nhà nước thu hồi quyền sử dụng đất nông nghiệp ở Hải Dương hiện nay 91

KẾT LUẬN 96 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 98 PHỤ LỤC 104

Trang 6

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Diện tích lúa cả năm phân theo huyện/thị xã/thành phố 39

Bảng 2.2 Các khu công nghiệp phát triển giai đoạn 2010 – 2020 42

Bảng 2.3 Biến đổi việc làm của lao động nông nghiệp sau thu hồi đất 47

Bảng 2.3 Tình hình sử dụng tiền đền bù của các hộ điều tra 48

Bảng 2.4 Cơ cấu việc làm của người lao động nông nghiệp sau thu hồi đất 50 Bảng 2.5.Tình hình việc làm của lao động nông nghiệp tỉnh Hải Dương trước và sau khi thu hồi đất 66

Bảng 2.6 Thực trạng việc làm của lao động nông nghiệp trước và sau khi thu hồi đất theo điều tra 68

Bảng 2.7 Điều tra ý kiến người dân và cán bộ, chuyên gia về đơn giá bồi thường đất và tài sản 72

Bảng 2.8 Tình hình trật tự xã hội tại huyện Nam Sách – Hải Dương 80

Trang 7

DANH MỤC VIẾT TẮT

CCN CNXH CNTB CNH, HĐH GCTS GTXNCN PTSX TNXH KCN KCCN

VĐXH

Cụm công nghiệp Chủ nghĩa xã hội Chủ nghĩa tư bản Công nghiệp hóa, hiện đại hóa Giai cấp tư sản

Giá trị sản xuất công nghiệp Phương thức sản xuất

Tệ nạn xã hội Khu công nghiệp Khu cụm công nghiệp

Vấn đề xã hội

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lí do và tính cấp thiết

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa là con đường phát triển của mọi quốc gia trên thế giới Thực tiễn phát triển của nhiều quốc gia cho thấy, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa là nhân tố quyết định làm thay đổi căn bản phương thức sản xuất, chuyển nền kinh tế từ sản xuất nông nghiệp truyền thống sang phương thức sản xuất mới, hiện đại Để đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa, cần phải thực hiện việc thu hồi quyền sử dụng đất của nhiều đối tượng, trong đó chủ yếu là của nông dân Đó

là quá trình tất yếu của quá trình phát triển Quá trình đó càng trở nên tất yếu đối với các nước đang quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa Chủ nghĩa Mác – Lênin đã chỉ rõ, trong quá trình đó, giai cấp công nhân và đảng của nó phải giải quyết những vấn đề xã hội nảy sinh đối với nông dân trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội Nhưng việc nhận thức, vận dụng những nguyên tắc đó ở các nước xã hội chủ nghĩa nói chung và ở Việt Nam nói riêng còn nhiều biểu hiện của mệnh lệnh, hành chính, duy ý chí Tình hình đó rất cần phải được nghiên cứu, tổng kết và khắc phục

Ở Việt Nam, trong những năm qua trên khắp các vùng, miền của đất nước, nhiều khu công nghiệp, khu đô thị mới được xây dựng, hệ thống kết cấu

hạ tầng kinh tế - xã hội được nâng cấp, xây mới ngày càng đồng bộ và hiện đại Nhờ đó, bộ mặt kinh tế - xã hội của đất nước đã thay đổi nhanh chóng theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại và văn minh Tuy nhiên, trong thời gian qua, việc Nhà nước thu hồi quyền sử dụng đất nông nghiệp đã và đang làm phát sinh nhiều vấn đề xã hội phức tạp Việc Nhà nước thu hồi quyền sử dụng đất diễn ra với tốc độ nhanh như hiện nay có ba nguy cơ rất rõ ràng đối với những người dân quê: nông dân mất ruộng, nông dân chán ruộng, nông dân chán chốn thôn quê Việc thu hồi quyền sử dụng đất nếu thực hiện không tốt

s gây ra những hệ quả xấu, làm chậm tiến độ các công trình và quá trình phát

Trang 9

triển kinh tế - xã hội ở những vùng có chủ trương thu hồi đất Ở nhiều nơi, do triển khai và công tác chuẩn bị chưa tốt nên không ít người nông dân bị mất đất canh tác gặp khó khăn trong việc chuyển đổi nghề nghiệp, không có việc làm, thu nhập bấp bênh, đời sống không ổn định

Cũng giống như các địa phương khác, Hải Dương đã tiến hành thu hồi quyền sử dụng đất mà tập trung chủ yếu là đất nông nghiệp để phục vụ cho việc xây dựng các công trình giao thông, thuỷ lợi, cụm tiểu thủ công nghiệp

và quy hoạch khu dân cư Nhờ đó, tình hình kinh tế xã hội của tỉnh đã có nhiều bước phát triển khởi sắc Tuy nhiên, quá trình Nhà nước thu hồi quyền

sử dụng đất của nông dân và quá trình xây dựng các khu công nghiệp cũng nảy sinh các vấn đề xã hội bức xúc liên quan đến đời sống của người nông dân trong tỉnh như ô nhiễm môi trường, mất đất nông nghiệp, dẫn đến tình trạng thất nghiệp ở khu vực nông thôn, nhiều nơi còn thiếu công khai, dân chủ, minh bạch về quy hoạch, chính sách, thủ tục hành chính khi bồi thường

và tái định cư Những vấn đề này đến nay vẫn chưa có biện pháp nào khắc phục triệt để Do đó, để góp phần ổn định, phát triển đời sống người nông dân

ở Hải Dương tránh được những VĐXH nảy sinh sau khi thu hồi quyền sử dụng đất nông nghiệp của người dân thì rất cần có sự nghiên cứu, tổng kết thực tiễn để rút ra bài học kinh nghiệm

Với những lý do trên, tác giả chọn nghiên cứu đề tài N n v n

đề cập tới vấn đề thu hồi quyền sử dụng đất ở nhiều mức độ cũng như góc độ

Trang 10

tiếp cận khác nhau Đồng thời cũng chỉ ra những khó khăn, thách thức trong quá trình thực hiện thu hồi quyền sử dụng đất và nêu ra những giải pháp, kiến nghị nhằm giải quyết những vấn đề nảy sinh trong quá trình này, cụ thể:

Trong cuốn sách: “Về chính sách giải quyết việc làm ở Việt Nam” của

PTS Nguyễn Hữu Dũng, PTS.Trần Hữu Trung (chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,1997 đã trình bày tổng quát về phương pháp luận và phương pháp tiếp cận chính sách việc làm cũng như làm rõ thực trạng việc làm ở Việt Nam hiện nay Trên cơ sở đó khuyến nghị định hướng một số chính sách cụ thể về việc làm trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Báo cáo tổng hợp kết quả đề tài nghiên cứu và Kỉ yếu của đề tài khoa

học cấp Bộ năm 2007 với chủ đề:“Giải quyết những vấn đề xã hội nảy sinh từ

việc thu hồi đất nông nghiệp trong quá trình đô thị hóa và phát triển khu công nghiệp ở vùng đồng bằng sông Hồng hiện nay”, TS Bùi Thị Ngọc Lan và các

tác giả khác đã trình bày tính tất yếu của việc thu hồi đất nông nghiệp và cũng nêu rõ được những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về thu hồi đất trong quá trình CNH, HĐH Đồng thời, các tác giả đã vạch ra thực trạng của việc thu hồi đất nông nghiệp và tác động của nó tới việc giảm quỹ đất nông nghiệp của vùng Đồng bằng Sông Hồng trong những năm tới Thông qua đó, các tác giả đã đi sâu phân tích những vấn đề xã hội nảy sinh từ việc thu hồi đất nông nghiệp và đưa ra những quan điểm, giải pháp đồng bộ để giải quyết những vấn đề đó trong phạm vi đồng bằng Sông Hồng hiện nay

Trong luận văn thạc sỹ ngành kinh tế – chính trị (năm 2010) “Vấn đề

việc làm cho nông dân bị thu hồi đất ở tỉnh Hải Dương”của mình, tác giả Vũ

Trường Giang đã phân tích, đánh giá thực trạng việc làm cho nông dân bị thu hồi đất ở tỉnh Hải Dương, đồng thời đưa ra phương hướng và các giải pháp giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất trong quá trình CNH, HĐH,

đô thị hóa tỉnh Hải Dương

Trang 11

Luận văn thạc sỹ (2012) của tác giả Nguyễn Thị Hồng Minh “Giải

quyết những vấn đề xã hội nảy sinh khi Nhà nước thu hồi đất Nông nghiệp của nông dân tỉnh Hưng Yên hiện nay” đã tập trung phân tích thực trạng thu

hồi đất nông nghiệp của nông dân tỉnh Hưng Yên, những ảnh hưởng tích cực

và hạn chế của việc thu hồi đất đến đời sống người nông dân của tỉnh và những vấn đề xã hội nảy sinh của quá trình đó cần phải giải quyết như: việc làm, an ninh lương thực, ô nhiễm môi trường và qua đó, đề xuất một số giải pháp nhằm giải quyết những vấn đề xã hội nảy sinh trong quá trình thu hồi quyền sử dụng đất cho người nông dân bị thu hồi đất trên địa bàn nghiên cứu

PGS Trần Việt Tiến với bài“Chính sách việc làm ở Việt Nam: thực

trạng và định hướng hoàn thiện” (Tạp chí Kinh tế phát triển, Số 181,7/ 2012,

trang 40-47) đã trình bày một cách khái quát nội dung chính sách việc làm của Đảng và Nhà nước nước ta, đánh giá những thành tựu, hạn chế và những bất cập cần khắc phục trong quá trình triển khai thực hiện chính sách việc làm trên phạm vi cả nước nói chung và ở nông thôn nói riêng và đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách việc làm đến năm 2020

Luận văn thạc sỹ ngành kinh tế chính trị (năm 2012) của tác giả

Nguyễn Đức Quỳnh: “Việc làm ở khu vực nông thôn TP Hà Nội trong quá

trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa” Tác giả làm rõ tác động của công

nghiệp hóa, hiện đại hóa đến việc làm của lao động ở nông thôn, sự cần thiết của việc giải quyết việc làm và những nhân tố ảnh hưởng đến việc làm, tác giả đã phân tích kinh nghiệm của một số địa phương trong việc giải quyết việc làm cho lao động nông thôn trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa

và phân tích thực trạng việc làm, giải quyết việc làm ở nông thôn Hà Nội (năm 2011-2012), qua đó đưa ra các giải pháp giải quyết việc làm cơ bản

Mặc dù có nhiều công trình nghiên cứu, bài viết liên quan đến các vấn

đề xã hội nảy sinh trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa, quá trình thực hiện thu hồi đất của nhân dân và đưa ra những giải pháp nhằm giải quyết những vấn đề trên nhưng cho đến nay chưa có công trình nào

Trang 12

nghiên cứu những vấn đề xã hội nảy sinh trong quá trình thu hồi quyền sử dụng đất ở tỉnh Hải Dương Tác giả thấy việc nghiên cứu vấn đề này là cần thiết nên đã chọn đề tài: “Những vấn đề xã hội nảy sinh khi Nhà nước thu hồi quyền s d ng đất nông nghiệp ở tỉnh Hải Dương hiện nay” làm đề tài luận

3.2.N m v n ên cứu

Với mục đích trên, luận văn đặt ra và hoàn thành các nhiệm vụ nghiên cứu sau:

Một là: Nghiên cứu và trình bày các quan điểm về những vấn đề xã

hội, đồng thời phân tích tính tất yếu của việc thu hồi đất quyền sử dụng đất nông nghiệp để phát triển đô thị, khu công nghiệp, cụm công nghiệp

Hai là: Làm rõ thực trạng những vấn đề xã hội nảy sinh trong quá trình

thu hồi quyền sử dụng đất nông nghiệp ở tỉnh Hải Dương hiện nay

Ba là: Đề ra các giải pháp chủ yếu và các kiến nghị nhằm hạn chế

những vấn đề xã hội nảy sinh trong quá trình thu hồi quyền sử dụng đất nông nghiệp ở tỉnh Hải Dương trong thời gian tới

4 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đố t ợng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là: Nghiên cứu những vấn đề xã hội nảy sinh khi Nhà nước thu hồi quyền sử dụng đất nông nghiệp ở tỉnh Hải Dương hiện nay

Trang 13

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Về không gian: Chủ yếu tập trung ở 01 thành phố(Thành Phố Hải Dương) và 02 huyện (huyện Nam Sách, Cẩm Giàng) Là những địa phương nổi lên vấn đề thu hồi quyền sử dụng đất nông nghiệp cho phát triển đô thị và phát triển các khu dịch vụ, dự án mở rộng hạ tầng cơ sở cho phát triển kinh tế

- xã hội của tỉnh

Về thời gian: Luận văn tập trung làm rõ những vấn đề xã hội nảy sinh khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của nông dân tỉnh Hải Dương từ khi có nghị quyết Trung ương 5 khóa IX về đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn thời kỳ 2001 – 2010 đến nay

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ s lý luận

Cơ sở lý luận của đề tài là hệ thống lí luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm trong đường lối cũng như các chính sách của Đảng và Nhà nước ta, văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Hải Dương, các huyện, thành phố thuộc tỉnh đặc biệt là trong những năm đổi mới vừa qua Ngoài ra, luận văn còn kế thừa và phát triển những quan điểm lý luận của các nhà khoa học về những nội dung liên quan

5.2 P ơn p áp n ên cứu

Đề tài được thực hiện trên cơ sở của phương pháp luận duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, trong đó bao gồm phương pháp lịch sử - logic, đồng thời sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phương pháp tổng hợp, quy nạp và diễn dịch Ngoài ra, đề tài còn sử dụng phương pháp nghiên cứu thực tiễn như: đánh giá thực trạng thông qua kết quả, số liệu điều tra

xã hội học hoặc trực tiếp trao đổi… và trên cơ sở đó, tiến hành tổng kết thực tiễn

và khái quát lí luận

Kế thừa một cách có chọn lọc kết quả của các công trình nghiên cứu trước đây và cập nhật những thông tin mới về chủ đề nghiên cứu

Trang 14

6 Đóng góp của luận văn

Thứ nhất, Luận văn góp phần làm rõ thực trạng những vấn đề xã hội

nảy sinh khi Nhà nước thu hồi quyền sử dụng đất nông nghiệp ở tỉnh Hải Dương hiện nay

Thứ hai,Tác giả luận văn đề xuất một số giải pháp nhằm giải quyết

những vấn đề xã hội nảy sinh và một số kiến nghị nhằm hạn chế những vấn đề

xã hội nảy sinh trong quá trình thu hồi quyền sử dụng đất nông nghiệp ở tỉnh Hải Dương hiện nay

7 Kết cấu đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn gồm 3 chương 7 tiết

Trang 15

CHƯƠNG 1 THU HỒI QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP

VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ XÃ HỘI NẢY SINH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

1.1 Một số khái niệm cơ bản

1.1.1 Quan n m v qu n s d n t

Xuất phát từ ý tưởng của Các Mác: “Đất đai là tài nguyên thiên nhiên,

là tặng vật của tự nhiên cho loài người, không ai có quyền chiếm đoạt thành

sở hữu riêng của mình”, trong Luật đất đai (sửa đổi) năm 2003 các nhà làm

luật nước ta đã coi đất đai là: “Tư liệu sản xuất đặc biệt, thuộc quyền sở hữu

của toàn dân, do nhà nước làm đại diện chủ sở hữu”

Đất đai là tài sản quốc gia, là nguồn lực đặc biệt quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội và là môi trường sống của con người Nhìn vào quá trình hình thành và phát triển mọi quốc gia, đất đai và những quan hệ gắn liền với

nó chính là lãnh thổ - cương vực - bờ cõi, là không gian địa lý để sinh tồn, là nơi xuất xứ của tổ tiên, dòng họ, gia đình, cũng là nơi trở về khi từ biệt cõi đời Chính vì thế, đất đai có ý nghĩa hết sức thiêng liêng và là chủ quyền bất khả xâm phạm Đối với sản xuất vật chất, đất đai là tư liệu sản xuất hàng đầu không thể thay thế được Các quốc gia dù có chế độ chính trị - xã hội khác nhau đều luôn coi trọng và đặt ở vị trí hàng đầu những quyết sách về quyền chủ sở hữu đất đai, về quản lý đất đai và quyền của chủ sở hữu đất đai Bởi đất đai là có hạn, con người không thể sản xuất được đất đai mà chỉ có thể chuyển mục đích sử dụng từ mục đích này sang mục đích khác Đất đai có độ màu mỡ tự nhiên, nếu chúng ta biết sử dụng và cải tạo hợp lý thì đất đai không bị thoái hoá mà ngược lại đất đai lại càng tốt hơn Sử dụng đất đai phải kết hợp một cách đầy đủ, triệt để và có hiệu quả cao nhất Đất đai kết hợp với

sức lao động tạo ra của cải vật chất cho xã hội như Adam Smith đã nói: “Lao

động là cha, đất là mẹ của mọi của cải” Do đó, đất đai vừa là yếu tố của lực

Trang 16

lượng sản xuất, vừa là yếu tố của quan hệ sản xuất Mặt khác, đất đai là cơ sở không gian để phân bổ các khu dân cư, các công trình phục vụ sản xuất, văn hoá phúc lợi, xây dựng các ngành kinh tế quốc dân khác trên toàn bộ lãnh thổ, xây dựng và củng cố an ninh quốc phòng

Đất đai và quyền sử dụng đất vốn là một loại hàng hóa đặc biệt, cần

được quản lý đúng với tính chất “hàng hóa” theo các biện pháp đặc thù Để

khắc phục những bất cập này, cần phát huy các yếu tố thị trường trong quản

lý đất đai như đấu thầu quyền sử dụng đất dịch vụ một cách công khai, minh bạch; định giá theo hướng thị trường thông qua việc sử dụng các tổ chức định giá độc lập

Trên cơ sở Hiến Pháp nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, Điều 167, Luật Đất Đai năm 2013 quy định người sử dụng đất có rất nhiều quyền như: quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất

Các chế độ nhà nước trong lịch sử đều có lý l thiết chế quyền sở hữu đất đai của riêng mình Đối với nhà nước phong kiến, coi đất đai trong vương quốc là của quốc vương Nhà nước định đoạt quyền sử dụng đất đai trong vương quốc theo lợi ích của quốc vương, như trưng dụng ruộng đất của các chủ đất đem cống nạp, ban tặng cho công hầu, khanh tướng v.v mà không cần đền bù Thiết chế quyền sở hữu đất đai theo pháp luật nhà nước phong kiến là nhằm bảo vệ quyền lợi tối thượng của nhà vua; nhưng, cũng công nhận quyền tư hữu đất đai riêng của các chủ thể Nhà nước tư bản chủ nghĩa, coi đất đai là của cải vô cùng quí giá của các chủ đất, nên nhà nước công nhận quyền tư hữu đất đai của chủ đất Thiết chế quyền sở hữu đất đai theo pháp luật nhà nước tư sản, nhằm bảo vệ quyền tư hữu tư liệu sản xuất của các chủ

đất (địa chủ, nhà tư sản).C.Mác cho rằng: “Mỗi một bước tiến của nền sản

xuất tư bản chủ nghĩa là một bước đẩy nhanh quá trình kiệt quệ hóa đất đai”

Nhà nước được quyền trưng dụng đất đai các chủ đất phục vụ lợi ích quốc gia,

Trang 17

dưới hình thức mua lại quyền sở hữu đất của các chủ đất theo giá thỏa thuận Nhà nước XHCN, coi đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt, nhà nước được quyền làm đại diện chủ sở hữu, với lý l là nhà nước nắm quyền điều hành kinh tế vĩ

mô, nắm độc quyền tư liệu sản xuất, nên nhà nước phải nắm độc quyền sở hữu đất đai, vì đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt Còn C.Mác nhận thức đất đai vừa

là “Tư liệu sản xuất đặc biệt” vừa là “Tư liệu sinh hoạt”

Như vậy, các chế độ nhà nước trong lịch sử đã có lý l chính trị riêng

để thiết chế quyền sở hữu đất đai của mình Nhà nước phong kiến và Nhà nước tư sản coi đất đai là của cải cơ bản, nên đã thiết chế quyền tư hữu đất đai cho các chủ đất

Còn Nhà nước XHCN coi đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt, nên nhà nước nắm độc quyền sở hữu đất đai, để thực hiện chế độ công hữu về tư liệu sản xuất Nhìn chung, cách nhận thức như vậy vẫn còn chưa đầy đủ, chưa thật

sự sát yêu cầu sử dụng đất đai trong thực tế xã hội

Như vậy, “Nhà nước công nhận quyền s d ng đất”là việc Nhà nước

trao quyền s d ng đất cho người đang s d ng đất ổn định mà không có nguồn gốc được Nhà nước giao đất, cho thuê đất thông qua việc cấp giấy chứng nhận quyền s d ng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất lần đầu đối với th a đất xác định”

“Nhà nước giao quyền s d ng đất ” là việc Nhà nước ban hành

quyết định giao đất để trao quyền sử dụng đất cho các đối tượng có nhu cầu

sử dụng đất

Cụ thể hóa quy định tại Điều 53 Hiến pháp nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Luật đất đai năm 2013 tại Điều 4 đã xác định chế độ sở hữu

đối với đất đai như sau: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại

diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý Nhà nước trao quyền s d ng đất cho người s d ng đất theo quy định của Luật này”

Trang 18

1.1.2 Quan n m v t u qu n s d n t

Trong Dự thảo sửa đổi Luật Đất Đai năm 2013, quy định các nội dung liên quan tới thu hồi đất cũng là vấn đề được đặc biệt quan tâm Có ý kiến cho

rằng, Dự thảo quy định: “Nhà nước thu hồi đất do tổ chức, cá nhân s d ng

có bồi thường theo quy định của pháp luật trong trường hợp thật cần thiết vì

lý do quốc phòng, an ninh hoặc vì lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và các

dự án phát triển kinh tế - xã hội” chưa ngắn gọn và mang tính hiến định cao, nên thay c m từ “thu hồi đất” bằng c m từ “trưng mua quyền s d ng đất”

Về vấn đề này, ông Dương Đăng Huệ, Vụ trưởng Vụ Pháp luật kinh tế (Bộ

Tư pháp) nhận xét, nên dùng từ thu hồi vì thể hiện đúng bản chất Nhà nước đại diện quyền sở hữu toàn dân về đất và cá nhân, tổ chức chỉ được giao quyền sử dụng Do vậy, khi cần thiết thì phải thu hồi chứ không phải trưng mua Trưng mua chỉ phù hợp với tài sản là sở hữu của cá nhân hay tổ chức

Đối với các trường hợp thu hồi đất, ngoài đất phục vụ các công trình công cộng, phục vụ lợi ích an ninh quốc gia, nhiều ý kiến đề nghị cần hết sức thận trọng khi xem xét các trường hợp còn lại, nhất là với các dự án phát triển kinh tế - xã hội Bởi trước hết các công trình này không phục vụ mục đích công cộng và hướng tới lợi ích toàn dân Mặt khác, khi đưa ra các quy định cũng cần tránh tình trạng đất đai tích tụ vào một số doanh nghiệp, lấy đất nông nghiệp để phát triển đô thị, tạo ra chênh lệch địa tô lớn, kéo giãn khoảng cách giàu nghèo

Báo Tiền Phong số ra ngày 10/2/2014 có đăng bài viết ngày

23/11/2013: Quốc Hội thảo luận Luật Đất đai băn khoăn cụm từ “thu hồi

đất”: một số ý kiến cho rằng cần làm rõ hơn phạm vi và quyền hạn của Nhà

nước với tư cách là đại diện chủ sở hữu và quyền của người dân về đất đai, cũng như đảm bảo hài hòa lợi ích trong quan hệ thu hồi đất để phát triển kinh

tế - xã hội

Trang 19

Luật Đất đai dùng khái niệm: “thu hồi đất là chưa phù hợp” Bởi l , trong những năm 1930, chúng ta nêu lên khẩu hiệu “người cày có ruộng”, Cách mạng Nga cũng nêu lên khẩu hiệu “bánh mì và ruộng đất” Sau khi

giành chính quyền chúng ta cần phải lo ruộng đất cho dân, dùng khái niệm

“thu hồi đất” là chưa hợp lý vì khái niệm này chỉ nên quy định đối với các

trường hợp vi phạm Pháp luật về đất đai (ý kiến Đại biểu Quốc hội tỉnh Ninh Thuận) Tương tự, các ý đều cho rằng, khái niệm thu hồi đất có phần bất hợp lý: Đất đai là vẫn là của Nhà nước nên Nhà nước chỉ thu hồi quyền sử dụng đất

Tuy nhiên, tại Luật Đất Đai năm 2013 của Quốc hội nước Cộng hòa xã

hội Chủ nghĩa Việt Nam vẫn xác định thuật ngữ “Thu hồi đất”: “Là việc Nhà

nước quyết định thu lại quyền s d ng đất của người được Nhà nước trao quyền s d ng đất hoặc thu lại đất của người s d ng đất vi phạm Pháp luật

về đất đai”[26] Theo Luật Đất Đai, việc thu hồi đất để phục vụ cho sự nghiệp

công nghiệp hóa, hiện đại hóa là chuyển đổi tính chất của đất từ đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp Do đó, việc thu hồi đất có thể cho nhiều mục tiêu kinh tế - xã hội khác nhau, nhưng hiện nay ở nước ta mục tiêu chủ yếu vẫn là để phục vụ cho quá trình phát triển các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, đô thị hóa từ trung ương đến địa phương

Ủy ban dự thảo Hiến pháp đã kh ng định rằng, sở hữu toàn dân về đất đai là quan điểm nhất quán của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta, đã được xác định trong Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp năm 2013 Luật đất đai sửa đổi cũng đã kh ng định: Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất theo quy định của pháp luật Vấn đề sở hữu đất đai không chỉ là vấn đề kinh tế mà còn là vấn đề xã hội quan trọng Để phục vụ công cuộc xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước thì bên cạnh việc thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh, vì lợi ích quốc gia thì nhà nước vẫn cần thu hồi đất để thực hiện các dự án phát triển kinh tế - xã hội Do vậy,

Trang 20

luật đất đai phải quy định thật cụ thể các trường hợp thu hồi đất và việc thu hồi đất phải đảm bảo công khai, minh bạch, công bằng và phải có chính sách bồi thường thỏa đáng cho người dân bị thu hồi quyền sử dụng đất

1.1.3 Quan n m v n n v n

Theo C.Mác, nghĩa rộng nhất của khái niệm xã hội là: “xã hội dưới

hình thái nào, là gì?Nó là sản phẩm của sự tác động lẫn nhau giữa người với người” [28.788]

Trên thực tế, các nhà kinh điển Mác-Lênin đã đồng thời sử dụng khái

niệm“xã hội”theo nghĩa hẹp hơn, ngang cấp với khái niệm“chính trị”,“kinh

tế”, “văn hóa” Đó là khái niệm“xã hội” phản ánh những quan hệ, những

hoạt động, những mặt cụ thể hơn của xã hội đã, đang và s nảy sinh một cách khách quan cùng với các hoạt động kinh tế, chính trị, văn hóa, nó chứa đựng

và phản ánh những vấn đề xã hội của con người Chúng tôi xem xét vấn đề xã hội theo hướng này

Tuy nhiên, không thể tách biệt một cách rành rọt vấn đề xã hội với các vấn đề chính trị, kinh tế, văn hóa… Ví dụ vấn đề việc làm, nghèo đói, công bằng… nó đã bao hàm vấn đề xã hội, kinh tế, chính trị, văn hóa… Những vấn

đề đó luôn có quan hệ chặt ch với nhau Đồng thời, nếu theo nghĩa rộng thì mọi vấn đề kinh tế, văn hóa… đều mang tính xã hội

Từ khi loài người bắt đầu sinh sống trong cộng đồng, thì đồng thời nảy sinh những quan hệ giữa người với người, giữa con người với cộng đồng và

từ đó tất yếu nẩy sinh những vấn đề phải giải quyết trên các mặt: kinh tế, chính trị, xã hội, đạo đức… Các quan hệ đó trong không gian và thời gian bao

giờ cũng nảy sinh các “vấn đề xã hội” cần xử lý hoặc điều chỉnh để tạo ra cân

bằng, ổn định và phát triển xã hội

Theo các nhà nghiên cứu phương Tây,“vấn đề xã hội” lần đầu tiên

được đặt ra vào những năm 30 của thế kỷ XIX, như là một khó khăn căn bản, nan giải của một xã hội, trong đó sự bền vững bị đe dọa và xã hội lâm vào

Trang 21

nguy cơ tan rã do những điều kiện sinh sống của những tác nhân, đồng thời là những nạn nhân của cuộc cách mạng công nghiệp hóa dã man

Trong những năm 40 của thế kỷ XIX, C.Mác và Ăngghen đặc biệt quan tâm tới đời sống xã hội của quần chúng nhân dân lao động khi mà chính họ là lực lượng chủ yếu làm ra của cải cho xã hội nhưng lại phải sống trong môi

trường “phi nhân tính” Trong tác phẩm “Tình cảnh những người lao động ở

Anh”, Ph.Ăngghen đã tập trung nghiên cứu vấn đề xã hội nảy sinh trong xã

hội TBCN dưới sự tác động mạnh m của tích lũy tư bản và sự phát triển của đại công nghiệp Ở đây, Ph.Ăngghen chủ yếu xem xét vấn đề xã hội gắn liền với sự bóc lột và thống trị của GCTS trong điều kiện của đại công nghiệp Trong tác phẩm đó, Ăngghen kh ng định: đời sống của GCCN Anh (điều kiện lao động, thất nghiệp, điều kiện sinh hoạt…) đã bị rơi xuống đáy của xã hội,

đe dọa chính chế độ bóc lột làm thuê của GCTS

Như vậy, khái niệm “vấn đề xã hội” được nghiên cứu theo nghĩa hẹp,

tương đối độc lập với các vấn đề chính trị, kinh tế Đối với các nhà nghiên cứu xã hội học: có vấn đề xã hội khi những thành viên của một cộng đồng (lớn hay nhỏ) nhận thấy những dấu hiệu hoặc những điều kiện có ảnh hưởng tác động hoặc đe dọa đến chất lượng cuộc sống của họ (chất lượng cuộc sống

ở đây được hiểu theo nghĩa rộng) và đòi hỏi có những biện pháp để phòng ngừa, ngăn chặn hoặc giải quyết tình trạng đó theo hướng có lợi cho sự tồn tại

và phát triển của cộng đồng (lớn hoặc nhỏ)

Từ sự phân tích, chúng tôi đồng tình với quan điểm trên và xét trên

bình diện chung nhất: Vấn đề xã hội là vấn đề luôn tồn tại một cách khách

quan trong mối quan hệ giữa người với người Nó phản ánh các mối quan hệ

về lợi ích (đặc biệt là lợi ích kinh tế) và khuynh hướng cản trở sự phát triển của các cộng đồng người đó Nó đặt ra yêu cầu cần phải ngăn chặn, giải quyết kịp thời sự nảy sinh, phát triển của các VĐXH để đảm bảo cho sự tồn tại, phát triển ổn định của các cộng đồng người trong xã hội đó

Trang 22

Mỗi xã hội, mỗi thời đại đều phải giải quyết những VĐXH do các xã hội và thời đại trước để lại, đồng thời phải đối phó với những VĐXH mới nảy sinh trong hiện tại cũng như trong tương lai Trong các VĐXH có vấn đề mang tính toàn cầu như: sự bùng nổ dân số, HIV, ô nhiễm môi trường, đói

nghèo… Có loại vấn đề xã hội“gay cấn” hay những “điểm nóng”, về thực chất, những VĐXH “gay cấn” hay những “điểm nóng” thường là những vấn

đề xã hội bức xúc, có quy mô hoặc có cường độ đạt tới hoặc vượt qua điểm

“tới hạn” gây ra những phản ứng hoặc những hiệu ứng tiêu cực trong xã hội,

mà nếu không được giải quyết kịp thời s gây nguy hiểm hoặc nguy hại cho

xã hội, gây mất an toàn và ổn định xã hội

Theo chủ nghĩa Mác-Lênin, nguyên nhân sâu xa và căn bản của những VĐXH là những hạn chế của phương thức sản xuất Mỗi PTSX lại làm nảy sinh những VĐXH và phong trào xã hội tương ứng bởi vì những mâu thuẫn kinh tế tất yếu dẫn đến những mâu thuẫn xã hội

Các vấn đề xã hội có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, do vị trí của con người trong xã hội quy định Song, do địa vị của con người ở mỗi chế

độ xã hội khác nhau là không giống nhau, cho nên vai trò, bản chất của các vấn đề xã hội cũng khác nhau

Trong chủ nghĩa tư bản, nhân dân lao động là người làm thuê, mục tiêu của chủ nghĩa tư bản là tăng lợi nhuận, duy trì sự thống trị của giai cấp tư sản

Để đạt tới mục tiêu đã được xác định, chủ nghĩa tư bản đã có nhiều chủ trương, giải pháp về các vấn đề xã hội, trong đó có những mặt tiến bộ như coi trọng giảm nhẹ sự bất bình đ ng trong xã hội cũng như tìm cách giảm căng

th ng trong xã hội Tuy nhiên, những mặt tiến bộ ấy không bền vững vì mâu thuẫn cơ bản của chủ nghĩa tư bản là xã hội hoá của sản xuất và chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất vẫn còn tồn tại

Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là xã hội vì con người, đặt con người vào vị trí trung tâm của sự phát triển kinh tế, văn hoá, xã

Trang 23

hội và lấy việc nâng cao chất lượng cuộc sống con người làm mục tiêu phục

vụ Đảng ta luôn nhấn mạnh phát triển kinh tế phải đi liền với việc giải quyết tốt các vấn đề xã hội Phát triển kinh tế theo định hướng xã hội chủ nghĩa lại càng đòi hỏi phải giải quyết tốt những vấn đề xã hội, bởi l phát triển kinh tế phải là sự phát triển bền vững dựa trên những yếu tố chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, môi trường vững chắc… Bền vững về mặt xã hội là bảo đảm vừa đạt được tăng trưởng kinh tế, vừa giữ được ổn định xã hội, không có những xáo trộn xung đột, nổi loạn làm ảnh hưởng đến việc huy động các nguồn lực cho sự phát triển Trong phát triển bền vững, yếu tố kinh tế và yếu tố xã hội quyện vào nhau, hoà nhập vào nhau Mục tiêu phát triển kinh tế phải bao gồm

cả mục tiêu giải quyết những vấn đề xã hội như vấn đề việc làm, xoá đói giảm nghèo, thoả mãn nhu cầu cơ bản của nhân dân, công bằng xã hội Ngược lại, mục tiêu phát triển xã hội cũng nhằm tạo động lực phát triển kinh tế Đó chính là sự khác nhau căn bản về mục tiêu phát triển giữa con đường chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội mà Đảng và nhân dân ta lựa chọn

Trên cơ sở nhận thức mới về vai trò của các vấn đề xã hội, ngay ở giai đoạn đầu của công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, Đảng ta đã chỉ rõ

“Trình độ phát triển kinh tế là điều kiện vật chất để thực hiện chính sách xã hội, nhưng m c tiêu xã hội lại là m c đích của các hoạt động kinh tế”[13,86]

Đến Đại hội VII (1991), sau khi xác định được những đặc trưng cơ bản của xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng, Đảng ta đã nêu lên định hướng

lớn “Chính sách xã hội đúng đắn vì hạnh phúc con người là động lực to lớn

phát triển mọi tiềm năng sáng tạo của nhân dân trong xây dựng xã hội chủ nghĩa” [14,13] Trên cơ sở định hướng ấy, Đảng ta đã chính thức kh ng định

một số quan điểm chỉ đạo việc kết hợp hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế và giải quyết các vấn đề xã hội Cụ thể là: Mục tiêu của chính sách xã hội thống nhất với mục tiêu phát triển kinh tế, đều nhằm phát huy sức mạnh của yếu tố con người và vì con người Kết hợp hài hoà giữa kinh tế với phát triển văn

Trang 24

hoá, xã hội, giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội, giữa đời sống vật chất với đời sống tinh thần của nhân dân Coi phát triển kinh tế là cơ sở và tiền đề

để thực hiện chính sách xã hội, thực hiện tốt chính sách xã hội là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế Đến Đại hội VIII (1996) Đảng ta đã bổ sung một

quan điểm quan trọng là “Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và

công bằng xã hội ngay trong từng bước và trong suốt quá trình phát triển”[15,113] Đồng thời, Đảng đã đề ra những quan điểm chỉ đạo việc

hoạch định hệ thống chính sách xã hội, đó là: Thứ nhất, tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và suốt quá trình phát triển Công bằng xã hội phải thể hiện ở cả khâu phân phối hợp

lý tư liệu sản xuất lẫn khâu phân phối kết quả sản xuất, ở việc tạo điều kiện cho mọi người đều có cơ hội phát triển và sử dụng tốt năng lực của mình Thứ hai, thực hiện nhiều hình thức phân phối, lấy phân phối theo lao động và hiệu quả kinh tế là chủ yếu, đồng thời phân phối dựa trên mức đóng góp các nguồn lực khác vào kết quả sản xuất kinh doanh và phân phối thông qua phúc lợi xã hội, đi đôi với chính sách điều tiết hợp lý, bảo vệ quyền lợi của người lao động Thứ ba, khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với tích cực xoá đói, giảm nghèo, thu hẹp dần khoảng cách về trình độ phát triển, về mức sống giữa các vùng, các dân tộc, các tầng lớp dân cư Thứ tư, phát huy truyền thống tốt

đẹp của dân tộc “uống nước nhớ nguồn”, “đền ơn đáp nghĩa”,“nhân hậu,

thủy chung” Thứ năm, các vấn đề chính sách xã hội đều được giải quyết theo

tinh thần xã hội Nhà nước giữ vai trò nòng cốt, đồng thời động viên mỗi người dân, các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội, các cá nhân và tổ chức nước ngoài cùng tham gia giải quyết những vấn đề xã hội Đại hội IX của Đảng không nhắc lại các quan điểm chỉ đạo của Đại hội VIII, nhưng nhấn mạnh

“Thực hiện các chính sách xã hội, hướng vào phát triển và lành mạnh hoá xã hội, thực hiện công bằng trong phân phối, tạo động lực mạnh mẽ phát triển sản xuất, tăng năng suất lao động xã hội, thực hiện bình đẳng trong các quan

Trang 25

hệ xã hội, khuyến khích nhân dân làm giàu hợp pháp” và “Các chính sách xã hội được tiến hành theo tinh thần xã hội hoá, đề cao tinh thần trách nhiệm của chính quyền các cấp, huy động các nguồn lực trong nhân dân, các tổ chức xã hội” [16,104 - 108] Đồng thời Đại hội IX cũng chỉ ra những nhiệm

vụ, mục tiêu của từng lĩnh vực cụ thể cần tập trung giải quyết trong những năm tới là: giải quyết việc làm là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của chính sách xã hội; Tiền lương và thu nhập; xoá đói, giảm nghèo; đền ơn đáp nghĩa; uống nước nhớ nguồn; xây dựng cơ sở hạ tầng xã hội; chính sách dân số; chính sách bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ nhân dân; chính sách chăm sóc và bảo vệ trẻ em; phong trào toàn dân tập luyện thể dục, thể thao; phong trào toàn dân đấu tranh phòng chống tội phạm

Trên cơ sở khái quát những thành tựu và hạn chế của 30 năm đổi mới, trong đó có thành tựu và hạn chế của việc xây dựng và phát triển các vấn đề

xã hội, Đại hội XII của Đảng kh ng định quan điểm: “trong xây dựng và thực

hiện các chính sách phát triển kinh tế - xã hội, quan tâm thích đáng đến các tầng lớp, bộ phận yếu thế trong xã hội, đồng bào các dân tộc thiểu số ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, khắc ph c xu hướng phân hóa giàu – nghèo, bảo đảm

sự ổn định và phát triển xã hội bền vững Thực hiện các giải pháp, chính sách

và quản lý để khắc ph c từng bước sự mất cân đối về phát triển đối với từng lĩnh vực, từng vùng, bảo đảm sự hài hòa cả trong phát triển, hưởng th , bảo đảm cơ cấu giai tầng xã hội, cư dân, ngành nghề hợp lý Kịp thời kiểm soát

và x lý các rủi ro, mâu thuẫn, xung đột xã hội Đẩy mạnh các giải pháp đấu tranh phòng, chống tệ nạn xã hội, giảm thiểu tai nạn giao thông, đảm bảo an sinh xã hội, an ninh con người” [18,134 – 135]

Từ những quan điểm trên, có thể hiểu: Những vấn đề xã hội nảy sinh là

tổng hòa các yêu cầu của mọi tầng lớp nhân dân lao động trên các lĩnh vực lao động, việc làm, nhà ở, đi lại, sức khỏe và môi trường sinh thái…cần phải giải quyết trong quá trình từng bước cải tạo xã hội cũ, tạo những tiền đề, cơ

Trang 26

sở vật chất để xây dựng xã hội mới trong tương lai, nhằm nâng cao một cách

cơ bản đời sống vật chất và tinh thần, thực hiện thắng lợi m c tiêu giải phóng

xã hội và bảo đảm cho con người phát triển ngày càng toàn diện

1.2 Những vấn đề xã hội nảy sinh trong quá trình thu hồi quyền sử dụng đất nông nghiệp và ý nghĩa của việc giải quyết những vấn đề đó trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội

Đất nông nghiệp là một tư liệu sản xuất đặc biệt của nông dân Phần lớn đất nông nghiệp được nông dân sử dụng để canh tác nhằm tạo ra sản phẩm nông nghiệp đáp ứng nhu cầu đời sống của xã hội Tùy điều kiện tự nhiên mà Luật pháp mỗi quốc gia quy định đất nông nghiệp theo các nhóm khác nhau Ở nước ta, theo Luật Đất đai, Chương 1, Điều 10, Mục 1 đã xác

định: “Nhóm đất nông nghiệp bao gồm các loại đất sau đây: a, Đất trồng cây

hàng năm gồm đất trồng lúa và đất trồng cây hàng năm khác; b, Đất trồng cây lâu năm; c, Đất rừng sản xuất; d, Đất rừng phòng hộ; đ, Đất rừng đặc

d ng; e, Đất nuôi trồng thủy sản; g, Đất làm muối; h, Đất nông nghiệp khác gồm đất s d ng để xây dựng nhà kính và các loại động vật khác….”[26]

Quan niệm trên về đất nông nghiệp tập trung vào mô tả mục đích sử dụng đất, nhưng nó cũng thể hiện được bản chất của vấn đề, đó là nó gắn liền với nông dân, nông thôn - địa bàn cư trú chủ yếu của đại bộ phận dân cư nước ta

1.2.1 Tín t t ếu của v c t u qu n s d n t n n n p

ể p át tr ển n tế - v các m c t êu quốc a

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là những vấn đề xã hội trọng tâm và cấp bách, đang diễn ra ở nhiều nước trên thế giới, nhất là các nước chậm và đang phát triển Đối với các nước này, công nghiệp hóa là một tất yếu khách quan không thể bỏ qua Để đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa, cần phải thực hiện việc thu hồi quyền sử dụng đất của nhiều đối tượng, trong

đó chủ yếu là của nông dân Đó là quá trình tất yếu của quá trình phát triển

Trang 27

Quá trình đó càng trở nên tất yếu đối với các nước đang quá độ lên chủ nghĩa

xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa

Từ đó, tác giả cho rằng: Những vấn đề xã hội nảy sinh khi Nhà nước

thu hồi quyền s d ng đất nông nghiệp trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là tổng hòa các yêu cầu của mọi tầng lớp nhân dân lao động trên các lĩnh vực lao động, việc làm, nhà ở, đi lại, sức khỏe và môi trường sinh thái…cần phải giải quyết trong quá trình từng bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng các ngành công nghiệp, xây dựng và dịch v , giảm tỷ trọng các ngành nông, lâm, thủy sản nhằm nâng cao một cách cơ bản đời sống vật chất và tinh thần, thực hiện thắng lợi m c tiêu giải phóng xã hội và bảo đảm cho con người phát triển ngày càng toàn diện

Trong thời kỳ CNH, HĐH, để phát triển đất nước thì việc giải phóng mặt bằng để xây dựng các công trình giao thông, khu đô thị, các khu, cụm công nghiệp, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội thì đi đôi với nó là việc thu hồi quyền sử dụng đất của một bộ phận dân cư trong đó chủ yếu là bộ phận nông dân Bước đầu đã đem lại những giá trị trong việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, đời sống vật chất

và tinh thần của người dân dần được cải thiện Nhưng bên cạnh những thành tựu, mặt tích cực đã đạt được, quá trình thu hồi quyền sử dụng đất cũng đang nảy sinh những vấn đề hết sức phức tạp, đặc biệt đối với việc thu hồi quyền

sử dụng đất nông nghiệp: việc làm, ô nhiễm môi trường, tệ nạn xã hội gia tăng, tình trạng nghiện hút, vi phạm pháp luật làm mất ổn định ở nhiều cộng đồng dân cư, nhất là ở những khu đô thị lớn

Thứ nhất, thu hồi quyền s d ng đất nông nghiệp để có mặt bằng xây dựng các khu công nghiệp, khu chế xuất, thu hút đầu tư trong và ngoài nước

ph c v phát triển kinh tế - xã hội

Trang 28

Thu hồi quyền sử dụng đất để có mặt bằng xây dựng các cơ sở sản xuất công nghiệp, khu công nghiệp, cụm công nghiệp nhằm thu hút đầu tư trong và ngoài nước cho phát triển kinh tế - xã hội chung của đất nước, của địa phương Muốn đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp hiện đại thì nhất thiết phải xây dựng và phát triển được hệ thống sản xuất công nghiệp và như vậy thì không thể không chuyển một lượng diện tích đất nông nghiệp cho việc tạo mặt bằng triển khai hoạt động

Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương phát triển các khu công nghiệp nhằm phát triển hình thức bố trí sản xuất công nghiệp mới, góp phần quan trọng để ngành công nghiệp Việt Nam phát triển hiệu quả, tăng năng lực sản xuất và sản lượng công nghiệp để xuất khẩu và phục vụ nhu cầu trong nước; tạo ra nhiều việc làm mới cho người lao động, nâng cao đời sống cho nhân dân Lợi ích to lớn của việc phát triển các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất, cải thiện, nâng cấp hạ tầng cơ sở là thu hút được nhiều vốn đầu tư cần thiết từ bên ngoài để phát triển sản xuất, tăng giá trị sản xuất hàng công nghiệp

Đất đai là tài nguyên hữu hạn, tư liệu sản xuất đặc biệt, là nguồn nội lực, nguồn vốn to lớn, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, địa bàn phân bố dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng; có ý nghĩa kinh tế - xã hội sâu sắc trong sự nghiệp xây dựng

và bảo vệ Tổ quốc Bên cạnh đó, đất là điều kiện vật chất cần thiết để tồn tại

và tái sản xuất của các thế hệ tiếp sau của loài người Vì vậy trong sử dụng đất phải có trách nhiệm duy trì và đảm bảo chất lượng đất tốt hơn cho con cháu mai sau

Ở nước ta quá trình thu hồi đất để xây dựng các khu công nghiệp, khu chế xuất, cụm công nghiệp, nhằm thu hút đầu tư nước ngoài phát triển công nghiệp và dịch vụ là một trong các xu hướng đã và đang diễn ra Theo số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, đến cuối năm 2010, cả nước có 260 khu công

Trang 29

nghiệp được thành lập với tổng diện tích trên 71.300 ha nhưng tỷ lệ lấp đầy tại các Khu công nghiệp mới chỉ đạt 46%

Thứ hai, thu hồi quyền s d ng đất nông nghiệp để chuyển đổi m c đích s d ng đất, thúc đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nâng cao đời sống nhân dân

Chuyển nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp hay công nghiệp hóa là xu thế tất yếu của tất cả các nước trên thế giới trong đó có Việt Nam Công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa đang là một trong những nhân tố quyết định làm thay đổi chuyển dịch cơ cấu kinh tế - xã hội ở nhiều nơi trên phạm vi cả nước Ngày nay, cùng với sự phát triển của Cách mạng khoa học công nghệ và kinh tế tri thức, công nghiệp hóa lại gắn với hiện đại hóa và đô thị hóa, làm biến đổi cấu trúc kinh tế thúc đẩy các ngành nghề có hàm lượng tri thức cao, sử dụng công nghệ hiện đại, tạo điều kiện cho các nước đi sau có thể rút ngắn quá trình công nghiệp hóa

Mục tiêu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa được điều chỉnh cho sát với thực tiễn Đại hội VIII của Đảng (năm 1996), Đảng ta đã đề ra mục tiêu đến

năm 2020 nước ta s trở thành “Một nước công nghiệp có cơ sở vật chất - kỹ

thuật hiện đại” Tại Đại hội IX của Đảng (năm 2001), mục tiêu này được diễn

đạt “mềm dẻo” hơn là: “Đến năm 2020, nước ta cơ bản trở thành nước công

nghiệp theo hướng hiện đại” Đại hội X của Đảng (năm 2006), một lần nữa

xác định: “Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển kinh tế tri

thức tạo nền tảng để đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020” Đại hội XI tiếp tục kh ng định “ tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại”[17,33]

Tuy nhiên, như Văn kiện Đại hội XII của Đảng đã đánh giá: “Một số

chỉ tiêu kinh tế - xã hội chưa đạt kế hoạch; nhiều chỉ tiêu, tiêu chí trong m c tiêu phấn đấu để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp

Trang 30

theo hướng hiện đại không đạt được”[18,30] Những hạn chế, khuyết điểm

nêu trên có cả nguyên nhân khách quan và chủ quan Đại hội XII, chỉ ra phương hướng, nhiệm vụ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong 5

năm tới (2016 - 2020) được xác định linh hoạt hơn là: “Đẩy mạnh công

nghiệp hóa, hiện đại hóa, phấn đấu sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại”[18,89]

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là cả một quá trình lâu dài, cần được thực hiện thông qua nhiều bước hay nhiều giai đoạn Tuy nhiên, ở nước ta, từ

trước đến nay, “những tư tưởng, quan điểm của Đảng về công nghiệp hóa,

hiện đại hóa, về cơ bản, mới chỉ mang tính định hướng chung…, lộ trình, bước đi của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, những nhiệm v trọng tâm ở từng giai đoạn chưa được xác định rõ” Vì vậy, tại Đại hội lần này,

Đảng ta đã có sự bổ sung về việc phân chia các bước đi của công nghiệp hóa,

hiện đại hóa một cách phù hợp Theo đó, “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất

nước tiến hành qua ba bước: tạo tiền đề, điều kiện để công nghiệp hóa, hiện đại hóa; đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; và nâng cao chất lượng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Trong 5 năm tới, tiếp t c đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, ” [18,90] Đây là sự bổ sung rất cần

thiết, có ý nghĩa to lớn trong chỉ đạo và tổ chức thực hiện đường lối công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta hiện nay Bởi vì: Trên thế giới cũng đã có

sự phân chia các giai đoạn của công nghiệp hóa, hiện đại hóa để làm cơ sở cho việc xác định các mục tiêu, nhiệm vụ trong từng giai đoạn Giáo sư người

Mỹ Hollis Chenary Burnley chia thời kỳ công nghiệp hóa làm 3 giai đoạn: giai đoạn khởi đầu, giai đoạn phát triển và giai đoạn hoàn thiện, không kể một thời đoạn tiền công nghiệp hóa và một thời đoạn hậu công nghiệp hóa Sự phân chia này giúp cho chúng ta nhận thức rõ hơn nước ta đang ở giai đoạn nào của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa; từ đó, xác định mục tiêu, các chỉ tiêu kinh tế - xã hội, nội dung, biện pháp, phương thức công nghiệp hóa,

Trang 31

hiện đại hóa phù hợp, khả thi trong từng giai đoạn Đó cũng là cơ sở để hoạch định chiến lược phát triển các ngành công nghiệp, nhất là công nghiệp nền tảng, công nghiệp hỗ trợ; giải quyết mối quan hệ giữa công nghiệp hóa và đô thị hóa, giữa phát triển nông nghiệp và công nghiệp

Bởi vậy, để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đòi hỏi tất yếu phải chuyển đổi một phần diện tích đất nông nghiệp ở nông thôn để phát triển đô thị, xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật cho quá trình đô thị hóa nên cần thiết phải thu hồi đất để phát triển các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu đô thị, kết cấu hạ tầng đồng nghĩa với việc phải chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng phát triển mạnh công nghiệp và thương mại, dịch vụ khu vực nông thôn, tạo điều kiện cho lao động nông thôn tiếp cận với máy móc, thiết

bị và quy trình sản xuất công nghiệp trên địa bàn nông thôn

Người dân từ chỗ sống và làm việc ở nông thôn nay có bước chuyển sang sống và làm việc tại các khu công nghiệp, các cụm công nghiệp, khu thương mại, dịch vụ Kinh tế tăng trưởng đóng góp việc đẩy mạnh tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, tích cực chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng nhanh tỷ trọng giá trị sản phẩm và lao động của các ngành công nghiệp, dịch

vụ thương mại, giảm dần tỷ trọng sản phẩm và lao động nông nghiệp

Mức sống và điều kiện sống của nhiều người dân vùng đô thị và vùng

có khu công nghiệp, cụm công nghiệp, vùng có hạ tầng cơ sở phát triển đã tăng lên, nhu cầu vật chất và tinh thần có sự thay đổi rõ rệt Phát triển công nghiệp và phát triển đô thị tạo cơ hội cho người dân học hỏi, tiếp thu kiến thức khoa học và công nghệ mới trong phát triển kinh tế - xã hội

Người dân bắt đầu chủ động, năng động hơn trong việc tìm kiếm việc làm, nâng cao thu nhập và làm giàu chính đáng Thúc đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa còn là động lực cho người dân trong việc chuyển đổi cơ cấu nghề nghiệp, đa dang hóa nghề nghiệp Một bộ phận đáng kể người dân có đời sống ngày càng cao, công tác đầu tư cho giáo dục, y tế có sự

Trang 32

phát triển; nhu cầu hưởng thụ văn hóa, nhu cầu về thẩm mỹ ngày càng phong phú và không ngừng nâng cao Những tiện nghi sinh hoạt hiện đại trở thành phổ biến trong các gia đình dân cư, đặc biệt là các vùng đô thị

Mục tiêu mà nước ta đề ra có khoảng 38% dân số đô thị vào năm 2015

và 40% vào năm 2020 là khó đạt, vì tốc độ quy hoạch đô thị đang diễn ra nhanh trên phạm vi cả nước nhưng vẫn chưa đồng bộ với việc phát triển dân

số đô thị

Trong tiến trình phát triển chung của tỉnh, nhất là trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, việc phát triển các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, xây dựng cơ sở hạ tầng và theo đó là việc quy hoạch, sắp xếp, chuyển đổi mục đích sử dụng đất là một tất yếu

Việc thu hồi đất để xây dựng và phát triển đô thị bao gồm các công trình nhà ở của dân cư đô thị, trụ sở làm việc của bộ máy hành chính, các công trình công cộng phúc lợi xã hội như: trường học, bệnh viện, công viên, các công trình phục vụ sản xuất kinh doanh thương mại ở đô thị, các công trình dịch vụ giao thông, điện, nước…song song với quá trình công nghiệp hóa, các đô thị s mọc lên nhanh chóng Nhu cầu mở rộng đô thị trở nên cấp thiết cho sự phát triển kinh tế - xã hội và sự gia tăng dân số đô thị

Thứ ba, thu hồi quyền s d ng đất để xây dựng mới hệ thống kết cấu hạ tầng ph c v yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng

Do nằm trong một cơ cấu kinh tế, các ngành kinh tế có quan hệ thúc đẩy, hỗ trợ lẫn nhau, do đó, khi thu hồi đất để phát triển công nghiệp thì tất yếu s phát triển các ngành có liên quan, đó là dịch vụ, xây dựng kết cấu hạ tầng như: các nhu cầu xây dựng hạ tầng giao thông, hệ thống điện lưới quốc gia, thông tin, liên lạc, bưu chính viễn thông, hệ thống thủy lợi…Việc xây dựng kết cấu hạ tầng là nhu cầu cấp thiết cho sự phát triển kinh tế - xã hội của

cả nước nói chung và của tỉnh, của địa phương nói riêng Thực tế cho thấy, ở những nơi có vị trí địa lý, giao thông thuận lợi, kết cầu hạ tầng cơ bản s có

Trang 33

điều kiện phát triển hơn so với những nơi khác, đặc biệt là các địa phương vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới còn khó khăn, hạn chế trong việc đầu tư xây dựng hạ tầng cơ sở cho phát triển kinh tế - xã hội Điều này đòi hỏi phải

mở rộng diện tích đất thu hồi đã và đang sử dụng vào mục đích nông nghiệp

để chuyển sang phát triển công nghiệp và dịch vụ…vì lợi ích chung của nền kinh tế quốc dân

Vì vậy, để phát triển mọi mặt của đời sống xã hội cần phải có kết cấu

hạ tầng hiện đại và tương đối đồng bộ, đây là một trong những tiêu chí của hiện đại hóa, đồng thời cũng là tiêu chí trong bộ tiêu chí để xây dựng nông thôn mới hiện nay Kết cấu hạ tầng phát triển, s thúc đẩy giao lưu kinh tế, văn hóa, xã hội giữa các vùng, miền, rộng hơn là giữa các quốc gia Sự phát triển hệ thống này có vai trò quan trọng trong việc thu hút các nguồn đầu tư trong và ngoài nước, mở rộng thị trường…Quỹ đất để xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng chủ yếu là quỹ đất được chuyển đổi mục đích sử dụng từ đất nông nghiệp bị thu hồi

Ở nước ta kết cấu hạ tầng được đầu tư khá mạnh, nhiều công trình giao thông được hoàn thành năm 2015, trở thành điểm nhấn, tạo diện mạo mới về

hạ tầng giao thông và góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội các vùng miền như: Cao tốc Hà Nội - Hải Phòng dài 105 km, là tuyến đường rộng nhất

cả nước với 6 làn xe, 2 làn dừng khẩn cấp( trong đó giải phóng 1.430 ha đất, bao gồm 115 ha đất thổ cư, còn lại là đất nông nghiệp liên quan 47.000 hộ dân; xây dựng 39 khu tái định cư cho 2.600 hộ dân) ; Quốc lộ 1 nâng cấp, mở rộng từ Thanh Hóa đến Cần Thơ; Đường Hồ Chí Minh qua Tây Nguyên (quốc lộ 14) đã hoàn thành mở rộng, nâng cấp vào tháng 7/2015 với chiều dài

420 km Để có mặt bằng cho hệ thống kết cấu hạ tầng nêu trên cả nước cũng

đã phải thu hồi một số đất ở, đất nông nghiệp và các loại đất khác

Năm 2015, diện tích đất lúa là 4.030,75 nghìn ha, chiếm 12,17% diện tích tự nhiên và chiếm 15,04% diện tích nhóm đất nông nghiệp của cả nước; giảm 89,44 nghìn ha so với năm 2010 (trong đó: diện tích đất chuyên trồng lúa

Trang 34

nước là 3.275,38 nghìn ha, giảm 22,10 nghìn ha) Trong 5 năm tới (2016-2020),

s tập trung đầu tư cải tạo, khai thác thác đưa vào sử dụng 977,64 nghìn ha đất chưa sử dụng cho các mục đích nông nghiệp và phi nông nghiệp; đến năm 2020 diện tích đất chưa sử dụng của cả nước còn 1.310,36 nghìn ha, so với chỉ tiêu Quốc hội duyệt là 1.483,28 nghìn ha thì đất chưa sử dụng s giảm thêm là 172,92 nghìn ha

Việc thu hồi đất để phục vụ cho việc phát triển công nghiệp, dịch vụ và xây dựng các khu đô thị, kết cấu hạ tầng là cần thiết không chỉ bắt nguồn từ yêu cầu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa mà còn bắt nguồn từ chính yêu cầu của sự phát triển kinh tế - xã hội của khu vực nông thôn

Như vậy, có thể kh ng định rằng, công nghiệp hóa, hiện đại hóa là một tất yếu khách quan đối với bất cứ quốc gia nào muốn trở thành một nước công nghiệp hiện đại Đối với nước ta, xuất phát từ một nền nông nghiệp lạc hậu muốn thực hiện được mục tiêu đó thì cần phải thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp Một trong số những biện pháp đó là thu hồi một phần đất nông nghiệp

để xây dựng các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu đô thị, các h cơ sở dịch vụ…quá trình đó vừa tạo điều kiện thuận lợi để giải quyết nhiều vấn đề

xã hội đang tồn đọng ở nông thôn, vừa tất yếu dẫn đến những vấn đề xã hội nảy sinh mới cần giải quyết khi Nhà nước thu hồi quyền sử dụng đất

ở Anh, C.Mác đã nhắc lại hình ảnh “cừu ăn thịt người” mà Tomát More đã

Trang 35

nêu ra từ thế kỷ XVI Giai cấp tư sản xem việc người nông dân bị phá sản là

sự bổ sung vào đội quân thất nghiệp - nền tảng của chế độ bóc lột lao động làm thuê của GCTS

Trong thời kỳ quá độ lên CNXH, ruộng đất của nông dân cũng được tích tụ nhưng với mục đích bảo vệ tương lai và lợi ích lâu dài của nông dân, bảo đảm việc làm ổn định và nâng cao đời sống người dân

Đối với các nước nông nghiệp lạc hậu, khi đi lên CNXH, việc giải quyết những VĐXH ở nông thôn nói chung và những VĐXH nảy sinh khi nông dân không còn đất nông nghiệp nói riêng, luôn luôn được giải quyết một cách tổng thể trong mối quan hệ với các vấn đề như: phát huy vai trò của Nhà nước, của liên minh công - nông - trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản, của các thành phần kinh tế (kể cả kinh tế tư bản tư nhân và tư bản nhà nước), tình hình kinh tế quốc tế Tư tưởng cơ bản của Lênin về việc thay

“chính sách trưng thu lương thực” bằng “chính sách thuế lương thực” trong

tác phẩm “ Bàn về thuế lương thực” là cơ sở lý luận để giải quyết các vấn đề

nông nghiệp, nông dân và nông thôn gắn liền với vấn đề ruộng đất và đời sống xã hội của nông dân trong thời kỳ quá độ lên CNXH Trên cơ sở lý luận

đó, Đảng Cộng sản và các Nhà nước XHCN trong thời kỳ quá độ lên CNXH tất yếu phải có những chủ trương, chính sách phù hợp với điều kiện lịch sử cụ thể của từng quốc gia, từng vùng miền để giải quyết việc làm cho lao động nông thôn khi đất nông nghiệp bị thu hẹp trên cơ sở kết hợp sự giúp đỡ của Nhà nước và các tổ chức kinh tế - xã hội khác với sự chủ động tìm kiếm hoặc tạo ra việc làm mới cho các thành viên trong gia đình Tác động của việc thu hồi đất nông nghiệp đối với nông dân có đất bị thu hồi không thể tránh khỏi những tác động tiêu cực trong thời kỳ quá độ lên CNXH, vì họ không còn tư liệu sản xuất đặc biệt, không có nhiều cơ hội tìm kiếm việc làm mới, không biết sử dụng hợp lí số tiền được đền bù Nếu không được giải quyết kịp thời

s dẫn đến một loạt các hệ lụy: họ s rơi vào cảnh thất nghiệp, bị bần cùng

Trang 36

hóa dẫn đến việc gây mất ổn định xã hội, gây trở ngại cho quá trình sản xuất,

đe dọa sự phát triển bền vững về KT - XH của đất nước trên con đường đi lên CNXH Đó lại là cơ hội cho bọn phản động xuyên tạc bản chất của CNXH

Ở nông thôn, với tác động từ mặt trái của kinh tế thị trường, các TNXH phát triển với tốc độ nhanh Trong khi đó, thu nhập và đời sống người dân có đất bị thu hồi tăng không ổn định và dẫn đến sự phân hóa giàu nghèo trong nội bộ đời sống người dân nông thôn Một số phong tục tập quán tốt của các vùng nông thôn cũng bị mất đi do bị ảnh hưởng tiêu cực của lối sống đô thị

Bên cạnh đó, vấn nạn môi trường sinh thái cũng là một trong những trọng tâm về VĐXH cần giải quyết trong quá trình phát triển KT - XH ở nông thôn trong thời kỳ quá độ lên CNXH Với yêu cầu thực hiện CNH, HĐH đất nước, tất yếu phải phát triển và mở rộng các khu công nghiệp không chỉ tập trung ở các trung tâm đô thị lớn mà còn ở khu vực nông thôn Khi đó, nguồn lao động di cư từ các địa phương khác về những khu vực có các KCN mới phát triển s làm cho mật độ dân số ở khu vực đó tăng lên, làm cho các yếu tố có lợi cho môi trường sinh thái như thảm thực vật, cây xanh và nguồn nước sạch giảm dần Kết hợp với quá trình đó là các yếu tố gây hại cho môi trường như: bụi, nước thải công nghiệp, rác thải công nghiệp từ các KCN mới tăng lên nhưng chưa thể khắc phục được triệt để do thời kỳ quá độ lên CNXH còn rất nhiều khó khăn phải khắc phục cùng một lúc Do vậy, khi không còn đất nông nghiệp, người nông dân ở khu vực nông thôn còn chịu nhiều ảnh hưởng nghiêm trọng của tình trạng ô nhiễm môi trường gây nên

Mác - Ăngghen đã chứng minh rằng, quá trình đô thị hóa nông thôn là

xu hướng tất yếu gắn liền với sự phát triển của đại công nghiệp Ở các nước đi lên CNXH từ một nền nông nghiệp lạc hậu thì tất yếu s có ngày càng nhiều lao động nông nghiệp trở thành lao động công nghiệp Những mặt khác, nếu xét riêng ở lĩnh vực sản xuất nông nghiệp trong từng thời kỳ thì sự giảm bớt lao động nông nghiệp s gây khó khăn cho sản xuất, đặc biệt là vào thời gian

Trang 37

chính vụ Nhưng nếu xét một cách tổng thể nền kinh tế thì đây là một hiện tượng tích cực, nó thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH ngày càng nhanh hơn

Đứng trước những mâu thuẫn và thách thức như vậy, nếu các nước đi lên CNXH không có nhận thức đúng đắn s dẫn đến sai lầm trong cách giải quyết những VĐXH đang đặt ra khi nhà nước thu hồi đất nông nghiệp Do đó, nguyên tắc mà Việt Nam đang lựa chọn là vừa phải đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước nhưng vẫn phải đảm bảo điều kiện sống và việc làm cho người lao động khi chuyển đổi mục đích sử dụng đất Đây chính là việc thực hiện một cách sinh động và vận dụng đúng thực tế, nhất quán với chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước ta là phải luôn gắn PTKT với giải quyết tốt các VĐXH để đảm bảo thực hiện tốt mục tiêu xây dựng đất nước trong những năm tiếp theo

Như vậy, đứng trên quan điểm khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin, việc thu hồi đất để xây dựng các KCN chính là điều kiện, thời cơ tốt nhất để chúng ta chuyển một bộ phận quan trọng lực lượng lao động nông nghiệp, nông thôn sang công nghiệp và dịch vụ Bên cạnh đó, quá trình thu hồi đất để xây dựng KCN cũng dẫn tới cùng với sự phát triển của công nghiệp và kinh tế thị trường trong thời kỳ quá độ lên CNXH, những VĐXH mới ở nông thôn cần phải giải quyết như: thiếu việc làm, thất nghiệp, phân hóa giàu nghèo, tệ nạn xã hội, môi trường sinh thái Bởi vậy, khi xây dựng các chủ trương, chính sách PTKT, phải tính toán một cách chu đáo đến các VĐXH; phải kết hợp, lồng ghép với việc giải quyết các VĐXH ngay từ khi bước vào thời kỳ quá độ lên CNXH

Theo quy luật chung đó, ở Việt Nam, việc thu hồi đất nông nghiệp để xây dựng kết cấu hạ tầng, phát triển công nghiệp đẩy mạnh quá trình CNH, HĐH cũng là một xu hướng tất yếu trên phạm vi cả nước nói chung và ở Hải Dương nói riêng Những mặt tích cực của việc thu hồi đất nông nghiệp chỉ thực sự phát huy có hiệu quả khi chúng ta thực hiện đồng bộ được các nhiệm

vụ, các giải pháp thích hợp trong từng bước đi để khắc phục có hiệu quả những tác động tiêu cực đến đời sống xã hội của nông dân trong quá trình đó

Trang 38

1.2.3 Ý n ĩa của v c qu ết các v n n s n khi nhà

n c t u qu n s d n t n n n p

Có thể nói, dù ở bất cứ quốc gia, dân tộc nào, muốn thực hiện được mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội thì việc lựa chọn các phương án phát triển kinh tế phải luôn gắn với việc giải quyết các vấn đề xã hội, điều này có thể được thực hiện qua nhiều con đường, nhiều biện pháp khác nhau tùy theo hoàn cảnh đặc thù của mỗi quốc gia

Thứ nhất, giải quyết các vấn đề xã hội nảy sinh có hiệu quả là điều kiện

và môi trường cho kinh tế phát triển bền vững Thực tế lịch sử của tất cả các quốc gia đã chỉ rõ: sự phát triển kinh tế - xã hội không thể bắt nguồn từ trạng thái không ổn định Việc ổn định đó phải xuất phát từ cơ sở gắn kết sự ổn định chính trị, tư tưởng với việc giải quyết các vấn đề xã hội Ở nước ta, ổn định chính trị - xã hội đã được Đảng và Nhà nước đặc biệt coi trọng, bảo vệ, giữ gìn

và phát huy tính tích cực của nó và trở thành nhân tố tiên quyết tạo nên sự thành công của công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Thứ hai, trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng

XHCN đã và đang có sự chuyển biến về hệ giá trị Bên cạnh những mặt, những khuynh hướng tiến bộ, kinh tế thị trường cũng làm nảy sinh những hiện tượng tiêu cực: tâm lý thực dụng, các giá trị đạo đức truyền thống bị xem nhẹ, các tệ nạn xã hội có chiều hướng gia tăng…Vì vậy, khi giải quyết tốt các vấn đề xã hội s góp phần tạo nên sự ổn định chính trị, xã hội, sự phát triển lành mạnh các quan hệ xã hội, đồng thời còn phát huy nguồn lực con người trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội

Thứ ba, giải quyết tốt các vấn đề xã hội chính là nhân tố trực tiếp phát

huy nhân tố con người trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội Vai trò quan trọng mang tính quyết định của con người đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước là vấn đề được Chủ nghĩa Mác - Lênin kh ng định Thực tiễn lịch sử cũng cho thấy, những quốc gia tiến hành công nghiệp hóa, hiện

Trang 39

đại hóa dựa vào khai thác và sử dụng tiềm năng của yếu tố con người thì luôn giữ được tốc độ nhanh và bền vững Ngược lại, đối với những quốc gia chỉ dựa vào điều kiện tự nhiên hoặc vốn đầu tư từ bên ngoài thì tốc độ tăng trưởng và phát triển chậm và không ổn định Kh ng định vai trò quan trọng của con người, các kỳ Đại hội Đảng của Đảng ta đã luôn đặt con người vào vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Do đó, việc nâng cao vai trò nhân tố con người đòi hỏi phải có sự kết hợp hài hòa giữa các điều kiện về kinh tế, chính trị, xã hội, giáo dục, văn hóa…nhưng để tạo ra các điều kiện này, cần thiết phải có những chính sách xã hội đúng đắn, hướng vào giải quyết tốt các vấn đề xã hội

Thứ tư, trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường,công nghiệp

hóa các nước XHCN cần phải giải quyết tốt các vấn đề xã hội Để giải quyết được những vấn đề xã hội nảy sinh cần phải có thời gian và những giải pháp hữu hiệu Thậm chí, trong những khoảng thời gian nhất định phải biết chấp

nhận “chung sống” với một số vấn đề xã hội mang tính chất quá độ trong thời

gian tương đối dài như: sự thất nghiệp, lao động, việc làm, thu nhấp, phân hóa giàu nghèo, ô nhiễm môi trường… đó là những vấn đề chỉ có thể giải quyết dần dần chứ không thể giải quyết ngay một lúc Song, điều đó cũng không có nghĩa là chúng ta s để những vấn đề đó tồn tại mãi mà phải tìm biện pháp để xóa bỏ chúng một cách triệt để khi chủ nghĩa xã hội đã được hình thành hoàn chỉnh và phát triển được trên cơ sở của chính nó

Hiện nay, nền kinh tế thế giới đang có những bước chuyển biến mạnh

m , cuộc cách mạng khoa học công nghệ đã tạo ra những thành tựu mà trước

đó loài người không thể đạt được Chính vì vậy, sự hợp tác song phương, đa phương trong việc phát triển và ứng dụng thành tựu của cách mạng khoa học công nghệ đã trở thành đòn bẩy giúp các quốc gia trên thế giới (trong đó có Việt Nam) thực hiện chiến lược phát triển kinh tế của mình một cách thuận lợi

và nhanh chóng hơn

Trang 40

Sau 30 năm tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện, nền kinh tế nước ta

đã đạt được những thành tựu vượt bậc, tạo nền tảng kinh tế để nâng cao được đời sống vật chất cũng như tinh thần cho người dân Chính những thành tựu

về phát triển kinh tế như vậy đã tạo điều kiện cho quá trình giải quyết những vấn đề xã hội ở nước ta hiện nay

Tiểu kết chương 1

Đất nông nghiệp là tư liệu sản xuất đặc biệt của nông dân Phần lớn đất nông nghiệp được nông dân sử dụng để canh tác nhằm tạo ra sản phẩm nông nghiệp đáp ứng nhu cầu đời sống của xã hội Để đẩy mạnh CNH, HĐH cần phải thực hiện việc thu hồi quyền sử dụng đất của nhiều đối tượng, trong đó chủ yếu là của nông dân để theo hướng tăng tỷ trọng các ngành công nghiệp, xây dựng và dịch vụ để chuyển đổi sang mục đích phi nông nghiệp, từng bước chuyển dịch cơ cấu, giảm tỷ trọng các ngành nông, lâm, thủy sản, nhiều khu công nghiệp, khu đô thị mới được xây dựng, hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế -

xã hội được nâng cấp, xây mới ngày càng đồng bộ và hiện đại Nhờ đó, bộ mặt kinh tế - xã hội của đất nước đã thay đổi nhanh chóng theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại và văn minh Tuy nhiên, trong thời gian qua, việc Nhà nước thu hồi quyền sử dụng đất nông nghiệp đã và đang làm phát sinh nhiều vấn đề xã hội phức tạp như: việc làm, ô nhiễm môi trường, tệ nạn xã hội Đó

là quá trình tất yếu của quá trình phát triển Quá trình đó càng trở nên tất yếu đối với các nước đang quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa Chủ nghĩa Mác – Lênin đã chỉ rõ, trong quá trình đó, giai cấp công nhân và đảng của nó phải giải quyết những vấn đề xã hội nảy sinh đối với nông dân trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội Việc giải quyết tốt các vấn

đề xã hội nảy sinh khi nhà nước thu hồi quyền sử dụng đất của nông dân chính là nhân tố trực tiếp phát huy nhân tố con người trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, s tạo ra động lực to lớn cho quá trình phát triển kinh tế

- xã hội của đất nước

Ngày đăng: 25/11/2021, 08:06

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu (2008-2009): “Một số vấn đề kinh tế - xã hội nảy sinh từ việc thu hồi đất của nông dân đồng bằng Sông Hồng trong quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa”, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Một số vấn đề kinh tế - xã hội nảy sinh từ việc thu hồi đất của nông dân đồng bằng Sông Hồng trong quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa”
2. Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn: “Báo cáo tình hình thu hồi đất của nông dân để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa ” tháng 7/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Báo cáo tình hình thu hồi đất của nông dân để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa ”
3. Bộ Lao động – Thương binh và xã hội: “Báo cáo thực trạng việc làm của các hộ nông dân bị thu hồi đất, các vấn đề đặt ra và giải pháp thực hiện trong giai đoạn tới”, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Báo cáo thực trạng việc làm của các hộ nông dân bị thu hồi đất, các vấn đề đặt ra và giải pháp thực hiện trong giai đoạn tới”
4. Cục thống kê Hải Dương, Niên giám thống kê tỉnh Hải Dương năm 2010, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội, 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê tỉnh Hải Dương năm 2010
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
5. Cục thống kê Hải Dương, Niên giám thống kê tỉnh Hải Dương năm 2011, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội, 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê tỉnh Hải Dương năm 2011
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
6. Cục thống kê Hải Dương, Niên giám thống kê tỉnh Hải Dương năm 2012, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội, 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê tỉnh Hải Dương năm 2012
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
7. Cục thống kê Hải Dương, Niên giám thống kê tỉnh Hải Dương năm 2013, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội, 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê tỉnh Hải Dương năm 2013
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
8. Cục thống kê Hải Dương, Niên giám thống kê tỉnh Hải Dương năm 2014, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội, 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê tỉnh Hải Dương năm 2014
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
9. Cục thống kê Hải Dương, Niên giám thống kê tỉnh Hải Dương năm 2015, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội, 2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê tỉnh Hải Dương năm 2015
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
10. TS. Đặng Dũng Chí (2011), “Bảo đảm quyền lao động của các hộ nông dân bị thu hồi đất ph c v phát triển kinh tế, xã hội, khu vực đồng bằng sông Hồng”, Đề tài khoa học cấp cơ sở năm 2011, Viện nghiên cứu Quyền con người Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo đảm quyền lao động của các hộ nông dân bị thu hồi đất ph c v phát triển kinh tế, xã hội, khu vực đồng bằng sông Hồng”
Tác giả: TS. Đặng Dũng Chí
Năm: 2011
11. Quách Thị Kiều Dung, Ảnh hưởng của việc thu hồi đất đến đời sống nông dân qua thực tiễn ở huyện Mê Linh – Hà Nội, Luận văn Thạc sỹ, 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của việc thu hồi đất đến đời sống nông dân qua thực tiễn ở huyện Mê Linh
12. TS Nguyễn Hữu Dũng, Thực trạng thu nhập, đời sống và việc làm của người dân có đất bị thu hồi, chuyên đề nghiên cứu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng thu nhập, đời sống và việc làm của người dân có đất bị thu hồ
13. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb CTQG, Hà Nội,1987 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI
Nhà XB: Nxb CTQG
14. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb CTQG, Hà Nội, 1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII
Nhà XB: Nxb CTQG
15. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
16. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, Nxb CTQG, Hà Nội, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX
Nhà XB: Nxb CTQG
17. Đảngcộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, Hà Nội, 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Nhà XB: Nxb CTQG
18. Đảngcộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb CTQG, 2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII
Nhà XB: Nxb CTQG
19. Vũ Trường Giang (2010), Vấn đề việc làm cho nông dân bị thu hồi đất ở tỉnh Hải Dương, Luận văn thạc sỹ kinh tế chính trị, Trung tâm Đào tạo, Bồi dưỡng giảng viên LLCT - Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề việc làm cho nông dân bị thu hồi đất ở tỉnh Hải Dương
Tác giả: Vũ Trường Giang
Năm: 2010
20. haiduonggov.vn: Giải quyết các v mâu thuẫn, khiếu kiện trong nhân dân cần mềm dẻo, thận trọng, cương quyết, lấy vận động thuyết ph c là chính .Cập nhật: 10/28/2015 2:00 PM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải quyết các v mâu thuẫn, khiếu kiện trong nhân dân cần mềm dẻo, thận trọng, cương quyết, lấy vận động thuyết ph c là chính

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w