1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoạt động thư ký biên tập truyền hình của đài phát thanh truyền hình địa phương khu vực phía bắc (khảo sát tại đài pt th quảng ninh, đài pt th vĩnh phúc, đài pt th thái nguyên, năm 2015)

118 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 0,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cũng giống như Thư ký tòa soạn tại các Tòa báo, TKBT truyền hình có vai trò quan trọng trong việc tham mưu xây dựng khung sóng chiến lược; đạo diễn, sắp xếp các chương trình theo trình t

Trang 1

HỌC VIỆN BÁO CHÍ TUYÊN TRUYỀN

NÔNG THỊ THU THỦY

HOẠT ĐỘNG THƯ KÝ BIÊN TẬP TRUYỀN HÌNH CỦA ĐÀI PHÁT THANH - TRUYỀN HÌNH ĐỊA PHƯƠNG

KHU VỰC PHÍA BẮC

(Khảo sát tại Đài PT-TH Quảng Ninh, Đài PT - TH Vĩnh Phúc,

Đài PT-TH Thái Nguyên, năm 2015)

LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC

Hà Nội, 2016

Trang 2

HỌC VIỆN BÁO CHÍ TUYÊN TRUYỀN

NÔNG THỊ THU THỦY

HOẠT ĐỘNG THƯ KÝ BIÊN TẬP TRUYỀN HÌNH CỦA ĐÀI PHÁT THANH - TRUYỀN HÌNH ĐỊA PHƯƠNG

KHU VỰC PHÍA BẮC

(Khảo sát tại Đài PT-TH Quảng Ninh, Đài PT-TH Vĩnh Phúc,

Đài PT-TH Thái Nguyên, năm 2015)

Trang 3

THEO Ý KIẾN CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC

Chủ tịch hội đồng

TS Nguyễn Trí Nhiệm

Trang 4

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Luận văn được hoàn thành dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS,TS Nguyễn Thị Trường Giang Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và không trùng lặp với những công trình đã được công bố trước đây

Tác giả luận văn

Nông Thị Thu Thủy

Trang 5

CNTT : Công nghệ thông tin HĐND : Hội đồng nhân dân PT-TH : Phát thanh – Truyền hình TKBT : Thƣ ký biên tập

UBND : Ủy ban nhân dân

Trang 6

MỞ ĐẦU 1

Chương 1:CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA HOẠT ĐỘNG THƯ KÝ BIÊN TẬP TRUYỀN HÌNH 12

1.1 Khái niệm 12

1.2 Vai trò của hoạt động thư ký biên tập truyền hình 18

1.3 Những đặc điểm, yêu cầu trong hoạt động thư ký biên tập truyền hình 20

1.4 Mô hình hoạt động thư ký biên tập truyền hình tham khảo 25

Chương 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THƯ KÝ BIÊN TẬP TRUYỀN HÌNH CỦA MỘT SỐ ĐÀI PHÁT THANH - TRUYỀN HÌNH ĐỊA PHƯƠNG KHU VỰC PHÍA BẮC 35

2.1 Giới thiệu tổng quan về 3 Đài Phát thanh - Truyền hình khảo sát 35

2.2 Khảo sát hoạt động thư ký biên tập truyền hình tại Đài PT-TH Quảng Ninh, Đài PT -TH Vĩnh Phúc, Đài PT-TH Thái Nguyên 42

2.3 Những thành công và hạn chế trong hoạt động thư ký biên tập truyền hình hiện nay 56

Chương 3:MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG THƯ KÝ BIÊN TẬP TRUYỀN HÌNH CỦA ĐÀI PHÁT THANH TRUYỀN HÌNH ĐỊA PHƯƠNG KHU VỰC PHÍA BẮC 71

3.1 Giải pháp 71

3.2 Một số kiến nghị 78

KẾT LUẬN 81

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 83 PHỤ LỤC

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Báo chí Việt Nam là phương tiện thông tin đại chúng thiết yếu đối với đời sống xã hội, là cơ quan ngôn luận của Đảng, Nhà nước và các tổ chức xã hội, là diễn đàn của nhân dân Ngày nay, từ góc nhìn hiện đại, các loại hình báo chí (báo, tạp chí, truyền hình, phát thanh, báo ảnh, báo điện tử, hãng

thông tấn) được coi là lĩnh vực chủ chốt của truyền thông đại chúng Tính đến

nay, cả nước hiện có 849 cơ quan báo in, 67 Đài PT-TH, 98 báo, tạp chí điện

tử, một hãng Thông tấn quốc gia Tùy thuộc vào quy mô, vị trí và nhiệm vụ chính trị của từng loại hình báo chí Trung ương, địa phương, các Bộ ngành đã thiết kế bộ máy tòa soạn sao cho phù hợp với điều kiện của cơ quan chủ quản

và của chính tòa soạn đó Mỗi loại hình báo chí có một phương thức hoạt động riêng, nhưng đều có cùng những đặc điểm như tính đại chúng, tính ứng dụng công nghệ, tính thời sự và tính hấp dẫn Sản phẩm báo chí là sản phẩm của tập thể, do vậy để có sản phẩm báo chí hoàn thiện, đến với công chúng phải trải qua nhiều hoạt động khác nhau

Cùng với các loại hình báo chí và đội ngũ những người làm báo trong

cả nước, ngành truyền hình đã góp phần tích cực giữ vững ổn định chính trị, tăng cường an ninh, quốc phòng, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, thực hiện dân chủ hoá đời sống xã hội, được ghi nhận cụ thể qua chất lượng, nội dung thông tin, hình thức thể hiện của các chương trình tự sản xuất của các đài truyền hình ngày càng được nâng cao

Trong những năm qua, các Đài PT-TH khu vực phía Bắc đã nhận được sự quan tâm chỉ đạo sát sao của cấp ủy, chính quyền địa phương và đã không ngừng đổi mới, ứng dụng nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật, nâng cao chất lượng nội dung chương trình, thu hút khán giả quan tâm theo dõi, đáp

Trang 8

ứng nhu cầu ngày cao cao của nhân dân, góp phần nâng cao hiệu quả công tác thông tin tuyên truyền

Tuy nhiên, là loại hình báo chí ra đời muộn hơn so với báo in nên tổ chức bộ máy hoạt động của báo truyền hình còn nhiều vấn đề cần được quan tâm, đặc biệt là truyền hình tại các địa phương, trong đó có hoạt động TKBT truyền hình Cũng giống như Thư ký tòa soạn tại các Tòa báo, TKBT truyền hình có vai trò quan trọng trong việc tham mưu xây dựng khung sóng chiến lược; đạo diễn, sắp xếp các chương trình theo trình tự thời gian, phù hợp với từng thời điểm và là đầu mối cuối cùng đưa tác phẩm truyền hình lên sóng đến với công chúng Hoạt động TKBT truyền hình cũng bao gồm việc đưa ra yêu cầu đối với các tác giả, tác phẩm về quy trình hoàn thiện tác phẩm Tuy nhiên trên thực tế hiện nay tại các Đài PT-TH địa phương, hoạt động TKBT truyền hình còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn Chương trình truyền hình chưa đa dạng, phong phú, đi sâu vào thực tiễn của đời sống chính trị - xã hội, chưa hấp dẫn thu hút người dân ngay tại địa phương Bên cạnh đó là thực trạng xảy ra những lỗi sai cơ bản về chuyên môn nghiệp vụ khi lên sóng, hạn chế về tính chuyên nghiệp của báo chí truyền hình Có thể nói, hiện nay tại các Đài địa phương, mô hình TKBT truyền hình chưa rõ ràng về chức năng, nhiệm vụ, chưa có nghiên cứu cụ thể về quy trình, hoạt động thư ký biên tập chương trình Do vậy, mỗi Đài tự tìm cho mình một cách làm riêng, phù hợp với thực tiễn tại đơn vị Việc nghiên cứu, tìm hiểu về hoạt động TKBT là rất cần thiết nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả của công tác này, góp phần chuyên nghiệp hóa hoạt động nghiệp vụ truyền hình, nâng cao chất lượng chương trình và đảm bảo các vấn đề về an toàn phát sóng tại các Đài PT-TH địa phương hiện nay Trong khuôn khổ của 1 bài luận văn,

học viên xin phép được nghiên cứu đề tài: “Hoạt động Thư ký biên tập

truyền hình của Đài PT-TH địa phương khu vực phía Bắc” qua việc khảo

Trang 9

sát tại Đài PT-TH Thái Nguyên, Đài PT-TH Quảng Ninh và Đài PT-TH Vĩnh Phúc Đề tài được nghiên cứu sẽ giúp cho Đài PT-TH Thái Nguyên nói riêng

và các Đài PT-TH trong khu vực nói chung có những đánh giá bước đầu về thực trạng công tác TKBT truyền hình, mô hình tổ chức thực hiện Sự so sánh giữa cách làm của các Đài sẽ rút ra những cách làm có hiệu quả nhất, phù hợp với tình hình thực tế tại địa phương

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Qua tìm hiểu về các tài liệu liên quan đến đề tài luận văn Tác giả nhận thấy hiện nay có một số tài liệu viết về các hoạt động của TKBT nói chung cũng như truyền hình nói riêng Trong đó có một số tài liệu nghiên cứu

về Biên tập báo chí nói chung và TKBT tòa soạn báo in như:

Luận án Tiến sĩ “Nâng cao chất lượng hoạt động của Ban Thư ký Tòa soạn trong cơ quan báo chí” (Khảo sát một số nhật báo Trung ưng và Hà

Nội) của các tác giả Nguyễn Quang Hòa, 2009 Đề tài luận chứng về tính tất yếu khách quan, vai trò, vị trí, chức năng nhiệm vụ của Ban Thư ký tòa soạn trong cơ quan báo chí Tìm hiểu hoạt động của một Ban Thư ký tòa soạn nhật báo của Trung ương và Hà Nội Khảo sát quy trình ra báo của từng cơ quan báo chí về lịch sử, bộ máy nhân sự, dẫn chứng một số sai sót nghiêm trọng và những sai sót phổ biến trên từng tờ báo Nhận xét, góp ý quy trình ra báo của

6 tờ báo được khảo sát Tổng lược về thực trạng hoạt động của các Ban Thư

ký tòa soạn, trên cơ sở đó đề ra các giải pháp, kiến nghị

Cuốn “Biên tập báo chí” của tác giả Nguyễn Quang Hòa, NXB

Thông tin và Truyền thông Hà Nội, năm 2015 Cuốn sách được viết để phục

vụ đối tượng chính là sinh viên báo chí, những người sẽ trở thành phóng viên, biên tập viên ở các cơ quan báo chí, nhà xuất bản trong tương lai Với 6 chương, cuốn sách sẽ trả lời cho bạn đọc các câu hỏi như: Những ai biên tập báo chí?; Vị trí và đặc điểm của công tác biên tập là gì? Những loại lỗi phổ

Trang 10

biến trên báo và các lỗi hi hữu, xảy ra trong các hoàn cảnh đặc biệt; Những nguyên tắc khi biên tập; Người biên tập cần những tố chất gì để hoàn thành tốt công việc trong các tòa soạn đa phương tiện? Những loại kiến thức biên tập viên phải có để phục vụ cho công việc; Những điều cần chú ý khi biên tập các chuyên đề Xây dựng Đảng, Kinh tế, Văn hóa xã hội, Pháp luật, Thể thao Đồng thời, cuốn sách cũng nói rõ quy trình xuất bản ở các tòa soạn báo, hay nói cách khác là con đường đi của một bài viết, từ bản thảo của phóng viên tới

tờ báo trên tay bạn đọc (hoặc các trang điện tử, chương trình phát thanh, truyền hình) Tác giả cũng chỉ ra những kẽ hở trong quy trình biên tập, đó chính là những cạm bẫy đối với người biên tập và tất nhiên tác giả sẽ đưa ra

cả những cách khắc phục;

Cuốn “Khám phá nghề biên tập”của nhà báo Ngọc Trân, NXB Trẻ,

2013 Trong cuốn sách này, tác giả đã gọi nghề biên tập là nghề bí ẩn Tác giả

đã cung cấp các vấn đề chung nhất của công tác biên tập, thế nào là một biên tập viên chuyên nghiệp

Cuốn “Biên tập Ngôn ngữ sách và Báo chí” của tác giả Nguyễn Trọng

Báu, NXB Khoa học xã hội, năm 2002 Cuốn sách trang bị những kiến thức

và những kinh nghiệm cần thiết để biên tập viên, phóng viên và các tác giả tiến hành phân tích, xem xét, đánh giá và chỉnh sửa văn bản, bản thảo một cách khoa học, logic nhằm nâng cao chất lượng bản thảo tốt hơn Cuốn sách gồm hai phần Phần I, chuẩn ngôn ngữ và các quy định chuẩn trong biên tập; Phần II, các cấp độ ngôn ngữ trong biên tập và phương pháp sửa chữa trong văn bản;

Cuốn “Hướng dẫn cách biên tập” của tác giả Michael Voirol, NXB,

2004 Tác giả đề cập đến thao tác công tác biên tập, đặc trưng công tác biên tập, cách thức thực hiện tốt công tác biên tập…

Trang 11

Cuốn “Truyền thông đại chúng: Công tác biên tập” (Sách tham khảo nghiệp vụ) của tác giả Claudia Mast, dịch: Trần Hậu Thái, NXB Thông tấn,

năm 2007 Nội dung cuốn sách là những kiến thức nghiệp vụ cơ bản đối với các biên tập viên báo chí, phát thanh, truyền hình, cùng những hướng dẫn, lời khuyên, gợi ý rất hữu ích và cần thiết Những kiến thức cơ bản đó được trình bày một cách cô đọng, ngắn gọn

Cuốn “Con mắt biên tập” (The Editorial eye) của hai tác giả là Jane T

Harrigan và Karen Brown Dunlap, dịch: nhà báo Trần Đức Tài, NXB Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh Cuốn sách gồm 3 phần chính: biên tập bản thảo, biên tập nội dung và biên tập trang Cuốn sách chỉ rõ, biên tập viên hiện nay bắt buộc phải làm nhiều việc hơn, đa năng hơn Người biên tập ngày nay không chỉ làm việc với ngôn ngữ mà còn phải am hiểu các kỹ năng trình bày, dàn trang, tư duy hình ảnh

Cuốn “Nhà báo – Bí quyết – Kỹ năng – Nghề nghiệp” của các tác

Nguyễn Văn Dững, Hoàng Anh, NXB Lao động, năm 1998 Cuốn sách trình bày tỉ mỉ, sinh động các kinh nghiệm xử lí thông tin, xử lí văn bản của nhà báo - phóng viên và người biên tập Cuốn sách gồm 07 chương, đề cập đến những khía cạnh cụ thể hoạt động nghề nghiệp của phóng viên và biên tập viên, từ việc rút tít, đặt đầu đề, mào đề cho một tác phẩm, các nguyên tắc và dạng thức rút ngắn tin tức, tính khách quan của báo chí

Luận văn Thạc sĩ Báo chí học “Đổi mới phương thức đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ phóng viên, biên tập viên của Đài Truyền hình Việt Nam” của tác giả

Ngô Đình Tùng, bảo vệ tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền, năm 2014 Luận văn phân tích, làm rõ thực trạng đào tạo, bồi dưỡng phóng viên, biên tập viên tại Trung tâm đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ truyền hình, đề tài nghiên cứu này sẽ chỉ ra tầm quan trọng, khẳng định những thành công và nêu lên những vấn đề cần được giải quyết của hoạt động này Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp, kiến nghị cụ thể nhằm đổi mới phương thức đào tạo, bồi dưỡng cho đội

Trang 12

ngũ phóng viên, biên tập viên của Đài THVN tại Trung tâm đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ truyền hình trong bối cảnh hiện nay

Cuốn “Lao động Nhà báo – Lý thuyết và kỹ năng cơ bản” của tác giả

Lê Thị Nhã, NXB Thông tin và Truyền thông, 2010 Tác giả đã đề cập đến các khái niệm nhà báo, các phẩm chất và năng lực nghề báo Tác giả cũng đã

đề cập sâu vai trò nhiệm vụ của Tổng Biên tập, Phó Tổng Biên tập, Ban thư

ký tòa soạn và Biên tập viên…

Cuốn “Cơ sở lý luận Báo chí” của tác giả Nguyễn Văn Dững, NXB Lao

động Tác giả đề cập đến những nguyên lý chung nhất về lý luận, những quan niệm chung về báo chí, tính giai cấp của báo chí, chức năng báo chí, các nguyên tắc hoạt động báo chí, cơ sở về lý luận báo chí, bản chất của hoạt động báo chí…

Cuốn “Báo chí Truyền thông hiện đại” của tác giả Nguyễn Văn Dững,

NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2011 Tác giả đề cập đến hệ thống khái niệm truyền thông đại chúng, một số vấn đề đặt ra đối với báo chí, đối tượng, cơ chế tác động của báo chí…

Cuốn “Viết Báo như thế nào”của tác giả Đức Dũng, NXB Văn hóa –

Thông tin, 2006 Tác giả đề cập đến công tác sáng tạo tác phẩm báo chí, những

kỹ năng sáng tạo tác phẩm báo chí, thể loại báo chí…

Nhìn chung các nhà khoa học, nhà nghiên cứu, luận văn, luận án đều đi sâu đi sát vào hoạt động biên tập báo chí là chủ yếu, đến nay vẫn còn có ít đề tài, công trình nghiên cứu về hoạt động của người biên tập truyền hình đặc biệt là hoạt động thư ký biên tập truyền hình địa phương (khảo sát tại Đài PT – TH Thái Nguyên, Đài PT – TH Quảng Ninh, Đài PT – TH Vĩnh Phúc) Tác giả luận văn hy vọng qua đề tài này sẽ góp thêm tiếng nói vào lý luận chung về công tác TKBT truyền hình nhằm nâng cao chất lượng hoạt động của công tác này tại các Đài PT-TH địa phương, nhất là các Đài PT-TH địa phương khu vực phía Bắc, góp phần thông tin, đổi mới hình thức, tăng tính hấp dẫn

Trang 13

của thông tin trên sóng truyền hình Đồng thời, hy vọng những kết quả của đề tài nghiên cứu này cũng là tài liệu tham khảo đối với các cơ quan báo chí của các tỉnh khác và cả nước, là tài liệu phục vụ cho công tác học tập, nghiên cứu

và giảng dạy tại các cơ sở giáo dục, đào tạo

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1.Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở hệ thống những vấn đề lý thuyết liên quan đến đề tài, luận

văn khảo sát thực trạng hoạt động TKBT truyền hình của các Đài PT-TH địa

phương khu vực phía Bắc, từ đó đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng hoạt động TKBT truyền hình tại các Đài PT-TH địa phương

3.2.Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được những mục đích trên, luận văn cần giải quyết được những nhiệm vụ cơ bản sau:

- Hệ thống hóa những vấn đề lý thuyết liên quan đến đề tài như: Khái niệm, vai trò chức năng, nhiệm vụ, công tác tổ chức của hoạt động TKBT

truyền hình…

- Khảo sát, phân tích thực trạng hoạt động TKBT truyền hình tại 3

Đài PT-TH địa phương khu vực phía Bắc là Đài PT-TH Thái Nguyên, Đài

PT-TH Quảng Ninh, Đài PT-TH Vĩnh Phúc năm 2015

- Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị cụ thể nhằm nâng cao hoạt

động TKBT truyền hình các Đài PT-TH địa phương

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu về hoạt động TKBT truyền hình của Đài PT-TH

hình địa phương khu vực phía Bắc

Trang 14

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của đề tài là: Hoạt động TKBT truyền hình của Đài PT-TH địa phương khu vực phía Bắc Cụ thể, khảo sát tại Đài PT-TH Quảng Ninh, Đài PT-TH Vĩnh Phúc và Đài PT-TH Thái Nguyên Thời gian khảo sát là năm 2015

Tác giả chọn 3 Đài địa phương khu vực phía Bắc này để nghiên cứu vì đây là những Đài PT-TH địa phương trong những năm gần đây có sự phát triển, nhiều sự đổi mới trong hoạt động chuyên môn nghiệp vụ Đây cũng là những Đài nằm trong cụm khu vực Đông Bắc, đặc thù nguồn nhân lực, cơ sở vật chất cũng có nhiều sự tương đồng Thời gian khảo sát là những hoạt động

và chương trình truyền hình của 3 Đài trong năm 2015 nhằm đảm bảo về chất lượng khảo sát

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Luận văn được nghiên cứu dựa trên quan điểm nền tảng của Chủ nghĩa Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí tuyên truyền; quan điểm, chủ trương đường lối của Đảng và Nhà nước về báo chí và tuyên truyền, lý thuyết, chức năng, vai trò, nhiệm vụ của báo chí truyền hình, biên tập, thư ký

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Các phương pháp cụ thể được áp dụng trong luận văn gồm:

- Phương pháp khảo sát, so sánh đối chiếu: Luận văn sử dụng các

phương pháp này để so sánh đối chiếu công việc, các hoạt động TKBT trên các Đài PT - TH khảo sát để tìm ra sự tương đồng và khác biệt trong việc tổ chức thực hiện

- Phương pháp phân tích tài liệu: Dùng để phân tích các tài liệu là các

giáo trình, sách, luận án, luận văn, bài viết, bài báo liên quan đến đề tài từ đó

Trang 15

luận văn có được những luận cứ, luận chứng giúp cho quá trình xây dựng cơ

sở lý thuyết của đề tài

- Phương pháp phân tích nội dung: Dùng để phân tích những sản

phẩm, tác phẩm mà TKBT đã tham gia thực hiện Phương pháp này cũng được sử dụng để phân tích các hoạt động TKBT truyền hình địa phương trong các trường hợp khảo sát

- Phương pháp phỏng vấn sâu: Được sử dụng để thu thập thông tin,

đánh giá hiện trạng, những ý kiến, đề xuất về hoạt động thư ký biên tập truyền hình địa phương Các đối tượng lựa chọn phỏng vấn là một số nhà lãnh đạo báo chí, nhà báo, biên tập viên truyền hình Trong luận văn phỏng vấn 07 nhà báo, biên tập viên hiện đang làm việc tại Đài PT-TH Quảng Ninh, Đài PT-TH Vĩnh Phúc, Đài PT-TH Thái Nguyên

- Phương pháp nghiên cứu trường hợp: Dùng để nghiên cứu trường hợp

hoạt động TKBT truyền hình tại Đài PT-TH Quảng Ninh, Đài PT-TH Vĩnh Phúc, Đài PT-TH Thái Nguyên, trên cơ sở đó khái quát, đưa ra những nhận định, đánh giá hoạt động TKBT truyền hình ở các Đài PT-TH địa phương

Nhằm đảm bảo chất lượng và có dẫn chứng cụ thể, luận văn chọn lựa

và phân tích sâu một số hoạt động cụ thể của TKBT truyền hình địa phương

6 Đóng góp mới của luận văn

Luận văn đánh giá đúng thực trạng công tác TKBT truyền hình ở các Đài PT-TH Quảng Ninh, Đài PT-TH Vĩnh Phúc, Đài PT-TH Thái Nguyên từ

đó đề ra những giải pháp, kiến nghị mô hình tổ chức mới nhằm nâng cao chất lượng công tác TKBT truyền hình cho các Đài PT-TH địa phương khu vực phía Bắc

Những kết quả nghiên cứu sẽ giúp nâng cao hiệu quả công tác TKBT truyền hình , đồng thời giúp chương trình truyền hình ở các Đài PT-TH địa

Trang 16

phương khu vực phía Bắc hấp dẫn hơn, thu hút khán giả và phát triển mạnh hơn nữa, góp phần hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị của mình

7.Ý nghĩa lý luận và giá trị thực tiễn của đề tài

7.1 Ý nghĩa lý luận

Đây là công trình ở cấp độ Luận văn Thạc sĩ về hoạt động TKBT truyền hình của các Đài PT-TH địa phương khu vực phía Bắc, khảo sát đại diện các Đài PT-TH Quảng Ninh; Đài PT-TH Thái Nguyên, Đài PT-TH Vĩnh Phúc Luận văn sẽ làm sáng tỏ thực trạng, tìm hiểu các nguyên nhân, khẳng định vị trí, vai trò, đặc điểm, quy trình hoạt động TKBT truyền hình, đồng thời cung cấp những giải pháp có tính khả thi để nâng hiệu quả công tác TKBT truyền hình, từ đó nâng cao chất lượng chương trình, nêu lên những đề xuất, kiến nghị cấp ủy chính quyền địa phương, các cơ quan báo chí, Hội Nhà báo

Luận văn sẽ góp phần làm phong phú thêm những vấn đề lý luận về vai trò, chức năng, nhiệm vụ của công tác TKBT truyền hình tại các Đài/Kênh truyền hình nói chung và tại các Đài PT-TH địa phương nói riêng

Luận văn là tài liệu tham khảo về lý luận tại các cơ sở đào tạo báo chí

và truyền thông ở nước ta hiện nay

Dùng làm tài liệu tham khảo ở các cơ quan truyền thông, của những người làm báo

7.2 Giá trị thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ là nguồn tư liệu giúp cho những nhà lãnh đạo quản lý báo chí tham khảo, vận dụng để điều chỉnh chiến lược, quy hoạch phát triển hệ thống báo chí địa phương cho phù hợp với quy luật vận động và phát triển của báo chí, truyền thông Việt Nam

Luận văn có giá trị khảo sát thực tiễn với biên tập viên sắp, sẽ, đang tham gia công tác TKBT truyền hình địa phương hiện nay

Trang 17

Luận văn nêu lên một số đề xuất cụ thể với những người đang làm công tác lãnh đạo, quản lý tại các Đài PT-TH địa phương với mong muốn hoạt động TKBT truyền hình địa phương được thực hiện một cách bài bản, quy chuẩn và đạt được hiệu quả hơn

7 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận của hoạt động Thư ký biên tập truyền hình

Chương 2: Thực trạng hoạt động Thư ký biên tập truyền hình của Đài Phát

thanh – Truyền hình các tỉnh khu vực phía Bắc

Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng hoạt

động thư ký biên tập truyền hình của Đài Phát thanh – Truyền hình địa phương khu vực phía Bắc

Trang 18

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA HOẠT ĐỘNG THƯ KÝ BIÊN TẬP TRUYỀN HÌNH 1.1 Khái niệm

1.1.1 Biên tập

Theo Từ điển Tiếng Việt, “Biên tập là tổ chức biên soạn, sửa sang nội dung và hình thức diễn đạt, tổ chức trình bày hình thức để hoàn thành bản thảo đưa in Biên tập viên là người làm công tác biên tập, tổ chức biên soạn, góp ý kiến với tác giả, kiểm tra những sai sót của bản thảo, tài liệu đưa xuất bản” [50, tr.63]

Theo Ngọc Trâm, trong tài liệu Chụp ảnh biên tập bái chí có giải thích:

“Biên tập là một quy trình mà trong đó biên tập viên giúp cho phóng viên cải thiện việc viết lách, để cho bài vở trở nên rõ ràng và được trình bày một cách tốt nhất có thể được” [57, tr.3] Đây là cách hiểu đơn giản, gần gũi nhất về

công việc biên tập, tuy nhiên cách hiểu này cũng chưa đầy đủ, toàn diện về công tác biên tập

Trong cuốn “Cơ sở lý luận báo chí”, PGS- TS Nguyễn Văn Dững

cho rằng:

…Lao động biên tập không nên coi đó là hoạt động sửa chữa tin, bài, biên tập kịch bản…của biên tập viên hay cán bộ quản lý phòng, ban chuyên môn nghiệp vụ của tòa soạn, tham gia hoàn thiện, nâng cấp tác phẩm báo chí trước khi lên trang in hay phát sóng Trên thực tế, lao động biên tập thể hiện ở nhiều khâu công việc quan trọng khác nữa.Ví dụ xây dựng kế hoạch, nhất là chiến dịch thông tin, truyền thông;chủ động thiết lập và duy trì các mối quan hệ với phóng viên, cộng tác viên và các đối tác của tòa soạn…; xây dựng chủ đề thông tin của trang báo, số

Trang 19

báo hay chương trình phát thanh, truyền hình; xử lý các sự kiện, vấn đề và khủng hoảng Như vậy, sửa chữa tin bài, tham gia hoàn thiện tác phẩm báo chí chỉ là một trong nhiều công việc của lao động biên tập… [13, tr.269]

Còn trong cuốn “Lao động nhà báo – Lý thuyết và kỹ năng cơ bản”,

tác giả Lê Thị Nhã cho rằng: “…Biên tập là những người được tin cậy để các tác giả có thể trao gửi “đứa con tinh thần” mà mình thai nghén với hy vọng tác phẩm ra đời sẽ “mẹ tròn, con vuông” Biên tập viên là một trong những cánh tay nối dài của Ban Biên tập Họ giúp cho tác phẩm đúng hơn, hay hơn, đến với công chúng dễ dàng hơn….”…[36, tr.53] Với cách hiểu này, Biên tập

viên đóng vai trò quan trọng, sau Ban biên tập để có thể hoàn thiện tác phẩm đến với công chúng

Công tác biên tập là một khâu quan trọng của các loại hình báo chí nói chung Việc biên tập nhằm lược bỏ những câu từ rườm rà, những sai sót không đáng có mà phóng viên, cộng tác viên khi viết bài để xảy ra; đồng thời sửa chữa, bổ sung làm cho câu từ ngắn gọn, dễ hiểu, phù hợp với từng loại hình, thể loại báo chí, làm cho các tác phẩm báo chí chính xác hơn, hay hơn, hấp dẫn hơn Công việc biên tập là công việc thầm lặng, mặc dù tham gia vào tất cả các công đoạn, từ khâu lập kế hoạch, chỉnh sửa bản thảo, dàn trang báo hay soát lỗi, tuy nhiên, độc giả lại không biết tới biên tập viên vì họ không được đứng tên trên các bài báo như phóng viên

Biên tập viên là những nhà báo làm nhiệm vụ biên tập, nâng cao chất lượng, đảm bảo tính tư tưởng, nghệ thuật, khoa học của các bản thảo, tin, bài của phóng viên và cộng tác viên Bên cạnh đó, biên tập viên còn là người khai thác, tổ chức các nguồn tư liệu, tài liệu, tin, bài, đề tài… theo định hướng, kế hoạch của đơn vị Công việc chính của người biên tập là nhận xét, biên tập nâng cao chất lượng và chịu trách về nội dung bản thảo; chỉ dẫn các yêu cầu

Trang 20

trình bày kỹ thuật, mỹ thuật và tham gia tổng kết chuyên môn nghiệp vụ Nói một cách đơn giản, người biên tập thường là những người làm việc ở “bếp núc” một tờ báo Công việc của biên tập viên thường tĩnh hơn phóng viên Người biên tập là những người chiến sĩ thầm lặng Cụ thể hơn, công việc của biên tập viên văn bản bao gồm sửa lỗi ngữ pháp, từ vựng, chính tả Thật ra, biên tập viên văn bản báo chí phải làm nhiều hơn thế: suy nghĩ và suy nghĩ một cách sáng tạo, nhạy bén và quyết đoán với việc tổ chức tin bài cho các loại hình báo chí Ngày nay máy tính và chương trình soạn thảo có hỗ trợ người dung viết đúng chính tả Tuy nhiên, máy móc có thể sửa chữa chính tả nhưng chúng không thể tự động biên tập cho bạn về cách diễn đạt, từ ngữ biểu đạt phù hợp được Và người biên tập, đảm nhiệm công việc này

Biên tập báo chí là một nghề Nhưng thông thường lãnh đạo các cơ quan báo chí chọn ra một số phóng viên đã có kinh nghiệm làm báo lâu năm,

có khả năng viết tốt để làm công tác biên tập Như vậy, trong luận văn này,

khái niệm biên tập được hiểu là: “một hoạt động lao động sáng tạo tác phẩm, trong đó người thực hiện công việc biên tập phải tham gia vào việc lên kế hoạch tuyên truyền, tổ chức biên soạn, chỉnh sửa và trình bày tác phẩm đến với công chúng”

1.1.2 Thư ký và thư ký biên tập

Thư ký là một người chuyên thực hiện các công việc liên quan đến công tác hỗ trợ việc quản lý, điều hành trong văn phòng, thực hiện các công việc liến quan đến giấy tờ, các công việc tạp vụ hành chính, sắp xếp hồ sơ, soạn thảo văn bản, tiếp khách, lên lịch trình, tổ chức cuộc họp, hội nghị, lên

kế hoạch cho giám đốc Thư ký ban đầu chỉ thực hiện các chức năng liên quan đến việc ghi chép biên bản, hay các ý kiến chỉ đạo của người có thẩm quyền hay còn gọi là thư lại (thuật ngữ cổ) Ngày nay chức năng, nhiệm vụ và công

Trang 21

việc của các thư ký đã được mở rộng, thư ký đã trở thành một nghề phổ biến trong xã hội hiện đại

Khái niệm TKBT được hiểu là công việc của một hoặc một nhóm người làm nhiệm vụ tổng quát trong một cơ quan báo chí bao gồm tham mưu cho Ban biên tập về định hướng, kế hoạch thông tin, tuyên truyền; tổ chức thực hiện chủ trương của Ban biên tập; hoàn thiện, nâng cao chất lượng tác phẩm báo chí; thiết lập và duy trì các mối quan hệ với các phòng ban chuyên môn khác cũng như trực tiếp với phóng viên nhằm mục đích để chuẩn bị cho quy trình ra báo hay phát sóng chương trình

1.1.3 Thư ký biên tập truyền hình

Trong lịch sử hình thành và phát triển báo chí, báo in ra đời sớm hơn

so với truyền hình Do vậy, các khái niệm, cơ cấu tổ chức của một tòa soạn báo in được hiểu một cách rõ ràng hơn Đối với báo in, hoạt động Thư ký tòa

soạn được xem là “cánh tay nối dài của Ban biên tập” hoặc là “Người gác cổng cuối cùng”… Thư ký tòa soạn có các nhiệm vụ như: Tham mưu cho

ban biên tập về định hướng, kế hoạch thông tin, tuyên truyền; tổ chức thực hiện chủ trương của Ban biên tập; hoàn thiện, nâng cao chất lượng tác phẩm báo chí; thiết kế, tổ chức nội dung và hình thức của mỗi tờ báo; quan hệ với cộng tác viên, bạn đọc, nhà in, cơ sở phát hành để ghi nhận, lắng nghe chọn lọc ý kiến, để rút kinh nghiệm nhằm không ngừng nâng cao uy tín và chất lượng của tờ báo…

Trên cơ sở mô hình hoạt động của báo in cũng như chức năng, nhiệm

vụ của Thư ký tòa soạn báo in, khái niệm TKBT truyền hình được hiểu là:

“hoạt động của một hoặc một nhóm người có vai trò tổng quát trong các Đài Truyền hình có nhiệm vụ: xây dựng kế hoạch tuyên truyền, làm khung, vỏ; trực móc nối; trực đạo diễn phát sóng chương trình, nhận và kiểm tra thành phẩm của các chương trình trước giờ phát sóng, là đầu mối cuối cùng

Trang 22

kết nối toàn bộ chất liệu của các chương trình để chuẩn bị cho quy trình phát sóng, chịu trách nhiệm trước Ban biên tập về các vấn đề liên quan đến

an toàn phát sóng”

1.1.4 Nhiệm vụ của hoạt động thư ký biên tập truyền hình

Trong cuốn: “Nghề truyền hình khó nhỉ” của tác giả Bùi Chí Trung

có nêu:

Trong âm nhạc, hòa âm, phối khí được ví như công việc trang điểm cho một nét giai điệu, người ta thêm vào bản tổng phổ những dấu nhạc, quy định cho từng nhạc cụ đàn sáo trống phách được cất tiếng vào lúc nào để tạo nên một bản hòa ca Xây dựng khung chương trình cũng như vậy, đó là nghệ thuật tạo nên sự liên kết hài hòa của các nội dung khác nhau, đó là chìa khóa quyết định cho việc vì sao khán giả theo dõi chương trình truyền hình của bạn… [60, tr.53]

Thứ nhất, hoạt động TKBT truyền hình có nhiệm vụ quan trọng nhất là

việc xây dựng kế hoạch khung chương trình của Đài/Kênh truyền hình Đó là việc tham mưu xây dựng, sắp xếp các chương trình theo thứ tự về thời gian, nội dung để trình Ban biên tập phê duyệt và tổ chức thực hiện kế hoạch đã được phê duyệt Xây dựng khung chương trình của Đài/Kênh truyền hình - chính là lập chương trình truyền hình cho Đài/Kênh truyền hình đó Khán giả chọn một Đài/Kênh nào đó để xem là dựa vào công tác lập chương trình truyền hình của Đài/Kênh đó và nó có vai trò rất quan trọng, quyết định đến

sự thành bại của một Đài/Kênh truyền hình Khung chương trình - đó là một tập hợp gồm các chuyên mục, các loạt chương trình, chùm chương trình, xêri chương trình được bố trí sắp xếp phát sóng theo một nguyên tắc cho cả 1 tuần, trong đó các chương trình phối hợp bổ sung hỗ trợ cho nhau, có trình tự ổn định, tạo ra nội dung phong phú về đề tài, đa dạng về hình thức thể hiện, bao

Trang 23

hàm nhiều lĩnh vực của đời sống, đáp ứng nhu cầu của các đối tượng khán giả khác nhau (có thể là theo lứa tuổi, theo giới tính, theo sự yêu thích…) Khung chương trình có thể thay đổi theo mùa, do 1 chiến dịch tuyên truyền lớn nào

đó, đồng thời cũng có thể thay đổi vào các ngày đại lễ, hoặc khi có sự kiện đột biến xảy ra Trong một khung chương trình có sự khác nhau giữa các ngày thường với những ngày nghỉ, ngày cuối tuần, vào các ngày nghỉ thường được

bố trí phát sóng các chương trình giải trí Hoạt động này thường nằm trong phòng TKBT với nhiều người làm nhiệm vụ này, họ cùng gánh vác và chia sẻ một nhiệm vụ chung: Lên kế hoạch tuyên truyền, làm vỏ chương trình phát sóng 1 ngày trên 1 kênh phát sóng, giám sát, thẩm định, định hướng hỗ trợ cho phóng viên Lãnh đạo phòng TKBT, thông qua TKBT quyết định các sản phẩm truyền hình được sắp xếp theo trình tự thời gian như thế nào để đảm bảo tính chính trị, tính thẩm mỹ và phù hợp với nhu cầu của khan giả Từ nhiệm vụ và dự báo các sự kiện quan trọng sẽ xảy ra, từ nhu cầu, sở thích của khán giả, phòng chuyên môn thực hiện xây dựng kế hoạch tuyên truyền dựa trên tính định kỳ và tần suất phát sóng của các chương trình, chuyên mục Các phòng chuyên môn căn cứ vào kế hoạch này để xây dựng kế hoạch tuyên truyền chi tiết, cụ thể như đề tài, chủ đề, địa điểm, thời gian… cho phóng viên thực hiện

Thứ hai, hoạt động TKBT truyền hình bao gồm việc tiếp nhận và tổ

chức nghiệm thu các chương trình truyền hình từ các đầu mối, nguồn cung cấp trong và ngoài đơn vị theo chỉ đạo của Ban biên tập Việc tiếp nhận các chương trình từ các đầu mối chính là việc các phóng viên, biên tập viên của các phòng chuyên môn thực hiện nộp sản phẩm hoàn chỉnh (khâu tiền kỳ và hậu kỳ), sau đó, chương trình sẽ được nghiệm thu (duyệt), đánh giá về chất lượng và nội dung có đủ điều kiện để phát sóng hay không Hội đồng thẩm định chương trình là những chuyên gia, lãnh đạo ban biên tập được Giám đốc

Trang 24

uỷ quyền kiểm tra đánh giá quyết định một chương trình đủ điều kiện để phát sóng trên kênh Tại các Đài/Kênh truyền hình, bất kỳ một chương trình nào được phát sóng đều phải qua khâu tiếp nhận và nghiệm thu để đảm bảo quy trình phát sóng TKBT chịu trách nhiệm tổ chức hoạt động nghiệm thu của Hội đồng thẩm định

Thứ ba, hoạt động TKBT truyền hình có nhiệm vụ biên tập – kiểm tra

chương trình phát sóng - lập trình tự phát sóng ngày Đây là nhiệm vụ do Biên tập viên – Đạo diễn phát sóng thực hiện Căn cứ vào khung và kế hoạch phát sóng, đạo diễn kiểm tra, rà soát lại thông tin từ các chương trình đã được nghiệm thu từ Hội đồng thẩm định, sau đó lập trình tự phát sóng ngày Hoạt động biên tập ở đây được hiểu là thực hiện biên tập nội dung chương trình, chèn các chương trình cổ động, quảng bá sao cho đảm bảo các yếu tố về tố về tôn chỉ, mục đích, chất lượng, thời lượng của chương trình Đạo diễn chương trình phát sóng là hoạt động trực tiếp sắp xếp các chương trình theo trình tự, đảm bảo an toàn phát sóng

1.2 Vai trò của hoạt động thư ký biên tập truyền hình

Trong một Đài truyền hình, sản phẩm truyền hình là sản phẩm của tập thể với nhiều khâu sản xuất Từ phóng viên, biên tập viên, quay phim, đạo diễn, tổ chức sản xuất, chịu trách nhiệm nội dung… Theo đó, các phòng ban chức năng cũng được phân công nhiệm vụ cụ thể để đảm bảo một sản phẩm truyền hình được sản xuất và đưa đến với công chúng Người ta thường ví Ban TKBT giống như “Bộ tổng tham mưu” hay “Người gác cổng cuối cùng” Các hình ảnh ví von này đã nói lên một phần vị trí, vai trò của hoạt động thư

ký biên tập truyền hình Trên thực tế, Thư ký toà soạn (đối với báo in) và TKBT (đối với truyền hình) đều có cùng nhiệm vụ, chức năng thay mặt Ban biên tập tổ chức nội dung và hình thức của từng số báo, chương trình Đảm báo tính chính trị, tư tưởng, văn hóa, mỹ thuật và chất lượng của mỗi tác

Trang 25

phẩm, chương trình Theo đó, hoạt động TKBT chương trình truyền hình có vai trò đặc biệt quan trọng trong một Đài/Kênh truyền hình

Hoạt động TKBT truyền hình góp phần đảm bảo thực hiện đúng tôn chỉ, mục đích của một Đài/kênh truyền hình, thực hiện đúng định hướng của công tác tư tưởng, trúng vấn đề dư luận đang quan tâm Trên thực tế, tại mỗi Quốc gia, báo chí nói chung và truyền hình của nói riêng đều mang hình thức

và sắc thái của cơ cấu xã hội – chính trị mà nó hoạt động Báo chí nước ta cũng vậy Dựa trên nhiệm vụ chính trị của từng giai đoạn cách mạng, báo chí nước ta được Đảng định hướng tuyên truyền Trên cơ sở đó, các cơ quan báo chí tùy theo chức năng, nhiệm vụ, đề ra kế hoạch tuyên truyền từng thời kỳ, từng chương trình theo định hướng chung, trúng với vấn đề dư luận quan tâm

Hoạt động TKBT truyền hình có vai trò quyết định trong việc tham mưu xây dựng khung chiến lược tuyên truyền, xây dựng thương hiệu của một Đài/Kênh truyền hình Thực tế cho thấy, nhà báo hoạt động không theo kế hoạch tuyên truyền thì chẳng khác gì người đi đường mất phương hướng Tờ báo hay kênh truyền hình không có kế hoạch tuyên truyền chẳng khác con tàu không bến Không những thế, để tạo dựng được uy tín, kênh truyền hình phải xây dựng được kế hoạch tuyên truyền rất cụ thể và chi tiết, có khả năng kiểm soát mọi nguồn thông tin, đáp ứng kịp thời nhu cầu của khán giả đưa tác phẩm truyền hình lên sóng, đến với khán giả

Hoạt động TKBT góp phần đảm bảo các chương trình truyền hình được thực hiện đúng quy trình sản xuất và an toàn phát sóng Theo đó, các sản phẩm khác nhau được tạo ra bởi những ê kíp khác nhau được tập hợp về một đầu mối chung sau khi đã được giám sát, kiểm tra về tiến độ sản xuất, hoàn thiện sản phẩm, trong đó các tác giả phải báo cáo thông tin về chương trình của mình như thời lượng, địa chỉ file video…TKBT tổ chức thẩm định tác phẩm, đưa tác phẩm vào list phát sóng theo khung chương trình theo ngày,

Trang 26

cùng kỹ thuật phát sóng tiến hành đạo diễn phát sóng, đảm bảo các chương trình phát sóng được hoàn chỉnh tới mức tối đa về chất lượng nội dung, thời lượng và tiến độ, đạt các giá trị về tôn chỉ mục đích của kênh sóng, thẩm mỹ, phù hợp với nhu cầu của khán giả

Hoạt động TKBT được ví như người gác cổng cuối cùng, vì vậy có vai trò quyết định trong việc đảm bảo tính chân thật của báo chí Báo chí phản ánh chân thật của cuộc sống Do vậy, mỗi thông tin, thông điệp đưa ra trong mỗi chương trình truyền hình đều phải đảm bảo tính chính xác, có lợi cho đất nước, cho nhân dân Hoạt động TKBT phải thực hiện lần cuối khâu kiểm tra, rà soát, phát hiện và báo cáo lãnh đạo Ban biên tập về những thông tin, chương trình chưa đảm bảo tính chính xác

1.3 Những đặc điểm, yêu cầu trong hoạt động thư ký biên tập truyền hình

Hoạt động TKBT là hoạt động xây dựng chương trình truyền hình Chương trình truyền hình là chương trình tổng hợp của nhiều loại chương trình

đề cập đến các vấn đề chính trị - kinh tế - văn hóa – xã hội Bởi vậy việc xây

dựng chương trình phải có khoa học, có kế hoạch mới đảm bảo sự thống nhất

trong quá trình truyền thông truyền hình Nếu xét về mức độ cơ cấu thì nội dung chương trình truyền hình trước tiên phải hướng tới tư tưởng, chủ đề Có thể nói

tư tưởng là điểm xuất phát để xác định cách thức và khuynh hướng của chương trình Làm sao để chương trình hay và có tác dụng thiết thực, hiệu quả là vấn đề cần được chú ý Sự tác động về mặt tư tưởng được biểu hiện trong toàn bộ những yếu tố cơ cấu của chương trình từ thông tin, lựa chọn, bố cục sự kiện, thông qua sự phân tích đánh giá về mặt tư tưởng đến tất cả các thể loại, từ thông

báo tin tức đến phân tích, tổng hợp, đánh giá,…

Mục tiêu tư tưởng của chương trình là hình thành được thế giới quan khoa học, tập hợp và thống nhất các thành viên của xã hội, được thể hiện một

Trang 27

cách trực tiếp mang tính hệ thống trong các chương trình truyền hình.Yếu tố chính trị tồn tại năng động, dựa trên tư tưởng, thể hiện một cách trực tiếp, trong ý thức và trong sự cụ thể của những mục tiêu và nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong từng giai đoạn cụ thể Khi xây dựng chương trình truyền hình phải bám sát những mục tiêu, nhiệm vụ, kế hoạch phát triển đất nước và chức năng, nhiệm vụ của truyền hình phải làm sao hoàn thành những công việc đó Để xây dựng một chương trình truyền hình cần qua các bước:

Bước một, lập kế hoạch tuyên truyền cho từng kênh, từng chương trình

từ tổng thể đến cụ thể Kế hoạch của cơ quan đài truyền hình là sự tạo lập kế hoạch tác phẩm báo chí dựa theo các thể loại để sáng tạo tác phẩm mà truyền hình cần chuyển tới công chúng Nhưng nếu kế hoạch quý hay tháng còn là giai đoạn tổ chức trong nội bộ đài, thì chương trình truyền hình tuần luôn là

hệ thống mở Chương trình tuần - hình thức và nội dung của truyền hình là vật chất hóa nội dung theo chức năng của nó trong xã hội Kế hoạch tuần đó

là hình thức mà kết quả hoạt động phải đạt tới Giai đoạn quan trọng trong chương trình là phân bố chương trình Việc lập kế hoạch tuyên truyền phải tạo lập một hệ thống chương trình – chuyên mục ổn định cho Kênh, trong đó lựa chọn ra cho được một số chương trình – chuyên mục làm thương hiệu cho Kênh, khác biệt hóa với các Kênh/Đài khác, để tập trung đầu tư tài lực, vật lực Từ đó định hình khung giờ vàng, khung giờ ưu tiên làm thương hiệu… Khung chương trình phải ổn định lâu dài, chỉ tiến hành điều chỉnh cục bộ 1-2 lần/năm khi có lý do xác đáng Coi việc duy trì bản sắc – chiến lược khác biệt hóa của kênh là ưu tiên cao nhất, phải tuân thủ nghiêm ngặt qui trình về hành chính, tính hiệu quả kinh tế, và đặc biệt là chỉ số đo lường khán giả Cùng với xây dựng Khung chương trình, tiến hành xây dựng khung quảng bá Căn cứ

để xây dựng là chiến lược định vị bản sắc thương hiệu kênh, hệ thống đồ hoạ nhận diện kênh; các sản phẩm quảng bá chính của kênh

Trang 28

Bước hai, lập kế hoạch thực hiện khung chương trình, bao gồm việc

lên và giao kế hoạch sản xuất cho các chuyên mục; mua bản quyền, trao đổi chương trình, khai thác chương trình; kế hoạch phối hợp sản xuất Căn cứ vào khung chương trình, kế hoạch dự kiến, tiến hành giao kế hoạch sản xuất quí/tháng cho các phòng chuyên môn, cụ thể hoá bằng lịch phát sóng quí/tháng/tuần Kế hoạch này cũng sẵn sàng cho việc thay đổi khi có những chương trình đột xuất, sự kiện nóng

Bước ba, xây dựng bố cục chương trình là sự phân bố và sắp xếp tin

bài vào các vị trí xác định, trình bày sao để công chúng theo dõi một cách thuận lợi, nhanh nhất và rõ nét trong việc tiếp cận thông tin Những chương trình truyền hình dựa vào thời gian phát sóng phân ra các chương trình riêng biệt thường có thời lượng được xác định; vào lịch cố định và có tín hiệu, nhác hiệu riêng Việc phân bố chương trình trở thành phương pháp thu hút sự chú ý của công chúng truyền hình Mối quan hệ qua lại giữa màn ảnh nhỏ và công chúng là cơ sở để xây dựng các chương trình truyền hình Mối quan hệ này được thể hiện là công chúng với các chương trình truyền hình thông qua các chuyên mục, thể loại cùng với hoàn cảnh thực tế của người xem, tạo nên việc phân bố chương trình một cách hợp lý

Phương pháp phân bố chương trình là xuất phát từ mục tiêu đảm bảo cho sự tác động của chương trình vào công chúng một cách mạnh mẽ nhất Cách phân bố chương trình phải hướng tới đông đảo công chúng, được bắt đầu từ việc lựa chọn thông tin theo cấp độ ý nghĩa chính trị xã hội của các thông tin đó (phân bố theo nội dung, các giai đoạn chính của nội dung được phát sóng) Tính liên tục của các chương trình được tính bằng đặc điểm tâm lý tiếp nhận của công chúng, tức là vấn đề thời gian tối ưu để xem chương trình

và qua nó giáo dục thói quen cho công chúng Các chương trình có thể được

phân bố theo nội dung, tức là sự phân bổ chương trình theo các địa chỉ cụ thể

Trang 29

vào thời điểm đã dự tính trong ngày Khi chương trình phát sóng còn hạn chế, vấn đề đó không đặt ra, nhưng khi truyền hình đã phát sóng liên tục với thời lượng phát sóng lớn thì phải tính đến, ví dụ như chương trình “Chào buổi sáng, Thời sự, Thể thao, Văn nghệ…” Nội dung phân bố theo cụm (khối) nhiều chương trình tạo thành kênh truyền hình có thể phát sóng đồng thời Mỗi kênh với thời gian vừa phải giúp cho việc định hướng nhằm phục vụ một đối tượng chuyên biệt nào đó hoặc toàn bộ công chúng Truyền hình không có khả năng chuyên sâu vào các lĩnh vực, không có khả năng lựa chọn thông tin như ở báo in Từ đó xuất hiện nhiều kênh truyền hình cùng một lúc đồng thời

là để công chúng lựa chọn Việc xuất hiện nhiều kênh truyền hình dẫn đến vấn đề mới là giao thoa trong phân bố thông tin để xây dựng nội dung phát sóng của các kênh truyền hình Nhiều kênh cùng phát sóng một lúc đó là khuynh hướng phát triển chung của truyền hình hiện đại Đặc điểm cơ bản của truyền hình ngày nay là làm thay đổi nhiệm vụ của chương trình Đó là khối lượng phát sóng lớn, thời lượng phát sóng ngày càng tăng chiếm nhiều giờ trong một ngày của các chương trình truyền hình từ đài truyền hình trung ương, địa phương, khu vực, các đài thế giới truyền hình có thể phát sóng đồng thời Mỗi kênh với thời gian vừa phải giúp cho việc định hướng nhằm phục vụ một đối tượng chuyên biệt nào đó hoặc toàn bộ công chúng Trong một chương trình bao giờ cũng phải toát lên chủ đề tư tưởng và khuynh hướng chung của chương trình, đó là chủ đề và thể loại Mỗi chương trình trong các kênh truyền hình cần phải trả lời các câu hỏi sau: Cái gì? (Nội dung

đề cập); Như thế nào? (Thể loại, hình thức…) Cho ai? (Cho toàn thể công chúng hay cho một đối tượng riêng biệt); Khi nào? (Vào thời gian phù hợp nhất và vào lúc bắt buộc); Tại sao? (Theo nhu cầu xã hội) Tất nhiên, trên thực tế không có sự thống nhất hoàn toàn các chương trình phát sóng trong điều kiện nhiều kênh cùng phát sóng, cũng như không có và không bao giờ có

sự nhất trí hoàn toàn về sở thích của con người, thậm chí ngay trong cùng một

Trang 30

gia đình Do vậy, các chương trình phải có sự tác động lẫn nhau Từ đó khi xây dựng bố cục chương trình phải tính đến sở thích và điêu kiện của từng nhóm trong cơ cấu công chúng để tạo ra sự lựa chọn chung mà sự lựa chọn này có thể thỏa đáng ở các kênh khác nhau cũng như phải tính đến mâu thuẫn

trong sơ thích của các nhóm công chúng khác nhau

Một trong những yêu cầu đặt ra trong hoạt động TKBT truyền hình là phải xây dựng được chương trình truyền hình dựa trên các nguyên tắc Nguyên tắc lựa chọn khán giả mục tiêu là nghệ thuật xây dựng kết cấu chương trình đạt được tính phổ cập và phù hợp với nhu cầu đối tượng khán giả mục tiêu, để họ luôn muốn tiếp tục ngồi xem và không muốn chuyển sang kênh khác Phải tính toán chi tiết từng khung giờ, từng thời điểm trong ngày

để sắp xếp các chương trình truyền hình phù hợp, ví dụ đâu là khung giờ dành cho phim hoạt hình thiếu nhi, đâu là khung giờ phim truyện dành cho các bà nội trợ, hoặc đâu là thời điểm dành cho cánh đàn ông theo dõi thể thao Chỉ cần hoán đổi vị trí một cách bất hợp lý, bạn sẽ thấy ngay việc khán giả tự dời

bỏ kênh sóng Nguyên tắc về “mạch nội dung” đưa ra yêu cầu phải biết sắp xếp nội dung theo một chỉnh thể thống nhất và liền mạch, ví dụ như xếp đặt giữa hai chương trình “đinh” một nội dung phụ trợ mang tính liên kết để vừa lôi cuốn người xem cho nội dung đó, vừa cho họ “nếm” một món ăn lạ để tăng sức hấp dẫn trước khi thưởng thức món ăn ngon nhưng đã quen thuộc Nguyên tắc “chống chuyển kênh liên tục” đưa ra yêu cầu về việc sắp xếp các chương trình bằng nghệ thuật “níu kéo khán giả” Có một thói quen xuất hiện khi chiếc điều khiển từ xa của máy thu hình ra đời, đó là việc khán giả luôn thích cầm nó để chuyển đổi liên tục hết kênh này đến kênh khác Trung bình mỗi chương trình chỉ được “ngó” qua trong vòng 15 giây để người xem có thể dừng lại theo dõi tiếp hay không Nhiều khán giả thường quyết định xem có nên dừng lại hay tiếp tục chuyển kênh khác thậm chí trong vài giây Sự “nhẩy cóc” liên tục đó tác động không nhỏ đến khả năng tiếp thụ tác

Trang 31

phẩm truyền hình Có thể níu giữ khán giả bằng nhiều cách, ví dụ trước khi phát sóng một chương trình mới, người ta cho chạy băng một đoạn giới thiệu thật hay (trailer) về nội dung sẽ tới trong ít phút, điều này gây cho người xem tâm lý tò mò, muốn được biết sẽ có gì xảy ra, vậy là khán giả đó sẽ tiếp tục theo dõi chương trình chứ không bỏ kênh sang kênh khác Xét trên nguyên tắc này thì bạn có thể đưa những loạt quảng cáo vào các chương trình chuyên đề hoặc gameshow, theo đó, thì người dẫn chương trình sẽ giới thiệu những nội dung quan trọng sẽ phát trên sóng ngay sau loạt quảng cáo Nếu họ không làm điều này thì khán giả ngay lập tức sẽ muốn chuyển sang theo dõi kênh khác

Hệ thống các nội dung giới thiệu chương trình, những đoạn nội dung hay nhất, hấp dẫn nhất được sử dụng đúng vào những thời điểm tạo bất ngờ sẽ làm cho khán giả kịp cảm nhận đánh giá và để tâm theo dõi Hãy tưởng tượng công việc này như việc làm “mồi câu cá”, đó thực sự là một nghệ thuật chứ không phải công việc chỉ để làm cho xong Nguyên tắc “điểm nhấn” là nghệ thuật nhấn mạnh những nội dung quan trọng nhất Thật thú vị vì điểm nhấn hay còn gọi là cao trào có thể thấy trong mỗi bài hát, trong mỗi vở kịch hay từng chương trình ca nhạc Cao trào là sự thể hiện đỉnh điểm của cảm xúc Nó được dùng trong trường hợp người sắp xếp chương trình muốn đưa lên trên sóng những chương trình hấp dẫn nhất kể từ đầu mùa đến giờ nhằm mục đích lôi kéo số lượng đông đảo khán giả nhất

1.4 Mô hình hoạt động thư ký biên tập truyền hình tham khảo

1.4.1 Hoạt động thư ký biên tập tại Ban thư ký Biên tập – Đài Truyền hình Việt Nam

Hiện nay trên cả nước, Đài Truyền hình Việt Nam là đơn vị đi đầu trong việc vận hành cơ cấu, tổ chức hoạt động trong lĩnh vực truyền hình Sự phát triển ngày càng lớn mạnh của Đài Truyền hình Việt Nam là minh chứng cho thấy công tác quản lý, điều hành hoạt động của đơn vị đi vào nề nếp, chuyên sâu và có tính nghề Tại Đài Truyền hình Việt Nam, Ban TKBT là

Trang 32

đơn vị tham mưu cho lãnh đạo Đài về công tác chương trình, Ban TKBT có nhiệm vụ theo dõi nội dung, bố trí mặt thể hiện trên các kênh sóng, nghiên cứu các vấn đề nội dung, các nguồn dư luận và thông tin giúp cho lãnh đạo Đài đưa ra những phương hướng, những quyết sách về nội dung tuyên truyền của Đài THVN Ban TKBT cũng là đơn vị xây dựng và phối hợp xây dựng khung chương trình phát sóng các kênh, các trung tâm của Đài THVN; xây dựng và phân bổ kế hoạch sản xuất chương trình và trực tiếp nghiệm thu, sắp xếp, tổ chức phát sóng ba kênh quảng bá quan trọng nhất là VTV1, VTV2, VTV3 của Đài THVN Đồng thời cũng là đơn vị quản lý công tác đồ họa, xây dựng chiến lược phát triển đồ họa, phát triển thương hiệu, sản xuất các trailer, các sản phẩm cổ động, giới thiệu quảng bá các chương trình của Đài THVN Bên cạnh đó, Ban TKBT còn quản lý và phụ trách nội dung thông tin trên website VTV.vn, là cầu nối VTV với khán giả cả nước và trực tiếp sản xuất một số nội dung chuyên mục Hiện nay Ban TKBT đã thực hiện áp dụng nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật với hệ thống máy móc hiện đại, thực hiện duyệt chương trình trên mạng, xây dựng các phần mềm quản lý phát sóng, quản lý tư liệu phục vụ cho nhu cầu quay vòng sản xuất Trên cơ sở vị trí và vai trò, chức năng được Ban giám đốc giao, Ban TKBT được có những nhiệm

vụ và quyền hạn rất cụ thể làm căn cứ thực hiện nhiệm vụ

Ban TKBT có nhiệm vụ chủ trì, phối hợp với các đơn vị có liên quan xây dựng kế hoạch khung chương trình cho các kênh sóng của Đài Truyền hình Việt Nam trình Tổng Giám đốc phê duyệt và tổ chức thực hiện kế hoạch

đã được phê duyệt Xây dựng kế hoạch định hướng nội dung tuyên truyền trình Tổng Giám đốc phê duyệt và thừa uỷ quyền thông báo cho các đơn vị thực hiện Thường trực Hội đồng nghiệm thu của Đài Truyền hình Việt Nam; tiếp nhận và tổ chức nghiệm thu các chương trình truyền hình từ các nguồn cung cấp trong và ngoài Đài theo chỉ đạo của Tổng Giám đốc Tổ chức biên

Trang 33

tập, đạo diễn chương trình phát sóng trên các kênh VTV1, VTV2, VTV3 Tổ chức sản xuất các chương trình cổ động, giới thiệu chương trình, đệm, các hình hiệu, Trainler; khai thác, phát lại các chương trình truyền hình địa phương và các chương trình cần thiết khác Chủ trì, phối hợp với các đơn vị

có liên quan xây dựng, điều chỉnh, bổ sung kế hoạch sản xuất năm, quý, tháng; kế hoạch cung ứng băng, đĩa hình tiền kỳ và thành phẩm trình Tổng Giám đốc và tổ chức thực hiện kế hoạch đã được phê duyệt Tham mưu cho Tổng Giám đốc về việc quản trị và phát triển thương hiệu VTV Chủ trì, phối hợp với các đơn vị có liên quan tham mưu cho Tổng Giám đốc về việc hướng dẫn các đài truyền hình, đài phát thanh truyền hình địa phương về tên viết tắt bằng tiếng Việt, tên bằng tiếng Anh, tên viết tắt bằng tiếng Anh của các đài truyền hình, đài phát thanh truyền hình địa phương Tổng hợp ý kiến bạn xem truyền hình, các kết quả điều tra xã hội học người xem truyền hình và đề xuất phương hướng xử lý các vấn đề có liên quan đến chương trình truyền hình cho phù hợp với yêu cầu của khán giả Chịu trách nhiệm quản lý và phát triển trang thông tin chính thức của Đài Truyền hình Việt Nam Chịu trách nhiệm trước Lãnh đạo Đài về việc cấu tạo, bố trí, sắp xếp các chương trình phát sóng hàng ngày Phối hợp với Trung tâm kỹ thuật sản xuất chương trình, Trung tâm kỹ thuật truyền dẫn phát sóng đảm bảo các chương trình phát sóng hàng ngày đúng quy định Xây dựng quy hoạch, quy chuẩn và định hướng phát triển công tác thiết kế đồ hoạ của Đài Truyền hình Việt Nam; quản lý, sản xuất và thẩm định chất lượng hệ thống các sản phẩm

đồ hoạ trên các kênh của Đài Truyền hình Việt Nam đảm bảo tính thống nhất

và sự toàn vẹn của thương hiệu VTV Là đơn vị chủ trì xây dựng kế hoạch phối hợp với các Đài Truyền hình, Đài PT-TH địa phương sản xuất các chương trình địa phương để phát trên sóng truyền hình quốc gia (trừ tin tức thời sự), tham mưu cho Tổng Giám đốc về nội dung các cuộc Liên hoan truyền hình toàn quốc và các hoạt động khác khi được giao Soạn thảo nhiệm

Trang 34

vụ cụ thể, quy chế, lề lối làm việc, mối quan hệ công tác của Ban với các đơn vị trực thuộc Đài trình Tổng Giám đốc quyết định Phối hợp với Ban

Tổ chức cán bộ xây dựng kế hoạch đào tạo, đào tạo lại và bồi dưỡng nghiệp

vụ cho cán bộ, viên chức và người lao động thuộc đơn vị; xây dựng quy hoạch cán bộ đáp ứng nhu cầu công tác của Ban Quản lý theo phân cấp về tổ chức cán bộ, tài chính, tài sản của Ban theo quy định chung của Đài

Về cơ cấu tổ chức: Ban TKBT có 8 phòng chuyên môn, bao gồm: Phòng nội dung chương trình; phòng công tác bạn xem truyền hình; phòng Biên tập – Đạo diễn chương trình VTV1; phòng Biên tập – Đạo diễn chương trình VTV 2; phòng Biên tập – Đạo diễn chương trình VTV3; phòng Biên tập web; phòng Thiết kế đồ hoạ; phòng Hành chính Tổng hợp

Với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức như trên, hoạt động thư ký biên tập được xem là đầu mối cuối cùng kết nối toàn bộ chất liệu của các chương trình, để chuẩn bị cho quy trình phát sóng TKBT có nhiệm vụ: kiểm tra thành phẩm của các chuyên mục 3 tiếng trước giờ phát sóng, là đầu mối quản lý, chạy băng phát sóng tại trường quay, chịu trách nhiệm về các vấn đề liên quan đến an toàn phát sóng

Sau 46 năm, kể từ ngày phát sóng số đầu tiên đến nay, những người làm công tác TKBT chương trình đã góp phần rất lớn cùng các đơn vị trong Đài đưa thương hiệu VTV trở thành một thương hiệu mạnh, có uy tín, có sức lan tỏa mạnh mẽ trong cả nước , xứng đáng giữ vai trò là Đài Truyền hình Quốc gia của Việt Nam

1.4.2 Hoạt động thư ký biên tập truyền hình tại Phòng thư ký Biên tập, tư liệu - Kênh truyền hình Công an nhân dân ANTV

Kênh Truyền hình Công an Nhân dân ANTV là kênh truyền hình tổng hợp, chuyên biệt Về mảng chuyên biệt, ANTV tập trung phản ánh các vấn đề

về an ninh trật tự trong nước và quốc tế, được cơ cấu vào dải giờ vàng từ 20 giờ đến 21 giờ thứ hai đến thứ sáu hàng tuần Dải các chương trình chuyên đề,

Trang 35

chuyên biệt có nhiệm vụ phản ánh hoạt động của Lực lượng CAND, các chiến công, sự hy sinh, vất vả của người chiến sĩ CAND trên mặt trận đấu tranh phòng chống tội phạm và bảo vệ an ninh quốc gia, đồng thời xây dựng và khắc họa hình tượng người chiến sĩ công an vì nước quên thân vì dân phục

vụ Một điểm nhấn trong ngày của Kênh ANTV là 4 bản tin thời sự trực tiếp góp phần chuyển tải đến khán giả cả nước hoạt động của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, lãnh đạo Bộ Công an, các vấn đề an ninh trật tự, kinh tế chính trị văn hóa diễn ra trong ngày trên toàn quốc và quốc tế Là một Kênh truyền hình chuyên biệt, mới đi vào hoạt động từ năm 2011, song về cơ cấu tổ chức, hoạt động nghiệp vụ của Kênh được đánh giá là chuyên nghiệp và có hiệu quả Trong đó, mảng hoạt động TKBT được quy định rất chặt chẽ về chức năng, nhiệm vụ, quy trình hoạt động Theo đó, hoạt động TKBT do Phòng TKBT,

tư liệu thực hiện, chịu trách nhiệm trong các lĩnh vực sau:

* Xây dựng khung chương trình; tạo lập một hệ thống chương trình – chuyên mục ổn định cho ANTV, trong đó lựa chọn ra cho được một số chương trình - chuyên mục làm thương hiệu cho kênh, khác biệt hóa với các kênh/đài khác, để tập trung đầu tư tài lực, vật lực Từ đó định hình khung giờ vàng, khung giờ ưu tiên làm thương hiệu, tiến hành xây dựng khung quảng bá

* Lập kế hoạch thực hiện khung chương trình gồm: Kế hoạch dự kiến và

kế hoạch thực thi Lập kế hoạch dự kiến gồm những nội dung như: Lên và giao kế hoạch sản xuất cho các chuyên mục; lên kế hoạch mua bản quyền, trao đổi chương trình, khai thác chương trình; kế hoạch phối hợp sản xuất Dự kiến những chương trình sẽ có nhân dịp ngày lễ lớn, những sự kiện chính trị quan trọng, căn cứ vào lịch năm mới, kế hoạch của nhà nước, của ngành… Kế hoạch định hướng nội dung tuyên truyền; phân bổ nguồn lực: Vật chất, kỹ thuật và chất xám cho hợp lý; lên dự toán ngân sách cho việc thực hiện khung

Trang 36

chương trình - thường là lên kế hoạch cho 1 năm đến vài ba năm Mỗi năm 1 lần, vào cuối năm hoặc vào thời điểm bước sang kỳ kế hoạch mới, tổ chức hội nghị, hội thảo, hội nghị khách hàng… nhằm rà soát lại hệ thống chuyên mục của kênh Mục đích là thay đổi các chuyên mục quá cũ bằng chuyên mục mới, củng cố và hoàn thiện những loạt chương trình, những chuyên mục có tương lai, triển vọng và có khả năng thu hút người xem, thu hút quảng cáo tài trợ Lập kế hoạch thực thi: Căn cứ vào khung chương trình, kế hoạch dự kiến, tiến hành giao kế hoạch sản xuất quí/tháng cho các đơn vị Đốc thúc, giám sát để các đơn vị đăng ký chương trình Kế hoạch thực thi được cụ thể hoá bằng lịch phát sóng quí/tháng/tuần được công bố công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng Kế hoạch này cũng sẵn sàng cho việc thay đổi khi có những chương trình đột xuất, sự kiện nóng, nhưng tốt nhất nên ít có những chương trình đột xuất, vì vậy công tác kế hoạch phải làm thật tốt để ngay từ đầu năm

đã tiên liệu được những sự kiện chính sẽ xảy ra trong năm, bất đắc dĩ nhất là chấp nhận các chương trình đột xuất được bổ sung đưa vào lịch phát sóng tháng/tuần

* Công bố lịch phát sóng quí/tháng/tuần/ngày: Thường xuyên cập nhật những thông tin về thay đổi bổ sung cho kế hoạch phát sóng quí/tháng/tuần Các đơn vị sản xuất, đơn vị phối hợp sản xuất… sau khi kiểm tra, rà soát và điều chỉnh kế hoạch sản xuất của mình thì công bố kế hoạch phát sóng tháng tới cho phòng TKBT Hàng tháng vào ngày 15, phòng TKBT phải công bố dự kiến lịch phát sóng tháng của ANTV để các bộ phận có liên quan khai thác công bố cho công chúng

* Giao nhận băng/đĩa/ổ cứng chương trình thành phẩm: Căn vào lịch phát sóng tháng/tuần, qui định thời hạn giao nhận băng/đĩa/ổ cứng chương trình phát sóng trên kênh ANTV do Tổng biên tập/Lãnh đạo trung tâm phê duyệt, bộ phận thư ký – biên tập nội dung – phòng TKBT đốc thúc, nhắc nhở

Trang 37

đơn vị sản xuất giao Băng/Đĩa/Ổ cứng chương trình thành phẩm theo đúng qui định Khi nhận băng/đĩa/ổ cứng chương trình thành phẩm, phải kiểm tra tính hợp pháp của phiếu nghiệm thu, đối chiếu các tiêu chí trên phiếu nghiệm thu in với nội dung trong phần mềm, nếu không khớp yêu cầu tác giả điều chỉnh lại Thường xuyên nhắc nhở đốc thúc, giám sát các đơn vị giao băng/đĩa/ổ cứng đúng hẹn, tuân thủ qui định thời hạn giao nhận băng phát sóng trên kênh ANTV… Trong những trường hợp cần thiết áp dụng chế tài không nhận băng, nhận nhưng chuyển phát sóng vào buổi kế tiếp, trừ hạn mức sản xuất… Hỗ trợ biên tập - đạo diễn tìm kiếm băng/đĩa/ổ cứng chương trình phát lại theo yêu cầu cụ thể; tiếp nhận băng/đĩa/ổ cứng quảng cáo… giám sát sự tuân thủ theo qui định giao nhận băng/đĩa/ổ cứng quảng cáo, qui chế chạy logo, thanh chữ; mỗi tuần 1 lần có báo cáo về tiến độ băng/đĩa/ổ cứng, các vi phạm xảy ra trong trong qui trình giao nộp băng/đĩa/ổ cứng thành phẩm

* Biên tập - tạo lập danh sách phát sóng - trình tự phát sóng ngày: Căn

cứ vào khung và kế hoạch phát sóng tuần, đạo diễn kiểm tra, rà soát lại thông tin về lịch phát sóng ngày Thông tin này là cơ sở để làm đồ hoạ chữ, cơ sở để

so sánh mức độ chính xác của việc công bố trên các phương tiện in ấn khác; kiểm tra - biên tập - xác định chính xác thời lượng của các chương trình phát sóng; kiểm tra - biên tập - đo đếm các chương trình quảng cáo, xác định các chương trình để đưa các "lát cắt" quảng cáo vào chương trình; kiểm tra danh mục các chương trình quảng bá; xuất bản danh sách phát sóng – trình tự phát sóng ngày; chèn các chương trình quảng bá/giới thiệu, cổ động nếu có vào những chỗ yêu cầu Căn cứ vào mức độ thừa thiếu thời lượng, lựa chọn những hình đệm để đưa vào cho phù hợp: Ưu tiên đưa chương trình quảng bá - giới thiệu đặc sắc - giới thiệu tuần - hình hiệu/hình cắt kênh… Để các chương trình xuất hiện đúng hẹn với khán giả, nghĩa là đúng thời điểm, đúng ngày giờ

Trang 38

đã công bố Bàn giao danh sách phát sóng - trình tự phát sóng ngày cho kỹ thuật viên và các văn bản tài liệu cần thiết khác

* Trực sóng và xử lý sự cố: Người trực sóng phải thường xuyên có mặt tại phòng phát sóng để phòng khi có sự cố cùng kỹ thuật viên xử lý Đối chiếu với kỹ thuật viên để đảm bảo rằng danh mục phát sóng trong máy chủ đúng khớp với danh sách phát sóng - trình tự phát sóng ngày trên giấy và trên máy tạo danh sách phát sóng Trong khi trực, tuyệt đối tuân thủ các qui định về an ninh, phòng cháy chữa cháy, qui chế bảo vệ nội bộ đối với phòng tổng khống chế - phát sóng Có phương án dự phòng cho các tình huống như mất điện, bị mất tín hiệu đường truyền, sự cố do thiên tai do những tình huống bất khả kháng khác Cập nhật tất cả những thay đổi, những sự kiện vào danh sách phát sóng - trình tự phát sóng ngày vào nhật ký trực sóng Cuối ngày phát sóng, khoảng 23h00, người trực sóng báo cáo các thông số về thời lượng các chương trình trực tiếp; thời lượng các bản tin thời sự; các bản tin chuyên biệt khác

Sau gần 5 năm phát sóng chính thức (11/12/2011), cùng với sự cố gắng, nỗ lực của các bộ phận chuyên môn, công tác TKBT tại phòng Thư ký biên tập- tư liệu, kênh ANTV đã góp phần từng bước hoàn thiện khung chương trình phát sóng, nghiên cứu đặc điểm tâm lý, thói quen sinh hoạt của các nhóm khán giả mục tiêu, khán giả tiềm năng, cân nhắc năng lực tài chính ngân sách để có những đề xuất phù hợp, phát triển và xác định hướng đi, cách đi của kênh ANTV trong xu thế chung của thời đại 4 tiêu chí "Tin cậy - Kịp thời - Nhân văn - Hấp dẫn" đã từng bước được cụ thể hóa bằng hệ thống các chương trình, chuyên mục, nội dung thông tin và hình thức thể hiện trên Kênh ANTV

Trang 39

Tiểu kết Chương 1

Trong chương 1, tác giả luận văn tập trung đề cập đến khung lý thuyết

về biên tập, thư ký và TKBT, TKBT truyền hình, hoạt động TKBT truyền hình, vai trò của hoạt động TKBT truyền hình, những đặc điểm, yêu cầu trong hoạt động TKBT…

Qua nghiên cứu cho thấy, các khái niệm về biên tập, thư ký, thư ký biên tập đã được nhiều tác giả đưa ra ý kiến, đặc biệt là khái niệm về biên tập Mỗi khái niệm chỉ ra những khía cạnh khác nhau về công tác biên tập Trong luận văn này, khái niệm biên tập được hiểu là một hoạt động lao động sáng tạo tác phẩm, trong đó người thực hiện công việc biên tập phải tham gia vào việc lên kế hoạch tuyên truyền, tổ chức biên soạn, chỉnh sửa và trình bày tác phẩm đến với công chúng

Khái niệm về TKBT truyền hình là khái niệm tương đối mới, chỉ hoạt động của một hoặc một nhóm người có vai trò tổng quát trong các Đài Truyền hình có nhiệm vụ: xây dựng kế hoạch tuyên truyền, làm khung, vỏ; trực móc nối; trực đạo diễn phát sóng chương trình, nhận và kiểm tra thành phẩm của các chương trình trước giờ phát sóng, là đầu mối cuối cùng kết nối toàn bộ chất liệu của các chương trình để chuẩn bị cho quy trình phát sóng, chịu trách nhiệm trước Ban biên tập về các vấn đề liên quan đến an toàn phát sóng

Hoạt động TKBT truyền hình gồm có 3 hoạt động cơ bản bao gồm: Xây dựng kế hoạch khung chương trình; tiếp nhận và tổ chức nghiệm thu các chương trình truyền hình từ các đầu mối, nguồn cung cấp trong và ngoài đơn vị; biên tập, kiểm tra các chương trình phát sóng, lập trình tự phát sóng ngày

và đạo diễn phát sóng

Từ hoạt động TKBT truyền hình cho thấy vai trò của hoạt động này trong một cơ quan báo chí là rất quan trọng, góp phần đảm bảo thực hiện đúng tôn chỉ, mục đích của một Đài/kênh truyền hình, quyết định việc tham

Trang 40

mưu xây dựng khung chiến lược tuyên truyền, xây dựng thương hiệu của một Đài/Kênh truyền hình, đảm bảo các chương trình truyền hình được thực hiện đúng quy trình sản xuất và an toàn phát sóng, đảm bảo tính chân thật của báo chí

Hoạt động TKBT là hoạt động xây dựng chương trình truyền hình, theo đó phải trải qua 3 bước cơ bản là: Lập kế hoạch tuyên truyền; lên và giao kế hoạch sản xuất; xây dựng bố cục chương trình

Trong chương 1, tác giả cũng đưa ra 2 mô hình điển hình tiêu biểu trong hoạt động TKBT truyền hình tại Ban thư ký Biên tập – Đài Truyền hình Việt Nam (VTV) và Phòng thư ký Biên tập, tư liệu - Kênh truyền hình Công an nhân dân (ANTV)

Đây là khung lý thuyết cơ bản nhất, là cơ sở lý luận để tác giả đi sâu nghiên cứu và khảo sát hoạt động TKBT truyền hình của các Đài PT-TH địa phương khu vực phía Bắc, rút ra các vấn đề cần quan tâm cùng với những đề xuất, giải pháp, kiến nghị tác giả được thực hiện trong các chương tiếp theo

Ngày đăng: 25/11/2021, 07:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Thanh Bình (2008), Truyền thông đại chúng và phát triển xã hội, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền thông đại chúng và phát triển xã hội, NXB Chính trị Quốc gia
Tác giả: Lê Thanh Bình
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2008
2. Hoàng Đình Cúc - Đức Dũng (2007), Những vấn đề của báo chí hiện đại, NXB Lý luận Chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề của báo chí hiện đại
Tác giả: Hoàng Đình Cúc - Đức Dũng
Nhà XB: NXB Lý luận Chính trị
Năm: 2007
3. Hà Đăng chủ biên (2002) nâng cao năng lực và phẩm chất của phóng viên báo chí trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb chính trị Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: nâng cao năng lực và phẩm chất của phóng viên báo chí trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Nhà XB: Nxb chính trị Quốc gia Hà Nội
4. Deborah Potter (2007), Hướng dẫn nghề làm báo độc lập, Nxb văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn nghề làm báo độc lập
Tác giả: Deborah Potter
Nhà XB: Nxb văn hóa thông tin
Năm: 2007
5. Diễn đàn nghiệp vụ Báo chí Việt Nam (2014), Kỹ năng cho người làm báo, Nxb thông tấn xã Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ năng cho người làm báo
Tác giả: Diễn đàn nghiệp vụ Báo chí Việt Nam
Nhà XB: Nxb thông tấn xã Việt Nam
Năm: 2014
6. Hà Minh Đức (chủ biên) (1997), Báo chí những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí những vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Hà Minh Đức (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 1997
7. Đức Dũng (2002), Sáng tạo tác phẩm báo chí, Nxb Văn hóa - Thông tin Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sáng tạo tác phẩm báo chí
Tác giả: Đức Dũng
Nhà XB: Nxb Văn hóa - Thông tin Hà Nội
Năm: 2002
8. Đức Dũng (2004), 100 câu hỏi về các viết báo, Nxb Lý luận chính trị Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 100 câu hỏi về các viết báo
Tác giả: Đức Dũng
Nhà XB: Nxb Lý luận chính trị Hà Nội
Năm: 2004
9. Nguyễn Văn Dững - Hoàng Anh (biên dịch) (1998), Nhà báo bí quyết kỹ năng nghề nghiệp, Nxb Lao Động Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà báo bí quyết kỹ năng nghề nghiệp
Tác giả: Nguyễn Văn Dững - Hoàng Anh (biên dịch)
Nhà XB: Nxb Lao Động Hà Nội
Năm: 1998
10. Nguyễn Văn Dững (2011), Báo chí truyền thống hiện đại, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí truyền thống hiện đại
Tác giả: Nguyễn Văn Dững
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2011
11. Nguyễn Văn Dững (2011), Báo chí và dư luận xã hội, Nxb Lao động Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí và dư luận xã hội
Tác giả: Nguyễn Văn Dững
Nhà XB: Nxb Lao động Hà Nội
Năm: 2011
12. Nguyễn Văn Dững (2011), Báo chí và dư luận xã hội, Nxb Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí và dư luận xã hội
Tác giả: Nguyễn Văn Dững
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2011
13. Nguyễn Văn Dững (2012), Cơ sở Lý luận báo chí, Nxb Lao động Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở Lý luận báo chí
Tác giả: Nguyễn Văn Dững
Nhà XB: Nxb Lao động Hà Nội
Năm: 2012
14. Đinh Thị Thúy Hằng (2008), Báo chí thế giới và xu hướng phát triển, NXB Thông tấn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí thế giới và xu hướng phát triển
Tác giả: Đinh Thị Thúy Hằng
Nhà XB: NXB Thông tấn
Năm: 2008
16. Nguyễn Quang Hòa (2014) – Phóng sự báo chí: Lý thuyết Kỹ năng và Kinh nghiệm; Nxb Thông tin và Truyền thông Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý thuyết Kỹ năng và Kinh nghiệm
Nhà XB: Nxb Thông tin và Truyền thông
17. Nguyễn Quang Hòa (2015); Biên tập Báo chí; Nxb Thông tin Truyền thông Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biên tập Báo
Nhà XB: Nxb Thông tin Truyền thông
18. Hội Nhà báo Việt Nam (2010), Văn kiện Đại hội lần thứ IX, nhiệm kỳ 2010-2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội lần thứ IX
Tác giả: Hội Nhà báo Việt Nam
Năm: 2010
19. Đinh Văn Hường (2011), Tổ chức và hoạt động của Tòa soạn, Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức và hoạt động của Tòa soạn
Tác giả: Đinh Văn Hường
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội
Năm: 2011
20. Jack Hart (2014), Huấn luyện viên của người viết báo, Nxb thông tấn Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Huấn luyện viên của người viết báo
Tác giả: Jack Hart
Nhà XB: Nxb thông tấn Hà Nội
Năm: 2014
21. Jane T. Harrigan & Karen Brown Dunlap (2011), Con mắt biên tập, Nxb Tổng hợp TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con mắt biên tập
Tác giả: Jane T. Harrigan & Karen Brown Dunlap
Nhà XB: Nxb Tổng hợp TP Hồ Chí Minh
Năm: 2011

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w