1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đài phát thanh truyền hình các tỉnh tây nam bộ với vấn đề xây dựng thương hiệu trong giai đoạn hiện nay (khảo sát các đài phát thanh truyền hình cà mau, vĩnh long và thành phố cần thơ)

118 40 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • MỞ ĐẦU

    • 1. Lý do chọn đề tài

  • 2.Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

  • 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

    • 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

    • 5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

    • 6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

    • 7. Kết cấu của đề tài

  • Chương 1

  • ĐÀI PHÁT THANH – TRUYỀN HÌNH VỚI VIỆC

  • XÂY DỰNG THƯƠNG HIỆU – NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN

    • 1.1 Về vấn đề thương hiệu và xây dựng thương hiệu

    • 1.2 Vấn đề xây dựng thương hiệu của đài Phát thanh – Truyền hình cấp tỉnh

  • Chương 2

  • THỰC TRẠNG XÂY DỰNG THƯƠNG HIỆU CỦA

  • ĐÀI PHÁT THANH – TRUYỀN HÌNH CÁC TỈNH TÂY NAM BỘ

    • 2.1 Khái quát về các đài Phát thanh – Truyền hình các tỉnh Tây Nam bộ

  • 2.2. Những kết quả đạt được trong xây dựng thương hiệu của đài Phát thanh – Truyền hình các tỉnh Tây Nam bộ

    • 2.3 Những hạn chế trong xây dựng thương hiệu của đài Phát thanh – Truyền hình các tỉnh Tây Nam bộ

    • 2.4 Nguyên nhân kết quả đạt được và hạn chế trong xây dựng thương hiệu của đài Phát thanh – Truyền hình các tỉnh Tây Nam bộ

      • Bảng 2.7. Bảng tỷ lệ % về quan điểm của công chúng đánh giá về mức độ “hay” của chương trình phát thanh, truyền hình các Đài theo địa bàn khảo sát:

      • Bảng 2.8. Bảng tỷ lệ % về mức độ hài lòng của công chúng đối với các chương trình phát thanh của các Đài theo địa bàn khảo sát:

      • Bảng 2.9. Bảng tỷ lệ % về mức độ hài lòng của công chúng đối với các chương trình truyền hình của các Đài theo địa bàn khảo sát:

  • Chương 3

  • PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG XÂY DỰNG

  • THƯƠNG HIỆU ĐÀI PHÁT THANH – TRUYỀN HÌNH

  • CÁC TỈNH TÂY NAM BỘ

    • 3.1 Phương hướng xây dựng thương hiệu của đài Phát thanh – Truyền hình các tỉnh Tây Nam bộ

    • 3.2 Các nhóm giải pháp cơ bản tăng cường công tác xây dựng thương hiệu của đài Phát thanh – Truyền hình các tỉnh Tây Nam Bộ trong thời gian tới

      • Bảng 3.1. Tổng hợp kết quả khảo sát ý kiến của khán, thính giả về xây dựng thương hiệu đối với Đài PT-TH các tỉnh miền Tây Nam bộ

  • KẾT LUẬN

  • DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

  • PHỤ LỤC 1

Nội dung

Mặt khác đã có không ít sách, tài liệu nói về thương hiệu, sự cần thiết của thương hiệu, thương hiệu kênh truyền thông; các cuộc hội thảo chuyên đề “thương hiệu truyền hình” do đài Truyề

Về vấn đề thương hiệu và xây dựng thương hiệu

Thương hiệu được nhắc đến và quan tâm nhiều hơn từ sau cuối thập niên 80 của thế kỷ XX, khi hàng loạt các vụ mua bán và sáp nhập của các tập đoàn lớn trên thế giới được thực hiện Ví dụ, Nestlé đã mua Rowntree với giá gấp 3 lần giá trị của công ty trên thị trường chứng khoán và gấp 26 lần lợi nhuận của công ty; Tập đoàn Builton được bán với giá gấp 35 lần giá trị lợi nhuận của nó Lúc này người ta bắt đầu nhận thức được “Thương hiệu” là một loại tài sản rất đáng giá.

Các nhà quản trị và các chuyên gia đều thừa nhận rằng sức mạnh của một công ty không chỉ nằm ở phương pháp chế biến, công thức hay quy trình công nghệ riêng mà còn ở cách để khiến khách hàng trên toàn thế giới muốn dùng sản phẩm của doanh nghiệp Đó chính là thương hiệu – yếu tố tạo ra giá trị, niềm tin và sự khác biệt trên thị trường, giúp doanh nghiệp ghi dấu ấn và mở rộng phạm vi tiếp cận khách hàng trên toàn cầu.

Hiện nay có rất nhiều quan điểm khác nhau về thương hiệu:

Theo định nghĩa của Hiệp hội Marketing Hoa Kỳ (AMA), thương hiệu là một tập hợp các yếu tố nhận diện như tên gọi, từ ngữ, dấu hiệu, biểu tượng, hình vẽ hoặc sự kết hợp của chúng nhằm xác định một sản phẩm hoặc dịch vụ của một nhóm người bán và phân biệt nó với các đối thủ cạnh tranh Thương hiệu giúp người tiêu dùng nhận diện sản phẩm hoặc dịch vụ đó và tạo sự khác biệt trên thị trường cạnh tranh.

Theo Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO), thương hiệu là một dấu hiệu đặc biệt, vừa hữu hình vừa vô hình, để nhận biết một sản phẩm hàng hóa hoặc một dịch vụ nào đó được sản xuất hoặc cung cấp bởi một cá nhân hoặc một tổ chức Thương hiệu đóng vai trò là tài sản trí tuệ giúp phân biệt hàng hóa và dịch vụ trên thị trường, đồng thời tăng nhận diện và niềm tin của người tiêu dùng Bên cạnh đó, thương hiệu bảo vệ quyền lợi của chủ sở hữu trước cạnh tranh và hỗ trợ xây dựng uy tín lâu dài cho doanh nghiệp.

Theo Thanh Ly trong cuốn “Những quy luật xây dựng thương hiệu không thể bỏ qua”, thương hiệu được xem như ý tưởng độc nhất bạn khắc sâu vào nhận thức của người tiêu dùng, là điều họ ghi nhớ và nhận diện về bạn Thương hiệu còn là danh tiếng của bạn, đại diện cho những gì bạn thể hiện trước khách hàng và cả trước nhà đầu tư, và chính thương hiệu sẽ quyết định thu nhập tương lai của bạn.

Ngoài ra còn có một số cách hiểu về thương hiệu:

- Thương hiệu là tài sản thuộc sở hữu của doanh nghiệp, nhưng lại nằm ngoài phạm vi doanh nghiệp và tồn tại trong tâm trí người tiêu dùng

- Thương hiệu là tài sản có giá trị tiềm năng, không bị mất đi cùng với sự thua lỗ của các công ty

Xây dựng thương hiệu là quá trình hình thành dần theo thời gian dựa trên nhận thức của người tiêu dùng khi họ sử dụng sản phẩm của những nhãn hiệu được yêu thích, đồng thời được củng cố bởi sự tiếp xúc với hệ thống phân phối và quá trình tiếp nhận thông tin về sản phẩm Khi các yếu tố này hòa quyện, thương hiệu sẽ ghi dấu trong tâm trí người tiêu dùng, tạo sự tin tưởng và nhận diện trên thị trường.

Cần phân biệt giữa thương hiệu và nhãn hiệu Thương hiệu là hình ảnh và danh tiếng của một nhà sản xuất trên thị trường, trong khi nhãn hiệu là nhãn hàng hóa gắn với từng dòng sản phẩm cụ thể Một nhà sản xuất thường được đặc trưng bởi một thương hiệu, nhưng có thể có nhiều nhãn hiệu hàng hóa khác nhau Ví dụ, Toyota là một thương hiệu ô tô, và nó đi kèm với nhiều dòng sản phẩm mang các nhãn hiệu như Innova và Camry.

Hiện nay, các yếu tố cấu thành thương hiệu đã mở rộng đáng kể và bao phủ cả những đặc trưng tác động đến giác quan của người tiêu dùng Bất kỳ đặc trưng nào của sản phẩm tác động đến cảm nhận và nhận diện của khách hàng cũng có thể được xem là một phần của thương hiệu Vì thế, thành phần cấu thành thương hiệu được xem là một hệ thống đa chiều, gồm hình ảnh nhận diện, chất lượng sản phẩm, trải nghiệm người dùng và các yếu tố cảm xúc nhằm xây dựng giá trị và sự công nhận trên thị trường.

Phần phát âm được xác định là các dấu hiệu có thể nói thành lời và ảnh hưởng đến thính giác của người nghe, như tên gọi, từ ngữ, chữ cái, câu khẩu hiệu và đoạn nhạc đặc trưng; trong khi phần không phát âm được là những dấu hiệu nhận diện qua thị giác người xem, ví dụ hình vẽ, biểu tượng, nét chữ và màu sắc Việc hiểu rõ sự khác biệt giữa hai nhóm dấu hiệu này giúp xây dựng hệ thống nhận diện hiệu quả, kết hợp âm thanh và hình ảnh để truyền tải thông điệp một cách rõ ràng và dễ nhớ Đối với tối ưu SEO, nội dung nên mô tả chi tiết các yếu tố trên và sử dụng từ khóa liên quan như phát âm, dấu hiệu âm thanh, nhận diện thị giác, hình ảnh, màu sắc, biểu tượng, chữ viết, slogan, nhằm cải thiện khả năng tìm kiếm mà vẫn giữ tính tự nhiên cho người đọc.

Thuật ngữ thương hiệu hiện nay không chỉ xuất hiện trong lĩnh vực kinh doanh mà các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức văn hóa, báo chí, truyền thông cũng chú trọng đến việc xây dựng thương hiệu cho riêng mình

Từ những nghiên cứu trên xin được nêu ra khái niệm thương hiệu như sau: Thương hiệu là tập hợp các dấu hiệu đặc trưng của một doanh nghiệp, một đơn vị, một tổ chức…được nhận biết thông qua quá trình cảm nhận, hình thành cảm xúc khắc sâu trong tâm trí của khách hàng, của công chúng về một hoặc những sản phẩm của doanh nghiệp, đơn vị, tổ chức đó

1.1.2 Về vấn đề xây dựng thương hiệu

Do có nhiều cách hiểu khác nhau về thương hiệu, nên việc xây dựng thương hiệu cũng có nhiều cách hiểu tương tự Ví như:

Xây dựng thương hiệu là quá trình liên quan đến việc tạo ra một cái tên độc đáo và hình ảnh cho một sản phẩm trong tâm trí của người tiêu dùng chủ yếu thông qua các chiến dịch quảng cáo với một chủ đề nhất quán

Xây dựng thương hiệu là quá trình giúp khách hàng và các bên liên quan nhận diện đúng những điểm khác biệt của sản phẩm hoặc dịch vụ bạn cung cấp, từ đó hiểu được giá trị riêng và lý do nên chọn bạn thay vì đối thủ Quá trình này tạo sự nhất quán về hình ảnh, thông điệp và trải nghiệm người dùng, tăng khả năng nhận diện thương hiệu và củng cố lợi thế cạnh tranh trên thị trường Khi thương hiệu được định vị rõ ràng và hấp dẫn, khách hàng sẽ dễ ghi nhớ, tin tưởng và ưu tiên lựa chọn sản phẩm hoặc dịch vụ của bạn giữa hàng loạt lựa chọn.

Theo Lê Xuân Tùng trong Xây dựng và phát triển thương hiệu, branding là quá trình chọn lọc và phối hợp cả yếu tố hữu hình lẫn vô hình nhằm tạo sự khác biệt cho sản phẩm, dịch vụ hoặc tập đoàn, ở mức độ vừa thú vị vừa có ý nghĩa và gây hấp dẫn đối với người tiêu dùng.

Thương hiệu là tổng thể những gì khách hàng và công chúng hiện tại hoặc tiềm năng nghĩ về một công ty, sản phẩm hoặc một cá nhân Các thuộc tính của thương hiệu được hình thành từ nỗ lực của doanh nghiệp thông qua các hoạt động truyền thông marketing và chính bản sắc của doanh nghiệp Xây dựng thương hiệu là một quá trình bền bỉ, lâu dài, đòi hỏi sự phối hợp và nỗ lực của cả tập thể.

THỰC TRẠNG XÂY DỰNG THƯƠNG HIỆU CỦA ĐÀI PHÁT THANH – TRUYỀN HÌNH CÁC TỈNH TÂY NAM BỘ

Khái quát về các đài Phát thanh – Truyền hình các tỉnh Tây Nam bộ 32 2.2 Những kết quả đạt được trong xây dựng thương hiệu của đài Phát thanh – Truyền hình các tỉnh Tây Nam bộ

Ở Tây Nam Bộ có 13 tỉnh, mỗi tỉnh có một Đài PT-TH riêng và được trực thuộc UBND tỉnh Các Đài PT-TH tại khu vực đại phương có nhiều điểm tương đồng về chức năng và nhiệm vụ của một cơ quan báo chí phát thanh – truyền hình, nhưng vẫn khác biệt về cơ cấu tổ chức và hệ thống kỹ thuật phát sóng, đặc biệt là ở khâu sản xuất và phát sóng các chương trình của từng Đài.

Đài Phát thanh - Truyền hình Cà Mau (Đài PT-TH Cà Mau) là successor của Đài PT-TH Minh Hải, được thành lập theo Quyết Định số 353/QĐ.UB ngày 4/7/1977 của Ủy ban Nhân dân tỉnh Minh Hải và chính thức phát đi tiếng nói đầu tiên vào ngày 19/8/1977 Sau khi tỉnh Minh Hải tách thành hai tỉnh Cà Mau và Bạc Liêu vào ngày 1/1/1997, Đài PT-TH Cà Mau được thành lập và hoạt động cho đến nay Ngay từ những ngày đầu, nhiệm vụ của Đài PT-TH là tờ báo nói, báo hình, là cơ quan ngôn luận của Đảng và Nhà nước, là diễn đàn của nhân dân Cà Mau.

Cà Mau có chức năng tuyên truyền đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và giáo dục pháp luật của Nhà nước Việt Nam; đồng thời phục vụ nhu cầu hưởng thụ văn hóa, nghệ thuật và bồi dưỡng nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân Những hoạt động này phục vụ đắc lực cho công cuộc đổi mới đất nước, hướng tới mục tiêu Dân giàu, Nước mạnh, Xã hội công bằng, Dân chủ, Văn minh.

Gần 40 năm qua, toàn thể cán bộ, phóng viên, công chức từng bước vượt qua mọi khó khăn gian khổ, không ngừng học tập nâng cao trình độ, nêu cao trách nhiệm của người chiến sĩ cầm bút, cầm máy trên mặt trận chính trị tư tưởng Biết lấy phương châm "Đoàn kết, Thống nhất" để tạo sức mạnh, làm động lực thúc đẩy quá trình đổi mới Không ngừng cải tiến và nâng cao chất lượng nội dung chương trình, đảm bảo thông tin nhanh, nhạy, kịp thời, chính xác những sự kiện quan trọng đang diễn ra ở các địa phương trong tỉnh, trong nước và trên thế giới mà mọi người quan tâm

Ngày nay, Đài PT-TH Cà Mau đã được đầu tư khá hoàn thiện từ cơ sở hạ tầng đến thiết bị kỹ thuật Có khu Trung tâm kỹ thuật gần 3.100 m 2 , với 8 phòng chuyên môn trực thuộc Máy phát thanh phát sóng AM, FM có công suất 10KW, thời lượng chương trình mỗi ngày trên 15 giờ 30 phút Kênh truyền hình CTV phát sóng 24/24 giờ mỗi ngày Diện phủ sóng cả phát thanh và truyền hình toàn bộ địa phận Tỉnh Cà Mau và một số vùng thuộc các tỉnh lân cận Đài hiện có tổng số 170 cán bộ, viên chức và người lao động

Sóng truyền hình: kênh 8 VHF, 24 giờ/ngày

Sóng phát thanh: Sóng AM tần số 909 KHz và FM tần số 94,6 MHz Thời lượng 17h30’/ngày

Trang thông tin điện tử: http://ctvcamau.vn Đài Phát thanh - Truyền hình Vĩnh Long

Tháng 4 năm 1977, Lãnh đạo tỉnh Vĩnh Long ra quyết định xây dựng Đài Phát thanh Cửu Long và phát sóng thử nghiệm từ 2 tháng 9 năm 1977 trên sóng 950 Khz tức 315m Đến ngày 22 tháng 12 năm 1977, Đài Phát thanh Cửu Long chính thức phát sóng Năm 1979, tháp ăngten phát thanh cao 60m được xây dựng Năm 1984, đổi tên thành Đài phát thanh truyền hình Cửu Long Năm 1986, tháp ăng ten truyền hình cao 96m được xây dựng Năm

1989, Đài lắp đặt 1 máy phát thanh 10Kw, sóng phát thanh phủ sóng toàn tỉnh và các tỉnh lân cận

Cuối năm 1992, tỉnh Cửu Long được tách thành hai tỉnh mới là Vĩnh Long và Trà Vinh Đài phát thanh - truyền hình Cửu Long được đổi tên thành Đài phát thanh - truyền hình Vĩnh Long Tháng 10 năm 1999, Trung tâm kỹ thuật PTTH Vĩnh Long được khởi công xây dựng Đến tháng 8 năm 2000, trung tâm được trang bị hệ thống thiết bị chuyên dụng cho sản xuất chương trình phát thanh theo công nghệ số và lập dự án tháp ăng-ten tự đứng cao 150 m.

Trong quá trình phát triển, từ năm 2001 đơn vị thực hiện thí điểm tự cân đối tài chính theo Nghị định 10/CP; năm 2005, Trung tâm Kỹ thuật Phát thanh Truyền hình chính thức hoạt động Năm 2008, kênh 31 UHF được đổi tên thành THVL1 và kênh 8 VHF được đổi tên thành THVL2; đến năm 2013, THVL2 ngừng phát sóng analog Năm 2015, đơn vị hợp tác với HTV để thành lập Công ty TNHH Truyền hình Kỹ thuật số miền Nam (SDTV).

Đài THVL có đội ngũ trên 350 cán bộ viên chức và hệ thống máy móc, thiết bị công nghệ được đầu tư mạnh mẽ, đảm bảo phát sóng 24/24 giờ trên hai kênh THVL1 và THVL2 Kênh THVL1 được phát sóng qua vệ tinh Vinasat; kênh phát thanh AM ở 950 kHz và FM ở 90,2 MHz Trang thông tin điện tử: http://thvl.vn. -**Support Pollinations.AI:** -🌸 **Ad** 🌸Powered by Pollinations.AI free text APIs [Support our mission](https://pollinations.ai/redirect/kofi) to keep AI accessible for everyone.

Cơ cấu tổ chức của Đài PT-TH Vĩnh Long bao gồm các phòng ban chuyên môn và hai đơn vị trực thuộc là Công ty truyền hình Phương Nam và Trung tâm dịch vụ thương mại Trường An Khoảng 10 năm gần đây Đài PT-TH Vĩnh Long có sự thay đổi và mở rộng liên quan tới các đơn vị trực thuộc này.

TH Vĩnh Long luôn giữ ổn định mức tăng trưởng về nguồn thu trung bình từ

Đài Phát thanh - Truyền hình thành phố Cần Thơ là đơn vị sự nghiệp trực thuộc Ủy ban Nhân dân thành phố, tiền thân là Đài Phát thanh Cần Thơ giải phóng; Đài được thành lập giữa lúc cuộc chiến đấu oanh liệt của quân và dân ta để giải phóng thành phố còn đang diễn ra, nhờ sự phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng và sự chuẩn bị chu đáo của Ban khởi nghĩa đánh chiếm Đài Phát thanh Đúng 15 giờ ngày 30/04/1975 (giờ Sài Gòn, sớm hơn Hà Nội 1 giờ), đồng chí Nguyễn Văn Lưu (tức năm Bình) thay mặt Ủy ban khởi nghĩa thành phố Cần Thơ đọc Thông cáo số 1 trên làn sóng phát thanh của Đài: "Cần Thơ đã được giải phóng…", thông cáo nhanh chóng phủ sóng rộng khắp các tỉnh khu vực miền Tây Nam bộ, nhờ đó cổ vũ tinh thần chiến đấu của đồng bào và chiến sĩ các tỉnh trong vùng nhanh chóng nổi dậy giành chính quyền về tay nhân dân Đó là thời khắc lịch sử trọng đại; tiếp quản Đài Phát thanh Cần Thơ ngụy và chính thức thành lập Đài Phát thanh Cần Thơ giải phóng, tờ báo nói duy nhất của cách mạng đầu tiên ra đời tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long Năm 2015 đạt mức thu trên 1.500 tỷ đồng, thể hiện vị thế và vai trò của Đài trong hệ sinh thái truyền thông thành phố Cần Thơ.

Kể từ ngày thành lập 30/4/1975, Đài Phát thanh và Truyền hình thành phố Cần Thơ đã trải qua 6 lần đổi tên (Đài Phát thanh Cần Thơ giải phóng; Đài Phát thanh Hậu Giang; Đài Phát thanh Cần Thơ; Đài Phát thanh – Truyền hình Cần Thơ; Đài Phát Thanh – Truyền hình thành phố Cần Thơ; Đài Phát Thanh và Truyền hình thành phố Cần Thơ) và 3 lần nhập, tách giữa tỉnh Hậu Giang, tỉnh Cần Thơ và TP Cần Thơ Sau lần cuối chia tách nhằm tái lập tỉnh Hậu Giang và mở rộng, nâng cấp thành phố Cần Thơ lên thành phố trực thuộc Trung ương, Chủ tịch UBND thành phố ban hành Quyết định số 21/2004/QĐ-UBND ngày 02/01/2004 để thành lập Đài Phát Thanh – Truyền Hình Thành Phố Cần Thơ, cơ quan sự nghiệp công lập thuộc UBND thành phố Để thực hiện Thông tư liên tịch số 17/2010/TTLT-BTTTT-BNV ngày 27/7/2010, ngày 22/3/2011 Chủ tịch UBND thành phố ra Quyết định số 697/QĐ-UBND chính thức đổi tên Đài Phát thanh – Truyền hình thành phố Cần Thơ thành “Đài Phát thanh và Truyền hình thành phố Cần Thơ”.

Gần 40 năm xây dựng, trưởng thành và phát triển, qua 6 lần đổi tên và

Qua ba lần chia tách, các thế hệ làm báo nói, báo hình và báo điện tử của Đài Phát thanh và Truyền hình thành phố Cần Thơ đã bền bỉ nối tiếp, kế thừa và phát triển ngày càng lớn mạnh: từ sóng AM và FM đến truyền hình analog, rồi truyền hình cáp và vệ tinh AsiaSat5, và đặc biệt mở thêm hình thức Phát thanh và Truyền hình trực tuyến tại địa chỉ http://www.canthotv.vn Từ chỉ vài chục cán bộ, phóng viên, biên tập và kỹ thuật viên cùng vài phòng ban chuyên môn, nay Đài có trên 200 cán bộ, phóng viên, biên tập và kỹ thuật viên, 11 phòng chuyên môn nghiệp vụ, Đảng bộ, đoàn và công đoàn cùng Liên chi hội Nhà báo với gần 100 đảng viên và nhà báo thường xuyên hoạt động, đóng góp vào hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị của cơ quan.

Đài PT-TH thành phố Cần Thơ đang đầu tư hoàn thiện từ cơ sở vật chất, hạ tầng đến máy móc, thiết bị kỹ thuật và công nghệ Trung tâm kỹ thuật Phát thanh – Truyền hình đã nâng cấp máy phát AM 10 kW, mua mới máy phát thanh FM 10 kW và lắp đặt máy phát hình kênh UHF công suất 20 kW (10 + 10 kW) nhằm nâng cao chất lượng hoạt động Đồng thời, đài thực hiện số hóa công nghệ PT-TH theo đúng lộ trình quy hoạch của Bộ Thông tin và Truyền thông cho giai đoạn 2010 – 2015 và tầm nhìn 2020.

Sóng truyền hình: kênh 43 UHF, 19 giờ/ngày (5 giờ sáng đến 24 giờ ) Sóng phát thanh AM tần số 837 Khz, 6 giờ/ngày và sóng FM tần số 97.3 Mhz 24 giờ/ngày

Trang thông tin điện tử: http://www.canthotv.vn

2.2 Những kết quả đạt được trong xây dựng thương hiệu của đài Phát thanh – Truyền hình các tỉnh Tây Nam bộ

2.2.1 Về nhận thức và nguồn nhân lực

Nhận thức thị trường cho thấy trong vài năm gần đây, trước sự cạnh tranh truyền thông ngày càng quyết liệt, các Đài Phát thanh – Truyền hình (Đài PT-TH) ở miền Tây Nam Bộ phải chú trọng xây dựng thương hiệu của mình để thu hút khán giả và thính giả – những người ngày càng khó tính và có nhiều lựa chọn kênh truyền thông khác nhau.

Những hạn chế trong xây dựng thương hiệu của đài Phát thanh – Truyền hình các tỉnh Tây Nam bộ

Khách quan mà nói, nhận thức về xây dựng thương hiệu đối với các Đài PT-TH miền Tây Nam bộ chưa đạt được mức độ cần thiết, coi đây là một trong những rào cản lớn nhất đối với hiệu quả của hoạt động thương hiệu Hầu như các đài chưa xây dựng được một chiến lược dài hạn về thương hiệu cho riêng mình, vì vậy dễ hiểu khi các Đài PT-TH miền Tây Nam bộ bộc lộ những hạn chế cơ bản sau đây: thiếu định vị thương hiệu rõ ràng, thiếu sự nhất quán trong thông điệp và thiếu kế hoạch phát triển lâu dài Để nâng cao nhận diện và hiệu quả tiếp cận khán giả, các đài cần tập trung xây dựng chiến lược thương hiệu bài bản, định vị bền vững, chăm chút nội dung và trải nghiệm người xem, và áp dụng các yếu tố SEO để tối ưu hóa quá trình tiếp cận khán giả mục tiêu.

2.3.1 Chưa có đội ngũ nghiên cứu công chúng

Công chúng báo chí gồm người đọc báo, người xem truyền hình và người nghe phát thanh; họ cũng là người quyết định sự sống còn của các sản phẩm báo chí Mối quan hệ giữa nhà báo (cơ quan báo chí) – tác phẩm – công chúng là mối quan hệ mật thiết và sống còn đối với hoạt động báo chí Việc quan tâm tới công chúng bằng cách cung cấp thông tin chính xác, chất lượng và có trách nhiệm thể hiện đạo đức nghề nghiệp của người làm báo đồng thời là nền tảng để báo chí tồn tại, đứng vững và phát triển trước bối cảnh cạnh tranh thông tin gay gắt hiện nay.

Theo triết lý kinh doanh hiện đại thì người bán cần cung cấp cho khách hành những gì họ cần chứ không nên cung cấp cho họ những gì mình có Sản phẩm báo chí là một loại hàng hóa đặc biệt, có giá trị và giá trị sử dụng, giá trị sử dụng của sản phẩm báo chí được đánh giá dựa trên số lượng công chúng tiếp nhận sản phẩm đó, nếu là sản phẩm có chất lượng và hấp dẫn thì sẽ thu hút công chúng Chính vì thế bộ phận nghiên cứu công chúng đóng vai trò đặc biệt quan trọng Nếu không có bộ phận nghiên cứu công chúng thì sẽ không biết được khán giả, công chúng của mình cần gì? Muốn gì để cung cấp cho họ sản phẩm phù hợp

Tuy nhiên hiện nay các Đài PT-TH khu vực miền Tây Nam bộ đều chưa có bộ phận nghiên cứu công chúng, nghiên cứu phản hồi Đây là một lỗ hổng và một bất cập lớn trong xây dựng thương hiệu của các Đà PT-TH miền Tây Nam bộ Ngay cả các Đài hiện đang có nguồn thu “lớn” như: Đài PT-TH Vĩnh Long, Đài PT-TH thành phố Cần Thơ việc chỉ dựa vào kết quả đo rating (tỷ lệ người xem) bằng cách mua số liệu đo lường từ công ty TNS, xem đó là cách duy nhất để nghiên cứu công chung là chưa khách quan và toàn diện Ví dụ như sử dụng phiếu thăm dò ý kiến khán, thính giả; thu thập ý kiến qua tổng đài, qua trang web.v.v Việc kết hợp nhiều phương pháp đo lường sẽ giúp cho các Đài có được số liệu định lượng về lượng người xem, khung giờ vàng, nhóm tuổi, giới tính, vị trí địa lý của khán giả mà còn có những số liệu định tính như ấn tượng, tỷ lệ hài lòng, tình cảm của khán giả dành cho chương trình

2.3.2 Nội dung chương trình chưa hấp dẫn, chưa có nhiều chương trình tạo dấu ấn riêng

Về tin tức thời sự, các đài PT-TH vẫn có nhiều nét tương đồng: nội dung tuyên truyền nặng về đưa tin hội nghị và liệt kê sự kiện, thiếu nhịp thở của cuộc sống và định hướng dư luận xã hội; gương người tốt việc tốt xuất hiện còn ít, chưa có nhiều tác phẩm xuất sắc tại các Liên hoan PT-TH toàn quốc, đặc biệt là Giải Báo chí toàn quốc hàng năm Các chương trình thời sự chính luận ở miền Tây Nam Bộ chưa đổi mới về hình thức, còn đơn điệu và thiếu sức hấp dẫn; chủ yếu là một MC dẫn ở phim trường với lời mở đầu và các tin, phóng sự theo một kịch bản ấn định, tính tương tác chưa cao Ngay cả một số đài đang thực hiện Bản tin thời sự trực tiếp cũng chỉ trực tiếp những lời dẫn có sẵn, chưa kết nối được tin nóng từ hiện trường ngay thời điểm trực tiếp, nên gọi là trực tiếp nhưng thực tế vẫn là bán trực tiếp Đối với các chương trình khoa giáo, chuyên mục còn nặng tính hình thức, thiếu chiều sâu, các format chương trình còn đơn điệu và phương thức thể hiện còn giống nhau; ví dụ một số chương trình từ thiện xã hội có mô-típ tương tự: nêu hoàn cảnh khó khăn rồi kêu gọi quyên góp, tặng quà và kết thúc, thiếu sự đồng cảm chân thành và có trách nhiệm Cụ thể như: Khát vọng sống (Đài PT-TH Cà Mau); Trái tim nhân ái, Chấp cánh ước mơ (Đài PT-TH Vĩnh Long); Đồng cảm và chia sẻ (Đài PT-TH thành phố Cần Thơ) Đối với các chương trình văn nghệ, giải trí có rất ít chương trình.

Khung giờ vàng (từ 20:00 đến 20:30) được các Đài PT-TH tận dụng để thu hút khán giả, nhất là với các chương trình Phim Việt Nam Tuy nhiên, ở miền Tây Nam bộ, các đài tỉnh khó có phim độc quyền hoặc phim nước ngoài có bản quyền cao vì chi phí bản quyền và ngân sách sản xuất phim truyền hình có hạn, nên nhiều đài phải phát sóng phim nước ngoài đã được cấp phép ở mức chi phí thấp và tránh trùng lịch với khu vực lân cận Các chương trình giải trí, gameshow cũng gặp tình trạng tương tự Chỉ Đài PT-TH Vĩnh Long với nguồn lực tài chính mạnh mới có thể tự tin triển khai các chương trình phim, văn nghệ, giải trí theo ý muốn; còn lại hầu hết các đài khác đều ở trong tình trạng chung Thậm chí Đài PT-TH Cà Mau đã phải điều chỉnh giảm các chương trình văn nghệ, giải trí tự sản xuất để cắt giảm chi phí.

2.3.3 Yếu tố nhận diện cơ bản còn thiếu tính sáng tạo, thu hút

Các Đài PT-TH ở miền Tây Nam bộ đã và đang chưa quan tâm đúng mức tới tầm quan trọng của các yếu tố nhận diện cơ bản như logo, nhạc hiệu, slogan, người dẫn chương trình và tên gọi các chương trình trong xây dựng thương hiệu Việc xây dựng nhận diện thương hiệu đồng bộ cho toàn hệ thống giúp tăng độ nhận diện, sự tin cậy của khán giả và cạnh tranh hiệu quả trên thị trường truyền thông khu vực và quốc gia Cần tập trung vào việc phát triển logo thống nhất, nhạc hiệu dễ nhớ, slogan phù hợp với vị trí định vị và phong cách của đài, đảm bảo người dẫn chương trình có phong cách nhất quán và cách đặt tên chương trình dễ ghi nhớ để gia tăng khả năng nhận diện và giá trị thương hiệu cho các Đài PT-TH miền Tây Nam bộ.

Về logo : Một hạn chế khác đó là do chưa có sự thống nhất về cách viết tắt tên gọi của các Đài nên rất khó phân biệt Đài PT-TH Cà Mau, An Giang và một số Đài khác có logo từ việc lấy chữ cái đầu của tên tỉnh để làm tên viết tắt, gắn với chữ viết tắt tiếng Anh tạo thành CTV, ATV; trong khi Đài PT-TH thành phố Cần Thơ và Vĩnh Long thì viết tắt từ các chữ cái của tiếng Việt tạo thành THVL và THTPCT

Logo của các Đài có hình khối tương đồng và sử dụng bảng màu chủ đạo là đỏ, lục, lam, khiến nhận diện bị trùng lặp và dễ nhận diện nhầm giữa các thương hiệu Sự giống nhau về hình học và màu sắc làm giảm tính nhận diện riêng biệt của từng Đài và ảnh hưởng tới khả năng ghi nhớ của khán giả Để cải thiện nhận diện thương hiệu, cần tạo nét độc đáo ở hình khối, áp dụng màu sắc riêng biệt cho mỗi Đài và bổ sung yếu tố chữ hoặc biểu tượng đặc trưng giúp phân biệt rõ ràng, từ đó nâng cao hiệu quả nhận diện và tối ưu hóa sự hiện diện của các Đài trên các nền tảng tìm kiếm.

BTV được các Đài PT-TH: Bạc Liêu, Bình Dương, Bình Định, Bình

Thuận…sử dụng giống nhau Đây cũng là kiểu phổ biến của logo các kênh truyền hình quảng bá ở Việt Nam

Logo các Đài PT-TH miền Tây Nam Bộ thể hiện sự đa dạng của mạng lưới truyền thông địa phương, gồm Đài PT-TH Cà Mau, Đài PT-TH Vĩnh Long, Đài PT-TH TP Cần Thơ, Đài PT-TH An Giang, Đài PT-TH Hậu Giang, Đài PT-TH Tiền Giang, Đài PT-TH Bạc Liêu, Đài PT-TH Trà Vinh và Đài PT-TH Sóc Trăng Những biểu tượng này đại diện cho hệ thống phát thanh - truyền hình khu vực đồng bằng sông Cửu Long, kết nối khán giả với tin tức, thời sự và nội dung giải trí tại địa phương.

Nhạc hiệu của mỗi Đài Phát thanh và Truyền hình là một nhận diện riêng, thường là các bài nhạc nổi tiếng gắn với địa danh của tỉnh, thành phố nơi Đài hoạt động Việc chọn nhạc hiệu dựa trên đặc trưng địa phương giúp khán giả dễ nhận diện và nhớ đến vùng miền khi xem chương trình Ví dụ điển hình là Đài PT-TH Cà Mau sử dụng nhạc hiệu “Về Đất Mũi”, phản ánh tên gọi và điểm nhấn của tỉnh Các Đài khác cũng chọn nhạc hiệu phù hợp với bản sắc địa phương để tăng tính nhận diện kênh và sự gắn kết với người xem.

Vĩnh Long và Đài PT-TH thành phố Cần Thơ đang xây dựng nhận diện qua nhạc hiệu đặc trưng: Đài PT-TH thành phố Cần Thơ chọn bài Chiếc áo bà ba, trong khi Đài PT-TH Kiên Giang chọn Kiên Giang mình đẹp lắm, giúp khán giả dễ nhận biết và phân biệt mỗi khi nghe Nhạc hiệu như vậy mang tính phong phú và tạo nên nét đặc trưng riêng cho từng đài, khiến người nghe dễ nhận diện nguồn phát Tuy nhiên, ở một số Đài hiện nay vẫn áp dụng nhạc hiệu ở dạng tùy chọn từ các bài nhạc đã có sẵn, khiến nhạc hiệu mất đi tính độc đáo, ít sức lôi cuốn và khó để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng khán giả.

Trong khu vực miền Tây Nam bộ, số Đài PT-TH tỉnh còn ít dùng slogan riêng cho thương hiệu, và những câu slogan hiện có chỉ mang tính khái quát Ví dụ, Đài PT-TH thành phố Cần Thơ dùng slogan "Không ngừng phát triển, liên tục vươn xa", còn Đài PT-TH Cà Mau dùng "Vươn xa cánh sóng", nhưng nhiều câu chưa được đăng ký quyền tác giả, nên có thể bị sử dụng bởi tổ chức khác Thực tế này cho thấy các nhà Đài chưa đầu tư xây dựng slogan cho riêng mình, dù slogan là một yếu tố thiết yếu để xây dựng và quảng bá nhận diện thương hiệu.

Đài PT-TH các tỉnh khu vực miền Tây Nam Bộ có nhiều chương trình phát sóng với những tên gọi đa dạng, và mỗi chương trình đều sử dụng đội ngũ người dẫn phong phú, có thể là biên tập viên, phát thanh viên, phóng viên, nghệ sĩ hoặc diễn viên Người dẫn chương trình đóng vai trò quan trọng trong việc tạo dấu ấn và xây dựng thương hiệu của đài trên lòng khán giả Việc lựa chọn người dẫn phù hợp không chỉ nâng cao sức hấp dẫn của mỗi chương trình mà còn góp phần tăng sự tin cậy và gắn kết với khán giả mục tiêu.

Hiện nay, hệ thống đài phát thanh và truyền hình ở Việt Nam nói chung, và miền Tây Nam Bộ nói riêng, đang phát triển nhanh với đội ngũ người dẫn chương trình ngày càng đa dạng và phong phú, tạo nên một bức tranh đa sắc màu về nghề dẫn chương trình trên sóng Mặt khác, thời lượng phát sóng gần như 24/24 và các chương trình liên tục được đổi mới, cùng với tác động của các yếu tố xã hội, khiến không phải lúc nào khán giả cũng nhớ và lưu giữ hình ảnh của người dẫn chương trình như trước, nhưng điều này không có gì bất thường.

PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG XÂY DỰNG THƯƠNG HIỆU ĐÀI PHÁT THANH – TRUYỀN HÌNH CÁC TỈNH TÂY NAM BỘ

Ngày đăng: 25/11/2021, 07:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hoàng Đình Cúc và Đức Dũng (2007), Những vấn đề của báo chí hiện đại, Nxb Lý luận Chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề của báo chí hiện đại
Tác giả: Hoàng Đình Cúc và Đức Dũng
Nhà XB: Nxb Lý luận Chính trị
Năm: 2007
2. Đức Dũng (2002), Sáng tạo tác phẩm báo chí, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sáng tạo tác phẩm báo chí
Tác giả: Đức Dũng
Nhà XB: Nxb Văn hóa - Thông tin
Năm: 2002
3. Nguyễn Văn Dững (2011), Báo chí truyền thông hiện đại (từ hàn lâm đến đời thường), Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí truyền thông hiện đại (từ hàn lâm đến đời thường)
Tác giả: Nguyễn Văn Dững
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2011
4. Nguyễn Văn Dững(Chủ biên, 2012),Truyền thông-Lý thuyết và kỹ năng cơ bản, NXB Chính trị quốc gia –Sự thật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền thông-Lý thuyết và kỹ năng cơ bản
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia –Sự thật
5. Nguyễn Văn Dững (2013), Cơ sở lý luận báo chí, NXB Lao Động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lý luận báo chí
Tác giả: Nguyễn Văn Dững
Nhà XB: NXB Lao Động
Năm: 2013
6. Nguyễn Văn Dững, ThS. Đỗ Thị Thu Hằng (2006), Truyền thông – Lý thuyết và kỹ năng cơ bản, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền thông – Lý thuyết và kỹ năng cơ bản
Tác giả: Nguyễn Văn Dững, ThS. Đỗ Thị Thu Hằng
Nhà XB: Nxb Lý luận chính trị
Năm: 2006
7. Nguyễn Văn Dững (2011), Báo chí và dư luận xã hội, Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí và dư luận xã hội
Tác giả: Nguyễn Văn Dững
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2011
8. Nguyễn Văn Dững (2011), Báo chí truyền thông hiện đại( từ hàn lâm đến đời thường), NXB Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí truyền thông hiện đại( từ hàn lâm đến đời thường)
Tác giả: Nguyễn Văn Dững
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2011
9. Hà Minh Đức (1997), Báo chí những vấn đề lý luận và thực tiễn, NXB Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí những vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 1997
10. Đỗ Thị Thu Hằng (2010), PR Công cụ phát triển báo chí, NXB trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: PR Công cụ phát triển báo chí
Tác giả: Đỗ Thị Thu Hằng
Nhà XB: NXB trẻ
Năm: 2010
11. Đinh Thị Thúy Hằng (2010), Ngành PR tại Việt Nam, NXB Lao động – Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngành PR tại Việt Nam
Tác giả: Đinh Thị Thúy Hằng
Nhà XB: NXB Lao động – Xã hội
Năm: 2010
12. Đinh Thị Thúy Hằng 9 2012), PR Lý luận & Ứng dụng, NXB lao động- Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: PR Lý luận & Ứng dụng
Nhà XB: NXB lao động-Xã hội
13. Đinh Thị Thúy Hằng (2008), Báo chí thế giới-xu hướng phát triển, NXB Thông tấn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí thế giới-xu hướng phát triển
Tác giả: Đinh Thị Thúy Hằng
Nhà XB: NXB Thông tấn
Năm: 2008
14. Nguyễn Thế Kỷ (2012), Công tác lãnh đạo quản lý báo chí trong 25 năm tiến hành sự nghiệp đổi mới, NXB Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác lãnh đạo quản lý báo chí trong 25 năm tiến hành sự nghiệp đổi mới
Tác giả: Nguyễn Thế Kỷ
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2012
15. Trần Bảo Khánh (2011), Công chúng truyền hình Việt Nam, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công chúng truyền hình Việt Nam
Tác giả: Trần Bảo Khánh
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2011
16. Thanh Ly (2012), Những quy luật xây dựng thương hiệu, NXB Đại học sư phạm TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những quy luật xây dựng thương hiệu
Tác giả: Thanh Ly
Nhà XB: NXB Đại học sư phạm TP Hồ Chí Minh
Năm: 2012
17. Mai Quỳnh Nam (2002), Thông điệp trên báo hình, báo in, Xã hội học, 18. Trần Thế Phiệt (1995), Tác phẩm báo chí, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Thông điệp trên báo hình, báo in, Xã hội học, " 18. Trần Thế Phiệt (1995), "Tác phẩm báo chí
Tác giả: Mai Quỳnh Nam (2002), Thông điệp trên báo hình, báo in, Xã hội học, 18. Trần Thế Phiệt
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1995
19. Dương Xuân Sơn (2009), Giáo trình báo chí truyền hình, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình báo chí truyền hình
Tác giả: Dương Xuân Sơn
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2009
20. Lê Xuân Tùng (2005), Xây dựng và phát triển thương hiệu, NXB Lao động -xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng và phát triển thương hiệu
Tác giả: Lê Xuân Tùng
Nhà XB: NXB Lao động -xã hội
Năm: 2005
21. Nguyễn Minh Trí, Thương hiệu-quản lý và phát triển, NXB Đại học kinh tế quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thương hiệu-quản lý và phát triển
Nhà XB: NXB Đại học kinh tế quốc dân

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w