Các công trình nghiên cứu như Nho giáo của Trần Trọng Kim, Nxb văn học; Bàn về đạo Nho của Nguyễn Khắc Viện, Nxb Thế giới; Nho học ở Việt Nam giáo dục và thi cử của Nguyễn Thế Long, Nxb
Trang 1QUAN NIỆM VỀ ĐẠO ĐỨC CỦA NHO GIA
VÀ VẤN ĐỀ XÂY DỰNG CON NGƯỜI MỚI
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI – 2016
Trang 2QUAN NIỆM VỀ ĐẠO ĐỨC CỦA NHO GIA
VÀ VẤN ĐỀ XÂY DỰNG CON NGƯỜI MỚI
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành : Triết học
Mã số : 60 22 03 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS Nguyễn Đình Cấp
HÀ NỘI – 2016
Trang 3Luận văn đã đƣợc chỉnh sửa theo khuyến nghị của Hội đồng chấm
luận văn thạc sĩ
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG
TS Nguyễn Đức Luận
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Luận văn được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Nguyễn Đình Cấp Tài liệu và số liệu trích dẫn trong đề tài là hoàn toàn trung thực, đúng quy định,
có nguồn gốc rõ ràng Kết quả nghiên cứu của luận văn không trùng lặp với những công trình đã được công bố trước đây
Tác giả luận văn
Nguyễn Anh Dũng
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: QUAN NIỆM ĐẠO ĐỨC CỦA NHO GIA 7
1.2 Điều kiện ra đời của quan niệm đạo đức Nho gia 9
1.3 Nội dung quan niệm đạo đức của Nho gia 15
1.3 Quá trình thâm nhập của đạo đức Nho gia vào Việt Nam 34
CHƯƠNG 2: ẢNH HƯỞNG CỦA QUAN NIỆM ĐẠO ĐỨC NHO GIA ĐỐI VỚI VẤN ĐỀ XÂY DỰNG CON NGƯỜI MỚI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 43
2.1 Vấn đề xây dựng con người mới ở nước ta 43
2.2 Ảnh hưởng của đạo đức Nho gia đối với xây dựng con người mới ở nước ta hiện nay 49
2.3 Một số giải pháp phát huy mặt tích cực của đạo đức Nho gia trong xây dựng con người mới ở Việt Nam hiện nay 81
KẾT LUẬN 107
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 109
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Vấn đề đạo đức là vấn đề được đề cập sớm trong triết học và các khoa học khác Xuyên suốt trong lịch sử đạo đức được bàn tới ở cả phương Đông lẫn phương Tây, trong nhiều lĩnh vực, ở nhiều học thuyết Nổi bật trong đó
là học thuyết Nho gia, với cốt lõi là học thuyết đạo đức do Khổng Tử sáng lập cách đây khoảng 2500 năm Với những giá trị, đóng góp của mình, những quan điểm đạo đức của Nho gia đến nay vẫn luôn chứng tỏ được sức sống, sức ảnh hưởng mãnh liệt của mình
Đạo đức Nho gia được truyền vào nước ta từ rất sớm Với nhiều điểm phù hợp với đời sống, suy nghĩ của người Việt ta nên những quan điểm này được tiếp nhận, cải biến và nhanh chóng thâm nhập, thấm nhuần vào nếp sống, nếp nghĩ của mỗi con người Việt tạo nên những nét đẹp trong truyền thống đạo đức, văn hóa Việt Nam
Sau hơn 30 năm đổi mới xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa, chúng ta tiến hành hội nhập với nền kinh tế toàn cầu Bên cạnh những thay đổi tích cực làm cho diện mạo đất nước đổi khác thì xuất hiện nhiều biểu hiện tiêu cực như sự xuống cấp về mặt đạo đức, tệ nạn xã hội phức tạp, lối sống thực dụng
Cùng với những biểu hiện xuống cấp, băng hoại các giá trị đạo đức thì trong quá trình hội nhập còn nảy sinh một nguy cơ lớn Đó là sự xâm hại của văn hóa ngoại lai - sự xâm nhập của đạo đức, văn hóa, lối sống thực dụng phương Tây Dẫn đến nguy cơ “hòa tan” đạo đức truyền thống, văn hóa Việt Nam Đó là một loại thảm họa và là một loại diệt vong ghê gớm không khác
gì mất nước
Trước nguy cơ đó, một trong những nhiệm vụ quan trọng đó là phải bảo tồn và phát huy các giá trị truyền thống, tạo cơ hội cho giá trị tích cực của
Trang 7đạo đức Nho gia góp phần vào điều chỉnh hành vi của con người để xây dựng một xã hội trật tự, văn minh và hạn chế những mặt tiêu cực của nó nhằm xây dựng con người mới với những chuẩn mực mới và phù hợp và đáp ứng được yêu cầu của công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Từ trước đến nay, vấn đề con người luôn là vấn đề được Đảng ta quan tâm hàng đầu bởi Đảng ta luôn xác định “Con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển” Và như chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định “ Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội thì phải có những con người chủ nghĩa xã hội” Đó
là những con người vừa hồng vừa chuyên, vừa có đức vừa có tài Trong đó, đức là gốc
Vì vậy mà nghiên cứu quan điểm đạo đức Nho gia và những ảnh hưởng của nó đối với xây dựng con người mới có ý nghĩa hết sức trong bối cảnh hiện
nay Và tôi chọn vấn đề “Quan niệm về đạo đức của Nho gia và vấn đề xây dựng con người mới ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài luận văn tốt nghiệp
của mình
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Vấn đề đạo đức, vai trò của giáo dục đạo đức từ lâu đã được nhiều tác giả quan tâm, nghiên cứu Arixtốt - nhà Triết học Hy Lạp cổ đại đã để lại cho chúng ta nhiều cuốn sách, trong đó chứa đựng nhiều vấn đề về đạo đức, rồi Epiquya, Xôcrát cũng có những đóng góp to lớn trong lĩnh vực này
Tư tưởng của Nho giáo về vấn đề đạo đức cũng như xây dựng con người mới đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu Các công trình
nghiên cứu như Nho giáo của Trần Trọng Kim, Nxb văn học; Bàn về đạo Nho của Nguyễn Khắc Viện, Nxb Thế giới; Nho học ở Việt Nam giáo dục và thi cử
của Nguyễn Thế Long, Nxb Giáo duc… Hầu hết các công trình này cũng đã
đề cập đến những nội dung cơ bản trong tư tưởng giáo dục đạo đức, xây dựng con người mới của Nho gia
Trang 8Trước đây, ở Liên Xô, vấn đề đạo đức, nhân cách đã được các nhà
nghiên cứu viết hết sức quan tâm A.F.Shishkin đã viết; “Nguyên lý đạo đức học Mácxít” Chúng ta có thể coi đây là cuốn sách giáo khoa về đạo đức học
Ở đó, ông đặc biệt nhấn mạnh vai trò của đạo đức chính là điều cốt yếu nhất ở con người, ở tính cách của nó
Tiếp tục và phát triển những quan điểm của A.F.Shishkin,
G.Bandzeladze đã có công trình “Đạo đức học” (2 tập) Trong bộ sách này,
ông đã nghiên cứu và làm rõ những vấn đề của khoa học đạo đức, như: đạo đức là gì; đạo đức phát sinh, phát triển ra sao, nội dung những phạm trù đạo đức học là gì…
Năm 2003, nhà xuất bản Chính trị Quốc gia có dịch cuốn “Tu dưỡng đạo đức tư tưởng”, cuốn giáo trình chính thức, thống nhất dùng cho mọi đối
tượng sinh viên trong các trường đại học, cao đẳng ở Trung Quốc do GS La Quốc Kiệt chủ biên Trong cuốn giáo trình này, tập thể tác giả Trung Quốc làm rã vai trò của đạo đức và giáo dục đạo đức cho con người, những nội dung cơ bản, hiện đại trong việc bồi dưỡng phẩm chất đạo đức mới cho con người Trung Quốc hiện nay Đây là tài liệu tham khảo bổ ích đối với công tác giáo dục đạo đức, xây dựng con người mới ở nước ta hiện nay
Ở Việt Nam, vấn đề đạo đức và giáo dục đạo đức được đặt ra rất sớm, nhưng những gì lien quan đến đạo đức học thì muộn hơn rất nhiều
Năm 1974, GS Vũ Khiêu có chủ biên cuốn “Đạo đức mới” Trong tác
phẩm này vấn đề đạo đức, đạo đức mới và giáo dục đạo đức mới đã được làm sáng tỏ trên những nét cơ bản
Năm 1982, tác giả Tương Lai có xuất bản cuốn “Chủ động và tích cực xây dựng đạo đức mới” Tuy còn những hạn chế nhất định, nhưng đây có thể
coi là tài liệu tham khảo bổ ích về lĩnh vực đạo đức học
Những năm gần đây, ở nước ta có nhiều công trình nghiên cứu về vấn
đề đạo đức và giáo dục đạo đức như: “Vấn đề xây dựng nhân cách đạo đức
Trang 9sinh viên trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay”, luận văn
thạc sĩ Triết học của Hoàng Anh, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh,
Hà Nội, 2001; “Tìm hiểu định hướng giá trị của thanh niên Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường” (Thái Duy Tuyên chủ biên, Hà Nội, 1994);
“Giáo dục lý tưởng cách mạng cho sinh viên hiện nay” (Phạm Đình Nghiêp,
Hà Nội, 2001); “Giáo dục đạo đức đối với sự hình thành và phát triển nhân cách sinh viên Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” (Trần Sĩ Phán, luận án tiến
sĩ, 1999); “Quan hệ kinh tế và đạo đức với việc xây dựng đạo đức mới cho thế
hệ trẻ hiện nay ở Việt Nam” (Nguyễn Đình Quế, luận văn thạc sĩ, 2000); “Vấn
đề giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho sinh viên Việt Nam hiện nay”
(luận văn thạc sĩ, Doãn Thị Chín năm 2004) v.v
Các công trình nghiên cứu về vấn đề xây dựng con người mới có thể
kể tới cuốn “Về xây dựng con người mới của Nguyễn Huy Hoan; Về phát triển toàn diện con người trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa” của
các tạp chí như: “Về ảnh hưởng của Nho giáo ở Việt Nam” của Lê Ngọc Anh đăng trên tạp chí triết học, số 3, 1999; “Nho giáo với vấn đề phát triển kinh tế và hoàn thiện con người” của Nguyễn Thanh Bình đăng trên tạp chí
giáo dục lý luận, số 5, năm 2000;…
Trang 10Ngoài ra còn có rất nhiều bài báo, tạp chí nghiên cứu về đạo đức con người và tư tưởng xây dựng con người mới của Nho gia nhưng trong phạm vi hạn hẹp của một bài báo không cho phép những công trình đó đi sâu vào toàn
bộ nội dung của tư tưởng giáo dục, xây dựng con người mới mà chỉ tập chung bàn luận đến một phần nào đó của tư tưởng như đối tượng giáo duc, phương pháp giáo duc…
Như vậy hiện đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề đạo đức con người trong tư tưởng của Nho gia cũng như việc xây dựng con người ở Việt Nam hiện nay Song cho đến nay còn rất ít những nghiên cứu chuyên sâu hay trong phạm vi một luận văn thạc sĩ về đề tài vận dụng tư tưởng giáo dục của Nho gia vào việc xây dựng con người, đặc biệt là xây dựng con người mới ở nước ta hiện nay Chính vì vậy, đây là nội dung chủ yếu mà tôi tập trung bàn luận trong luận văn thạc sĩ của mình
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích
Mục đích của luận văn là làm rõ quan niệm về đạo đức của Nho gia Từ
đó làm rõ những ảnh hưởng của nó đối với việc xây dựng con người mới ở nước ta hiện nay
3.2.Nhiệm vụ
Để đạt được mục đích trên, luận văn có những nhiệm vụ sau:
Một là, nghiên cứu quan niệm đạo đức của Nho gia và quá trình thâm nhập của nó vào Việt Nam
Hai là, luận văn chỉ ra những ảnh hưởng tích cực và tiêu cực của tư tưởng đạo đức Nho gia, từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm hạn chế mặt tiêu cực, phát huy mặt tích cực đó trong việc xây dựng con người mới ở nước ta trong giai đoạn hiện nay
Trang 114 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1.Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu quan niệm đạo đức của Nho gia và việc vận dụng quan niệm này trong xây dựng con người mới ở nước ta hiện nay
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu những luận điểm cơ bản về đạo đức của Nho gia
và những ảnh hưởng của nó đối với vấn đề xây dựng con người mới ở nước ta
từ 1986 đến nay
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Luận văn dựa trên quan điểm chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí
Minh, quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về đạo đức, xây dựng con người mới ở Việt Nam
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn dựa vào phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin kết hợp phương pháp phân tích, tổng hợp, lịch sử, logic…để làm rõ các nội dung
mà luận văn đề cập
6 Cái mới của luận văn
Luận văn trình bày tương đối có hệ thống và đánh giá khách quan những quan niệm đạo đức của Nho gia, trên cơ sở đó góp phần làm rõ hơn ý nghĩa của những tư tưởng này đối với việc xây dựng con người mới ở nước ta
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu trong nghiên cứu và giảng dạy về tư tưởng Nho gia, cũng như làm tài liệu tham khảo trong việc nghiên cứu về vấn đề xây dựng con người mới ở nước ta hiện nay
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 02 chương và 06 tiết
Trang 12CHƯƠNG 1 QUAN NIỆM ĐẠO ĐỨC CỦA NHO GIA
1.1 Khái lược về Nho gia trong lịch sử triết học Trung Quốc
Nho gia được hình thành từ thời Tây Chu, đặc biệt với sự đóng góp của Chu Công Đán, còn gọi là Chu Công„Đến thời Xuân Thu, xã hội loạn lạc, Khổng Tử (551 TCN) phát triển tư tưởng của Chu Công, hệ thống hóa và tích cực truyền bá các tư tưởng đó Chính vì thế mà người đời sau coi ông là người
sáng lập ra Nho gia
Nói đến nền văn hóa truyền thống Trung Quốc không thể không nói đến một nhân vật đó là Khổng Tử Trong thập niên 70 của thế kỷ trước, một học giả Mỹ đã xếp Khổng Tử ở ngôi vị thứ năm, chỉ sau chúa Giê-xu, Thính-ca-mâu-ni trong số 100 nhân vật có ảnh hưởng trong lịch sử Khổng Tử là người sáng lập học thuyết Nho gia ở Trung Quốc Hơn hai nghìn năm qua, tư tưởng của Nho gia ảnh hưởng đối với Trung Quốc không chỉ về chính trị, văn hoá mà còn thể hiện trong hành vi và phương thức tư duy của mỗi con người Trung Quốc Có học giả nước ngoài thậm chí coi tư tưởng của Nho gia là tư tưởng tôn giáo của Trung Quốc Trong thực tế trường phái Nho gia chỉ là một trong rất nhiều trường phái thời cổ Trung Quốc, nó là một tư tưởng triết học chứ không phải là tôn giáo, chẳng qua là do được coi là tư tưởng chính thống trong xã hội phong kiến hơn hai nghìn năm ở Trung Quốc và có ảnh hưởng tới một số nước ở châu Á nói chung
* Nho giáo nguyên thủy
Thời Xuân Thu, Khổng Tử đã san định, hiệu đính và giải thích bộ Lục kinh gồm có Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Dịch, Kinh Xuân Thu và Kinh Nhạc Về sau Kinh Nhạc bị thất lạc nên chỉ còn năm bộ kinh thường được gọi là Ngũ kinh Sau khi Khổng Tử mất, học trò của ông tập hợp các lời dạy để soạn ra cuốn Luận ngữ Học trò xuất sắc nhất của Khổng Tử là Tăng Sâm, còn gọi là
Trang 13Tăng Tử, dựa vào lời thầy mà soạn ra sách Đại học Sau đó, cháu nội của Khổng
Tử là Khổng Cấp, còn gọi là Tử Tư viết ra cuốn Trung Dung
Đến thời Chiến Quốc, Mạnh Tử đưa ra các tư tưởng mà sau này học trò của ông chép thành sách Mạnh Tử Từ Khổng Tử đến Mạnh Tử hình thành
nên Nho giáo thời nguyên thủy, còn gọi là Nho giáo tiền Tần (trước đời Tần),
Khổng giáo hay “tư tưởng Khổng-Mạnh“
* Thời Hán Nho
Đến đời Hán, Đại Học và Trung Dung được gộp vào Lễ Ký Hán Vũ
Đế đưa học thuyết của Nho gia lên hàng quốc giáo và dùng nó làm công cụ thống nhất đất nước về tư tưởng Và từ đây, học thuyết của Nho gia trở thành
hệ tư tưởng chính thống bảo vệ chế độ phong kiến Trung Hoa trong suốt hai ngàn năm Nho gia thời kỳ này được gọi là Hán Nho Điểm khác biệt so với Nho giáo nguyên thủy là Hán Nho đề cao quyền lực của giai cấp thống trị, Thiên Tử là con trời, dùng “lễ trị” để che đậy “pháp trị”
Các tư tưởng triết học của Nho gia không phải từ thời Khổng Tử mới hình thành, mà đã có từ trước đó rất lâu, những tư tưởng ban đầu của Nho gia chỉ là học thuyết mang tính chính trị - xã hội Chữ “Nho” lúc đầu được dùng
để chỉ những người đọc sách thánh hiền, thông hiểu qui luật tự nhiên của đất trời, con người, vạn vật Những người này có thể giúp mọi người hiểu rõ đạo
Trang 14ăn ở, đối nhân xử thế, họ thường là nhà giáo, người trị quốc Tuy nhiên các tư tưởng Nho gia này mới chỉ tồn tại rải rác, chưa thành hệ thống Chỉ đến khi Khổng Tử và sau này là các đại biểu Mạnh Tử, Tuân Tử, Đổng Trọng Thư thì được hệ thống hóa, và sáng tạo thêm để thành một học thuyết hoàn chỉnh Trong đó bàn về các vấn đề cơ bản như: quan niệm về thế giới – bàn về lẽ tự nhiên, trời đất; quan niệm về con người – xây dựng những quy tắc, chuẩn mực đạo đức để điều chỉnh hành vì của con người trong xã hội; quan niệm về chính trị xã hội – nêu lên đạo trị nước và mô hình xã hội lý tưởng
1.2 Điều kiện ra đời của quan niệm đạo đức Nho gia
1.2.1 Điều kiện kinh tế – xã hội
Trung Hoa cổ đại là một trong những trung tâm văn hóa, khoa học và triết học cổ xưa, phong phú và rực rỡ nhất không chỉ của nền văn minh phương Đông mà của cả nhân loại
Trung Hoa cổ đại có lịch sử rất lâu đời từ khoảng năm 2070 trước Công nguyên – tính từ thời nhà Hạ cho đến năm 221 trước Công nguyên với sự kiện Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Hoa bằng uy quyền và bạo lực, mở đầu thời kỳ Trung Hoa phong kiến Trong khoảng gần 2200 năm lịch sử ấy, lịch
sử Trung Hoa được chia thành 2 thời kỳ lớn là thời Tam đại (Hạ, Thương, Chu) và thời Xuân Thu - Chiến Quốc Chính sự phát triển kinh tế xã hội và khoa học trong các thời kỳ này, đặc biệt là thời kỳ Xuân Thu - Chiến Quốc đã tạo tiền đề cho sự ra đời hàng loạt các hệ thống triết học với những tên tuổi lớn gắn với lịch sử nhân loại Trong đó Nho giáo với vị thế hết sức to lớn trong đời sống xã hội Trung Quốc với học thuyết đạo đức Nho gia là cốt lõi Theo nhiều tài liệu lịch sử, thời cổ đại Trung Quốc đã trải qua các triều đại: Nhà Hạ, nhà Thương, nhà Chu Nhà Hạ khoảng thế kỷ XXII đến thế kỷ XVII TCN Nhà Thương khoảng tử thế kỷ XVIII đến thế kỷ XII TCN Nhà Chu từ 1135 đến năm 221 TCN Nhà Chu được chia thành hai thời kỳ: Tây Chu, khoảng từ 1135 - 770 TCN và Đông Chu khoảng từ 770 - 221 TCN
Trang 15Trong những năm đầu của nhà Chu, theo nhiều tài liệu lịch sử ghi lại, xã hội Tây Chu là xã hội thịnh vượng về kinh tế, ổn định về chính trị - xã hội, đạo đức, kỷ cương được giữ vững Thời Tây Chu có nhiều vị vua sáng suốt như Chu Văn Vương nổi tiếng trọng hiền tài, Chu Công có tài tổ chức việc nước, phong cho người trong họ giữ các nơi hiểm yếu để làm phên dậu cho mình, hình thành nên Lễ, Nhạc, chia ruộng đất cho nông dân theo phép tỉnh điền nhằm làm cho tài sản của nông dân không chênh lệch Những năm cuối của thời Tây Chu, đất nước suy vi, các nước xung quanh thường xâm chiếm
bờ cõi Khi U Vương lên ngôi, lo ăn chơi trụy lạc dẫn đến chế độ Tây Chu suy phải rời đô từ phía Tây sang phía Đông, lịch sử gọi là thời Đông Chu Thời Đông Chu (hay còn gọi là thời Xuân Thu - Chiến Quốc) là thời kỳ xã hội chiếm hữu nô lệ theo kiểu phương Đông bắt đầu suy tàn và chế độ phong kiến sơ kỳ đang hình thành, thể chế chính trị - xã hội và những quy tắc đạo đức xã hội lỗi thời, những thể chế và những quy tắc đạo đức xã hội mới còn manh nha Chính do sự giao thời giữa hai chế độ đó đã gây nên những đảo lộn, cản trở sự phát triển của xã hội
Về lĩnh vực kinh tế: Đầu Đông Chu (Xuân Thu), nền kinh tế chuyển từ đồ đồng sang đồ sắt, đem lại nhiều tiến bộ trong việc cải tiến công cụ, kỹ thuật sản xuất Vì thế, nông nghiệp và thủ công nghiệp phát triển, hệ thống thủy nông phục vụ nông nghiệp hình thành, diện tích canh tác được mở rộng, kỹ thuật canh tác được cải tiến, năng suất lao động trong nông nghiệp tăng lên
Do công cụ đồ sắt phổ biến nên phân công lao động xã hội phát triển, các ngành nghề thủ công ra đời Do nông nghiệp và thủ công nghiệp phát triển, việc trao đổi, mua bán hàng hóa giữa các vùng, các nước hình thành, ngành thương nghiệp ra đời
Về lĩnh vực chính trị - xã hội: Kinh tế phát triển đã tác động mạnh đến lĩnh vực chính trị - xã hội Cục diện mới của xã hội xuất hiện, đó là “tình trạng xen
kẽ lẫn nhau giữa hình thái chiếm hữu nô lệ cứ lùi dần và hình thái phong kiến
Trang 16cát cứ mới nảy sinh với xu thế hướng tới tập quyền ngày càng mạnh cũng chấm dứt” [16, tr.21] Sự tác động rõ rệt của kinh tế đối với chính trị - xã hội
là các hình thức sở hữu ruộng đất và kết cấu giai cấp của xã hội Hệ quả của
sự tác động ấy là mâu thuẫn giữa giai cấp thống trị bóc lột với giai cấp nông dân và các tầng lớp bị trị khác ngày càng gay gắt Thời Tây Chu, ruộng đất là của vua Thời Đông Chu, quyền sở hữu tối cao, tuyệt đối bị giai cấp địa chủ mới ra đời chiếm dụng, tình trạng thiên tử không nắm được “đất của vua” và
“tôi của vua” đã làm cho giai cấp quý tộc nhà Chu suy yếu về địa vị và vai trò chính trị đối với xã hội Gần như cả thời Xuân Thu “chư hầu trở thành lãnh chúa, các đức quân trong đó có những kẻ trội lên trở thành bá”[16, tr.20] Khắp thiên hạ, các nước chư hầu gây chiến tranh liên miên vô cùng tàn khốc nhằm thôn tính, tranh giành địa vị của nhau, khiến cho người thời đó than rằng:
“Khắp thiên hạ đều loạn lạc như nước đổ cuồn cuộn Làm thế nào cho thiên hạ trị?”[44, XVIII, tr.6] Cảnh tôi giết vua, con hại cha, anh em vợ chồng chia lìa nhau thường xuyên xảy ra Thiên hạ trở nên “vô đạo”, trật tự lễ nghĩa, cương thường của xã hội bị đảo lộn
Hoàn cảnh lịch sử Đông Chu rối ren, loạn lạc, xáo trộn cái cũ với cái mới, cái tụt xuống với cái trồi lên như vậy chính là hoàn cảnh lịch sử thúc đẩy và chứng kiến sự ra đời của nhiều đạo lý xử thế, nhiều trường phái triết học và tôn giáo, trong đó có đạo lý triết học chính trị, đạo đức của Nho gia Các nhà
tư tưởng đều muốn đưa ra những lý thuyết để chấn hưng xã hội Đạo đức Nho gia, cơ sở của học thuyết chính trị xã hội dã ra đời trong hoàn cảnh như vậy Tìm hiểu hoàn cảnh lịch sử ra đời ấy là vấn đề cần thiết cho công việc đi sâu nghiên cứu vấn đề đạo đức của Nho gia
1.2.2 Tiền đề tư tưởng
Sự ra đời tư tưởng Nho gia về đạo đức còn bắt nguồn từ đời sống tư tưởng của Trung Quốc trước thời Đông Chu Thời Tây Chu, tôn giáo, chính trị, đạo đức đã ra đời
Trang 17Về tôn giáo, thời Tây Chu đề cao tư tưởng “kính trời”, “hợp mệnh trời”,
“thờ thượng đế”, “trời người hợp nhất” Họ cho rằng “trời” là là lực lượng có nhân cách, có ý chí và uy quyền tuyệt đối
Về chính trị, các nhà tư tưởng Tây Chu dựa vào tư tưởng tôn giáo xây dựng quan điểm chính trị phản động cho rằng triều đại nhà Chu do biết làm theo “mệnh trời”, “trời” nên được “nhân dân” từ tay nhà Ân để “hưởng dân”
và “trị dân” Ai chống lại “mệnh trời”, “ý trời” thì nhà Chu sẽ trừng phạt Vua nhà Chu là thiên tử, thay trời thống trị thiên hạ, cai trị dân Vì vậy, dân phải phục tùng vua
Về đạo đức, các nhà tư tưởng Tây Chu lấy hai chữ “đức” và “hiếu” làm cốt
để tuyên truyền, củng cố sự tồn tại vĩnh viễn địa vị thống trị của tầng lớp quý tộc nhà Chu Họ cho rằng các bậc tiên vương nhà Chu có đức nên thượng đế cho hưởng nước, hưởng dân Vì vậy, các vua sau phải kính cái đức ấy, phải bồi dưỡng cho con cháu phải thờ tổ tiên, nhớ công lao tổ tiên, giữ gìn phép tắc
tổ tiên, đó là đức Hiếu Có được đức hiếu mới nhận được mệnh trời mà hưởng nước, hưởng dân mãi mãi Quan điểm đạo đức này là cơ sở góp phần hình thành đạo đức Nho gia sau này
Nho gia ra đời tiếp nhận các tư tưởng trên của Tây Chu là tiếp nhận một phương thức chính trị mà giai cấp thống trị Tây Chu đã thực hiện là sử dụng thần quyền để củng cố, sử dụng vương quyền trong việc cai trị đất nước Đến thời Đông Chu, học thuyết Nho giáo với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, liên hệ mật thiết với đời sống kinh tế, phản ánh đời sống kinh tế - xã hội thời bấy giờ Để khắc phục tình trạng xã hội rối loạn, nhằm đưa xã hội vào trạng thái ổn định, phát triển, Nho gia một mặt thừa nhận, sử dụng thần quyền, đồng thời mặt chủ yếu là khẳng định địa vị vương quyền đứng trên thần quyền, khẳng định vai trò, vị trí của con người trong biến đổi lịch sử
Ta thấy trong thời kỳ này chiến tranh giành địa vị nổi lên, đẩy Trung Hoa
cổ đại vào tình trạng chiến tranh khốc liệt, liên miên Tình thế này đòi hỏi giải
Trang 18thể nhà Chu, xây dựng xã hội phong kiến, mở đường cho sản xuất phát triển Nhưng nó không ảnh hưởng đến văn hóa Trung Hoa cổ đại mà chính từ sự chuyển biến đầy sôi động của thời đại đã đặt ra và xuất hiện trung tâm các kẻ
sĩ luôn tranh luận về trật tự xã họi cũ, đề ra hình mẫu xã hội lý tưởng Lịch sử gọi thời kỳ này là thời kỳ “Bách gia chư tử, bách gia tranh minh”
Vấn đề căn bản, cấp bách của điều kiện kinh tế - xã hội và tư tưởng của xã hội đặt ra cho các nhà tư tưởng và các nhà cầm quyền Đông Chu là làm thế nào thiết lập lại trật tự kỷ cương và làm thế nào để đưa xã hội vào ổn định, phát triển? Giải đáp vấn đề trên, các nhà tư tưởng thời kỳ này đã chọn mô hình xã hội lý tưởng cùng với phương pháp quản lý xã hội theo lập trường của giai cấp, của tầng lớp mình
Chẳng hạn, Mặc gia đưa ra một mô hình xã hội không có sự phân biệt sang - hèn, trên - dưới, thương yêu nhau, làm lợi cho nhau Phương pháp quản
lý xã hội là “kiêm ái” Các nhà Pháp gia củng cố chế độ tập quyền trung ương của nền chuyên chính quân chủ Phương pháp quản lý xã hội lấy Pháp, thuật, thế làm nội dung căn bản Các nhà tư tưởng Đạo gia nêu lên xã hội lý tưởng
đó là “nước nhỏ, ít dân, có vũ khí mà không dùng, làm cho dân coi trọng cái chết mà không đi xa Dù có thuyền không ai đi Dù có áo giáp không biết để đâu Làm cho mọi người lại kết dây mà dùng Lấy cái mình ăn mà vui, vui với cái mình mặc là đẹp, yên tâm với nơi mà mình ở, vui lòng với thói tục Các nước gần gũi nhau, có thể nghe tiếng gà, tiếng chó của nhau, dân cho đến chết già không qua lại”[Lão Tử, chương 80] Giải pháp tự mình của Đạo gia ấy là
vô vi, lấy vô vi mà xử sự, lấy bất ngôn mà dạy đời Vì vậy, Lão Tử theo đuổi một thế giới vô vi, thanh tịnh, vô sự, vô dục
Khác với các trường phái trên, Nho gia cũng đưa ra quan điểm xã hội lý tưởng là xã hội ổn định, có trật tự kỷ cương, mọi cái trong xã hội đều là của chung, mọi người trong xã hội đều có quyền lợi, được chăm sóc bình đẳng, sống hòa mục, thân ái, đó là xã hội có đạo đức, có đời sống vật chất tương đối đầy đủ,
Trang 19đó là xã hội có giáo dục, giáo hóa Xã hội có lý tưởng Nho gia nêu lên là xã hội theo chế độ lễ nghĩa thời Tây Chu mà Khổng Tử hoài vọng Khổng Tử nói:
“Triều đại nhà Chu soi xét hai triều đại đã qua mà chế định lễ tiết Nhờ vậy, lễ tiết trở nên rực rỡ biết bao! Vậy, ta theo lễ nhà Chu”[44, III, tr.14]
Tuy nhiên, do điều kiện lịch sử biến đổi, Khổng Tử cho rằng “xây dựng một chế độ xã hội theo lễ nghĩa nhà Chu phải có một sự cải biến cho phù hợp với yêu cầu mới, không giữ nguyên xi”[44, II, tr.23] Dựa trên cơ sở tư tưởng
về bản tính thiện của con người, về đức “trung dung” là đạo lý của trời đất, vạn vật, Nho gia nêu lên chủ trương cơ bản để quản lý xã hội này là đường lối trị nước "đức trị" “Đức trị” là tư tưởng về đường lối cai trị đất nước, quản lý
xã hội trên cơ sở chuẩn mực đạo đức
Vai trò của đạo đức trong quản lý xã hội lý tưởng Nho gia nêu lên thì đạo đức là công cụ, là phương tiện chủ yếu nhất của giai cấp phong kiến trong việc trị nước và quản lý xã hội Đạo đức là tiền đề, điều kiện quan trọng nhất
để hình thành và hoàn thiện đạo đức con người, góp phần vào việc củng cố, duy trì trật tự, kỷ cương, ổn định xã hội Đạo đức và thực hành đạo đức đóng vai trò quyết định đối với việc tạo lập ra mẫu người lý tưởng và góp phần tạo lập xã hội lý tưởng
Như vậy, xuất phát từ điều kiện kinh tế - xã hội, tư tưởng xã hội Đông Chu, vấn đề đạo đức được Nho gia coi là vấn đề căn bản nhất Vì thế, trong tư tưởng của Nho gia về vũ trụ, chung quy lại là chuyện đạo và đức, tư tưởng nhân sinh của Nho gia, đạo đức càng quan trọng, quyết định tất cả Có thể nói: “Vũ trụ quan, nhân sinh quan, nhận thức luận của Nho gia đều thấm đượm ý thức đạo đức, phiếm đạo đức luận, trở thành một đặc điểm nổi bật của Nho gia”, “Nho gia xem thực hành đạo đức như là hoạt động thực tiễn lớn nhất của một đời người, đặt lên vị trí thứ nhất của sinh hoạt xã hội”[11, tr.76-77]
Như vậy trong bối cảnh xã hội Xuân Thu Khổng Tử đã sáng lập ra Nho gia với nội dung cốt lõi là những quan niệm về đạo đức với mục đích đưa xã hội
Trang 20về trạng thái trật tự, ổn định và phát triển thịnh vượng như xưa – xã hội Tây Chu Những tư tưởng ấy được thể hiện trong loạt các kinh điển Tứ thư, Ngũ kinh mà nội dung quan niệm đạo đức tập trung nhiều trong Luận ngữ, Trung dung, Đại học
1.3 Nội dung quan niệm đạo đức của Nho gia
1.3.1 Luân thường
Do xuất hiện trong xã hội đầy biến động, loạn lạc Xã hội mà “ Lễ nhạc hư hỏng”, “Vua không giữ đạo vua, tôi không giữ đạo tôi, cha không giữ đúng đạo cha, con không làm đúng đạo con” nên “Thiên hạ vô đạo, đại loạn” Do vậy, ông luôn hướng tới xã hội có trật tự trên dưới, vua sáng tôi hiền, cha từ con thảo, trong ấm ngoài êm như trong xã hội Tây Chu
Trong xã hội phong kiến, quan hệ giữa người với người được gọi là nhân luân Các bậc vua chúa, giai cấp quý tộc và các nhà Nho trong xã hội phong kiến gọi trật tự, thứ bậc và quan hệ giữa vua và tôi, cha và con, chồng và vợ, anh em và bạn bè là ngũ luân, đồng thời họ cho rằng ngũ luân là biểu hiện của
lý trời trong đời sống xã hội con người, là đạo lý vĩnh hằng, không thể biến đổi cho nên gọi là Luân thường
Trong xã hội có 5 mối quan hệ cơ bản đó và ứng với từng mối quan hệ xã hội do Nho gia đặt ra lại có những quy phạm, những chuẩn mực đạo đức để ràng buộc, cột chặt con người vào trong mối quan hệ này, định rõ trách nhiệm của con người với con người trong gia đình, ngoài xã hội Tất cả là những quy phạm, chuẩn mực đạo đức - chính trị đó gộp lại thành đạo làm người Như vậy, vai trò của con người trong các mối quan hệ xã hội theo Nho gia được thể hiện qua các mối quan hệ đã nêu trên và qua những quy phạm, chuẩn mực đạo đức
Tuy nhiên, vai trò của con người được Nho gia đề cập trong ba mối quan
hệ cơ bản là tam cương và năm đức hay ngũ thường Trong xã hội, Nho gia chú ý nhiều nhất quan hệ vua - tôi, một trong những mối quan hệ cơ bản trong tam cương, ngũ luân Quan hệ vua - tôi, theo Nho gia là quan hệ lý tưởng lấy
Trang 21nghĩa hòa hợp giữa vua và tôi Trong đó, vua phải huệ, tôi phải trung Trong quan hệ vua - tôi, nếu vua thực sự có lòng huệ, tôi có lòng trung thì vua - tôi đạt tới đức nhân, đức nghĩa bằng lễ và trí và như thế là chính danh
Ở giai đoạn đầu, các nguyên tắc đối xử của nhà Nho còn mang tính hai chiều, yêu cầu người dưới có nghĩa vụ đối với người trên và người trên cũng phải có nghĩa vụ với người dưới Nhưng về sau, khi chế độ phong kiến tập quyền được xác lập, tính đẳng cấp được đề cao, nguyên tắc ứng xử dần chuyển sang yêu cầu khắt khe với người dưới, đòi hỏi người dưới phải phục tùng vô điều kiện đối với người trên Từ thời Tần, Hán trở về sau, khi chế độ chuyên chế phong kiến được thiết lập, quan điểm về địa vị và quan hệ giữa vua và tôi được các nhà tư tưởng phong kiến lý giải nó theo khuynh hướng khắt khe, một chiều, khô cứng và mang màu sắc của tư tưởng chính trị thần quyền với các quan điểm “quân tôn, thần ti”, “quân quý, thần tiện”
Sau đây là một số tư tưởng cơ bản của quan hệ vua - tôi trong lịch sử Trung Quốc: Vua và tôi là quan hệ tương quan Khổng Tử viết: “Vua khiến
bề tôi, bề tôi thờ vua”, “vua sai khiến bề tôi bằng lễ, bề tôi thờ vua bằng lòng
trung”[44, III, tr.19] Mạnh Tử, thiên Ly lâu hạ, tiết 3 viết: “Vua mà coi bề tôi
như tay chân, ắt bề tôi sẽ coi vua như người tâm phúc Vua coi bề tôi như chó ngựa, ắt bề tôi coi vua như người trong nước Vua coi bề tôi như bùn rác, ắt
bề tôi coi vua như kẻ cướp giặc thù” Vua tôi lấy nghĩa mà hòa hợp Trang
Tử, Nam Hoa Kinh, thiên Nhân gian thế viết: “Bề tôi tôn thờ vua là nghĩa vậy” Quan hệ giữa vua - tôi là quan hệ phục tùng Tuân Tử trong thiên Phú quốc viết: “Không có vua để chế ngự bề tôi, không có trên để chế ngự bên dưới thì thiên hạ tai họa sinh ra đam mê nhục dục, trác táng”
Như vậy, quan niệm của các nhà sáng lập Nho gia về mối quan hệ vua - tôi
có ít nhiều tính nhân văn sâu sắc Các ông đưa ra các quy phạm đạo đức nhân nghĩa, hiếu trung nhằm ràng buộc trách nhiệm, nghĩa vụ lẫn nhau giữa vua và tôi Từ thời Hán về sau, vua được coi là thiên tử, được thay trời trị dân, trị
Trang 22thiên hạ cho nên uy quyền của vua là uy quyền của trời, con người phải phục tùng vô điều kiện
Trong gia đình, Nho gia đưa ra ba mối quan hệ: cha - con, chồng - vợ, anh
- em Tuy nhiên có hai mối quan hệ được Nho gia tập trung lý giải là mối quan hệ cha - con, chồng - vợ Quan hệ cha - con là một trong ba mối quan
hệ cơ bản của con người Trong mối quan hệ này, Nho gia đã đưa ra hai chuẩn mực đạo đức căn bản là Từ và Hiếu để duy trì mối quan hệ cha - con, duy trì tôn ti trật tự trong gia đình nhằm củng cố trật tự kỷ cương, ổn định xã hội và ràng buộc trách nhiệm giữa con người với con người Chuẩn mực trước hết trong mối quan hệ này là cha phải Từ, tức phải thương yêu, dưỡng dục con cái Ngược lại, con cái phải chăm sóc, kính trọng cha mẹ Trong mối quan hệ này, Nho gia đề cao vị trí của người cha là bề trên của con cái, là người sinh
ra con cái cho nên Nho gia nhấn mạnh đức Hiếu, tức là nhấn mạnh nghĩa vụ
của con cái đối với cha mẹ Sách Mạnh Tử, thiên Ly Lâu hạ, tiết 19 viết:
“Trong các việc phụng sự của mình, việc nào là lớn? Việc phụng sự cha mẹ
là lớn, phụng sự cha mẹ là gốc” Khổng Tử, Mạnh Tử và nhiều nhà Nho khác đã đưa ra nhiều tiêu chuẩn của con người có hiếu Đến thời Hán về sau, các nhà Nho đề cao vị trí, uy quyền của cha Đổng Trọng Thư gọi “cha
là Trời của con”, là “giềng mối” của con cái Ngoài các nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng, kính trọng, đức Hiếu của con người đối với cha là đòi hỏi người con phải phục tùng mệnh lệnh của cha Nho gia cho rằng người con
có đạt được đức Hiếu mới là người có nhân, nghĩa, lễ, trí Điều chủ yếu Nho gia đề cao đức Hiếu, đức Từ trong mối quan hệ cha - con là nhằm duy trì chế độ tông pháp và chủ yếu là địa vị thống trị của nhà vua, của kẻ
thống trị Sách Đại học ghi rõ: “Hiếu là để thờ vua, đễ là để phụng sự bề
trên, từ là để sai khiến dân chúng”[15, XIX, tr.109]
Quan hệ chồng - vợ: Trong mối quan hệ chồng - vợ, Nho gia đưa ra phạm
trù nghĩa - nghĩa là chuẩn mực đạo đức để ràng buộc trách nhiệm và nghĩa vụ giữa vợ và chồng với nhau Theo đó, vợ và chồng phải thương yêu và có trách
Trang 23nhiệm với nhau Tuy nhiên, trong quan niệm của Nho gia địa vị xã hội và vai trò của người phụ nữ nói chung được nhìn nhận, đánh giá thấp hơn so với người đàn ông Đặc biệt, từ Đổng Trọng Thư trở đi, Nho gia đòi hỏi người phụ nữ, người vợ trong gia đình phải tuyệt đối phục tùng mệnh lệnh của người chồng, của cha mẹ chồng Có như vậy, người vợ mới được coi là người
có đạo đức, có tiết hạnh - những cái mà nhà Lý học thời Tống Nho cho là lớn hơn cả sự sống chết
Quan hệ anh – em
Chuyển sang mối quan hệ huynh đệ : anh em thì thân thiết làm trọng, tình máu mủ, ruột rà phải thương yêu nhau Trong tục ngữ ca dao Việt Nam có câu : “Anh em như thể tay chân - Rách lành đùm bọc dở hay đỡ đần” Anh em như những bộ phận khác nhau trên cơ thể, dù nghèo khó hay giầu sang đều có nhau giúp đỡ nhau trong công việc…
Trong câu chuyện “Tam quốc diễn nghĩa” chắc ai cũng phải biết tình huynh đệ của ba anh em : Lưu Bị - Quan Vũ - Trương Phi tuy là anh em kết nghĩa nhưng suốt đời họ đều bên nhau, dù có lúc khó khăn đến thế nào nhưng cuối cùng họ đều vượt qua tất cả Khi Quan Vũ bị giết vì nóng lòng trả thù cho anh mà Trương Phi đã thúc dục quân lính quá đáng mà bị kẻ tiểu nhân giết hại Lưu Bị vì trả thù cho 2 em mà thúc quân đánh Ngô,việc không thành
mà ốm chết Còn có rất nhiều câu chuyện kể về những cặp anh em dù là ruột
thịt hay là kết nghĩa
Quan hệ bằng – hữu
Mối quan hệ cuối cùng là mối quan hệ giữa tình bằng hữu Mỗi con người muốn tồn tại trong xã hội đều phải có những mối bang giao với người khác, mối quan hệ này bắt đầu từ một tình bạn giữa con người với con người
Có thể thấy qua hai nhân vật được lưu truyền trong chuyện như Lưu Bình và Dương Lễ Đó có thể là mối bang giao bằng hữu sâu sắc mà mọi người có thể xem như những tấm gương học tập cho mình
Trang 24Chúng ta còn thấy mối quan hệ này qua các nhân vật trong mối quan hệ với Ac-ta-nhăng trong câu chuyện “Ba chàng lính ngự lâm” của nhà văn Pháp Duy Ma Với những hành động quên mình vì mọi người bạn của mỗi nhân vật, họ sống và hi sinh cho nhau như những người anh em vậy Hay câu chuyện giữa hai nhà cách mạng lỗi lạc là C.Mác và Ănghen vậy họ coi nhau như đồng chí, anh em, thậm chí là cả sau khi C.Mác mất nữa
Ngũ luân là một trong những học thuyết mang tính dường cột của xã hội Các mối quan hệ ấy, nếu xét khái quát ta có thể thấy là nó từ mối quan hệ cao nhất, cho đến mối quan hệ thấp nhất Bình thường nhất Mà trong đó mỗi thành viên đều có nhiệm vụ hoàn thành nghĩa vụ của mình Tuy ra đời từ rất lâu rồi nhưng cho tới ngay nay nó vẫn còn có những tính mới mẻ để mọi người tham khảo và khên răn con người sống đúng với những vai trò bổn phận của mình trong các mối quan hệ với gia đình cũng như xã hội
Như vậy, cách ứng xử đúng chức năng như vậy làm cho gia đình hòa thuận, êm ấm Theo Nho gia áp dụng công thức như vậy trong xã hôi và quan
hệ nhà nước giữa người cầm quyền và dân cũng tạo ra cảnh êm ấm, thuận hòa Đó là cách lấy thuận hòa, êm ấm làm mẫu mực để xây dựng xã hội thái bình, hòa mục và trật tự, ổn định Tuy nhiên trong tam cương thì mối quan hệ vua – tôi lại là quan trọng và cao nhất Tam cương đi liền với ngũ thường là nền tảng đạo đức, chính trị của chế độ phong kiến
1.3.2 Ngũ thường
"Ngũ thường" là năm đức cơ bản luôn luôn phải có của đạo làm người gồm: Nhân, nghĩa, lễ, trí, tín Các đức tính nằm trong ngũ thường đã được nói đến tản mạn trong Kinh thư, Kinh thi, đặc biệt là trong Luận ngữ của Khổng
Tử với các phạm trù nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, dũng, hiếu, trung, đễ và trong quan điểm của Mạnh Tử với tư tưởng nhân, nghĩa, lễ, trí, tín Thuyết Ngũ thường chính thức được Đổng Trọng Thư (179 - 104 TCN) đời Hán khái quát lại, cùng với Tam cương trở thành nguyên tắc đạo đức chính trị của chế độ
Trang 25phong kiến và được các nhà Nho về sau hệ thống lại thành “Tam cương, ngũ thường”, gọi tắt là cương - thường
Đầu tiên là đức Nhân
Ý nghĩa luân lý của Nhân: Nhân là đức ở tâm Khổng Tử viết: “Người mà không có lòng nhân đức làm sao thi hành lễ tiết? Người mà chẳng có lòng nhân đức làm sao dùng âm nhạc?”[44, III, tr.3] Nhân là lòng yêu thương người Khổng Tử viết: “Nhân là thương người”[44, XII, tr.21] Mạnh Tử viết:
“Lòng trắc ẩn chính là nhân vậy”[Mạnh Tử, Cáo Tử thượng, tiết 6] Nhân là lòng cung kính, là đức hiếu thuận Sách Lễ ký, thiên Tế thống viết: “Sự giữ
gìn của con cháu với việc tông miếu, xã tắc, tổ tiên không hoa mỹ mà hợp với với điều lễ, nghĩa là nhân vậy”
Nhân là gốc của nghĩa Sách Lễ ký, thiên Lễ vận viết: “Đức nhân là gốc của nghĩa” Ý nghĩa bao quát của Nhân Luận ngữ viết: Tử Trương hỏi Khổng
Tử về thực hiện đức nhân Khổng Tử đáp rằng: “Có thể thi hành năm điều cho thiên hạ, đó là nhân” Tử Trương hỏi, xin thầy cho biết năm điều ấy Ông giải thích rằng: “Ấy là tự mình phải cung, khoan, tín, mẫu, huệ, nếu mình cung kính thì mình không khinh miệt ức hiếp người; nếu mình có lòng độ lượng thì
sẽ thu phục được lòng mọi người; nếu mình có lòng tín thật thì người ta tin cậy mình, nếu mình cần mẫn siêng năng thì sẽ làm được công việc hữu ích; nếu mình thi ân bố đức thì có thể sai khiến được mọi người”[44, XVII, tr.6]
Công dụng xã hội và chính trị của Nhân Luận ngữ viết: “Xóm có đức
nhân là xóm tốt đẹp, người không chọn xóm có đức Nhân mà ở thì sao gọi là
người có trí đức được”[44, IV, tr.1] Luận ngữ viết: “Bậc quân tử nếu biết giữ
trọn đạo của mình với cha mẹ, bà con thì dân chúng sẽ hứng khởi lòng nhân”[44, XIII, tr.3]
Qua trình bày một số ý nghĩa của Nhân như trên, theo quan điểm của Nho gia ta thấy: Nhân là lòng yêu người hay là lòng trắc ẩn Nhân là cái bao hàm mọi đức Gắn với đạo đức nói chung, đức nhân thể hiện trong mọi mối quan
Trang 26hệ xã hội giữa người với người Trong các mối quan hệ ấy, nếu có tình trạng sai hỏng một đức riêng thuộc một mối quan hệ trong các mối quan hệ thì đồng thời là một tình trạng trái với đức nhân Chẳng hạn, bạn hữu không có đức tín với nhau cũng trái với đức nhân, không cung kính với bề trên, không trung thực với người khác, không cương trực, nghiêm khắc với kẻ sai trái, lầm lỗi đều trái với đức nhân
Thứ hai là đức Nghĩa
"Nghĩa" là việc nên làm hay điều ta phải làm đúng theo đạo lý, đúng bổn phận, không vì một cái gì hay việc theo đường lối phải và lòng hào hiệp của con người Quan điểm về “Nghĩa” được đề cập đầu tiên, khá sâu sắc trong tư tưởng triết lý đạo đức, nhân sinh của Khổng Tử và Mạnh Tử Theo các ông, Nghĩa được coi là một trong năm đức cơ bản nhất, luôn luôn phải có của con người, với tính cách là con người, đó là Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín Nghĩa liên
hệ mật thiết với các đức tính khác, thành một hệ thống chặt chẽ, tạo thành bản tính con người Người mở đầu dùng nghĩa mở rộng sự ứng dụng đến phạm vi chính trị, xã hội là Mặc Tử
Trong sự phát triển về sau, Nghĩa bao hàm trong nó ý nghĩa sâu sắc và đầy đủ hơn Nó không chỉ là phạm trù có ý nghĩa về mặt đạo đức nhân sinh trong lĩnh vực triết học mà nó còn là chuẩn mực của đời sống, là văn hóa ứng
xử và là một trong những bậc thang giá trị của con người Nghĩa là tiêu chuẩn
của hành vi Luận ngữ viết: “Thấy việc nghĩa mà không làm không phải là người có khí dũng”[44, XVII, tr.24] Mạnh Tử viết: “Nhân là ở chỗ yên ổn của con người Nghĩa là con đường chính đại của con người”[Thiên Ly Lâu Thượng, tiết 10] Nghĩa là kỷ cương của mọi việc Sách Lã Thị Xuân Thu, thiên Luận y viết: “Nghĩa là kỷ cương của mọi việc, vua tôi, trên dưới, thân sơ
đều do nghĩa mà ra, trị loạn, yên nguy, thắng bại đều do nghĩa quyết định” Nếu đức Nhân thể hiện trong mối quan hệ với người khác thì đức Nghĩa thể hiện trong khi tự vấn lương tâm mình Theo Mạnh Tử, “lòng hổ thẹn là đầu mối của Nghĩa” Nghĩa đen của từ Nghĩa rất rộng, là điều nên nói, việc
Trang 27nên làm Nói điều gì đó, làm việc gì đó mà thấy thảnh thơi, thoải mái, hứng thú trong lương tâm thì điều nói, việc làm đó là điều nghĩa, việc nghĩa, không nói điều ấy, không làm việc ấy thì thấy bứt rứt trong lương tâm, như thế là có điều nghĩa không nói, có việc nghĩa không làm Ngược lại, có điều gì đó, việc
gì đó không nói, không làm thì thấy yên lòng, như thế là điều đó, việc đó vốn của bản thân nó là bất nghĩa hoặc phi nghĩa
Thứ ba là đức Lễ
Lễ là một trong những phạm trù đạo đức có ý nghĩa rất phổ biến trong đời sống văn hóa tinh thần của người Trung Quốc và cũng là một trong những yếu tố cơ bản của con người trong thuyết “ngũ thường” của Nho gia là Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín
“Lễ” nguyên nghĩa là kính trời, thờ quỷ thần, tôn thờ tổ tiên, cầu phúc đức, một dạng văn hóa tinh thần mang màu sắc lễ nghi tôn giáo ở Trung Quốc cổ đại Sau đó được mở rộng về nội dung và tính chất của nó và Lễ được coi là lễ nghi, nghi điển, là lề lối ứng xử, quy tắc, luật lệ, chuẩn mực quy định trật tự quan hệ xã hội từ trong gia đình đến ngoài xã hội
Thời Xuân Thu là thời kỳ xã hội đầy biến động, đánh dấu sự suy tàn của chế độ Tây Chu, bước đầu hình thành chế độ phong kiến kiểu phương Đông
Sự phản kháng của nhân dân lao động và sự phê phán của các nhà tư tưởng tiến bộ đối với quan điểm thiên mệnh, lễ trị đã làm cho trật tự xã hội thay đổi
Do đó xuất hiện việc đề cao đức Nhân - tức thông qua sự tu dưỡng nội tâm từng người mà hình thành đức Nhân, một đức tính bao gồm tất cả đức tính tốt đẹp của con người để qua đó thực hiện lễ trị, khôi phục lễ trị nhà Chu, có cải biến qua tư tưởng “khắc kỷ phục lễ vi nhân” của Khổng Tử
Sang thời Chiến Quốc, do xuất hiện các yếu tố của phương thức sản xuất
do giai cấp quý tộc địa chủ làm đại biểu, làm cho chế độ lễ nghĩa của giai cấp chủ nô lỗi thời và bị phá vỡ Để duy trì trật tự xã hội, giai cấp thống trị đã chế định lại chế độ lễ nhạc Các nhà tư tưởng tuy có phê phán Lễ nhà Chu nhưng
Trang 28do vị trí xã hội khác nhau đã đưa ra các quan điểm biến đổi Lễ nhà Chu khác nhau Trong đó đáng chú ý quan điểm của Tuân Tử, Thương Ưởng, Hàn Phi chủ trương pháp trị Từ đây, lễ không chỉ là ý nghĩa tôn giáo, đạo đức, chính trị mà còn có ý nghĩa pháp luật
"Lễ" ra đời do hai nguyên nhân: Một là, Lễ là sự thuận theo đạo của trời đất trong đạo của con người, là sự biểu hiện trật tự của tự nhiên, trời đất trong
trật tự quan hệ xã hội của con người Sách Lễ ký, thiên Lễ vận viết: Lễ là do
các tiên vương thuận theo đạo trời, lấy tình cảm để trị dân Hai là, Lễ ra đời còn do sự cần thiết của nhân tính Con người cần có lễ làm quy tắc, chuẩn mực để phân định giới hạn
Công dụng của Lễ về lĩnh vực đạo đức, Luận ngữ viết: “Không học lễ, không lấy gì để đứng vững được”[44, XII, tr.1] Công dụng của Lễ về lĩnh
vực chính trị - xã hội: Luận ngữ viết: “Sửa mình theo lễ là nhân Ngày nào
cũng khắc kỷ phục lễ thì thiên hạ quy về đức nhân vậy”[41, XII, tr.1] “Nếu nhà cầm quyền biết dùng lễ trị nước thì cai trị khó gì? Nếu như không biết dùng lễ cai trị đất nước thì làm sao mà có lễ được”[44, IV, tr.13]
Quan hệ của Lễ với các đức khác Luận ngữ viết: “Người ta mà không có
đức Nhân thì làm sao mà thi hành lễ? Người ta mà không có đức Nhân thì làm sao mà dùng nhạc được?”[3, tr.3], “cung kính mà không có lễ thành ra vất vả Cẩn thận mà không có lễ thành ra phát gay, dũng cảm mà không có lễ thành
ra phản loạn, ngay thẳng mà không có lễ thành ra gắt gỏng”[44, III, tr.2] Điểm qua về quá trình hình thành, nguyên nhân và công dụng của Lễ, ta thấy Lễ gồm hai mặt gắn bó với nhau Lễ là tổ chức xã hội, tổ chức cuộc sống, thể hiện thành lễ nghi, quy chế, kỷ cương, trật tự tôn ti Mặt khác, Lễ là
về giáo dục đạo đức, thể hiện thành thái độ, ý thức, nếp nghĩ giữ gìn, tôn trọng lễ nghi, kỷ cương và trật tự Lễ là một phần quan trọng của Nho gia, nêu lên những quy định về Lễ rất nhiều, rất chặt chẽ cho gia đình, làng mạc, đất
Trang 29nước, thiên hạ, kể cả trời, đất, con người, trong đó có sự quy định về Lễ đối với quan hệ giữa người và người là rạch ròi nhất
Cái để lại của Nho gia đối với các triều đại phong kiến Trung Hoa cũng như Việt Nam là Lễ Nó là đạo đức, là thể chế, cũng là quyền uy “Lễ trị của Nho gia xiềng xích con người từ tấm bé đến khi chết, từ trong chiếc nôi ra đến nước và thiên hạ một cách có vẻ êm dịu nhẹ nhàng, vừa trang trọng vừa khoan hòa Cái chính là các thế lực thống trị từ nhà Hán về sau cũng như các triều đại Lý, Trần, Lê, Nguyễn ở Việt Nam cần có nó để gò chặt cả dân, cả nước trong những cái khung trật tự tôn ti, sai khiến cứ việc sai khiến, phụng
sự cứ việc phụng sự”[16, tr.140]
Thứ tư là đức Trí
Đức Trí là một đức trong ngũ thường Tri và Trí là phạm trù thuộc lĩnh vực tri thức luận của triết học Trung Quốc, theo cách sử dụng và cách hiểu thông thường là giống nhau Tuy nhiên, nó cũng có sự khác nhau một cách tương đối, trong đó “Tri” nghĩa là biết, là tri thức, là sự hiểu biết, còn “Trí” là trí tuệ, trí thông minh, thông minh
Tuân Tử trong thiên Chính danh đã chỉ ra sự khác nhau rằng: Cái ở trong con người và có khả năng hiểu biết thì gọi là Tri, Tri hợp với ngoại vật thì gọi
là trí Trí theo nghĩa cơ bản trong ngôn ngữ của Khổng Tử và Mạnh Tử là sự hiểu biết trên mọi quan hệ lớn nhỏ, rộng hẹp, cao thấp của con người với trời đất, muôn vật với mọi người khác trong thiên hạ Nói cách khác, đức Trí thể hiện ở chỗ biết được một cách đúng đắn rõ ràng điều phải, điều trái trong mọi vấn đề nảy ra về mặt đạo đức
Mạnh Tử và một số danh Nho đời sau coi trí là chuyện lương tâm, lương tri Đầu mối của Trí, ở bên trong con người là lòng thị phi làm cho con người
ta phân rõ phải trái, đúng sai trong các quan hệ của con người Có được đầu mối ấy đi vào học đạo, hành đạo con người tự khắc có được đức Trí và các đức khác muốn có được thì phải học
Trang 30Khổng Tử nói: “Ham trí mà không ham học, cái che lấp mất trí là sự bừa bãi, lung tung”[44, XVII, tr.8] Tăng Sâm coi những bậc đầu tiên của cái thang làm sáng trong thiên hạ là hai bậc trí tri cũng là nhằm nhấn mạnh vào ý nghĩa phải học Những công việc hàng ngày ở ruộng vườn, Khổng Tử không coi là có giá trị với đức Trí “Cách vật trí tri” hay “cùng thân tri hóa” rốt cuộc đều gắn chặt trong cái khung tu đạo, luyện đức Ai cũng biết rằng trong bất kỳ mối quan hệ nào cũng có phải trái cho nên có đức Trí để phân rõ phải trái chính là điều cần thiết để xác định, trau dồi các đức khác
Thứ năm là đức Tín
Đức Tín là đức trong ngũ thường với ý nghĩa cơ bản là thành thực, tin tưởng, tín nghĩa Trong lễ nghĩa, tín biểu trưng cho nhân cách hoàn chỉnh của con người Trong quan hệ người với người, tín thuộc về đạo lý bạn bè Trong
hệ thống triết lý đạo đức nhân sinh của mình, Khổng Tử coi đức nhân là yếu
tố đạo đức căn bản, nó liên quan, chi phối tới các yếu tố đạo đức khác Đặc biệt, ông coi đức nhân là gốc của Lễ và do đó Nhân là gốc của Tín '
Nội dung trước hết của tín là thành thực Luận ngữ viết: “Bậc quốc trưởng
cai trị một nước có ngàn cỗ xe, làm việc gì cũng phải kính cẩn mà giữ chữ tín thật, của cải dùng tiết kiệm và thương yêu tất cả mọi người, khiến dân chúng phải đúng thời, đúng lúc”[44, I, tr.5]; “người mà không nói thật, không biết
người ấy làm việc gì cho nhanh được”[44, I, tr.22] Nội dung thứ hai, tín là gốc của Lễ, là đầu mối của quan hệ bạn bè Luận ngữ viết: Tử Lộ nói: “Tôi
muốn nghe chí của thầy”, Khổng Tử đáp: “Ta muốn cho người già cả được yên vui, cho bạn bè có lòng tín nghĩa, muốn trẻ nhỏ được đùm bọc”[44,V, tr.25], “trước kia nghe lời người ta nói mà tin tưởng vào việc làm của họ Nay, ta nghe lời người ta nói, ta phải quan sát hành động của họ”[44, V, tr.9] Trong ngôn ngữ của Khổng Tử và Mạnh Tử, Trung hay đi đôi với Tín, thể hiện lòng thật thà hay là thành thực, là đức của đạo bằng hữu Tóm lại, quá trình hình thành và phát triển đạo đức Nho gia gắn liền với thời kỳ biến
Trang 31động của xã hội Đông Chu Đó là thời kỳ chế độ chiến hữu nô lệ theo kiểu phương Đông nhà Chu đã suy tàn, chế độ phong kiến sơ kỳ đang hình thành
Sự giao thời giữa hai chế độ đó đã gây nên sự đảo lộn căn bản về kinh tế, chính trị và suy đồi trật tự lễ nghĩa, đạo đức, luân lý trong xã hội Chính thời
kỳ quá độ đặc biệt ấy là cơ sở cho sự ra đời tư tưởng đạo đức của Nho gia Nội dung cơ bản của đạo đức Nho gia là Ngũ luân và ngũ thường, gọi tắt là luân thường Luân: Có 5 điều chính gọi là Ngũ luân, đều là những quan hệ xã hội: vua - tôi, cha - con, chồng - vợ, anh - em, bầu bạn Trong 5 điều đó có ba điều lớn là vua tôi, cha con, chồng vợ, gọi là tam cương Trong ba điều này có hai điều mấu chốt: quan hệ vua - tôi thể hiện bằng chữ trung và quan hệ cha - con thể hiện bằng chữ hiếu Giữa trung và hiếu thì trung đứng đầu ngũ luân Thường: Có 5 điều chính gọi là ngũ thường, đều là những đức tính được nói
là trời phú cho mỗi người: Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín Đứng đầu ngũ thường là Nhân nghĩa Trong Nhân nghĩa thì Nhân là chủ đạo Luân thường gắn bó với nhau Tuy vậy, trong lý thuyết và trong thực tiễn, luân đứng trước thường
1.3.3 Quan điểm về giáo dục đạo đức
1.3.3.1 Giáo dục đạo đức phục vụ xã hội
Khi bàn về tư tưởng giáo dục đạo đức phục vụ xã hội, Nho gia nhấn mạnh mối quan hệ giữa vua và bề tôi, cả vua và bề tôi cần đáp ứng những yêu cầu sau:
Đầu tiên, cần phải chính danh Đứng trước thực trạng xã hội rối ren, Khổng Tử cho rằng, đó không phải nguyên nhân do một sớm một chiều, mà là một quá trình bắt nguồn từ sự sa đọa của các thế lực cầm quyền, làm cho
“danh” không được “chính”, tức là “danh” không phù hợp với “thực” Vì vậy, ông yêu cầu vua trước hết phải “chính danh” Chính danh là “vua ra vua”, nếu danh bất chính thì lời nói không đúng đắn, dẫn đến việc làm sai, khi đó người với người trong xã hội không kính trong nhau, không còn hòa khí, pháp luật
Trang 32lỏng lẻo và người dân sẽ mất nơi tin cậy Khi dân không còn tin cậy ở bậc cầm quyền, thì lúc đó dù muốn hay không, xã tắc cũng khó tránh khỏi sự suy sụp
Thứ hai, cả vua và thần cần có sự tôn trọng lẫn nhau Khổng Tử yêu cầu nhà vua sai khiến bề tôi thì dựa vào điều lễ, bề tôi phụng sự nhà vua thì dựa vào điều trung: “Quan sử thần dĩ lễ, thần sự quân dĩ trung” [51, tr.70] Mạnh
Tử còn nhân mạnh, cho rằng nếu nhà vua xem bề tôi như tay chân thì bề tôi xem nhà vua như lòng dạ của mình; nếu nhà vua xem bề tôi như có ngựa thì
bề tôi xem nhà vua như người dưng trong nước; nếu nhà vua xem bề tôi như
cỏ đất thì bề tôi xem nhà vua như kẻ thù: “quân chi thị thần như thủ túc, tắc thần thị quân như phúc tâm; quân chi thị thần như khuyển mã, tắc thần thị quân như quốc nhân; quân chi thị thần như thủ giới, tắc thần thị quân như khấu thù” [51, tr.761]
Thứ ba, cả vua và bề tôi đều được Khổng Tử coi là người cầm quyền;
họ phải đạt được cả nhân đạo và thiên đạo (đạo của người và đạo của trời) Bởi lẽ, một ông vua đồng thời cũng phải là ngườ thầy của dân, phải là người nhân đức nhất trong những người nhân đức Người làm chính trị mà có đức nhân thì đứng vào vị trí của sao Bắc Đẩu, vị trí mà tất cả các ngôi sao khác đều phải hướng đến: “Vi chính dĩ đức, thí như Bắc thần, cư kỳ sở nhi chúng tin củng chi.” [51, tr.30] Vua phải đảm bảo cho dân được no ấm, phải xây dựng được lực lượng quân sự hùng hậu, và cần có được lòng tin của dân Không những thế, vua phải làm cho dân giàu và biết giáo hóa dân chúng Vua sáng còn là người biết trọng dụng người đức độ, tài năng, phải biết rộng lượng với bề tôi của mình Vua phải hết lòng vì dân chúng Mạnh Tử đã khuyên các bậc vua chúa: ngài vui cái vui của dân thì dân cũng vui cái vui của mình, ngài lo cái lo của dân thì dân cũng lo cái lo của mình Vì thiên hạ mà vui, vì thiên hạ mà lo
Ngoài ra, vua còn phải thực hiện chính sách điền địa công bằng, phân minh, giảm to thuế cho dân, cải thiện đời sống nhân dân Đó là nhiệm vụ
Trang 33trọng yếu của người cai trị đất nước, Nho giáo khuyên vua không nên lạm dụng hình phạt để ép dân đi vào tôn ti trật tự, mà nên dùng đức hạnh, lễ nghĩa,
vì đức hạnh có sức mạnh cảm hóa con người và làm cho con người biết hổ thẹn khi làm sai: Dắt dẫn bằng đạo đức, sửa trị bằng lễ giáo, thì dân không những có lòng hổ thẹn mà còn cảm hóa quy phục Đức hạnh và lễ tiết ở đây chính là những tiêu chuẩn về đức tính, những quy định về giao tiếp, lễ nghi
mà con người phải có, phải tuân theo
Thứ tư, về đạo làm tôi, Nho gia đề cao chữ “Trung”, nhấn mạnh lòng biết ơn, sự phục tùng, tinht hần phục vụ hết lòng hết sức của bề tôi đối với vua, với quốc gia Theo Khổng Tử, người làm tôi, làm quan trước hết phải là người có đức trong mọi hành động, có thái độ đúng ở mọi nơi, mọi lúc, chứ không phải khi nhận chức tước mới làm quan Khi chứng kiến cảnh xã hội có chiến tranh, huynh đệ tương tàn, Mạnh Tử đã phê phán những kẻ làm quan
mà không đúng danh phận của mình, chỉ biết hùa theo điều ác của vua, phò vua chỉ biết sửa soạn binh đao đi đánh chiếm nước khác, gây chiến tranh Ông kết tội rằng hùa theo điều ác của vua mà không can ngăn là tội nhỏ, xúi giục điều ác của vua là tội lớn Những quan đại phu thời nay đều xúi giục điều ác của vua, cho nên bảo rằng quan đại phu thời nay là người có tội lớn Với lời kết tội này, ông đã nêu lên tư tưởng về “Đạo làm quan”: Khi thiên hạ có đạo thì đem đạo theo thân mà ra làm quan Khi thiên hạ không có đạo thì đem thân theo đạo mà lui về ở ẩn Ông cũng thẳng thắn nói rằng thà ở bậc dưới là dân, không chịu đem mình là người hiền mà thờ ông vua vô đạo Từ đó, ông
đã nêu ra ba trường hợp nên ra làm quan và ba trường hợp nên từ quan (Sở tựu tam, sở khứ tam) Thứ nhất, làm quan khi thấy có thể hành đạo được Thứ hai, làm quan vì giao tế có lễ Thứ ba, làm quan khi vua biết trọng dụng, nuôi dưỡng Khi ra làm quan rồi, thì phải trung với vua, hết lòng hết sức thờ vua, nhưng cũng không vì vậy mà biến mình thành kẻ “ngu trung” Người làm tôi
Trang 34trung còn là người biết can gián vua, khi vua làm điều trái đạo; không những thế, còn có thể phế truất ngôi vua, khi thấy vua là kẻ vô đạo
1.3.3.2 Giáo dục đạo đức gắn với hoạt động con người
Khổng Tử là người đầu tiên nêu lên mối quan hệ giữa con người với con người, giữa “kỷ” (mình) và “nhân” (người) Với ông, nguyên tắc đối xử giữa người với người là xem người cũng như mình, cái gì mình không muốn thì đừng làm cho người, mình muốn làm nên thì giúp người làm nên, mình muốn thành đạt thì giúp người thành đạt: “kỷ dục lập nhi lập nhân, kỷ dục đạt nhi đạt nhân Năng cận thủ thí; khả vị nhân chi phương dã dĩ.” [51, tr.150] Với quan niệm về “kỷ” và “nhân” này, Khổng Tử đã khẳng định tư tưởng đạo đức coi trọng con người của Nho gia Nguyên tắc thứ hai mà Khổng Tử đề cao là “Trung dung”, “Trung hòa” Trung hòa là cái tính tự nhiên của trời đất, trung dung là cái đức hạnh của người ta Trung là giữa, là không thiên lệch về bên nào Dung là thường Trung dung nghĩa là dùng đạo Trung làm lẽ sống thường ngày vậy Nghĩa là đạo Trung dung đòi hỏi con người đừng thái quá
về mình, cũng đừng thái quá về người Nó giống như mối tương quan giữa
“văn” và “chất”: “Chất mà trội hơn văn thì thô kệch, văn mà trội hơn chất thì phù phiếm, văn và chất đều hài hòa thì mới là quân tử: “chất thắng văn tắc dã’ văn thắng chất tắc sử Văn chất bân bân, nhiên hậu quân tử.” [51, tr 140]
Bên cạnh quan hệ vua tôi, trong gia đình cũng có nhiều mối quan hệ, nhưng mối quan hệ mà Nho gia quan tâm nhất, coi là cơ bản nhất, làm rường cột cho các mối quan hệ khác là mối quan hệ giữa cha và con, giữa thế hệ trước và thế hệ sau Tiêu chuẩn trong mối quan hệ này, theo Khổng Tử, là
“Phụ từ tử hiếu” Nho gia giai đoạn sau đã đẩy mối quan hệ này lên mức tuyệt đối là “Phụ sử tử sự” (Cha quyết, con phục tùng) Để ổn định gia đình, vai trò của người cha “từ” cũng rất quan trọng, nhưng quan trọng hơn là sự phục tùng của người con Do vậy, Nho gia đặc biệt đề cao Hiếu, khi coi Hiếu là nguồn gốc của mọi đức hạnh Nếu Khổng Tử coi đạo Hiếu là một loại ý thức luân lý
Trang 35của con cái đối với cha mẹ, thì đến Tông thánh Tăng Tử (ông Thánh của đạo Hiếu) đã phát triển đạo Hiếu lên thành một khái niệm trừu tượng, phổ biến, một nguyên tắc của mọi đức khác, là phẩm chất vĩnh hằng của con người, là
cơ sở của mọi đường lối chính trị tốt đẹp Phạm trù trung tâm trong học thuyết của Nho gia là Nhân, thì Hiếu được coi là gốc rễ của Nhân
Hiếu cũng có quan hệ chặt chẽ với Trung Theo Nho gia, xã hội là sự
mở rộng mối quan hệ cha con ra cả nước, cả thiên hạ là quan hệ vua – tôi và
mở rộng đạo làm con, đạo Hiếu ra phạm vi ấy là đạo làm tôi, đạo Trung Đạo Hiếu trong quan niệm của Nho gia có nhiều nội dung sâu sắc và mang đậm tính nhân văn Ngoài ra, Nho gia còn đề cập đến đạo đức trong mối quan hệ chồng – vợ, huynh – đệ, bạn bè, với những yêu cầu đạo đức rất cụ thể
1.3.3.3 Tự rèn luyện “tu thân”
Học thuyết của Nho gia rất chú trọng đến đạo đức con người, trong đó
có đạo đức trong ứng xử với chính bản thân mình, hướng chủ thế tới lẽ thiện, gọi là phép tu thân Theo đó, người quân tử đối với bản thân trước hết phải làm những việc khó, sau mới được hưởng thành quả: “Nhân giả tiên nan; nhi hậu hoạch; khả vị nhân hỹ.” [51, tr.142] Về sau, tư tưởng này được phát triển lên rằng người quân tử phải lo trước nỗi lo thiên hạ, vui sau niềm vui của thiên hạ thì mới là người có nhân Khác với những người bất nhân, người quân tử là người luôn vui vẻ sống trong bất kỳ hoàn cảnh nào, dù đó là vinh hoa hay đói nghèo, túng thiếu Họ không bị phú quý, danh lợi, giàu sang làm lung lạc
Khi bàn về hình mẫu người quân tử, Khổng Tử thường đưa ra những tiêu chuẩn khác nhau, song tựu chung lại, người quân tử cần đạt được 9 tiêu chí sau: 1 Nhìn thì phải để ý nhìn sau cho sáng; 2 Nghe thì phải lắng tai nghe cho rõ ràng; 3 Sắc mặt phải giữ cho ôn hòa; 4 Tướng mạo thì phải giữ cho khiêm cung; 5 Nói năng phải giữ bề trung thực; 6 Làm việc phải trọng sự kính cẩn; 7 Có điều nghi hoặc thì phải hỏi han; 8 Khi giận thì nghĩ đến sự
Trang 36hoạn nạn có thể xảy ra; 9 Thấy lợi thì phải nghĩ tới điều nghĩa Theo Khổng
Tử, chín điều này phải có sự hài hòa với nhau mà ông gọi là “trung dung” Để đạt được những điều này, trước hết người quân tử phải rèn luyện được 5 đức
cơ bản là: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín Đây cũng là tư tưởng xuyên suốt đạo làm người của Nho gia
Người quân tử, theo Nho gia, là cần phải biết giữ đức nhân của mình,
có thể vì nhân mà sát thân chứ không thể vì thân mà hại nhân Để giữ được đức nhân, người quân tử phải tự kiếm chế mình để tuân theo lễ tiết của xã hội,
để vững vàng, trầm tư như núi trước mọi thử thách của cuộc đời Là người ai cũng có nỗi sợ hãi của mình, nhưng người quân tử không được tham sống sợ chết Ngược lại, Nho gia khuyên con người có nhân và chí khí thì phải biết chọn cái chết một cách xứng đáng: Người có chí khí và người có đức nhân không tham sống mà hại người Họ phải xả thân để thành nhân Để đạt được tất cả những phẩm chất đạo đức đó, để hành động như một người quân tử giúp đời, Khổng Tử cho rằng, người quân tử phải luôn lấy “tu thân” làm đầu Tu thân là cơ sở để xây dựng nhân cách cho mình, để hành đạo giúp đời
Yêu cầu của Nho gia về tiêu chuẩn đạo đức để con người tu thân là rất toàn diện Không những đề cao tinh thần tu thân, bản thân Khổng Tử còn là một tấm gương về tu thân Ông muốn cả xã hội tu thân để thành một vương quốc của người quân tử
1.3.4 Những mặt tích cực và hạn chế 1.3.4.1 Tích cực
Một là, chú ý đến đạo đức, lòng nhân ái
Như đã phân tích ở trên, đối với Nho gia, tư tưởng “Nhân” được đặt ở vị trí trung tâm, cơ bản Mọi phạm trù, tư tưởng khác đều xuất phát từ “Nhân” Quan niệm của Nho gia về Nhân không chỉ dừng lại ở việc tu luyện, giáo dưỡng bản thân cho thành danh thành tài, mà còn là phàm là người nhân thì khi mình muốn tự lập tự cường thì mình cũng khao khát cho người khác được
Trang 37như thế; mình muốn thành đạt thì cũng cầu mong sao cho tha nhân được thành đạt; và ngược lại, điều gì mình không muốn, không thích thì cũng là điều mà mình cần tránh gây ra cho người ta Tuy “Nhân” là đòi hỏi phải yêu người, quý người nhưng điều đó không có nghĩa là Nho gia chủ trương yêu tha nhân cách mù quáng Đối với Khổng Tử, việc yêu người còn phải có sự phân biệt thị phi, thiện ác Ái nhân của ông không hàm nghĩa “ái vô sai đẳng”, nhưng là yêu người nào đáng yêu và ghét người nào cần ghét
Hai là, chú ý đến phẩm chất đạo đức toàn diện
Điều này được thể hiện rõ ràng trong nội dung tư tưởng đạo đức của Nho gia khi đề cập đến các phạm trù Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín; ngoài ra con người còn cần phản tuân theo ngũ luân, ngũ thường Con người mà Nho gia hướng đến không chỉ cần đáp ứng về mặt tri thức, mà cần đáp ứng được cả về mặt đạo đức Thậm chí, đạo đức còn là yếu tố được đề cao hơn trí tuệ
Ba là, đòi hỏi người quân tử phải tự rèn mình để trị thiên hạ
Tư tưởng này được thể hiện trong nội dung “tu thân” của Nho gia Không Tử cho rằng người quân tử cũng không thể tránh được những sai lầm, vì thế, cả cuộc đời cần liên tục gắn với việc suy nghĩ kĩ lưỡng trước khi hành động, đề phòng sự sai sót của bản thân Nho gia đặt ra những tiêu chuẩn để người quân
tử hướng tới Ngoài ra, việc “tu thân” không chỉ giới hạn ở phạm vi thường dân, mà ngay cả đến bậc quân vương, thiên tử cũng cần thực hiện điều này
1.3.4.2 Tiêu cực
Một là, xuất phát từ chia quân tử và tiểu nhân
Theo tư tưởng Nho gia, quân tử là người trọng nghĩa, khinh tài; biết phân biệt phải trái Người quân tử luôn thoải mái, không kiêu căng, hống hách Còn kẻ tiểu nhân chỉ coi trọng lợi, có lòng tư vị, không chính trực, nên trong lòng luôn lo lắng, không thoải mái Quân tử là người chuyên cần học đạo thánh hiền, biết sâu hiểu rộng, còn kẻ tiêu nhân luôn đam mê theo vật dục, trông chờ, nhờ cậy vào người khác Chính từ tư tưởng này đã nói lên
Trang 38Nho gia có xu hướng phân chia giai cấp trong xã hội, không hướng con người tới đại đoàn kết
Hai là, bất bình đẳng trong xã hội
Điều này được thể hiện ở nội dung đẳng giới là điểm yếu lớn nhất của Nho gia Một mặt, Nho gia đề cao chữ hiếu nhưng mặt khác lại phân biệt, hạ thấp thân phận phụ nữ Mâu thuẫn này khiến những quan điểm về giới của Nho gia
là một điển hình của chủ nghĩa gia trưởng, sự vô lý và thiếu nhân đạo của chủ thuyết về đạo làm người
Tư tưởng “nam tôn nữ ti” trọng nam khinh nữ của quan niệm đạo đức Nho gia rất nặng nề và khắc nghiệt Ðây là tư tưởng sai lầm, tiêu cực dẫn tới những thái độ và hành vi phân biệt đối xử bất bình đẳng giữa phụ nữ và nam giới Nho gia đánh giá thấp vai trò, khả năng và phẩm chất của phụ nữ Chính Khổng Tử và học trò của ông đã cho rằng: “phụ nhân nan hoá”, đàn bà và tiểu nhân là hai hạng người khó dạy, “đàn bà khó giáo dục vì gần họ thì họ nhờn,
xa họ thì họ giận” Tư tưởng này đã xúc phạm phụ nữ và kìm hãm người phụ
nữ trong mọi lĩnh vực hoạt động xã hội
Bên cạnh đó, đạo đức Nho gia quy định ngặt nghèo sự phụ thuộc tuyệt đối của phụ nữ vào đàn ông theo đạo tam tòng “tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử” Trong quan hệ vợ chồng thì “phu xướng phụ tuỳ”, người phụ nữ không có quyền chủ động, chỉ làm việc “tề gia nội trợ”, nâng khăn sửa túi cho chồng, không được tham gia vào việc họ, việc làng, việc nước; khi goá chồng sớm thì không nên tái giá mà phải biết “thủ tiết chờ chồng”, thờ chồng đến trọn đời để dành lấy danh hiệu “tiết hạnh khả phong” Ðây là thành kiến trái với nhu cầu tự do và quyền của người phụ nữ
Trong Nho gia, đàn ông dù có hèn kém thì vẫn được coi trọng hơn phụ
nữ, dù có nhỏ tuổi cũng được tôn trọng hơn và được hưởng nhiều quyền lợi hơn người con gái lớn tuổi, người vợ dù có đảm đang nuôi nấng chăm lo gia đình thì cũng phải phụ thuộc vào người chồng dù lười biếng, bất tài, người đàn ông có thể lấy nhiều vợ cũng là chuyện thường tình, còn người phụ nữ
Trang 39“chỉ thờ một chồng”, dù trong hoàn cảnh nào cũng không được tái giá Ngoài
ra, tư tưởng trọng nam khinh nữ còn thể hiện ở quan niệm coi trọng việc sinh con trai nối dõi tông đường
1.3 Quá trình thâm nhập của đạo đức Nho gia vào Việt Nam
1.3.1 Qúa trình thâm nhập của đạo đức Nho gia vào Việt Nam
Học thuyết của Nho gia vào Việt Nam từ thế kỷ I TCN, khi ở Trung Quốc nhà Tây Hán đã đánh bại tập đoàn phong kiến họ Triệu và giành lấy quyền thống trị đất Giao Châu Nhưng, trong suốt một ngàn năm Bắc thuộc, ảnh hưởng của Nho gia ở Việt Nam còn rất hạn chế Đa phần sự ảnh hưởng
đó chỉ có ở các đô thị, gắn liền với sinh hoạt của những viên quan cai trị và một bộ phận những người bản xứ giúp việc cho những quan cai trị đó Có thể nói, ở Việt Nam lúc bấy giờ, học thuyết Nho gia là công cụ thống trị của chính quyền đô hộ và phục vụ cho chính quyền đô hộ Mặt khác, sự truyền bá Nho gia cùng với việc phổ biến chữ Hán đã đưa tới Việt Nam một kho tàng tri thức về xã hội và tự nhiên, đó là nền văn học, sử học, triết học, thiên văn học
và y học của người Trung Hoa cổ đại Lúc đó, ảnh hưởng của Nho gia chưa vượt khỏi phạm vi của các thị trấn để đến với các vùng dân cư rộng lớn của đồng bằng và trung du Bắc bộ và Bắc Trung bộ Nhân dân ở các làng xã chưa thực sự tiếp thu những nguyên tắc của Nho gia
Nho gia đã dùng tư tưởng đạo đức Tam cương, ngũ thường, thiên mệnh như là công cụ chủ yếu để thống trị, nô dịch nhân dân ta nhằm biến nước ta thành quận, huyện của Trung Quốc, biến văn hóa nước ta phụ thuộc một phần của văn hóa Hán
Phải đến thế kỷ X, sau chiến thắng Bạch Đằng vĩ đại của Ngô Quyền, khi dân tộc Việt Nam bước sang kỷ nguyên độc lập, tự chủ và thực sự bắt tay vào xây dựng nền văn minh Đại Việt trong khuôn khổ của một nhà nước phong kiến quân chủ tập quyền, thì xã hội Việt Nam lúc này mới đặt ra những yêu cầu đối với sự tồn tại và phát triển của Nho gia ở Việt Nam
Trang 40Trong thời kỳ phong kiến, tư tưởng Nho gia ở Việt Nam đã đáp ứng được yêu cầu phát triển của nền kinh tế tiểu nông gia trưởng Trong gia đình nhỏ, quan hệ vợ chồng là cái trục chính Người chồng, hay người cha ở cương vị gia trưởng, điều hành mọi công việc trong gia đình, trước hết là việc lao động kiếm sống của gia đình Do đó, khái niệm Nghĩa cũng được đề cao như khái niệm Hiếu Sau nữa, Nho gia còn đáp ứng nhu cầu phát triển văn hoá và giáo dục của nước Việt Nam dưới chế độ phong kiến Nó thoả mãn yêu cầu tuyển dụng nhân viên cho bộ máy quan liêu của nhà nước phong kiến bằng việc đào tạo ra hàng loạt những nho sĩ có bằng cấp
Do đáp ứng được những yêu cầu khách quan của xã hội Việt Nam như trên
đã nói, nên ngay từ thời Lý – Trần, tư tưởng của Nho gia đã đóng vai trò là cơ sở
tư tưởng của việc xây dựng nhà nước quân chủ tập quyền, quản lý xã hội và hoạch định chính sách của triều đình phong kiến Mặc dù xã hội thời Lý - Trần rất tôn sùng đạo Phật, nhưng căn cứ lý luận để xây dựng và phát triển hai triều đại này lại là những nguyên lý của Nho gia Từ những lời phát biểu của Đào Cam Mộc nhằm đưa Lý Công Uẩn lên ngôi đến Chiếu dời đô của Lý Công Uẩn, Chiếu nhường ngôi cho Trần Cảnh của Lý Chiêu Hoàng đều lấy những nguyên
lý trong kinh điển của Nho gia làm căn cứ Những văn kiện quan trọng có liên quan đến việc phát động chiến tranh giữ nước, như bài văn Lộ Bố khi đánh Tống của Lý Thường Kiệt, Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn, Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi, thường sử dụng một số khái niệm của Nho gia
Trên phương diện văn hoá - giáo dục, ngay từ thời Lý, khi được coi trọng
và giữ vị trí là nền giáo dục chính thức của nhà nước phong kiến, Nho học đã thể hiện rõ vai trò của một nền giáo dục có cơ chế, bài bản và đầy sức sống
Do đó, nó đã tạo ra một bước tiến vượt bậc về nội dung giáo dục, cũng như về mặt tổ chức và thực thi việc giáo dục và thi cử Sang thời Trần, nhờ sự phát triển của nền giáo dục Nho học mà tầng lớp Nho sĩ ngày càng đông đảo Họ tích cực tham gia chính sự, cũng như tham gia vào các hoạt động văn hoá