ể hoàn thiện luận văn với đề tài: “Gi g n và quảng á ản sắc v n h các n t c thiểu số tr n s ng tru ền h nh củ Đài phát th nh tru ền hình Yên Bái” Khảo sát các chương trình Văn hóa văn ng
Trang 1HỒ CHÍ MINH HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
HOÀNG THỊ THU HIỀN
GI G N VÀ QUẢNG BÁ BẢN SẮC V N H A
D N TỘC THIỂU SỐ TRÊN S NG TRUYỀN H NH
CỦA ĐÀI PHÁT THANH TRUYỀN H NH
YÊN BÁI HIỆN NAY
Trang 2Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào
Trang 3ể hoàn thiện luận văn với đề tài: “Gi g n và quảng á ản sắc v n
h các n t c thiểu số tr n s ng tru ền h nh củ Đài phát th nh tru ền hình Yên Bái” (Khảo sát các chương trình Văn hóa văn nghệ, chương trình
Tiếng dân tộc truyền hình từ tháng 6/2015 - 6/2016) tác giả xin chân thành
cảm ơn Tiến sĩ ậu Ngọc ản, người trực tiếp hướng dẫn nghiên cứu đề tài Xin chân thành cảm ơn các giảng viên Học viện Báo chí và Tuyên truyền, các bạn đồng nghiệp ài PT-TH Yên Bái đã tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn này
Quá trình thực hiện luận văn, do địa bàn nghiên cứu rộng, mang đặc thù địa hình miền núi, thời gian nghiên cứu hạn hẹp, do vậy, luận văn chắc chắn không tránh khỏi những điểm còn hạn chế, thiếu sót Tác giả rất mong tiếp tục nhận được sự hướng dẫn của thầy cô giáo và góp ý của bạn bè, đồng nghiệp để luận văn chất lượng hơn
Hà Nội, tháng 11 năm 2016
TÁC GIẢ LUẬN V N
Hoàng Thị Thu Hiền
Trang 5Bảng 2 1 Số lượng phóng sự về văn hóa DTTS trong chương trình Văn hóa văn
nghệ và Tiếng dân tộctrên sóng truyền hình Yên Bái (6/2015 - 6/2016) 44
Bảng 2 2: Tần suất nội dung phản ánh trong tổng số chương trình văn hóa văn nghệ và tiếng dân tộc truyền hình (từ tháng 6/2015 – 6/ 2016) 45
Bảng 2 3 Mức độ quan tâm của công chúng về nội dung và hình thức thể hiện trong các chương trình truyền hình về vấn đề giữ gìn, quảng báBSVH các DTDS 66
Bảng 2 4 ánh giá về hình thức thể hiện các chương trình truyền hình về vấn đề giữ gìn, quảng bá BSVH các DTTS 76
Bảng 3 1 Theo quí vị, để chất lượng chương trình có nội dung tuyên truyền về vấn đề giữ gìn, quảng bá bản sắc văn hóa dân tộc thiểu số của ài PTTH Yên Bái được tốt hơn, theo quý vị cần phải làm gì? 87
Bảng 3 2 ể chất lượng chương trình có nội dung tuyên truyền về vấn đề giữ gìn, quảng bá BSVH DTTS của ài PTTH Yên Bái, theo quý vị cần điều chỉnh lượng phát sóng theo hướng nào? 91
DANH MỤC H NH ẢNH nh 2 1 Lễ cấp sắc của người Dao Nậm Lành - Văn Chấn 46
nh 2 2 Lễ hội Hạn Khuống của người Thái Mường Lò 46
nh 2 3 Múa Xòe - nét sinh hoạt văn hóa truyền thống không thể thiếu trong cuộc sống của người Thái Mường Lò 50
nh 2 5 Người H’mông Suối Giàng giã bánh dày 53
nh 2 6 Biên tập viên dẫn trường quay 68
nh 2 7 Biên tập viên dẫn hiện trường 68
Trang 6LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CÁC CH CÁI VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH ẢNH
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ L LUẬN VỀ GI G N QUẢNG BÁ BSVH CÁC DTTS TRÊN S NG TRUYỀN H NH ĐỊA PHƯƠNG 13
1 1 Một số khái niệm cơ bản của vấn đề nghiên cứu 13
1 2 Quan điểm của ảng, Nhà nước, chính quyền địa phương Yên Bái với vấn đề giữ gìn BSVH các DTTS 22
1 3 Vai trò của báo chí trong vấn đề gìn giữ BSVH các DTTS 30
Chương 2: TH C TRẠNG GI G N QUẢNG BÁ BSVH CÁC DTTS TRÊN S NG TRUYỀN H NH CỦA ĐÀI PT-TH YÊN BÁI 37
2 1 Giới thiệu các chương trình khảo sát của ài PT-TH Yên Bái 37
2 2 Nội dung tuyên truyền, phản ánh các giá trị văn hóa DTTS 45
2 3 Hình thức phản ánh 58
2 4 ánh giá chung về hoạt động giữ gìn, quảng bá BSVH DTTS của ài PT-TH Yên Bái 69
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP N NG CAO CHẤT LƯ NG CHƯƠNG TR NH NHẰM BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY BSVH DTTS CỦA TRUYỀN H NH YÊN BÁI 82
3 1 Một số vấn đề đặt ra 82
3 2 Một số giải pháp 85
KẾT LUẬN 100
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 103 PHỤ LỤC
T M TẮT LUẬN V N
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý o chọn đề tài
Văn hóa đóng một vai trò to lớn trong sự phát triển xã hội VH là nền tảng tinh thần, là mục tiêu, động lực phát triển bền vững đất nước nên VH có vai trò vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc Chăm lo VH là chăm lo nền tảng tinh thần của xã hội Trong quá trình phát triển, hội nhập của đất nước; VH có sự giao thoa, biến đổi mạnh mẽ nên việc giữ gìn BSVH càng trở nên quan trọng và cấp thiết
Báo chí là lĩnh vực truyền thông trực tiếp, có vai trò quan trọng trong nhiệm vụ bảo tồn, giữ gìn và quảng bá những giá trị VH của cuộc sống, bởi đây là một công cụ truyền bá VH mang lại hiệu quả cao Báo chí truyền thông của bất kỳ quốc gia nào cũng có nhiệm vụ truyền thông về nền VH của chính quốc gia mình Ở Việt Nam cũng vậy, nhiệm vụ xuyên suốt của báo chí là truyền thông về nền văn hóa Việt ặc biệt truyền hình với thế mạnh của mình đã và đang làm tốt vai trò này
Bảo tồn và phát huy giá trị, BSVH truyền thống của các DTTS Việt Nam là một trong những vấn đề quan trọng trong chính sách bảo tồn và phát triển VH thời kì đổi mới của ảng ta Trong quá trình lãnh đạo Cách mạng, ảng Cộng sản Việt Nam luôn coi trọng mặt trận VH, mà cốt lõi là BSVH dân tộc NQ TƯ 5 khóa VIII đã đánh dấu bước phát triển mới về đường lối
VHVN của ảng Với phương hướng, mục tiêu chung là “Xây dựng và phát triển nền VH Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc DT, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại”; có thể nói, Nghị quyết TƯ 5 khóa VIII là văn kiện chuyên
đề, sâu sắc và toàn diện về VH sau ề cương văn hóa Việt Nam năm 1943
NQ TƯ 5 khóa VIII cũng chỉ rõ “Nền VH Việt Nam là nền VH thống nhất
mà đa dạng trong cộng đồng các DT Việt Nam”
Mỗi vùng miền, mỗi dân tộc trong cộng đồng người Việt đều có BSVH riêng Yên Bái là một tỉnh miền núi nằm sâu trong nội địa, nằm giữa 2 vùng
Trang 8ông Bắc và Tây Bắc Phía Tây Bắc giáp tỉnh Lào Cai, phía ông Nam giáp tỉnh Phú Thọ, phía ông Bắc giáp 2 tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang và phía Tây Nam giáp tỉnh Sơn La Yên Bái có 9 đơn vị hành chính cấp huyện, thị (1 thành phố, 1 thị xã và 7 huyện) với tổng số 180 xã, phường, thị trấn; trong đó
có 70 xã vùng cao và 70 xã đặc biệt khó khăn được đầu tư theo các chương trình phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước Tỉnh có 2 huyện vùng cao được xếp vào danh sách 61 huyện nghèo nhất cả nước là Mù Cang Chải và Trạm Tấu Tỉnh Yên Bái có gần 30 DT, có bề dày lịch sử và truyền thống VH, nơi hội tụ của những sắc màu VH DT độc đáo, đậm đà bản sắc thể hiện qua các lễ hội, các làn điệu dân ca, dân vũ, nghi lễ, phong tục tập quán, chữ viết, ngôn ngữ, ẩm thực, nghề truyền thống, trang phục… Trong không gian VH DT đặc sắc của Yên Bái, nổi bật nhất là BSVH Thái, H’mông, Dao Nhưng hiện nay, giá trị BSVH các DTTS tỉnh Yên Bái đang có xu hướng mai một, bị pha tạp hoặc đồng hóa về VH; từ nghi thức sinh hoạt, lễ hội, tín ngưỡng, phong tục tập quán đến tiếng nói, trang phục truyền thống Ở nhiều DT, lớp trẻ không còn biết nói tiếng dân tộc mình; không thích mặc trang phục truyền thống; những làn điệu dân ca dân vũ của DT chỉ còn số ít người cao tuổi biết đến…
Nhận thức rõ tầm quan trọng và ý nghĩa của công tác bảo tồn và phát huy giá trị VH của các DTTS số trên địa bàn tỉnh, góp phần tuyên truyền thực hiện NQ TƯ 5 (khóa VIII); NQ 33 của Hội nghị TƯ 9, Ban Chấp hành TƯ ảng (khóa XI) xây dựng và phát triển VH, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước; góp phần thực hiện có hiệu quả ề án “Bảo tồn, phát triển VH các DTTS Việt Nam đến năm 2020” , trong những năm qua, ài PT-TH Yên Bái đã có nhiều chương trình tác động mạnh tới nhận thức của công chúng, xã hội, góp phần nâng cao ý thức về vị trí, vai trò của
VH trong phát triển xã hội; ý thức giữ gìn, bảo tồn và phát huy giá trị VH truyền thống tốt đẹp của DT Tuy nhiên, thực tế việc tuyên truyền, quảng bá BSVH DTTS trên sóng truyền hình Yên Bái những năm qua còn nhiều bất
Trang 9cập, hạn chế như: Nội dung thể hiện chưa đa dạng, phong phú, chưa hấp dẫn, chưa chỉ ra được nhiều vấn đề trong việc giữ gìn, bảo lưu VH; đội ngũ phóng viên, biên tập viên chưa có chuyên môn sâu và sự am hiểu về VH các DTTS, chưa có kế hoạch tuyên truyền theo chủ điểm…
Trước tình hình trên, cần phải có những nghiên cứu khoa học cụ thể, tìm ra giải pháp tối ưu nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả tuyên truyền, quảng bá, giữ gìn những BSVH DTTS Yên Bái
Bản thân người viết luận văn sinh ra lớn lên ở vùng đồng bào DTTS của Yên Bái và có gần 10 năm công tác tại phòng nghệ - ài PT-TH Yên Bái, thường xuyên thực hiện các chương trình gắn với nội dung tuyên truyền, phản ánh BSVH của đồng bào DTTS trong tỉnh Với những lí do đó, tôi chọn đề tài
“ n v qu n n s v n n t t u s tr n s n
tru n n p t t n tru n n Yên Bái” (Khảo sát các
chương trình Văn hóa văn nghệ, chương trình Tiếng dân tộc truyền hình từ tháng 6/2015 - 6/2016)
2 T nh h nh nghi n cứu c li n qu n
Các công trình nghiên cứu về VH DT Việt Nam nói chung cũng như sắc thái VH vùng miền là vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, tìm hiểu và khảo sát ở nhiều cấp độ khác nhau, trên cả phương diện lý thuyết lẫn thực tiễn Nhìn từ cấp độ VH tổng quát, người viết nhận thấy đã có nhiều công trình nghiên cứu được công bố, đăng tải trên các phương tiện truyền thông đại chúng Theo trình tự thời gian, có thể kể một số công trình nghiên cứu tiêu biểu như:
- Trần Ngọc Thêm (1997), “Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam”, Nxb tp
Hồ Chí Minh Trong cuốn “Tìm về BSVH Việt Nam”; PGS TS khoa học Trần Ngọc Thêm đã triển khai theo hướng đi tìm những nét bản sắc - đó là những đặc trưng cơ bản cần thiết cho việc hiểu VH Việt Nam cùng những quy luật hình thành và phát triển của chúng Theo đó, tiến trình VH Việt Nam, hệ
Trang 10thống VH Việt Nam được xem xét, giới thiệu theo cách nhìn hài hòa giữa đồng đại và lịch đại Tác giả đã xâu chuỗi các vấn đề VH thành một bức tranh tổng quan về VH Việt Nam và cũng rất lưu tâm bảo tồn và phát triển VH DT
- Trần Quốc Vượng (2003), “Văn hóa Việt Nam tìm tòi và suy ngẫm”,
Nxb Văn học ây là tuyển tập tập hợp các bài nghiên cứu về VH của giáo sư Trần Quốc Vượng, được chia thành các phần mục theo từng góc độ cụ thể: những vấn đề chung, diễn trình VH, VH dân gian, nghệ thuật, ứng xử, danh nhân úng như tên gọi “tìm tòi và suy ngẫm”, tác giả Trần Quốc Vượng đã nêu lên nhiều vấn đề về VH Việt Nam, đưa ra các căn cứ, luận chứng rõ ràng
và phân tích, so sánh, bàn luận để làm rõ vấn đề đó Bao trùm lên tất cả các vấn
đề vẫn là việc kế thừa tinh hoa truyền thống, giữ gìn như thế nào cho đúng, cho phù hợp với nhịp sống hiện đại ngày một biến đổi
- Phan Ngọc (2004), “Bản sắc văn hóa Việt Nam”, Nxb Văn học Cuốn sách
này gồm 14 chương, chia làm 3 phần: phần một “Những khái niệm mở đầu”; phần hai “Giao lưu văn hóa”; phần ba “Bảo vệ và phát huy VH”; giúp người đọc trả lời được các câu hỏi liên quan đến người Việt và VH Việt như: BSVH Việt Nam là gì? Văn hóa Việt Nam khác văn hóa Trung Hoa, văn hóa Pháp… ở chỗ nào? Vì sao có
sự khác biệt đó? Làm gì để giữ gìn và phát huy VH Việt trong thời hội nhập?
- Vy Trọng Toán (2005), “Bản sắc văn hóa, hành trang của mỗi dân tộc”, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội Tập sách này là tập hợp một phần các bài
viết của tác giả Vy Trọng Toán trong thời gian bắc cầu giữa hai thế kỉ, khi ông là Thứ trưởng Bộ Văn hóa - Thông tin ây cũng là thời kì mà ảng ta cũng như toàn xã hội nhận thức được vai trò của VH trong phát triển, đồng thời thấy rõ nguy cơ mai một BSVH trong mỗi DT Tuy nhiên từ nhận thức đến tổ chức hoạt động thực tiễn còn những khoảng cách và sự bất cập Vì vậy, những vấn đề đặt ra và các giải pháp mang tính khả thi trong bài viết của tác giả có giá trị thực tiễn cao, dễ vận dụng ở các cấp độ, địa bàn văn hóa khác nhau Quan niệm “BSVH là hành trang của mỗi DT” chính là đóng góp quan
Trang 11trọng của tác giả, cần cho các nhà quản lý, những người tổ chức hoạt động trên lĩnh vực VH - thông tin
- ặng ức Siêu (2008), Giáo trình Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb ại học sư phạm Trần Ngọc Thêm (2011), “Cơ sở văn hóa Việt Nam” Nxb giáo dục Trần Quốc Vượng (2013), “Cơ sở văn hóa Việt Nam”, Nxb giáo dục
ây là các cuốn giáo trình cơ bản phục vụ cho chương trình đào tạo đại học đại cương Các giáo trình này đều tập trung làm rõ các khái niệm VH; văn hóa học; cấu trúc, chức năng của VH; tiến trình lịch sử VH Việt Nam… cung cấp một cái nhìn tổng quát, thái độ đúng đắn về tiến trình VH Việt Nam, vị trí quan trọng của VH trong cuộc sống hiện nay
- Hoàng Nam (2011),“Tổng quan văn hóa truyền thống các dân tộc Việt Nam” Nxb Văn hóa dân tộc Nội dung VH trong cuốn sách này, ngoài
tên gọi DT còn đề cập đến những vấn đề: dân số, lịch sử cư trú, kinh tế truyền thống, VH truyền thống… Cuốn sách không mang tính nghiên cứu sâu về VH
mà giới thiệu những nét VH truyền thống của các DT Việt Nam
- Nguyễn Thừa Hỷ (2012), “Văn hóa Việt Nam truyền thống - một góc nhìn”, Nxb Thông tin và truyền thông Trong công trình nghiên cứu này,
PGS TS Nguyễn Thừa Hỷ đã đề cập đến vấn đề ở Việt Nam, trong vòng một thế kỷ qua, chúng ta đã chứng kiến nhiều cuộc biến động, đổi thay, xáo trộn
và đấu tranh VH Ngày nay, trong quá trình hội nhập và phát triển, trước cơn lốc xoáy về tư tưởng, lối sống và hệ giá trị, chúng ta lại đang đứng giữa giao
lộ của những ngã rẽ chưa có biển chỉ đường rõ ràng Chúng ta đang được động viên, khích lệ, mà cũng đồng thời đang bị đe dọa, dối lừa bởi VH Trong một hoàn cảnh, tình huống đặc biệt như vậy, có lẽ một sự quay về, nhận diện
và suy ngẫm nghiêm túc về nền VH Việt Nam truyền thống sẽ là một điều bổ ích không thừa, nếu không muốn nói là cần thiết Nền VH truyền thống đã từng ngự trị hàng thiên niên kỷ trong một xã hội hầu như rất ít thay đổi, sau
đó lại chịu những va đập và biến động lớn trong hơn một thế kỷ qua, đã có bộ
Trang 12mặt đích thực như thế nào, xu thế chuyển biến ra sao? Nó đã để lại cho chúng
ta những giá trị gì cần phải kế thừa và những hệ lụy gì cần phải gạt bỏ?
Có thể nói, hầu hết các công trình nghiên cứu nói trên đã chỉ ra góc độ tổng quát về VH; về VH truyền thống với các góc độ khác và đi sâu nhận diện BSVH truyền thống, nêu lên những nhiệm vụ, phương hướng xây dựng và phát triển VH Việt Nam
Ở góc độ nghiên cứu cụ thể sau đại học đã có nhiều tài liệu liên quan đến vấn đề báo chí và VH như: vấn đề báo chí thông tin, phản ánh VH; vấn đề quảng bá, giữ gìn VH; báo chí tuyên truyền cho đồng bào DTTS… như:
+ Tại Học viện báo chí và Tuyên truyền có các đề tài:
- “Vấn đề bảo tồn BSVH các DTTS trên sóng truyền hình của Đài phát thanh truyền hình tỉnh Hòa Bình” - Luận văn thạc sĩ của tác giả ỗ Thanh
Phúc năm 2005 Trong luận văn này, tác giả đã chỉ ra những ưu thế và hạn chế ài PT-TH Hòa Bình với việc bảo tồn BSVH các DTTS tỉnh Hòa Bình và
đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng chương trình
- “Báo chí với việc tuyên truyền các giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc” - Luận văn thạc sĩ truyền thông đại chúng
của tác giả Trần Thị Hồng năm 2009 Trong luận văn này, tác giả đã đề cập đến vai trò của báo chí với việc tuyên truyền giá trị VH các DTTS vùng Tây Bắc nói chung
- “Báo chí tỉnh Hòa Bình với vấn đề bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân Bình Mường hiện nay” - Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thị
Mai Hoa năm 2011 Luận văn này đề cập cụ thể đến việc bảo tồn, phát huy BSVH dân tộc Mường của báo chí tỉnh Hòa Bình
- “Báo chí Nam Định với việc giữ gìn và quảng bá các giá trị văn hóa địa phương” - Luận văn thạc sĩ Báo chí học của Hoàng Anh ức năm 2013
Luận văn này đề cập cụ thể đến việc giữ gìn, phát huy BSVH dân tộc Kinh của báo chí tỉnh Nam ịnh
Trang 13- “Quảng bá văn hóa dân tộc trên kênh du lịch truyền hình Cáp Việt Nam” - Luận văn thạc sĩ của Trần Thị Hải Yến năm 2013 Luận văn này đề
cập đến thực trạng quảng bá VH DT Việt Nam nói chung trên kênh du lịch truyền hình Cáp Việt Nam và đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng chương trình phản ánh nội dung này
- “Nâng cao chất lượng chương trình truyền hình tiếng H’mông của Đài PT-TH Yên Bái” - Luận văn thạc sĩ Báo chí học của tác giả Hoàng Mạnh
Hà năm 2013 Trong luận văn này, tác giả đã chỉ ra những ưu thế và hạn chế của chương trình truyền hình tiếng H’mông của ài PT-TH Yên Bái và đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng chương trình
- “Chất lượng chương trình phát thanh tiếng dân tộc thiểu số trên sóng Đài phát thanh truyền hình Yên Bái” - Luận văn thạc sĩ Báo chí học của tác
giả ỗ Thị Giang năm 2013 Trong luận văn này, tác giả đã chỉ ra vai trò của chương trình phát thanh tiếng dân tộc của ài PT-TH Yên Bái và đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng chương trình
- “Sản xuất chương trình phát thanh tiếng Dao - khảo sát cơ quan thường trú khu vực Tây Bắc của VOV và Đài PT-TH Yên Bái 6 tháng đầu năm 2014” - Luận văn báo chí học của tác giả Phạm Xuân Thọ năm 2014
Trong luận văn này, tác giả đã chỉ ra vai trò và cách thức sản xuất của chương trình phát thanh tiếng Dao của ài PT-TH Yên Bái và cơ quan thường trú khu vực Tây Bắc của VOV; đồng thời đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng chương trình
- “Đài PTTH Điện Biên với vấn đề giữ gìn BSVH DTTS địa phương” -
Luận văn thạc sĩ của Hồ Thị Thanh Hà năm 2014 Luận văn này đã chỉ ra những ưu thế và hạn chế của chương trình thời sự và chuyên đề truyền hình của ài PT-TH iện Biên trong việc giữ gìn BSVH các DTTS địa phương và
đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng chương trình
Trang 14- “Báo chí Bắc Kạn với vấn đề bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Tày hiện nay” - Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thị Nga năm 2015 Luận
văn này đề cập cụ thể đến việc giữ gìn BSVH dân tộc Tày của báo chí Bắc Kạn
+ Tại trường ại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội có một số
- “Báo chí với vấn đề bảo tồn và phát huy di sản văn hóa Hà Nội” -
Luận văn thạc sĩ của tác giả của Hoàng Hương Trà, năm 2007
Tuy đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu sâu về vấn đề bảo tồn bản
sắc, giá trị VH truyền thống của các DTTS song với vấn đề cụ thể là giữ gìn và quảng bá BSVH DTTS tỉnh Yên Bái trên kênh truyền hình địa phương thì vẫn cần
được nghiên cứu, đánh giá một cách khách quan, khoa học để góp thêm một cách nhìn trong việc tuyên truyền bản về BSVH của các DTTS
Kế thừa những kết quả nghiên cứu đã có, tác giả luận văn thực hiện nghiên cứu cơ sở lý luận, tìm hiểu, đánh giá các chương trình: VHVN, Tiếng dân tộc truyền hình của ài PT-TH Yên Bái để khái quát đề tài đã chọn
3 Mục đích và nhiệm vụ nghi n cứu
3.1 Mục đích nghi n cứu
Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của việc giữ gìn và quảng bá BSVH các DTTS trên sóng truyền hình, từ đó là cơ sở sát thực để đưa ra những giải pháp phát huy vai trò của truyền hình Yên Bái trong việc giữ gìn, quảng bá BSVH các DTTS trong thời gian tới
3.2 Nhiệm vụ nghi n cứu
ể thực hiện được những mục đích nên trên, luận văn cần thực nhiệm những nhiệm vụ cụ thể sau:
Trang 15Nghiên cứu cơ sở lý luận và khảo sát, phân tích thực tiễn vấn đề giữ gìn, quảng bá BSVH DTTS địa phương trên sóng truyền hình Yên Bái
Khảo sát các chương trình VHVN truyền hình, Tiếng dân tộc truyền hình trên sóng ài PT-TH Yên Bái từ tháng 6 năm 2015 đến tháng 6 năm 2016
ề xuất một số phương hướng, giải pháp khắc phục nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả tuyên truyền các giá trị văn hóa DTTS địa phương trên truyền hình Yên Bái
4 Đối tượng phạm vi nghi n cứu
4.1 Đối tượng nghi n cứu
Thực trạng giữ gìn, quảng bá BSVH các DTTS trên sóng truyền hình của ài PT-TH Yên Bái
4.2 Phạm vi nghi n cứu
Tập trung nghiên cứu, khảo sát, đánh giá các phóng sự, chuyên mục cụ thể trong chương trình VHVN truyền hình, Tiếng dân tộc truyền hình của ài Phát thanh truyền hình Yên Bái có nội dung liên quan đến BSVH các DTTS địa phương từ tháng 6 năm 2015 đến tháng 6 năm 2016
5 Cơ sở lí luận và phương pháp nghi n cứu
5.1 Cơ sở lí luận
ề tài dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí và VH truyền thống các DTTS; những đường lối, chủ trương, chính sách của ảng, Nhà nước về gìn giữ, phát huy giá trị VH truyền thống DTTS địa phương
Luận văn còn được nghiên cứu trên cơ sở lý thuyết truyền thông và cơ
sở lý luận báo chí, cụ thể là cơ sở lý luận về vai trò của báo chí - truyền thông trong quá trình phát triển VH, chức năng khai sáng VH của báo chí
ề tài còn dựa vào lý thuyết đặc điểm văn hóa dân tộc, BSVH DTTS trên địa bàn tỉnh Yên Bái để đánh giá
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Trang 16- Phương pháp đọc tài liệu
- Phương pháp thống kê:
+ Thống kê các phóng sự liên quan đến tuyên truyền giữ gìn BSVH DTTS trên sóng truyền hình Yên Bái Trên cơ sở đó đánh giá, phân tích rõ hơn vai trò, vị trí của ài PT-TH Yên Bái với vấn đề tuyên truyền giá trị VH các DTTS
+ Thống kê tài liệu, các con số, sự kiện, dữ liệu… trong quá trình khảo sát
- Phương pháp điều tra xã hội học:
+ iều tra xã hội học về công chúng: Cụ thể sử dụng phương pháp phỏng vấn anket - thiết kế bảng hỏi để tổng hợp nhu cầu các nhóm công chúng của chương trình VHVN truyền hình, tiếng dân tộc truyền hình
+ Phỏng vấn sâu các nhà quản lý, các cán bộ viên chức ài PT-TH Yên Bái với tư cách đại diện nhóm công chúng nội bộ ngành; phỏng vấn đại diện một số ngành, khán giả nói chung với tư cách đại diện nhóm công chúng, đối tượng phục vụ
- Phương pháp tổng hợp, phân loại, phân tích được áp dụng để xử lý các bảng hỏi điều tra xã hội học, từ đó tìm ra nhu cầu của số đông nhóm công chúng…
+ Phân tích, tổng hợp các kết quả nghiên cứu để đưa ra luận cứ, luận điểm khái quát…
+ Phân tích tài liệu: Phân tích thông tin có sẵn trong tài liệu để rút ra thông tin cần thiết phục vụ mục đích nghiên cứu
6 Cái mới củ đề tài
ài PT-TH Yên Bái đã và đang thực hiện nhiều chương trình truyền hình nhằm giữ gìn, quảng bá BSVH các DTTS nhưng vẫn chưa có một nghiên cứu nào về hiệu quả của các chương trình truyền hình đó trong giai đoạn hiện nay Cái mới của luận văn chính là nghiên cứu đầu tiên dựa trên các căn cứ
Trang 17khoa học cụ thể và chuyên sâu; dựa trên lý thuyết và thực tế hoạt động; dựa trên việc phân tích, đánh giá thực chất nội dung và hình thức cũng như hiệu quả tác động của chương trình truyền hình tiếng dân tộc và chương trình Văn hóa văn nghệ của ài PT-TH Yên Bái Từ đó tham mưa giúp ài PT-TH Yên Bái có những cải tiến đáp ứng nhu cầu tiếp nhận thông tin ngày càng cao của đồng bào, phù hợp với tình hình thực tiễn ở địa phương, khẳng định được hiệu quả trong việc giữ gìn, quảng bá BSVH các DTTS trên sóng truyền hình Trên cơ sở đó, đưa ra những giải pháp cần thiết để nâng cao chất lượng chương trình truyền hình Tiếng dân tộc và chương trình Văn hóa văn nghệ của ài PT-TH Yên Bái trong thời gian tới
7 Ý nghĩ lí luận và giá trị thực tiễn củ đề tài
ề tài góp phần cung cấp những luận chứng, luận cứ, luận điểm khoa học cho ài PT-TH Yên Bái về thực trạng tuyên truyền, quảng bá vấn đề giữ gìn, bảo tồn, phát huy BSVH DTTS địa phương; từ đó có kế hoạch, biện pháp cụ thể nâng cao chất lượng thông tin về VH các DTTS trên địa bàn tỉnh nhằm định hướng dư luận xã hội, đáp ứng nhu cầu của công chúng, yêu cầu của ảng, Nhà nước về bảo tồn, phát huy BSVH DT Góp phần chứng minh vai trò, tầm quan trọng của báo chí trong công tác bảo tồn và phát huy BSVH DTTS
ề tài góp phần cung cấp một tài liệu cho sinh viên, học viên báo chí; các nhà nghiên cứu về văn hóa các DTTS địa phương trên địa bàn tỉnh Yên Bái tham khảo, tìm hiểu
ây là đề tài nghiên cứu và đề xuất việc tuyên truyền, quảng bá văn hóa DTTS địa phương trên sóng truyền hình Yên Bái phải có tính định hướng, chiến lược và thực hiện đều đặn có tính thường niên trên sóng
7.1 Về mặt lí luận
Bước đầu tổng kết, khái quát đặc điểm cơ bản của truyền hình với vấn
đề giữ gìn, quảng bá BSVH DTTS địa phương tại tỉnh Yên Bái
Trang 18Luận văn đi sâu nghiên cứu vai trò của truyền hình trong giữ gìn BSVH DTTS ở một tỉnh miền núi, trình độ dân trí chưa đồng đều, kinh tế kém phát triển
7.2 Về mặt thực tiễn
Làm phong phú thêm những công trình nghiên cứu về giữ gìn BSVH dân tộc truyền thống, nhất là việc phát huy vai trò của báo chí trong công tác
giữ gìn những giá trị, tinh hoa văn hóa dân tộc
Từ thực trạng công tác tuyền truyền, quảng bá văn hóa DTTS địa phương qua khảo sát, đánh giá trong luận văn; những phương hướng, giải pháp đề ra nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả tuyên truyền; nếu được ứng dụng vào thực tiễn sẽ từng bước thay đổi nội dung, hình thức tuyên truyền theo hướng phù hợp, thiết thực, hiệu quả hơn ồng thời khuyến khích tạo ra những sản phẩm báo chí hay hơn, có giá trị hơn
Quá trình nghiên cứu giúp người làm luận văn nâng cao vốn hiểu biết, tích lũy thêm kiến thức và năng lực chuyên môn trong cả hai lĩnh vực báo chí
Trang 19Chương 1
CƠ SỞ L LUẬN VÀ TH C TIỄN VỀ GI G N QUẢNG BÁ
BẢN SẮC V N H A CÁC D N TỘC THIỂU SỐ TRÊN S NG TRUYỀN H NH YÊN BÁI
1.1 M t số khái niệm cơ ản củ vấn đề nghi n cứu
1.1.1 n , n s v n
1.1.1.1 Văn hóa
“Trong hoàn cảnh hiện nay của một thế giới mở cửa, VH được mọi người chú ý, tầm quan trọng của VH được nêu lên hàng đầu UNESCO thừa nhận VH là cội nguồn trực tiếp của sự phát triển xã hội, có vị trí trung tâm và đóng vai trò điều tiết xã hội… Tiếc rằng, cho đến nay chưa có một định nghĩa thống nhất về VH” [31, tr.1]
Từ “văn hóa” có rất nhiều nghĩa, nó được dùng để chỉ những khái niệm
có nội hàm hết sức khác nhau Nói về VH, đó là tổng thể những nét đặc trưng tiêu biểu nhất của xã hội, thể hiện trên các mặt vật chất, tinh thần, tri thức và tình cảm; biểu hiện sức sống, sức sáng tạo của một DT ặc trưng cơ bản nhất của VH là tính nhân sinh, tính giá trị, tính hệ thống và tính lịch sử
Ở phương ông, từ VH đã có trong đời sống ngôn ngữ từ rất sớm Trong Chu dịch, quẻ Bi đã có từ văn và hóa: Xem dáng vẻ con người, lấy đó
mà giáo hóa thiên hạ (Quan hồ nhân văn dĩ hóa thành thiên hạ) Người sử dụng từ VH sớm nhất có lẽ là Lưu Hướng (năm 77 - 6 trước công nguyên) thời Tây Hán với nghĩa như một phương thức giáo hóa con người [47, tr.16]
Vào thế kỉ XIX, thuật ngữ “văn hóa” được những nhà nhân loại học phương Tây sử dụng như là một danh từ chính Những học giả này cho rằng,
VH (văn minh) thế giới có thể phân loại ra từ trình độ thấp nhất đến cao nhất,
và VH của họ chiếm vị trí cao nhất Bởi vì họ cho rằng, bản chất VH hướng
về trí lực và sự vươn lên, sự phát triển tạo thành văn minh; E B Taylo là đại
Trang 20diện của họ Theo ông, VH là toàn bộ phức thể bao gồm hiểu biết, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục, những khả năng và tập quán khác
mà con người có được với tư cách là một thành viên của xã hội [47, tr.17]
Ở thế kỉ XX, khái niệm văn hóa thay đổi theo F Boa (F Boas) “Văn hóa không xét ở mức độ cao thấp mà xét ở góc độ khác biệt” [47, tr.17]
Năm 1982, Trong Tuyên bố về những chính sách VH tại Hội nghị quốc
tế do UNESCO chủ trì tại Mêhicô, UNESCO đưa ra định nghĩa về VH: “VH
có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và cảm xúc quyết định tính cách của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội
VH bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và những tín ngưỡng” [47, tr.23]
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lê nin thì VH chỉ gắn liền với con người và xã hội loài người Cội nguồn của sự tồn tại và phát triển VH là ở hoạt động sáng tạo của con người Lê nin, người kế tục sự nghiệp của Mác - Ăngghen, từ quan điểm xem xét VH với tư cách là sự phát triển bản chất của con người đã nhấn mạnh, phân tích sâu thêm mặt xã hội của VH với cách tiếp cận từ hình thái kinh tế Người nhấn mạnh tính nhân loại, tính giai cấp, tính
kế thừa của VH ặc biệt xem cách mạng VH như một bộ phận hữu cơ của cách mạng xã hội chủ nghĩa
Khi tiếp nhận tư tưởng cách mạng của Mác - Ăngghen và Lê nin - tinh hoa VH thế giới và các giá trị VH DT, chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra một
định nghĩa VH ở cấp độ khái quát: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người đã sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và các phương pháp sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa” [32, tr 431] Nói về vai trò,
ý nghĩa của VH, chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “VH soi đường cho quốc dân
Trang 21đi… phải đem VH lãnh đạo quốc dân để thực hiện độc lập, tự cường, tự chủ” [29, tr 5] Hồ Chí Minh cũng chỉ ra 5 điểm lớn xây dựng nền VH DT là: 1 Xây dựng tâm lý: tinh thần độc lập tự cường 2 Xây dựng luân lý: biết hy sinh mình, làm lợi cho quần chúng 3 Xây dựng xã hội: mọi sự nghiệp có liên quan đến phúc lợi của nhân dân trong xã hội 4 Xây dựng chính quyền: Dân quyền 5 Xây dựng kinh tế [32, tr 431]
Học giả ào Duy Anh quan niệm: “Văn hóa của một dân tộc, trước hết liên quan đến điều kiện địa lý - khí hậu, sau đó là sự biến đổi của các hoạt động trên phương diện khác nhau của dân tộc đó” [1, tr.11-12]
Nhóm tác giả Giáo trình Lý luận VH Mác - Lênin, khoa Tuyên truyền, Học viện báo chí và tuyên truyền đưa ra định nghĩa: “VH là hệ thống giá trị vật chất và tinh thần được sáng tạo, tích lũy trong lịch sử nhờ quá trình hoạt động thực tiễn của con người Các giá trị này được cộng đồng chấp nhận, vận hành trong đời sống xã hội và liên tiếp truyền lại cho thế hệ sau VH thể hiện trình độ phát triển và những đặc tính riêng của mỗi DT” [7, tr.25-26]
PGS TS khoa học Trần Ngọc Thêm tiếp cận VH theo cách hệ thống và
dựa vào 4 đặc trưng cơ bản của VH thì cho rằng: “VH là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường
tự nhiên và xã hội của mình” [41, tr.27]
Theo từ điển tiếng Việt, “văn hóa” là danh từ dùng để nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong lịch sử [28, tr.1120]
Như vậy, khái niệm “Văn hóa” có nhiều cách hiểu với nội dung khác nhau nhưng chủ yếu đều xoay quanh các điểm chính:
- Văn hóa là các giá trị
- Những giá trị đó do con người sáng tạo ra
- Sự sáng tạo đó là cả một quá trình lịch sử liên tục
Trang 22- Những giá trị đó tạo thành một hệ thống chặt chẽ
Từ việc nghiên cứu, phân tích các khái niệm văn hóa và tìm hiểu thực
tiễn, theo chúng tôi, văn hóa bao gồm toàn bộ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình hình thành và phát triển liên tục của loài người Ở mỗi quốc gia, mỗi dân tộc, văn hóa lại có nét riêng để tạo nên sự khác biệt và thể hiện trình độ phát triển của mỗi dân tộc
1.1.1.2 Bản sắc văn hóa
Thế nào là BSVH vẫn là vấn đề trừu tượng với nhiều người; và làm thế nào để giữ gìn BSVH là một vấn đề không dễ khi hội nhập kinh tế trên thế giới ngày càng sâu rộng Mỗi quốc gia, DT đều có những đặc điểm VH riêng, thể hiện qua lối sống, cách ứng xử Cái đó thuộc về BSVH vì nó chỉ có thể tìm thấy ở nơi này mà không thể tìm thấy ở nơi khác, nghĩa là cái đặc trưng của một cộng đồng người, một tộc người biểu hiện ra ở từng cử chỉ, hoạt động sinh tồn của cá thể cũng như của cả cộng đồng
Theo Từ điển tiếng Việt, thuật ngữ “bản sắc” dùng để chỉ “tính chất, màu sắc riêng tạo thành đặc điểm chính, phẩm chất đặc biệt của một sự vật”
[28, tr 38], tức là nói tới sắc thái, đặc tính, đặc thù riêng của sự vật đó
Bản sắc là một từ ghép có gốc Hán - Việt “Bản” là cái gốc, cái căn bản, cái cốt lõi, cái hạt nhân của một sự vật “Sắc” là sự biểu hiện cái căn bản,
cái cốt lõi, cái hạt nhân đó ra ngoài Như vậy có thể hiểu “BSVH” là tổng thể những giá trị bền vững, những tinh hoa VH vật chất và tinh thần làm nên sắc thái riêng của một DT trong lịch sử hình thành và phát triển Có thể nhận ra
bản sắc ấy thông qua những biểu hiện của hai mặt giá trị: giá trị vật chất và giá trị tinh thần Sự phân chia kể trên chỉ là tương đối, bởi trong rất nhiều trường hợp không thể tách bạch VH vật chất và VH tinh thần và ngược lại
Do đó, tùy theo mục đích mà định ra tiêu chí để phân biệt, nhưng không phải
là chúng không còn ranh giới
Trang 23BSVH là thiêng liêng, quý giá, tạo nên đặc thù của một DT Nó được hình thành trong lịch sử lâu dài của một DT, được đúc kết từ kinh nghiệm sống, được lưu truyền qua nhiều thế hệ, gắn bó máu thịt với con người Nó tồn tại tự nhiên không thể ép buộc nhưng đòi hỏi phải biết giữ gìn, bảo lưu
Nước ta chịu sự ảnh hưởng và du nhập của hai nền VH ông và Tây Thời phong kiến, chủ yếu là VH phương ông, cụ thể là VH Trung Quốc và
Ấn ộ Việc hai nền VH ấy được truyền vào Việt Nam có những nguyên nhân khác nhau nhưng chỉ những gì “hợp thổ nghi” mới tồn tại và phát triển, nghĩa là nó được người Việt Nam vận dụng một cách linh hoạt Người Việt Nam có những biểu hiện BSVH trong giao tiếp, ứng xử; đặc biệt là những nét
VH truyền thống rất nhân văn, nhân ái đã được tổng kết thành ngạn ngữ, thành ngữ, lời ca: “Lá lành đùm lá rách”, “Chị ngã em nâng”, “Uống nước nhớ nguồn”, “Bán anh em xa mua láng giềng gần”, “Tôn sư trọng đạo”, “Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ”,“Bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống
nhưng chung một giàn” Những nét BSVH ấy đã góp phần to lớn làm nên
sức mạnh vô địch của cộng đồng 54 DT anh em trên đất nước Việt Nam, là thành trì vững bền trong lịch sử dựng nước và giữ nước
Nhà thơ Huy Cận từng khẳng định: “Sống trong cô đơn thì bất cứ nền văn hóa nào cũng sẽ tàn lụi Nhưng trước mắt cần nhấn mạnh rằng cả cộng đồng nhân loại phải có nhiệm vụ giữ gìn và bảo vệ BSVH của mỗi dân tộc:
Có thân phải giữ lấy thân / Có hồn dân tộc trăm phần phải lo” [3, tr.6]
1.1.2 D n t n t t u s
1.1.2.1 Dân tộc
Theo từ điển tiếng Việt, “dân tộc” là danh từ với 3 cách hiểu: 1 Cộng đồng người ổn định hình thành trong quá trình lịch sử của xã hội, có chung tiếng nói, lãnh thổ, đời sống kinh tế và tâm lý như đoàn kết DT 2 DTTS (trong các từ như: ưu tiên học sinh DT, cán bộ DT) 3.Cộng đồng người ổn
Trang 24định làm thành nhân dân một nước, một quốc gia gắn bó với nhau trong truyền thống, nghĩa vụ và quyền lợi (như: DT Việt Nam) [28, tr 399-400]
Theo PGS TS Nguyễn Văn Dững: “Dân tộc là sản phẩm của quá trình lịch sử phát triển lâu dài của xã hội loài người Khái niệm dân tộc cũng được hiểu trên nhiều quan điểm, ở những thời kỳ và những bình diện khác nhau Ở phương Tây, khái niệm dân tộc xuất hiện cùng với sự ra đời của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa Ở nước ta, do đặc thù quá trình phát triển, khái niệm dân tộc được hình thành rất sớm Cho đến nay, trên góc độ lí luận chủ nghĩa xã hội khoa học, khái niệm dân tộc được hiểu theo hai nghĩa
Một là, chỉ cộng đồng người có mối liên hệ chặt chẽ và bền vững, có sinh hoạt kinh tế chung, có ngôn ngữ riêng và những nét VH đặc thù; xuất hiện sau bộ lạc, bộ tộc; kế thừa, phát triển cao hơn những nhân tố tộc người
ở bộ lạc, bộ tộc và thể hiện thành ý thức tự giác tộc người của cộng đồng dân
cư đó Theo nghĩa này, DT được hiểu như một tộc người hay một DT trong quốc gia đa DT Với cách hiểu này, Việt Nam gồm 54 DT hay 54 tộc người
Hai là, chỉ cộng đồng người ổn định hợp thành nhân dân một nước, có lãnh thổ, quốc gia, nền kinh tế thống nhất, quốc ngữ chung và có ý thức về sự thống nhất quốc gia của mình, gắn bó với nhau bởi lợi ích chính trị, kinh tế, truyền thống văn hóa và truyền thống đấu tranh chung trong suốt quá trình lịch sử lâu dài dựng nước và giữ nước.” [6, tr 229-230]
Như vậy, trong quan điểm của PGS TS Nguyễn Văn Dững, nghĩa thứ nhất, dân tộc là một bộ phận của quốc gia; còn theo nghĩa thứ hai, dân tộc đồng nghĩa với quốc gia - dân tộc
Trong đề tài nghiên cứu này, khái niệm “dân tộc” được hiểu theo nghĩa thứ nhất và chủ thể nghiên cứu là BSVH của “dân tộc ít người” hay
“dân tộc thiểu số” đang sinh sống trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam
Văn hóa - dân tộc là hai phạm trù khác nhau nhưng có liên quan chặt chẽ Bản sắc mỗi DT được thể hiện tập trung ở BSVH của chính DT đó Mặt
Trang 25khác, chính đời sống VH và giá trị tinh thần của một DT là dấu hiệu dể nhận biết nền VH đó ở trình độ nào, thuộc các cộng đồng nào trên thế giới Chính
vì thế, đánh mất BSVH riêng là đánh mất DT Trong các cuộc đấu tranh chống ngoại xâm, nhân dân ta đấu tranh với kẻ thù không chỉ bằng vũ khí, súng đạn mà bằng cả VH Trong các thời kỳ cách mạng, VH được coi là một mặt trận VH trở thành vũ khí sắc bén đấu tranh với kẻ thù Vũ khí ấy chỉ có thể phát huy hết hiệu quả khi mang trong mình bản sắc, truyền thống dân tộc
1.1.2.2 Dân tộc thiểu số
DTTS là một khái niệm khoa học được sử dụng phổ biến trên thế giới hiện nay Các học giả phương Tây quan niệm rằng, đây là một thuật ngữ chuyên ngành dân tộc học dùng để chỉ những dân tộc có dân số ít Trong một
số trường hợp, người ta đánh đồng ý nghĩa “DTTS” với “dân tộc lạc hậu”;
“dân tộc chậm tiến”; “dân tộc kém phát triển”; “dân tộc chậm phát triển”…
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và xuất phát từ nguyên tắc bình đẳng DT, thì khái niệm “DTTS” không mang ý nghĩa phân biệt địa vị, trình độ phát triển của các DT ịa vị, trình độ phát triển của các DT không phụ thuộc ở số dân nhiều hay ít, mà nó được chi phối bởi những điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội và lịch sử của mỗi DT
Cho đến nay, khái niệm DTTS được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, trong đó có hai nghĩa được dùng phổ biến nhất:
Một là, chỉ cộng đồng người có mối liên hệ chặt chẽ và bền vững, có sinh hoạt kinh tế chung, có ngôn ngữ riêng và những nét văn hóa đặc thù; xuất
hiện sau bộ lạc, bộ tộc Với nghĩa này, DTTS là một bộ phận của quốc gia
nhưng không chiếm số đông dân cư và không phải là dân tộc đại diện cho một quốc gia nhiều dân tộc
Hai là, chỉ cộng đồng người ổn định hợp thành nhân dân một nước, có lãnh thổ, quốc gia, nền kinh tế thống nhất, quốc ngữ chung và có ý thức về sự thống nhất quốc gia của mình, gắn bó với nhau bởi lợi ích chính trị, kinh tế,
Trang 26truyền thống văn hóa và truyền thống đấu tranh chung trong suốt quá trình
lịch sử lâu dài dựng nước và giữ nước Với nghĩa này, DTTS là số dân thuộc một dân tộc có ít người của một quốc gia
1.1.3 B n s v n n t t u s
BSVH DT được hiểu là hạt nhân sáng tạo của tinh thần DT, truyền từ đời này sang đời khác, bảo đảm cho sự trường tồn của DT BSVH DT cũng bộc lộ ra ở tư tưởng, tình cảm, thể hiện qua toàn bộ sinh hoạt của DT (kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội…) BSVH DT không tự nhiên mà có, nó được hình thành bởi chính con người của DT ấy trên cơ sở điều kiện tự nhiên, lịch sử của DT BSVH là sức sống bên trong của DT, là quá trình thường xuyên tự ý thức, tự khám phá, tự tái tạo, tự điều chỉnh và tự tiếp nhận, từ đó tạo cho DT mình có những giá trị VH riêng mà DT khác không có Nhắc đến một DT là nhắc đến nền VH DT ấy Vì vậy, một DT giữ được bản sắc của mình chính là giữ được bản lĩnh, sức mạnh, sự độc lập về tinh thần, VH Nếu DT mất đi bản sắc thì sẽ mất đi nhiều thứ khác, thậm chí có nguy cơ bị đồng hóa
BSVH DTTS là di sản VH vô cùng quý giá ó là tinh hoa, cốt lõi và linh hồn của chính DT đó ó cũng là niềm tự hào của mỗi DT Tuy nhiên, những giá trị tạo nên bản sắc đó không phải là bất biến và tuyệt đối như nhau trong một thời đại BSVH DTTS được cấu thành từ nhiều đặc điểm, trong đó
có cả đặc điểm tích cực và đặc điểm tiêu cực Khi điều kiện lịch sử đã có sự thay đổi thì cần có sự chọn lọc, bổ sung, đổi mới những giá trị đó
BSVH DTTS là những điểm nổi bật của một DT và do chính DT đó tạo nên Là chủ nhân của những sắc thái VH đặc thù, song đồng bào các DTTS lại thường nhìn nhận, suy nghĩ một cách đơn giản về BSVH đặc thù riêng có của
DT mình Trong khi đó, đô thị hóa nông thôn là một sự tiến bộ nhưng cũng kéo theo nhiều yếu tố làm mai một những giá trị truyền thống của VH DT Bên cạnh đó, các chính sách quản lý VH còn chung chung, ít chú ý đến cái đặc sắc, riêng biệt của từng DT Ngay trên cách phương tiện thông tin đại
Trang 27chúng, lâu nay thường nhấn mạnh các thuật ngữ “tiên tiến, đậm đà BSVH DT”, “thống nhất trong đa dạng”…mà quên mất khái niệm riêng của VH từng
DT Nước Việt Nam có 54 DT nên cần có một nền VH đa sắc tộc thực sự
4 n v qu n BS H D S
1.1.4.1 Giữ gìn BSVH DTTS
Theo Từ điển tiếng Việt, “giữ gìn” bao gồm hai nghĩa: 1 Giữ cho nguyên vẹn, bảo quản không cho mất mát, hao tổn (giữ gìn tài sản) 2 Thận trọng, tránh sơ suất trong cử chỉ, nói năng (giữ gìn ý tứ) [28, tr 433]
Về công tác giữ gìn văn hóa dân tộc nói chung, các nhà nghiên cứu thường đưa ra các thuật ngữ “bảo tồn”, “bảo vệ”, “bảo quản” Cách hiểu vấn
đề giữ gìn BSVH dân tộc hiện nay là không những chỉ có những hoạt động bảo vệ, giữ gìn cho đối tượng tồn tại nguyên vẹn, lâu dài mà còn khai thác khả năng, phát huy tác dụng của đối tượng, phục vụ hoạt động tiến bộ xã hội Giữ gìn BSVH dân tộc bao hàm việc bảo tồn và khai thác sử dụng
Ở nước ta, công tác bảo tồn, giữ gìn VH chủ yếu căn cứ theo Luật di sản VH năm 2001 với hàng loạt các quy định rất cụ thể, chặt chẽ và căn cứ theo quy định, chính sách của chính quyền địa phương nơi có những nét đặc sắc, độc đáo của văn hóa dân tộc cần được bảo tồn
1.1.4.2 Quảng bá BSVH DTTS
“Quảng bá” trong từ điển Tiếng Việt được giải thích là “Phổ biến rộng rãi bằng các phương tiện thông tin” [28, tr 818] Quảng bá VH đã trở thành khái niệm được sử dụng khá phổ biến trong thời gian gần đây khi chúng ta đề cập tới các chiến lược, chính sách phát triển VH trong xu thế mở cửa và hội nhập Quảng
bá VH được hiểu là hoạt động tổ chức, tuyên truyền các lĩnh vực VH của một quốc gia, một tộc người hoặc một vùng miền với mục đích làm cho đông đảo mọi người biết được, hiểu được những nét đặc sắc của nền VH đó Phạm vi quảng bá
có thể trong khuôn khổ nhỏ hẹp một địa phương hoặc mở rộng ra ngoài biên giới
Trang 28quốc gia, phổ biến trên toàn thế giới Hiệu quả của công tác quảng bá tùy thuộc vào phương tiện được sử dụng, phục vụ và hỗ trợ cho việc quảng bá
Quảng bá BSVH dân tộc vừa mang tính bề rộng, vừa mang tính bề sâu,
có những thành tố mang tính đặc trưng nhưng cũng có những thành tố thể hiện tính phổ biến sâu sắc
Khi đất nước gia nhập WTO, các nhà VH không khỏi băn khoăn, lo lắng cho một nền văn hiến có lịch sử hàng ngìn năm bị mai một Sau hội nhập
về kinh tế, chính trị, ngoại giao, nhiều lo ngại được đặt ra rằng liệu VH DT có
đủ sức chống chọi với sự du nhập các luồng VH của các nước tư bản, liệu có
đủ sức lan tỏa trong thời đại công nghệ thông tin và toàn cầu hóa Vấn đề giao lưu, quảng bá văn hóa Việt Nam, BSVH DTTS được quan tâm ở nhiều khía cạnh khác nhau: từ văn hóa vật thể, đến văn hóa phi vật thể… Việc lựa chọn những gì thuộc về BSVH dân tộc để quảng bá càng được quan tâm rõ nét hơn
Quảng bá các giá trị VH truyền thống cần phải tìm kiếm, phát hiện, bổ sung và làm cho nhiều người biết đến những giá trị ấy Quan trọng hơn là nhằm nâng cao ý thức tự giác của mỗi người trong cộng đồng, cùng tôn trọng
và giữ gìn các giá trị VH, làm cho nó phát triển ngày càng tốt hơn Quá trình phát triển kinh tế, chính trị, VH xã hội của đất nước luôn tác động đến các giá trị VH DT Vấn đề là quảng bá như thế nào cho đúng, khoa học, hiệu quả mà không làm mất đi những giá trị vốn có, không ảnh hưởng đến tín ngưỡng truyền thống của DT
1.2 Khái quát về Yên Bái và đặc điểm v n h củ đồng ào n
Trang 29bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ địa phương nhưng lại bị hạn chế nhất định khi xây dựng nền kinh tế thị trường, mở cửa với bên ngoài” [15, tr 12]
Yên Bái cũng là vùng có nhiều DT sinh sống lâu đời, hun đúc nên truyền thống yêu nước, đoàn kết xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Năm 1258, nhân dân các DT vùng Văn Chấn, Trấn Yên đã tham gia đội quân của tù trưởng Hà Bổng, trại chủ Quy Hóa chiến đấu chống giặc Mông - Nguyên khi chúng sang xâm lược nước ta lần thứ nhất ầu năm 1886, quân Pháp đánh chiếm Yên Bái Tổng đốc Hưng Hóa Nguyễn Quang Bích, bố chánh Nguyễn Văn Giáp phối hợp cùng các lãnh đạo địa phương tổ chức đánh chặn địch quyết liệt, gây cho quân Pháp nhiều thiệt hại
Năm 1930, cuộc khởi nghĩa Yên Bái do lãnh tụ yêu nước Nguyễn Thái Học và các đồng sự trong Việt Nam quốc dân ảng nổ ra Tuy không thành công nhưng đã góp phần đánh thức lòng yêu nước của toàn DT và làm rung
động cả nước Pháp Nhà thơ cộng sản Pháp Louis Aragon đã viết: "Yên Bái/ Đây là điều nhắc nhở chúng ta rằng/ Không thể bịt miệng một dân tộc mà người ta không thể khuất phục bằng lưỡi kiếm cong của đao phủ ” Chủ tịch
Hồ Chí Minh cũng từng đánh giá tầm vóc cuộc khởi nghĩa Yên Bái khi Người
viết tác phẩm “Lịch sử nước ta” năm 1941, để giáo dục tinh thần yêu nước và động viên nhân dân hăng hái tham gia Mặt trận Việt Minh: “Kìa Yên Bái, nọ Nghệ An / Hai lần khởi nghĩa tiếng vang hoàn cầu”
Với chiến thắng của chiến dịch giải phóng Nghĩa Lộ năm 1952, nhân dân các DT Yên Bái đã mở toang cánh cửa vào Tây Bắc, tạo bàn đạp cho quân ta tiến vào giải phóng iện Biên Phủ năm 1954 Kháng chiến chống Pháp thắng lợi, Yên Bái cùng cả miền Bắc bước vào một kỷ nguyên mới: hàn gắn những vết thương chiến tranh, xây dựng cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội Cả nước lại biết đến Yên Bái với công trình Thuỷ điện Thác Bà - đứa con đầu lòng của ngành thuỷ điện Việt Nam Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, ảng bộ, chính quyền và nhân dân các DT Yên Bái tiếp tục phát
Trang 30huy truyền thống anh hùng, năng động, sáng tạo, tự lực tự cường trong chiến tranh cách mạng… cùng cả nước chi viện cho miền Nam, góp phần làm nên thắng lợi vĩ đại của đại thắng mùa xuân năm 1975
Với gần 30 DT cùng chung sống, Yên Bái là mảnh đất giàu BSVH DTTS Chiếm đại đa số là DT Kinh với khoảng 50%; DT Tày chiếm xấp xỉ 19%; DT Dao chiếm 10,31%; DT H’mông chiếm 8,9%; DT Thái chiếm 6,7%, DT Cao Lan chiếm 1%; còn lại là các DT khác Trong số các DTTS
ở Yên Bái, nhiều năm qua, ài PTTH Yên Bái tập trung thực hiện các CT truyền hình phục vụ 3 đối tượng chính là H’mông, Dao, Thái
ặ tr n v n các n t t u s ở Yên Bái
* V n h Thái
Theo số liệu thống kê năm 2009, DT Thái ở Yên Bái có 53 104, người sinh sống hầu hết tại các huyện, thị xã, thành phố trên địa bàn tỉnh Trong dó, tập trung chủ yếu tại 4 đơn vị hành chính phía Tây tỉnh là: Văn Chấn, Nghĩa
Trạm Tấu, Mù Cang Chải [Nguồn Cổng thông tin điện tử tỉnh Yên Bái]
Cộng đồng người Thái sống tập trung thành bản mường ở các thung lũng, lòng chảo, không cách xa nhau, sở trường trồng lúa nước, trồng bông, dệt vải thổ cẩm Nghề thủ công truyền thống của đồng bào Thái là làm đệm bông lau, dệt vải thổ cẩm với Các sản phẩm đồng bào tự làm ra có giá trị khá cao cả về thẩm mỹ, VH và giá trị sử dụng
Người Thái Yên Bái ở nhà sàn Gia đình người Thái thường có 3 đến 4 thế hệ chung sống đầm ấm, có tính bền chặt cao, vợ chồng sống chung thuỷ, ít mâu thuẫn bởi các giá trị trong truyền thống gia đình được quy định và điều chỉnh bằng những luật tục hết sức chặt chẽ Tục ở rể vẫn còn phổ biến, ở cho đến khi vợ chồng trẻ có con mới về nhà chồng
Tín ngưỡng truyền thống của người Thái hết sức phong phú và đa dạng Ngoài thờ cúng tổ tiên (còn gọi là ma nhà), thì người Thái còn thờ các thần thánh khác như thờ cúng bản mường, ruộng đồng, thờ thần then của các dòng
Trang 31họ có người làm ma then… ồng bào quan niệm chết là tiếp tục sống ở thế giới bên kia nên đám ma là lễ tiễn đưa người chết về “Mường trời”
Lễ hội dân gian là một phần thiết yếu trong sinh hoạt VH tín ngưỡng của người Thái Theo chu kỳ một năm, đồng bào có nhiều lễ hội lớn mang tính chất cộng động như: lễ xên bản, xên mường, xên đông, lễ hội cầu mưa, xuống đồng, lễ hội xên lẩu nó, xé then…; các lễ hội trong phạm vi gia đình như các nghi thức cúng vía, lễ cúng ruộng, cúng vía trâu
Người Thái Yên Bái có kho tàng nghệ thuật dân gian rất phong phú Phổ biến là “Khắp”, “Then” được thể hiện trong các hội xuân, hát gọi người yêu, đám cưới, đám tang Người Thái có các loại nhạc cụ dân tộc vẫn được lưu truyền như khèn bè và 7 loại Pí (sáo) rất độc đáo
Sinh hoạt ẩm thực của đồng bào Thái cũng khá cầu kỳ trong cách chế biến, sắp đặt, sử dụng gia vị và các phụ gia
Do sinh sống ở địa hình núi cao, đầu nguồn, khí hậu khắc nghiệt, thiếu nước sản xuất và sinh hoạt nên đã quyết định hình thái sản xuất của người H’mông Nông nghiệp trồng trọt là nguồn sống chính của đồng bào ồng bào Mông có kinh nghiệm làm ruộng bậc thang với trình độ canh tác thông thạo,
có những thửa ruộng bậc thang cheo leo trên sườn núi chỉ đủ 1 - 2 đường bừa
Những tiềm năng thế mạnh kinh tế của người H’mông ở Yên Bái là: nghề rừng, chăn nuôi đại gia súc, trồng cây đặc sản và cây công nghiệp ngắn ngày ồng bào đã khai thác được một số cây, con thế mạnh như: cây chè tuyết Shan, cây sơn tra, cây quế, thảo quả, chăn nuôi trâu, bò, ngựa, ong
Trang 32Người H’mông có nghề rèn rất nổi tiếng với kỹ thuật cao và tự làm các
đồ dùng sinh hoạt trong gia đình bằng gỗ cũng rất khéo
Do đặc điểm cư trú biệt lập nên người H’mông ít có quan hệ với dân tộc khác ồng bào H’mông ở nhà đất, nguyên liệu chủ yếu là gỗ, mái nhà thường lợp bằng gỗ Pơ mu chẻ mỏng và hiện nay đã có một số nhà lợp mái phibrôximăng
Hình thái chủ đạo của gia đình dân tộc H’mông là gia đình phụ hệ với loại gia đình nhỏ có hai thế hệ sống chung rất phổ biến Xã hội người H’mông được tổ chức điều hành theo dòng họ khép kín, có luật lệ, quy định, ký hiệu riêng, mang tính quy ước cộng đồng thừa nhận và phải tuân thủ nghiêm ngặt
Người H’mông ở Yên Bái có tín ngưỡng dân gian vô cùng phong phú
và đặc sắc Ngoài thờ cúng tổ tiên, đồng bào còn thờ cả một hệ thống các thần bảo hộ gia đình, bảo vệ cho các thành viên trong nhà và của cải vật chất theo các quan niệm dân gian Lễ tang của người H’mông nhiều nghi lễ, phong tục tập quán khác nhau, phản ánh các quan niệm về lịch sử, xã hội, cộng đồng
Người H’mông có kho tàng nghệ thuật dân gian rất phong phú Vào mùa xuân, các dịp tết Mông hay lễ cưới truyền thống, người H’mông đều hát dân ca và múa khèn Trong hội “Gầu Tào”, múa khèn là nghi lễ mở hội Ngoài khèn bè, người H’mông còn sử dụng đàn môi, khèn lá, nhị, sáo…
Người H’mông với ý thức tự chủ cao, tính tình trung thực thẳng thắn, có đức tin bền vững, có truyền thống yêu nước và sự cần cù trong lao động Nhờ những phẩm chất này mà cộng đồng người H’mông đã tồn tại, phát triển trong quá trình biến thiên của lịch sử và vẫn giữ được BSVH truyền thống của DT
* V n h D o
Theo số liệu thống kê năm 2009, dân tộc Dao ở Yên Bái có 83 888 người, sinh sống tại 9 huyện, thị, thành phố trên địa bàn tỉnh Trong đó tập trung đông nhất ở Văn Yên, Lục Yên, Yên Bình, Văn Chấn và Trấn Yên
Trang 33Người Dao hiện sinh sống ở tỉnh Yên Bái có 4 nhóm chính là: Dao ỏ, Dao Quần Chẹt, Dao Quần Trắng và Dao Làn Tuyển Mặc dù tên gọi, trang phục, tiếng nói có một số điểm khác nhau nhưng tất cả các nhóm Dao đều có chung nguồn gốc và cùng thờ ông tổ Bà Vương ể phân biệt các nhóm Dao, chủ yếu dựa vào sự khác nhau trong bộ trang phục của phụ nữ
Phụ nữ Dao ỏ có đặc điểm dễ nhận thấy là dùng rất nhiều màu đỏ, nhiều tua và núm bông đỏ Trong đám cưới hay trong lễ cúng Bàn Vương, phụ nữ Dao ỏ đội mũ rất to có khung gỗ hay nan tre nứa bẻ thành hai góc nhọn nhô ra phía trước mặt Bên ngoài phủ vải đỏ hay khăn thêu Phụ nữ Dao Quần Chẹt mặc quần ống hẹp bó sát vào chân Trước đây phụ nữ nhóm Dao này còn có tục chải tóc bằng sáp ong nên gọi là Dao Sơn ầu Trang phục nữ Dao Quần Trắng có đặc điểm nổi bật là yếm rất to che kín cả ngực và bụng Tên gọi Dao Quần Trắng bắt nguồn từ phong tục trong lễ cưới phải mặc quần trắng Người Dao Làn Tuyển mặc áo dài, đội mũ nhỏ như cái đấu gỗ Trang phục truyền thống của người Dao đặc sắc và nổi bật ở nghệ thuật trang trí trên quần áo với mô típ hoa văn cây cỏ, động vật, hình người, hình chim, kết chữ Hán được cách điệu rất sinh động
Hình thái kinh tế chủ yếu của người Dao ở Yên Bái là sản xuất nông nghiệp ặc biệt, người Dao ở Yên Bái phát triển mạnh 2 loại cây công nghiệp là cây quế và cây chè Cây quế đã trở thành cây trồng truyền thống của đồng bào Dao ở huyện Văn Yên
Nghề thủ công truyền thống là làm giấy, dệt vải, nhuộm chăn, in và thêu hoa văn trên vải an lát các đồ đựng bằng tre, nứa, giang, mây song Nghề rèn của đồng bào Dao cũng phát triển, chủ yếu là các nông cụ như: dao, cuốc, cào cỏ, lưỡi cày Nghề làm đồ trang sức bằng bạc, bằng đồng làm thành vòng cổ, vòng tay, khuyên tai, nhẫn, xà tích
ồng bào dựng nhà gần các con suối và ở tập trung thành từng bản riêng biệt hoặc xen cư với các dân tộc khác Nhà ở của người Dao Yên Bái
Trang 34có 3 loại hình là: nhà sàn của người Dao quần trắng, nhà đất của người Dao
đỏ và nhà nửa sàn nửa đất của người Dao Quần Chẹt và Dao Tuyển
Văn hoá ẩm thực của người Dao đơn giản hơn so với các tộc người khác thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái Thịt lợn là loại thực phẩm không thể thiếu trong tết nhảy, lễ cấp sắc, lễ chay, lễ cưới và tang ma…
Các nhóm Dao đều thờ cúng tổ tiên và thờ Bàn Vương Trong sinh hoạt
xã hội - gia đình của người Dao ở Yên Bái, “Cấp sắc” là một tục lệ phổ biến
và bắt buộc tất cả đàn ông Dao đều phải qua lễ này, thậm chí lúc còn sống chưa được cấp sắc, sau khi chết con cháu phải làm lễ cho, đây là một nghi thức của tàn dư lễ thành đinh
Các nghi lễ trong cưới xin và tang ma của người Dao bao gồm nhiều bước, khá phức tạp Thông thường người Dao có tục ở rể 3 năm, sau đó mới được ở riêng hoặc về nhà trai ở hẳn Trong tang ma, hầu hết các nhóm người Dao ở Yên Bái không có tục cải táng người chết Nếu là người đã qua lễ cấp sắc đều được gọi hồn về nhà lớn để thường xuyên thờ cúng
1.2.3 N n vấn đ đặt r tron qu tr n n BS H DTTS tỉn Y n B
“Nhìn chung, Yên Bái là một tỉnh nghèo, trải qua hơn một thập kỷ đổi mới chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã có tiến bộ, song vẫn trong tình trạng chậm phát triển Đời sống kinh tế văn hóa còn chênh lệnh khá rõ rệt giữa vùng thấp với vùng cao, giữa đô thị với vùng sâu, vùng xa” [2, tr31]
Cùng với nền VH chung của cộng đồng các DT Việt Nam; cùng với bản sắc DT chung của nền VH đó, mỗi DT trong cộng đồng các DT Việt Nam đều
có một nền VH mang bản sắc riêng từ lâu đời, phản ánh truyền thống, lịch sử, niềm tự hào DT Gìn giữ và phát huy BSVH các DTTS trong bối cảnh toàn cầu hóa là vấn đề chung của quốc gia, DT chứ không riêng một địa phương
Thực tế tại tỉnh Yên Bái, thách thức lớn nhất đặt ra trong việc giữ gìn, phát huy BSVH DTTS là chính đồng bào các DT chưa tự ý thức được giá trị
Trang 35BSVH DT mình, chưa thực sự tự hào nên chưa chủ động, tích cực bảo vệ, giữ gìn BSVH DT
Qua thực tế tìm hiểu, người viết nhận thấy có 5 vấn đề nổi bật trong quá trình giữ gìn BSVH các DTTS của tỉnh Yên Bái
Một là, việc giữ gìn, phát huy BSVH DTTS tại Yên Bái còn mang tính
“bao cấp”, dựa trên sự hỗ trợ của nhà nước là chính mà chưa khơi dậy, phát huy tính chủ động, tích cực, tự giác của các chủ thể VH DTTS Các chính sách về VH DTTS tại Yên Bái từ trước đến nay đều chung chung, mang tính ứng phó nhiều hơn là tính chiến lược lâu dài Ít có chính sách để phát triển
VH của từng DT Còn có sự kì thị VH DTTS khi trong một số chính sách và bài viết báo chí có sự so sánh: VH DTTS là lạc hậu, phải đem ánh sáng từ miền xuôi lên soi sáng cho đồng bào vùng cao
Hai là, ở nhiều DT, lớp trẻ không còn biết nói tiếng DT mình; không thích mặc trang phục truyền thống; không thích dân ca dân vũ của DT… Biết nhiều ngôn ngữ ngoài tiếng mẹ đẻ là điều cần thiết, thuận lợi trong tình hình hội nhập sâu rộng như hiện nay nhưng việc quay lưng lại với tiếng mẹ đẻ của không ít bộ phận người DTTS đã làm cho ngôn ngữ của một số DTTS có dấu hiệu suy thoái Không biết ngôn ngữ, thế hệ trẻ sẽ không hiểu được ý nghĩa, giá trị những BSVH khác của DT mình
Ba là, có một thời gian, các hình thức VH tâm linh như cúng bái dân gian (Then, Mo…) của đồng bào DTTS Yên Bái nói riêng, cả nước nói chung
bị ngăm cấm Năm 1986, khi đất nước đổi mới, VH các DTTS được phục hồi với tốc độ nhanh chóng Tuy vậy, không ít tín ngưỡng thờ cúng dân gian trở nên méo mó, dị dạng và những người quản lý VH lại không có sự định hướng cho cơ quan quản lý nên một số hình thức cúng bái đã phát triển tràn lan…
Bốn là, mặc dù ngành VH Yên Bái không ngừng nghiên cứu, sưu tầm, bảo tồn và khai thác một cách có hệ thống những giá trị VH dân gian các DTTS trên địa bàn nhằm xây dựng và phát triển nền VH Việt Nam tiên tiến,
Trang 36đậm đà bản sắc theo NQ TƯ 5 (khóa VIII) của ảng song thực chất so với những truyền thống VH của các DT thì những việc làm đó chưa được là bao Nhiều lễ hội dân gian vẫn có nguy cơ thất truyền hoặc mất dần bản sắc bởi nhiều lí do: các nghệ nhân dân gian vốn đã ít lại tuổi cao; một mai không còn,
ai là người truyền dạy lại cho con cháu? Do nhiều DT sống đan xen, sự giao thoa sẽ diễn ra dẫn đến những yếu tố vay mượn Nhiều lễ hội tồn tại nhưng đã loại bỏ nhiều thủ tục "rườm rà" hoặc làm lấy lệ không còn tính chất tôn nghiêm, bản sắc ặc biệt, việc sân khấu hóa, thương mại hóa lễ hội đã làm mất đi phần nhiều giá trị nguyên bản Thế nên, nhiều cơ sở muốn phục dựng lại lễ hội truyền thống nhưng lúng túng, không biết khôi phục thế nào cho hợp với cũ - mới; với chính sách của ảng, Nhà nước Cho nên khi tổ chức, những
lễ hội này thường pha trộn, cải biên, cách tân Thậm chí có lễ hội chỉ nhằm mục đích quay phim, chụp ảnh hoặc nhu cầu nhất thời nào đó như phục vụ tuyên truyền, ngày lễ, hội chợ, du lịch rồi sau đó không bao giờ làm lại nữa
Năm là, việc giữ gìn, phát huy BSVH DTTS của tỉnh Yên Bái trong thời đại mới rất cần những chính sách phù hợp, đúng đắn và cụ thể
1.3 V i trò củ tru ền h nh trong việc gi gìn BSVH các DTTS
Bàn về vai trò của báo chí với văn hóa, đã có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều hội thảo, bài báo khoa học
Trong bài tham luận tại Hội thảo “VH truyền thông trong thời kỳ hội
nhập” (Hà nội ngày 22/2/2012); nhà báo Phan Quang khẳng định: “VH có từ khi hình thành xã hội loài người Báo chí mới ra đời bốn, năm trăm lại đây
Nó lớn mạnh nhanh, cống hiến nhiều cho phát triển, nghiễm nhiên trở thành một bộ phận cấu thành VH, đồng thời là phương tiện thực thi, quảng bá VH ”
PGS TS Nguyễn Văn Dững thì cho rằng: “Các giá trị VH có thể được giao lưu, truyền tải qua nhiều kênh khác nhau như trường học, các tổ chức trong thể chế xã hội, trong cộng đồng Nhưng trong xã hội hiện đại, các giá trị VH giao lưu và truyền tải qua báo chí - truyền thông là con đường và
Trang 37phương thức nhanh nhất, hiệu quả nhất Bởi vì, do những đặc trưng vốn có của mình, báo chí và truyền thông đại chúng là những kênh có sức tác động nhanh chóng và kịp thời nhất; tác động đến đông đảo người nhất; trên phạm
vi rộng lớn nhất; với các phương thức, phương tiện đa dạng và phong phú nhất; ảnh hưởng thường xuyên và liên tục nhất” [6, tr 193]
Tại Hội thảo “Báo chí với bảo tồn và phát huy di sản VH DT” ngày 24/10/2014, do UBND tỉnh Bình ịnh phối hợp với Trung tâm Nghiên cứu bảo tồn và Phát huy VH DT Việt Nam tổ chức, GS Hoàng Chương - Tổng giám đốc Trung tâm Nghiên cứu bảo tồn và Phát huy VH DT Việt Nam khẳng định vai trò rất quan trọng của báo chí trong bảo tồn, phát huy di sản
VH DT: “Nói đến bảo tồn, phát huy, quảng bá VH DT không thể không nói tới vai trò của báo chí, truyền thông Báo chí là nhân tố quan trọng góp phần thúc đẩy việc ra đời Luật Di sản VH Nhờ tiếng nói của báo chí mà sự xâm hại của di sản VH được ngăn chặn Bên cạnh đó, còn phát huy, tôn vinh những tài năng, nghệ thuật DT từ xa xưa và các thế hệ nghệ sĩ tài năng kế tiếp…” NSƯT Vương Duy Biên, Thứ trưởng Bộ VH - Thể thao và Du lịch cho rằng: “Báo chí truyền thông phải là người đồng hành làm công tác VH; báo chí phải thực hiện đồng đều cả biểu dương mô hình địa phương thực hiện bảo tồn văn di sản VH tốt; phê phán những địa phương thực hiện chưa tốt; nhiệm vụ của báo chí ngoài tuyên truyền phải giải thích cho công chứng hiểu
về di sản VH DT, cái hay, cái quý, cái đẹp của nó…”
Tổng hợp lại, trong vấn đề giữ gìn BSVH các DTTS, báo chí có những vai trò sau:
Một là, báo chí thực hiện chức năng thông tin tuyên truyền BSVH DT Hai là, báo chí góp phần giữ gìn giá trị BSVH các DTTS
Ba là, báo chí góp phần đấu tranh, sàng lọc, phê phán các biểu hiện phản văn hóa
Trang 38Bốn là, báo chí cổ vũ, khích lệ năng lực sáng tạo giá trị mới trong cộng đồng các DTTS
Năm là, báo chí góp phần truyền dẫn, giao lưu và tiếp biến văn hóa
* trò tru n n tron v n BS H D S
Kể từ khi truyền hình xuất hiện vào đầu thế kỉ thứ XX và phát triển với tốc độ như vũ bão nhờ sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật và công nghệ, tạo ra một kênh thông tin quan trọng trong đời sống xã hội Ngày nay, truyền hình là phương tiện thiết yếu cho mỗi gia đình, mỗi quốc gia, dân tộc Truyền hình trở thành công cụ sắc bén trên mặt trận tư tưởng văn hóa cũng như các lĩnh vực kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng
Truyền hình mặc dù là một loại hình báo chí nhưng bên cạnh những điểm chung của báo chí nó còn có những đặc tính riêng biệt của truyền hình Tính thời sự là điểm chung của báo chí Nhưng truyền hình với tư cách là một phương tiện truyền thông đại chúng hiện đại có khả năng thông tin nhanh chóng, kịp thời hơn so với các loại phương tiện khác Với truyền hình, sự kiện được phản ánh ngay lập tức khi nó vừa mới diễn ra thậm chí khi nó đang diễn
ra, người xem có thể quan sát một cách chi tiết, tường tận qua truyền hình trực tiếp và cầu truyền hình
Truyền hình có khả năng phát sóng liên tục 24/24h trong ngày, luôn mang đến cho người xem những thông tin nóng hổi nhất về các sự kiện diễn
ra, cập nhật những tin tức mới nhất ây là ưu thế đặc biệt của truyền hình so với các loại hình báo chí khác
Trong xã hội hiện nay nhờ các thiết bị kĩ thuật hiện đại truyền hình nên
có thể truyền trực tiếp cả hình ảnh và âm thanh trong cùng một thời gian về cùng một sự kiện, sự việc “khi sự kiện diễn ra phát thanh báo tin, truyền hình trình bày và báo tin giảng giải nó” Do vậy truyền hình trở thành một phương tiện cung cấp thông tin rất lớn, có độ tin cậy cao, có khả năng làm thay đổi nhận thức của con người trước sự kiện
Trang 39Có thể thấy, những năm gần đây, truyền hình đã và đang phát triển với tốc độ nhanh chóng, nhiều cách thức thể hiện mới, lạ, hấp dẫn Trước thực tế
đó, không thể phủ nhận sự đóng góp của các chương trình truyền hình trong việc tuyên truyền, phát triển văn hóa Việt Nam nói chúng, văn hóa các DTTS nói riêng
* N un tu n tru n v n s v n n t t u s
VH mỗi DT có những phương thức biểu hiện cụ thể, riêng biệt, nhưng
có thể tạm thời tổng kết văn hóa thể hiện ở một số nội dung cơ bản sau:
+ Thứ nhất, văn hóa biểu hiện ở phong tục tập quán
Phong tục tập quán là hệ thống các quy tắc sinh hoạt cộng đồng lâu đời của các dân tộc được hình thành qua quá trình lịch sử lặp đi lặp lại thành thói quen trong lao động sản xuất; trong cuộc sống; sinh hoạt; cách ứng xử hàng ngày của các cộng đồng xã hội
Phong tục là một tập quán xã hội tương đối bền vững và tương đối thống nhất Chính đặc điểm này cho thấy phong tục tập quán là yếu tố quy định BSVH mỗi dân tộc Những biểu hiện cụ thể của phong tục tập quán gồm các luật tục, hệ thống tín ngưỡng dân gian, hệ thống tôn giáo bản địa, lễ hội tộc người, cách ứng xử…
+ Thứ hai, văn hóa biểu hiện qua trang phục
Trang phục là phương tiện cấu thành và thể hiện bản sắc của các DT Trải qua các thời kì lịch sử, các DT nước ta đã tạo dựng được những bộ trang phục mang nét đẹp riêng, độc đáo, thấm nhuần giá trị VH truyền thống mỗi tộc người
Nhiều DT quan niệm khi chết phải mặc trang phục truyền thống thì tổ tiên mới nhận diện được con cháu, mới có thể nhận biết nguồn cội khi đã rời
xa cuộc sống Phần lớn các DT nước ta có trang phục riêng, độc đáo, người
am hiểu chỉ cần nhìn trang phục là phân biệt được người mặc nó thuộc DT nào, thậm chí là nhánh DT nào Nếu coi BSVH là đặc trưng cơ bản nhất của một tộc người thì trang phục chính là biểu hiện đầu tiên để nhận biết một DT
Trang 40+ Thứ ba, văn hóa biểu hiện qua ẩm thực
Ẩm thực của mỗi DT trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam đều có bản sắc riêng, nhiều món ăn đã trở thành đặc sản trên đất nước Việt Nam
và được nhiều người biết đến Mỗi DT có những món ăn độc đáo, chỉ DT
đó mới có
Cùng là một món ăn nhưng mỗi DT có cách chế biến riêng ối với đồng bào DTTS, những sản phẩm trong ẩm thực đều làm từ những nguyên liệu sản vật do chính người lao động nơi đây làm ra Thông qua những sản phẩm ẩm thực đó mà người ta biết đến đời sống VH tinh thần cũng như điều kiện kinh tế, điều kiện tự nhiên của vùng đất ấy
+ Thứ tư, văn hóa thể hiện qua tiếng nói, chữ viết
Tiếng nói và chữ viết là những đặc trưng văn hóa vô cùng quan trọng của mỗi DT Nó là phương tiện giao tiếp, giao lưu, ghi lại lịch sử quá trình hình thành, phát triển của DT đó từ thế hệ này sang thế hệ khác Tiếng nói, chữ viết là phương tiện để bảo tồn, phát huy, phát triển vốn VH truyền thống của DT Nó là yếu tố VH đặc trưng nhất để phân biệt DT này với DT khác
Tiếng nói, chữ viết không chỉ là một thành tố cơ bản của VH, một biểu hiện của những giá trị nhân văn mà còn là phương tiện để hình thành và lưu truyền các hình thái quan trọng nhất trong đời sống VH tinh thần của mỗi DT
+ Thứ năm, văn hóa thể hiện ở văn hóa – nghệ thuật trình diễn
Văn hóa - nghệ thuật trình diễn chính là âm nhạc, nhạc cụ, ca dao, trường ca, những điệu dân ca, dân vũ trong đời sống hàng ngày của của người DTTS Mỗi dân tộc đều có nét đặc sắc riêng trong sinh hoạt văn hóa - nghệ thuật trình diễn Nội dung sinh hoạt văn hóa – nghệ thuật của đồng bào DTTS chủ yếu là ca ngợi quê hương, gia đình, là tiếng hát động viên mọi người hăng say lao động sản xuất, là lời tỏ tình của những đôi trai gái… Những lời ca, tiếng hát, truyện kể, sự tích… đều có nguồn gốc từ chính cuộc sống của đồng bào DTTS; là nơi để đồng bào DTTS gửi gắm những mong ước, khát vọng