1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân gian các dân tộc bản địa tỉnh kon tum hiện nay

114 40 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 1,68 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ quan điểm cho rằng văn hóa dân gian là cội nguồn của văn hóa dân tộc, là nguồn sản sinh và tiếp tục nuôi dưỡng văn hóa dân tộc, thì trong quá trình xây dựng nền văn hóa mới

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS Bùi Thị Kim Hậu

HÀ NỘI – 2016

Trang 2

Luận văn đã được chỉnh sửa theo khuyến nghị của Hội đồng chấm luận

văn thạc sĩ

CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG

PGS,TS Lưu Văn An

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Luận văn được hoàn thành dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Bùi Thị Kim Hậu Những

số liệu công bố trong luận văn là trung thực, chính xác Luận văn chưa từng được công bố trong các công trình khoa học khác Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung của luận văn

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Nhâm

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ GIÁ TRỊ VĂN HÓA DÂN GIAN VÀ BẢO TỒN, PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA DÂN GIAN CÁC DÂN TỘC BẢN ĐỊA 9

1.1 Quan niệm về giá trị văn hóa dân gian 9

1.2 Nội dung, phương thức và các yếu tố ảnh hưởng đến việc bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa hóa dân gian các dân tộc bản địa 24

Chương 2: THỰC TRẠNG VIỆC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA DÂN GIAN Ở CÁC DÂN TỘC BẢN ĐỊA TỈNH KON TUM HIỆN NAY VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA 39

2.1 Vài nét về các dân tộc bản địa tỉnh Kon Tum và đặc điểm, giá trị văn hóa dân gian ở các dân tộc bản địa tỉnh Kon Tum 39

2.2 Thực trạng bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân gian ở các dân tộc bản địa tỉnh Kon Tum hiện nay 46

2.3 Những vấn đề đặt ra đối với việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân gian ở các dân tộc bản địa tỉnh Kon Tum 63

Chương 3: NHỮNG NGUYÊN TẮC VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU ĐỂ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA DÂN GIAN Ở CÁC DÂN TỘC BẢN ĐỊA TỈNH KON TUM HIỆN NAY 73

3.1 Nguyên tắc nhằm bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân gian ở các dân tộc bản địa tỉnh Kon Tum 73

3.2 Những giải pháp chủ yếu để bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân gian ở các dân tộc bản địa tỉnh Kon Tum 78

KẾT LUẬN 97

PHỤ LỤC 103

TÓM TẮT LUẬN VĂN……… 110

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Văn hóa dân gian là một bộ phận quan trọng được cấu thành trong nền văn hóa dân tộc Việt Nam Với những truyền thống tốt đẹp của mình, văn hóa dân gian đã đóng vai trò tích cực trong sự phát triển của đất nước và đang có ảnh hưởng lớn đối với toàn xã hội ta trong quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức hiện nay

Xuất phát từ quan điểm cho rằng văn hóa dân gian là cội nguồn của văn hóa dân tộc, là nguồn sản sinh và tiếp tục nuôi dưỡng văn hóa dân tộc, thì trong quá trình xây dựng nền văn hóa mới xã hội chủ nghĩa hiện nay, để bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, chúng ta phải bắt đầu từ văn hóa dân gian

Nhưng hiện nay, dưới tác động của kinh tế thị trường và toàn cầu hóa, văn hóa dân gian đang đứng trước nguy cơ bị xóa nhòa, trong tình đó, việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân gian lại càng cấp thiết

Kon Tum là một vùng đất đậm đặc về văn hóa dân gian, đặc biệt là ở các dân tộc bản địa Văn hóa dân gian có vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần của nhân dân, trong lao động sản xuất, chinh phục tự nhiên cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước Đó là yếu tố quan trọng tạo nên tinh thần

cố kết cộng đồng, đoàn kết dân tộc, tinh thần yêu nước, yêu làng, “giữ làng vì giữ nước” và “giữ nước để giữ làng”, góp phần đưa đến những thắng lợi trong

sự nghiệp cách mạng trước đây cũng như trong sự ổn định và phát triển ngày nay của các dân tộc bản địa nơi đây Vì vậy, để phát triển bền vững tỉnh Kon Tum nói chung và các dân tộc bản địa Kon Tum nói riêng thì không thể không chú trọng bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân gian

Tuy nhiên, Kon Tum cũng đang đứng trước một thực tế hết sức đáng lo ngại, đó là sự xuống cấp, mất dần, mai một dần các giá trị văn hóa dân gian trong quá trình phát triển Các di sản văn hóa truyền thống bắt nguồn từ văn hóa rừng, song rừng đang ngày một xa cộng đồng dân cư Một số di sản do

Trang 6

bào mòn của thời gian, song phần lớn các di sản cả vật thể và phi vật thể đang mai một dần do chính ý thức chủ quan của con người và do môi trường, điều kiện, hoàn cảnh khách quan tạo ra Ở nhiều nơi, sự kế thừa các giá trị văn hóa dân gian đang lần lượt bị lãng quên, việc trao truyền giữa các thế hệ không còn được thực hiện

Trong những năm qua, ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch cùng với các tổ chức, cơ quan liên quan và nhiều cá nhân đã tiến hành triển khai công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân gian các dân tộc bản địa tỉnh, song

đó mới chỉ là những “nhát cuốc khai hoang” đầu tiên trên mảnh đất màu mỡ

về vốn văn hóa dân gian này, các giá trị văn hóa dân gian ở đây vẫn chưa được đánh giá đúng mức Trước thực tế đó, việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân gian của các dân tộc bản địa tỉnh Kon Tum là vấn đề cấp thiết đặt

ra nhằm góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc ở nước ta hiện nay

Với những lý do đó, tác giả đã chọn đề tài “Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân gian các dân tộc bản địa tỉnh Kon Tum hiện nay” làm đề tài

luận văn của mình

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Văn hóa là lĩnh vực quan trọng trong đời sống xã hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng như Đảng và Nhà nước ta từ rất sớm đã dành sự quan tâm tới lĩnh vực này Đây cũng là đề tài được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều học giả,

đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về văn hóa dân gian dưới các khía cạnh khác nhau:

Về văn hóa dân gian có các công trình như:

Giáo sư Đinh Gia Khánh trong “Trên đường tìm hiểu văn hoá dân

gian” (Nxb Khoa học xã hội, 1989), với công trình này GS Đinh Gia Khánh

đã trình bày những vấn đề lí luận, lịch sử nghiên cứu và các thành tố của văn hoá dân gian

Trang 7

Đinh Gia Khánh trong “Văn hoá dân gian Việt Nam với sự phát triển

của xã hội Việt Nam” (Nxb Chính trị quốc gia,1995), là một đề tài nghiên

cứu khoa học cấp Nhà nước, mã số KX.06.04 Đây là một công trình nghiên cứu văn hoá dân gian khác theo chiều lịch đại Tác giả đi sâu tìm hiểu ý nghĩa

và tác dụng của văn hoá dân gian “đối với việc tìm ra các phương pháp nhằm

thúc đẩy sự phát triển xã hội, góp phần vào việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá của dân tộc Việt Nam”

Nguyễn Chí Bền trong “Văn hóa dân gian Việt Nam - Những phác

thảo” (Nxb văn hóa thông tin, 2003), Tác giả chủ yếu bàn về các lễ hội và

phong tục làng Việt ở Nam Bộ

Tác giả Ngô Đức Thịnh trong “Văn hoá dân gian một chặng đường

nghiên cứu” (Nxb Khoa học xã hội, 2004), đã giới thiệu những nét chính về

hoạt động và kết quả nghiên cứu văn hóa dân gian, các bài nghiên cứu của nhiều tác giả về văn hóa dân gian, văn học, món ăn dân gian

Tác giả Trần Quốc Vượng với “ Nghề thủ công truyền thống Việt Nam

và các vị Tổ nghề” ( Nxb, Văn hoá Thông tin, 2014), tác giả đưa ta đến với

một số ngành nghề, làng nghề, phố nghề truyền thống Việt Nam

Nguyễn Đình Chúc “Văn hóa dân gian làng ven đầm Ô Loan” ( Nxb

Văn hóa thông tin, 2014) Nguyễn Đình Chúc đã giới thiệu về vùng đất và con người làng ven đầm Ô Loan; Tổ chức làng xã; Văn hóa sinh tồn; Văn hóa nghề nghiệp; Văn học dân gian và tri thức dân gian

Tác giả Trần Gia Linh “ Nghiên cứu tư liệu lý luận văn hoá dân gian

Việt Nam” ( Nxb Văn hoá Thông tin, 2014) Tác phẩm thể hiện những vấn đề

cơ bản của nghiên cứu tư liệu lý luận văn hoá dân gian Việt Nam như đặc trưng, giá trị của văn hoá dân gian, phân loại văn hoá dân gian, phân vùng văn hoá dân gian, tiến trình lịch sử văn hoá dân gian, về nghệ thuật, lễ hội dân gian, thi pháp văn học, văn học dân gian hiện đại…

Trang 8

Phan Bá Hàm với tác phẩm “Tràng Sơn một làng văn hoá dân gian

phong phú”( Nxb Văn hoá Thông tin, 2014) đã trình bày khái quát về làng

Tràng Sơn Giới thiệu văn hoá dân gian làng Tràng Sơn như văn học dân gian, nghệ thuật, các lễ hội, Tết, các phong tục tập quán tiêu biểu

Về văn hóa dân gian ở Tây Nguyên và Kon Tum có các công trình như:

Tác phẩm “ Kon Tum đất nước con người” (Nxb Đà Nẵng, 1998), các

tác giả đã giới thiệu những nét tổng quát về vị trí địa lý, tình hình kinh tế - xã hội, văn hóa và những truyền thống ở Kon Tum nói chung và ở các dân tộc bản địa tỉnh Kon Tum

Trần Văn Bính với “Văn hoá các dân tộc Tây Nguyên - thực trạng và

những vấn đề đặt ra” ( Nxb Chính trị quốc gia, 2004) đã phản ánh thực trạng

và xu hướng phát triển của văn hoá của các dân tộc Ê đê, Xơđăng, M'Nông, Giarai trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá Đồng thời đề xuất những kiến nghị và giải pháp nhằm nâng cao và phát triển đời sống văn hoá của bà con các dân tộc, để văn hoá Tây Nguyên trở thành động lực và mục tiêu của quá trình CNH-HĐH ở Tây Nguyên

Ngô Đức Thịnh với “Những mảng màu văn hóa Tây Nguyên” (Nxb trẻ,

2007) đã tập trung vào luật tục và sử thi Tây Nguyên

Tác giả Phùng Sơn trong “ Một số tư liệu mỹ thuật dân gian của đồng bào

các dân tộc thiểu số tỉnh Kon tum” (Nxb Hội văn học nghệ thuật, 2007) đã ghi

chép, sưu tầm lại nhiều tài liệu về mỹ thuật dân gian, phác hoạ cho ta thấy được phần nào đời sống của dân tộc thiểu số gắn liền với nghệ thuật tạo hình, nghệ thuật trang trí như một nhu cầu không thể thiếu, cho chúng ta thấy được cái đẹp trong bản sắc các dân tộc Tây nguyên nói chung, Kon Tum nói riêng

“Phác thảo văn hoá dân gian các dân tộc thiểu số tỉnh Kon Tum” (

Nxb Viện văn hoá nghệ thuật Việt Nam, Hà Nội, 2008), cuốn sách đã sưu tầm, ghi chép các tư liệu cơ bản về các loại hình văn hoá dân gian của các dân

Trang 9

tộc thiểu số ở Kon Tum: Văn hoá luật tục, văn hoá cư trú, văn hoá cồng chiêng và các nhạc cụ dân tộc ,văn hoá trang phục, ẩm thực

Tác giả Phạm Nhân Thành trong “Hệ thống nghệ thuật của sử thi Tây Nguyên” (Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, 2010) bàn về mặt nghệ thuật được

sử dụng trong hệ thống sử thi ở Tây Nguyên như cấu trúc trần thuật, đặc điểm nhân vật chính, các biện pháp nghệ thuật

Tác giả Linh Nga Niê Kdam với tác phẩm “ Nghề thủ công truyền

thống của các dân tộc Tây Nguyên” ( Nxb Văn hoá Thông tin, 2014) giới

thiệu cho chúng ta một số nghề thủ công truyền thống ở Tây Nguyên: nghề dựng nhà, trang trí nóc nhà & đan lát mây tre, nghề dệt, nghề rèn, nghề làm gốm, nghề chế tác đá

Về bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân gian có những công trình như:

Nguyễn Hồng Sơn và Trương Minh Dục trong tác phẩm “Giữ gìn và

phát huy giá trị văn hóa Tây Nguyên”( Nxb Chính trị quốc gia, 1996) đã đề

cập đến nguồn gốc hình thành, các giá trị văn hóa Tây nguyên và ảnh hưởng của nó đến quá trình phát triển kinh tế - xã hội hiện nay, vấn đề giữ gìn và

phát huy giá trị văn hóa Tây Nguyên trong điều kiện kinh tế thị trường

“Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa ở Kon Tum” ( Nxb Sở văn hóa –

thể thao và du lịch tỉnh Kon Tum, 2009) Tập sách gồm nhiều bài viết của nhiều tác giả đề cập đến văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể ở tỉnh Kon

Tum cũng sự cần thiết phải bảo tồn và phát huy di sản văn hóa ở Kon Tum

Tác giả Phạm Lan Oanh “Phát huy vốn văn hoá dân gian trong phát

triển du lịch Cao Bằng”, (Nxb Chính trị Quốc gia, 2014) Giới thiệu về Cao

Bằng qua nguồn thư tịch cổ; di tích, bản làng và làng nghề truyền thống Cao Bằng; văn học dân gian, chợ hội, lễ hội và văn hoá ẩm thực Cao Bằng

Nhìn chung, phần lớn các công trình nghiên cứu và tư liệu trên đây đều trực tiếp hoặc gián tiếp đề cập đến văn hóa dân gian và sự cần thiết bảo tồn,

Trang 10

phát huy giá trị văn hóa dân gian ở nhiều góc độ lý luận và thực tiễn khác nhau, nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống và đầy đủ

về vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân gian ở các dân tộc bản địa tỉnh Kon Tum Mặt khác, do tác động của kinh tế thị trường, tác động của mở rộng hội nhập kinh tế quốc tế, vấn đề văn hoá dân gian ở các dân tộc bản địa tỉnh Kon Tum đang biến đổi và có những khía cạnh mới cần tiếp tục đi sâu vào nghiên cứu thêm, từ đó có những giải pháp thiết thực để bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân gian nơi đây

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

- Mục đích nghiên cứu

Làm rõ cơ sở lý luận của việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân gian ở các dân tộc bản địa tỉnh Kon Tum, phân tích thực trạng của việc bảo tồn đó, từ đó đưa ra phương hướng và đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm bảo tồn và phát huy tốt các giá trị văn hóa dân gian ở địa phương này

- Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt mục đích đã nêu trên, luận văn tập trung giải quyết những nhiệm vụ chính sau:

+ Làm rõ giá trị của văn hóa dân gian, nội dung và các nhân tố ảnh hưởng đến việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân gian hiện nay

+ Phân tích thực trạng của việc bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa dân gian ở các dân tộc bản địa tỉnh Kon Tum hiện nay và những vấn đề đặt ra

+ Nêu phương hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm bảo tồn, phát huy tốt giá trị văn hóa dân gian nơi đây

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu:

Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân gian ở các dân tộc bản địa được luận văn xác định làm đối tượng nghiên cứu

Trang 11

+ Thời gian: năm 2005 đến nay

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

- Cơ sở lý luận:

Luận văn vận dụng các quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng

Hồ Chí Minh, Đường lối văn hoá của Đảng Cộng sản Việt Nam về văn hoá để nghiên cứu văn hóa dân gian ở các dân tộc bản địa tỉnh Kon Tum

- Phương pháp nghiên cứu:

Luận văn sử dụng các phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử để phân tích, lý giải, làm rõ các vấn đề; đồng thời kết hợp nhuần nhuyễn các phương pháp: Lịch sử và logic; phân tích và tổng hợp; quy nạp và diễn dịch; điều tra, so sánh nhằm đạt mục đích và nhiệm vụ mà luận văn đã đề ra

6 Đóng góp mới của luận văn

- Trên cơ sở làm rõ thực trạng công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá dân gian ở các dân tộc bản địa tỉnh Kon Tum, luận văn sẽ góp phần xây dựng những định hướng cho công tác chỉ đạo, quản lý về văn hóa các dân tộc thiểu số tỉnh; đồng thời tác giả đề xuất những giải pháp cụ thể nhằm bảo tồn

và phát huy giá trị văn hoá dân gian nơi này trong xu thế hội nhập và phát triển kinh tế xã hội hiện nay

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Luận văn góp phần làm rõ quá trình triển khai và thực hiện công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân gian ở các dân tộc bản địa tỉnh Kon Tum

Trang 12

Luận văn cũng có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và giảng dạy các bộ môn: Văn hóa dân gian, Văn học dân gian, Dân tộc học ở các nhà trường, đồng thời nó còn có thể làm tài liệu tham khảo cho cán bộ hoạch định chính sách và quản lý văn hóa ở tỉnh

8 Kết cấu nội dung cần triển khai

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,

đề tài có kết cấu gồm 3 chương, 7 tiết

Trang 13

Chương 1

LÝ LUẬN CHUNG VỀ GIÁ TRỊ VĂN HÓA DÂN GIAN

VÀ BẢO TỒN, PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA DÂN GIAN

CÁC DÂN TỘC BẢN ĐỊA

1.1 Quan niệm về giá trị văn hóa dân gian

1.1.1 Văn hóa và bản sắc văn hóa

1.1.1.1 Văn hóa

Trong thời đại của mình, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác chưa có điều kiện để xây dựng một lý luận hoàn chỉnh về văn hóa Tuy nhiên, trong nhiều tác phẩm của mình, các ông đã có những kiến giải sâu sắc, đặt nền móng cho lý luận văn hóa mácxít Lý luận mácxít khẳng định con người vừa

là chủ thể vừa là sản phẩm của quá trình phát triển văn hóa Thông qua quá trình hoạt động thực tiễn, con người đã sáng tạo ra thế giới văn hóa, đồng thời

tự sáng tạo ra bản thân mình, tự phát triển những năng lực tiềm tàng trong bản thân mình Những lý luận rất cơ bản của lý luận văn hóa như: quy luật kế thừa

và giao lưu văn hóa, tính dân tộc và tính quốc tế của văn hóa đã được các ông nêu ra và phân tích một cách hết sức khoa học và sâu sắc Ngoài ra, các ông còn khảo cứu rất nhiều về nghệ thuật, về thẩm mỹ

Sau cách mạng tháng Mười, V.I.Lênin có nhiều công lao phát triển lý luận văn hóa mácxít và hiện thực hóa nó trong xây dựng nền văn hóa mới ở nước Nga Người có nhiều công lao cả về lý luận và thực tiễn trong việc xác định rõ mục tiêu, nội dung của cách mạng văn hóa trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội dưới sự lãnh đạo của các Đảng cộng sản

Hồ Chí Minh, người học trò xuất sắc và đầy sáng tạo của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin, vào năm 1943 đã đưa ra một định nghĩa khái quát nhưng sâu sắc về văn hóa, Hồ Chí Minh viết:

Trang 14

Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá Văn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và

đòi hỏi của sự sinh tồn [5; tr 237 - 238]

Đảng ta cũng rất coi trọng vai trò của văn hóa, ngay từ năm 1943, trong

Đề cương văn hóa Việt Nam xác định văn hoá là một trong ba mặt trận: kinh

tế, chính trị, văn hoá của cách mạng Việt Nam Ngày nay Đảng ta khẳng định: văn hoá là nền tảng tinh thần xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy

sự phát triển kinh tế - xã hội

Như vậy, chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh cũng như Đảng ta đều đã đề cập đến văn hóa và vai trò của nó trong cuộc sống

Trong ngôn ngữ của nhân loại, khái niệm văn hóa có nhiều định nghĩa,

có nhiều cách hiểu nhất Hiện có đến vài trăm định nghĩa về văn hóa, tùy vào mỗi góc độ nghiên cứu, cách tiếp cận khác nhau mà người ta đưa ra những định nghĩa khác nhau về văn hóa

Theo Đại từ điển tiếng Việt của Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam - Bộ Giáo dục và đào tạo, do Nguyễn Như Ý chủ biên, Nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin, xuất bản năm 1998, thì: "Văn hóa là những giá trị vật chất, tinh thần do con người sáng tạo ra trong lịch sử"

Trong cuốn Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, PGS.TSKH Trần Ngọc

Thêm cho rằng: Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong

sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình

Trang 15

Như vậy, có nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa, mỗi định nghĩa phản ánh một cách nhìn nhận và đánh giá khác nhau, thế nhưng một định nghĩa được cộng đồng thế giới sử dụng nhiều và qua đó “xác tín”, cập nhật các lĩnh vực Folklore - đó là định nghĩa của UNESCO nêu trong “ Tuyên bố

về chính sách văn hóa” tại Hội nghị quốc tế về chính sách văn hóa của

UNESCO từ ngày 26 7 đến ngày 6 8 1982 ở Mexico:

Văn hóa là tổng thể những nét đặc thù về tinh thần và vật chất, về trí tuệ và xúc cảm quy định tính cách của một xã hội hay của một nhóm xã hội.Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của (tồn tại-being) người, những hệ thống giá trị, những truyền thống và tín ngưỡng.Văn hóa đem lại cho con người khả năng suy xét (reflect-phản tư) về bản thân.Chính văn hóa làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt - con người, có lý tính, có óc phê phán và dấn thân một cách đạo lý Chính nhờ văn hóa mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tự biết mình là một phương án chưa hoàn thành đặt ra để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm kiếm không mệt mỏi những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những công trình vượt qua cả giới

hạn của bản thân [23; tr 35 - 36]

1.1.1.2 Bản sắc văn hóa

Theo từ điển Hán – Việt, “bản” là cái gốc, cái căn bản, cốt lõi, hạt nhân của một sự vật hiện tượng; “sắc” là cái được thể hiện ra bên ngoài; bản sắc văn hóa được cắt nghĩa là sắc thái gốc của một nền văn hóa

Như vậy, có thể hiểu bản sắc văn hóa là sắc thái gốc, như là tấm chứng

minh thư, thẻ căn cước - những đường nét, màu sắc riêng biệt không thể trộn lẫn của một nền văn hóa

Bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam là tổng thể các giá trị đặc trưng của văn hóa dân tộc, do cộng đồng các dân tộc Việt Nam sáng tạo ra, được hình

Trang 16

thành, tồn tại và phát triển trong suốt quá trình lịch sử lâu dài của đất nước,

với các giá trị đặc trưng mang tính bền vững, trường tồn, trừu tượng và tiềm

ẩn Nếu bản sắc văn hóa là cái gì trừu tượng, tiềm ẩn, bền vững thì các sắc

thái biểu hiện của nó thường tương đối cụ thể, bộc lộ và khả biến hơn

Trong chiến lược xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, Đảng ta chỉ rõ:

Bản sắc dân tộc bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp nên qua lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước Đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã - Tổ quốc, lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình, đạo lý, đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động; sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống [14; tr.56] Tóm lại, bản sắc văn hóa làm nên sự khác biệt giữa dân tộc này với dân tộc khác, cộng đồng này với cộng đồng khác Bản sắc văn hóa được biểu hiện trong mọi mặt của đời sống, trong ý thức về cội nguồn dân tộc, trong cảm xúc, suy nghĩ, cách tư duy, lối sống, cách ứng xử, thị hiếu và khát vọng, cách dựng nước và giữ nước, cách sáng tạo nghệ thuật và tất cả các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể

Để giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, người ta đã bàn luận và đưa ra rất nhiều giải pháp Tuy nhiên, có lẽ không giải pháp nào có hiệu quả bằng

việc bảo tồn và phát huy vốn văn hoá dân gian trong lòng xã hội đương đại

Bởi lẽ, văn hoá dân gian chính là vốn “văn hoá gốc” mang tính cốt tử của linh hồn văn hoá dân tộc Một khi làm được điều đó, thì vốn văn hoá dân gian chẳng những không hề là rào cản của quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá hiện nay mà ngược lại sẽ trở thành nguồn động lực xã hội cho chính quá trình

ấy Đây cũng chính là kinh nghiệm quý báu của nhiều quốc gia trên thế giới

mà ngay ở châu Á là Nhật Bản, Hàn Quốc và Thái Lan…

Trang 17

1.1.2 Văn hóa dân gian và giá trị văn hóa dân gian

1.1.2.1 Văn hóa dân gian

Thuật ngữ folklore do nhà nhân chủng học người Anh, ông William Thoms dùng trong bài báo đăng trên tờ Athenaeum, ngày 22 8 1846, với ý nghĩa là những di tích của nền văn hóa vật chất và chủ yếu là di tích của nền văn hoá tinh thần như phong tục, đạo đức, tín ngưỡng, những bài dân ca, những câu chuyện kể của cộng đồng Sau khi xuất hiện, thuật ngữ này được hiểu với nhiều nghĩa rộng hẹp khác nhau, liên quan tới đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học

Ở Việt Nam, thuật ngữ này được dịch là văn hóa dân gian với những ý nghĩa sau :

Nghĩa rộng (tương đương với thuật ngữ folk culture ): bao gồm “toàn

bộ văn hóa vật chất và tinh thần của dân chúng Liên quan tới mọi lĩnh vực

của đời sống dân chúng” [26; tr 19] Theo cách hiểu này, văn hoá dân gian là

đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học, kể cả khoa học tự nhiên và khoa học xã hội, đồng thời nó cũng là đối tượng nghiên cứu của văn hoá học

Nghĩa hẹp (tương đương với thuật ngữ folklore): Chính là “văn hóa

dân gian với nghĩa rộng (folk culture) được tiếp cận từ giác độ thẩm mỹ” [26; tr.25] Nghĩa là những sáng tạo của dân chúng mang tính nghệ thuật Theo nghĩa hẹp, văn hóa dân gian gồm ba thành tố : Nghệ thuật ngữ văn dân gian (tức văn học dân gian), nghệ thuật tạo hình dân gian , nghệ thuật diễn xướng dân gian

Nghĩa chuyên biệt: folklore là văn học dân gian, theo đó tác phẩm

folklore là hình thức ngôn từ gắn với nhạc, vũ, kịch do tập thể dân chúng sáng tác Cũng có thể dùng thuật ngữ folklore văn học để chỉ văn học dân gian đồng thời phân biệt nó với các đối tượng khác cũng thuộc phạm trù folklore - văn hoá dân gian

Trang 18

Từ “dân gian” ở đây có thể chỉ cả phạm vi lưu truyền (trong nhân dân), lực lượng sáng tác (của nhân dân) và đặc tính của loại hình (tính dân gian) Văn hóa dân gian cũng là thuật ngữ được dùng để phân biệt với văn hóa bác học Văn hóa dân gian là văn hóa truyền khẩu, trải qua bao thế hệ nhiều tác phẩm mang tính dị bản Văn hóa bác học do tầng lớp trí thức tạo nên và hầu như không có tính dị bản

Tóm lại, chúng ta có thể hiểu văn hóa dân gian là văn hóa do nhân dân lao động sáng tạo.Văn hóa dân gian nước ta chủ yếu do nông dân, thợ thủ công và một số trí thức Nho học sống gần gũi nhân dân sáng tạo ra.Văn hóa dân gian bao gồm phong tục, nghi lễ dân gian, văn học dân gian, đồ gia dụng trong dân gian… Theo GS Ngô Đức Thịnh, văn hóa dân gian Việt Nam bao gồm các lĩnh vực sau:

Ngữ văn dân gian bao gồm: Tự sự dân gian (thần thoại, cổ tích, truyền thuyết, truyện cười, ngụ ngôn, vè, sử thi, truyện thơ… Trữ tình dân gian (ca dao, dân ca); Thành ngữ, tục ngữ, câu đố dân gian

Nghệ thuật dân gian bao gồm: Nghệ thuật tạo hình dân gian (kiến trúc dân gian, hội họa dân gian, trang trí dân gian…); nghệ thuật biểu diễn dân gian (âm nhạc dân gian, múa dân gian, sân khấu dân gian, trò diễn…)

Tri thức dân gian bao gồm: Tri thức về môi trường tự nhiên (địa lý, thời tiết, khí hậu…); tri thức về con người (bản thân): y học dân gian và dưỡng sinh dân gian; tri thức ứng xử xã hội (ứng xử cá nhân và ứng xử cộng đồng); tri thức sản xuất (kỹ thuật và công cụ sản xuất)

Tín ngưỡng, phong tục và lễ hội: Các lĩnh vực nghiên cứu trên của văn hóa dân gian nảy sinh, tồn tại và phát triển với tư cách là một chỉnh thể nguyên hợp, thể hiện tính chưa chia tách giữa các bộ phận (ngữ văn, nghệ thuật, tri thức, tín ngưỡng phong tục…), giữa hoạt động sáng tạo và hưởng thụ trong sinh hoạt văn hóa, giữa sáng tạo văn hóa nghệ thuật và đời sống lao động của nhân dân

Trang 19

1.1.2.2 Giá trị văn hóa dân gian

- Khái niệm giá trị

Giá trị là một thuật ngữ khoa học mà nhiều bộ môn khác nhau đề cập tới như xã hội học, triết học, tâm lý học, văn hóa học Mỗi bộ môn có cách tiếp cận khái niệm này một cách khác nhau

Theo Đại Từ điển Tiếng Việt, giá trị được định nghĩa như sau:

Giá trị là: 1- Cái được xác định có ích, có hiệu quả trong cuộc sống vật chất và tinh thần 2 - Xác định hiệu lực của một việc làm 3 - Kết quả của mọi điều kiện để sản xuất ra hàng hóa 4 - Số đo của một đại lượng hay số được thay thế bằng ký hiệu

Trong đề tài này, giá trị được hiểu theo nghĩa 1 [67; tr 725]

Theo Từ điển Triết học của Liên Xô, định nghĩa: Giá trị - Những định

nghĩa về mặt xã hội của các khách thể trong thế giới chung quanh, nhằm nêu bật tác dụng tích cực hoặc tiêu cực của các khách thể ấy đối với con người và

xã hội (cái lợi, cái thiện và ác, cái xấu nằm trong những hiện tượng xã hội hoặc đời sống tự nhiên) [50; tr 206]

Theo I.H.Fichter - nhà xã hội học Hoa Kỳ: “Tất cả cái gì có lợi ích, đáng ham chuộng, đáng kính phục đối với cá nhân hoặc xã hội đều có một giá trị”

Trong cuốn những “ Những giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam ” GS.TS Ngô Đức Thịnh trên cơ sở nghiên cứu chuyên sâu đã đề xuất định nghĩa tương đối toàn diện về khái niệm giá trị Theo ông : giá trị là quan niệm

về cái có ý nghĩa, được cộng đồng xã hội lựa chọn, cùng nhau chia sẻ và tôn vinh Đối với mỗi thành viên trong nhóm, giá trị là cái đáng ước ao, cần phải ước ao và khi đạt được sẽ bùng nở sự thăng hoa tinh thần Chính vì vậy, thực thi giá trị có tác dụng điều tiết đối với hoạt động của con người, tìm hiểu giá trị giúp ta tiếp cận với các động lực ẩn tàng trong đời sống xã hội

Như vậy có thể hiểu, giá trị bao gồm tất cả những gì có ích cho mọi người, cho cộng đồng, cho quốc gia dân tộc và cho nhân loại

Trang 20

- Giá trị văn hóa dân gian

Theo sách “Giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa Tây Nguyên” của Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, “Giá trị văn hóa là cái dùng để căn cứ vào đó mà xem xét, đánh giá, so sánh nền văn hóa dân tộc này với nền văn hóa dân tộc khác, là cái để xác định bản sắc văn hóa của một dân tộc, những nét đặc thù

về truyền thống, phong tục, tập quán, lối sống, nếp sống của một dân tộc trên

nền tảng: ích, chân, thiện, mỹ”[52; tr 19]

Từ định nghĩa về văn hóa dân gian, định nghĩa về giá trị và giá trị văn hóa,

chúng ta có thể hiểu: Giá trị văn hóa dân gian là hệ giá trị, bao gồm những mặt

tích cực của văn hóa dân gian, phù hợp với nhu cầu và lợi ích của cộng đồng, của dân tộc; do quần chúng nhân dân lao động sáng tạo ra trong quá trình lịch

sử nhằm hướng con người tới chuẩn giá trị chân - thiện - mỹ

Nói đến giá trị văn hóa dân gian là nói đến hệ giá trị văn hóa Trong hệ giá trị đó, dưới góc độ chính trị - xã hội, có thể kể đến các giá trị cơ bản sau:

Thứ nhất, văn hóa dân gian có giá trị vun đắp tình yêu quê hương đất nước, hướng về cội nguồn

Tình yêu quê hương đất nước là giá trị cơ bản trong hệ giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam nói chung và trong văn hóa dân gian Việt Nam nói riêng Đối với dân tộc ta, tình yêu quê hương, đất nước không chỉ là một tình cảm tự nhiên, mà nó còn là sản phẩm hun đúc từ chính lịch sử đau

thương mà hào hùng của dân tộc

Trong lịch sử nước ta, văn hóa dân gian là sức mạnh tinh thần to lớn trong việc xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc Đó là sức mạnh đã duy trì và phát triển bản lĩnh dân tộc, nuôi dưỡng ngọn lửa đấu tranh không bao giờ tắt

Ta bắt gặp trong văn hóa dân gian Việt Nam, ở nước ta đâu đâu cũng thấy các phong tục thờ các anh hùng dân tộc, tưởng nhớ tổ tiên, đâu đâu cũng thấy những sinh hoạt văn hóa, văn nghệ dân gian như lễ thức, lễ hội, những công trình kiến trúc như đình, chùa, những câu ca dao, tục ngữ, thần thoại,

Trang 21

truyền thuyết nhằm tôn vinh các anh hùng dân tộc, nâng cao lòng tự hào dân tộc, khẳng định bản lĩnh dân tộc Điều này sẽ giúp thế hệ sau thấy được lịch sử hào hùng của dân tộc, giáo dục thế hệ sau tưởng nhớ đến công lao của những người đi trước, giáo dục đạo lý uống nước nhớ nguồn , ra sức học tập

và cống hiến để xây dựng bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ những thành quả của quê hương, đất nước

Hiện nay, chúng ta được sống trong hòa bình, song đời sống của đa số nhân dân vẫn còn khó khăn, cơ sở vật chất còn thiếu thốn, khoa học công nghệ vẫn còn lạc hậu, sự nghèo đói vẫn còn hiện hữu, vì vậy vấn đề phát huy tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội là vô cùng cần thiết để tiến tới một

xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh Hơn bao giờ hết, những giá trị văn hóa dân gian lúc này lại càng cần được phát huy

Thứ hai, văn hóa dân gian tạo nên sự gắn kết cộng đồng

Cố kết cộng đồng, đoàn kết dân tộc là một giá trị tinh thần to lớn của dân tộc ta, được hun đúc, bồi đắp qua hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước Nó trở thành giá trị bền vững, là một trong những nhân tố quyết định sự tồn vong của dân tộc qua suốt chiều dài lịch sử

Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta gắn liền với quá trình chống thiên tai, đắp đê trị thủy để phát triển sản xuất Để chiến thắng lũ lụt, hạn hán, phát triển kinh tế mà nông nghiệp trồng lúa nước là chính, thì cần phải có tinh thần cố kết cộng đồng Để có đủ sức mạnh chiến thắng những thế lực ngoại xâm, nếu không có tinh thần đoàn kết dân tộc, làm sao chúng ta có thể viết nên những trang sử vẻ vang, hào hùng trong lịch sử dân tộc Trong công cuộc đổi mới mà chúng ta đang thực hiện, thực chất là một cuộc cách mạng cam go và quyết liệt không kém các cuộc đấu tranh giành độc lập trong lịch sử Để hoàn thành cuộc cách mạng đó không thể thiếu sự đồng tâm hiệp lực, sự gắn kết cộng đồng, sự đoàn kết của toàn dân tộc

Trang 22

Hơn ở bất cứ đâu, trong văn hóa dân gian, chúng ta thấy rất rõ những giá trị gắn kết cộng đồng, đoàn kết dân tộc Từ văn học dân gian như ca dao, tục ngữ, thành ngữ:

“Một cây làm chẳng nên non

Ba cây chụm lại nên hòn núi cao”

“Bầu ơi thương lấy bí cùng Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”

“Nhiễu điều phủ lấy giá gương Người trong một nước phải thương nhau cùng”

“Lá lành đùm lá rách”

Cho đến những thần thoại, truyền thuyết được lưu truyền từ đời này qua đời khác (Lạc Long Quân – Âu cơ), truyện cổ tích, lễ hội , phong tục , nghệ thuật đều thể hiện ý thức cộng đồng, giáo dục tinh thần đoàn kết

Hiện nay, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm tới việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa của các dân tộc, hàng năm lấy ngày 19 tháng 4 làm

“ngày văn hóa các dân tộc Việt Nam” Quyết định này có ý nghĩa giáo dục

truyền thống yêu nước, lòng tự hào dân tộc, tôn vinh những nét văn hóa đặc sắc của mỗi dân tộc, mỗi vùng miền trong 54 dân tộc anh em Từ đó, các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam càng gần gũi, sát cánh bên nhau thành một khối đại đoàn kết vững chắc để chung sức chung lòng xây dựng đất nước xã hội chủ nghĩa ngày càng giàu đẹp Sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc hiện nay có thành công hay không phụ thuộc rất nhiều vào việc phát huy được hay không sức mạnh của tinh thần đoàn kết dân tộc, khơi dậy những giá trị gắn kết cộng đồng trong văn hóa dân gian

Thứ ba, giá trị đạo đức trong văn hóa dân gian

Giá trị đạo đức trong văn hóa dân gian ở đây muốn đề cập đến lòng yêu thương con người, sự khoan dung độ lượng, chống lại cái ác, hướng tới cái thiện vì quyền tự do và hạnh phúc cao cả của con người.Trong hệ giá trị tinh

Trang 23

thần của người Việt, giá trị đạo đức là một trong những giá trị đáng quý, được hình thành từ chính các điều kiện lịch sử - xã hội của dân tộc, đồng thời là sự

kế thừa những yếu tố tích cực trong các học thuyết Nho, Phật, Lão và học thuyết Mác – lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, những học thuyết này đều hướng con người tới điều nhân nghĩa, lương thiện

Từ xa xưa, trong văn hóa dân gian nước ta, truyền thuyết Lạc Long Quân

và Âu Cơ đã thể hiện rằng, tất cả những người con đất Việt đều được sinh ra trong cùng một bọc từ một mẹ, có nghĩa là mọi người đều có chung nguồn gốc, coi nhau như anh em một nhà, đồng cam cộng khổ Tình yêu thương máu mủ

ruột thịt trong gia đình được mở rộng ra xóm làng và cả nước:

“Chị ngã em nâng”

“Lá lành đùm lá rách”

“ Thương người như thể thương thân”

“Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ”

“Nhiễu điều phủ lấy giá gương Người trong một nước phải thương nhau cùng”

Trải qua trường kỳ lịch sử, giá trị đạo đức đó đã trở thành một truyền thống quý báu của dân tộc Tình yêu thương con người đã ăn sâu vào nếp nghĩ, cách sống của người Việt, không chỉ thể hiện ở tình cảm, hành động trong cuộc sống hằng ngày của những người cùng huyết thống, cùng dân tộc

mà còn thể hiện ở tấm lòng vị tha đối với kẻ thù xâm lược khi chúng bị bại trận Lịch sử đã từng ghi lại những ứng xử nhân đạo của ông cha ta, họ luôn

đối xử tử tế, mở đường hiếu sinh, bởi vì theo ông cha ta thì “đánh kẻ chạy đi

không đánh kẻ chạy lại”, Nguyễn Trải cũng từng viết: “Lấy đại nghĩa để thắng hung tàn, lấy chí nhân để thay cường bạo”.Tính nhân văn - lòng

thương người đã trở thành một giá trị đạo đức đặc trưng trong đời sống con người Việt Nam, nó gắn với tình yêu thương đồng loại

Trang 24

Trong điều kiện hiện nay, trước xu thế toàn cầu hóa, ảnh hưởng của lối sống thực dụng, chạy theo lợi nhuận, quá đề cao lợi ích cá nhân làm cho những giá trị đạo đức có nguy cơ bị đe dọa Trước tình hình đó, kế thừa và phát huy giá trị đạo đức trong văn hóa dân gian ở nước ta vừa tạo nên sức mạnh cho dân tộc, vừa khẳng định tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa

mà chúng ta đang xây dựng

Thứ tư, giá trị thỏa mãn đời sống tinh thần của nhân dân lao động

Là sáng tạo của nhân dân, văn hóa dân gian phản ánh và biểu hiện đời sống của nhân dân lao động và thế giới tinh thần, tình cảm, trí tuệ của họ Văn hóa dân gian như không khí, như nước, như máu thịt có một vai trò to lớn đối với đời sống nhân dân Quần chúng nhân dân đang hàng ngày, hàng giờ tắm mình trong dòng sông văn hóa dân gian Ngay khi mới lọt lòng mẹ, chúng ta đã được tiếp xúc với văn hóa dân gian qua lời ru của mẹ, của bà, của chị Lời hát ru thường là những bài ca dao, dân ca đặc sắc có giá trị nhân văn

về tình yêu quê hương đất nước, tình mẫu tử, phụ tử thiêng liêng, tình anh em gắn bó keo sơn, tình đồng bào, đồng chí Lớn lên, dù vui hay buồn, thất bại hay thành công, dù nghèo hay giàu mọi người đều tìm đến với văn hóa dân gian Nếu muốn vui chơi, giải trí người ta đi lễ hội, nếu muốn giải hạn đen đủi người ta lên chùa cầu xin, nếu muốn chữa bệnh người ta tìm đến những phương thuốc dân gian

Cuộc sống của nhân dân lao động còn đó những khó khăn vất vả, nhưng qua những câu truyện cười, những bài hát dân ca, điệu múa, những hội

hè, những trò chơi dân gian là vơi đi những mệt nhọc, giảm nhẹ sự vất vả của công việc, làm cho cuộc sống có nhiều tiếng cười hơn, tinh thần sảng khoái hơn, tin tưởng vào tương lai hơn Tất cả mọi người, không phân biệt giàu nghèo, sang hèn, không phân biệt tín ngưỡng, giai cấp, đều được sống và lao động, vui chơi và sáng tạo trong bầu không khí văn hóa dân gian

Trang 25

Thiết nghĩ, hiện nay, sống trong bối cảnh cơ chế thị trường, một cơ chế với những sự cạnh tranh gay gắt, dưới sự cám dỗ của vật chất, có nhiều người

để giành được lợi ích, địa vị, người ta sẵn sàng bon chen, dẫm đạp lên nhau, những giá trị đạo đức, phẩm hạnh của con người nhiều lúc và nhiều nơi đang

bị xem nhẹ, mọi trao đổi đều thông qua đồng tiền sự biến đổi giá trị như vậy làm cho cuộc sống của nhiều người rơi vào trầm cảm, bế tắc, nhiều gia đình tan vỡ hoặc thiếu vắng tiếng cười Trong điều kiện như vậy, nếu biết khai thác và phát huy những giá trị của văn hóa dân gian, đặc biệt là những giá trị về mặt tinh thần, có lẽ cuộc sống sẽ nhẹ nhàng hơn, êm ấm và hạnh phúc hơn

Văn hóa dân gian cũng là nơi thể hiện tiếng lòng của nhân dân lao động, những tâm tư, nguyện vọng, tình cảm, ước mơ, niềm tin của nhân dân đều bộc lộ qua đây Trong xã hội Xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang xây dựng là một xã hội dân chủ, một xã hội “vì dân”, để phục vụ tốt cho nhân dân thì phải hiểu được dân tâm, nắm được dân tình, biết về dân sinh Và thông

qua văn hóa dân gian chúng ta có thể “tìm hiểu dân phong, nắm vững dân

tình” và trên cơ sở các dữ liệu ấy tìm ra phương hướng thích đáng để “ban bố

chính lệnh”, phát huy quyền làm chủ của nhân dân trên mọi lĩnh vực, nhất là sức sáng tạo và hưởng thụ văn hóa, để qua đó khơi dậy sức mạnh của nhân dân trong công cuộc xây dựng chế độ mới hiện nay

Thứ năm, giá trị giáo dục và định hướng cho các mục tiêu và hành động của con người

Những câu ca dao, tục ngữ, thành ngữ, những phong tục tập quán, truyện ngụ ngôn, thần thoại, truyện cười, các di tích lịch sử, lễ hội trong văn hóa dân gian mang ý nghĩa giáo dục con người sống cho đúng luân thường đạo lý, sống lạc quan, đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau, giáo dục tinh thần yêu quê hương đất nước, nhớ về cội nguồn Ví dụ:

Trang 26

“Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”

“Công cha như núi thái sơn Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra

Một lòng thờ mẹ kính cha Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con”

“Ăn trông nồi, ngồi trông hướng”

“Tay làm hàm nhai, tay quai miệng trễ”

“Lời nói chẳng mất tiền mua Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”

“Chớ than phận khó ai ơi Còn da lông mọc, còn chồi nảy cây”

“Anh em như thể tay chân Rách lành đùm bọc, dở hay đỡ đần”

“Ai ơi bưng bát cơm đầy Dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần” Văn hóa dân gian cũng định hướng cho mục tiêu và hành động của con người, ví dụ người Việt Nam thấm nhuần tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, từ đó trong các gia đình mọi người đều lập bàn thờ cúng tổ tiên như cụ, ông bà, cha

mẹ Trong suy nghĩ và hành động họ hướng tới sự hiếu thảo, lòng biết ơn đến tổ tiên, ông bà, cha mẹ đã sinh thành, nuôi dưỡng, tới đạo lý uống nước nhớ nguồn hay một niềm tin chắc chắn về linh hồn người đã khuất ở thế giới bên kia

Những câu chuyện cổ tích như Tấm Cám, Cây khế, Sự tích trầu cau,

Lấy vợ Cóc cũng như những câu chuyện ngụ ngôn Ếch ngồi đáy giếng, Mèo lại hoàn mèo , những truyền thuyết như truyền thuyết An Dương Vương, Hai Bà Trưng, Lý Bí đều có ý nghĩa khuyên răn, giáo dục con

người về cách sống, về tình nghĩa, yêu quê hương đất nước, tình yêu đôi lứa

Trang 27

Những câu chuyện, ca dao, tục ngữ trong văn hóa dân gian làm cho tâm hồn con người trong sáng hơn, mộc mạc và giản dị nhưng làm cho con người ta sống với nhau có tình có nghĩa hơn, phù hợp với truyền thống đạo đức của dân tộc ta Nội dung này của văn hóa dân gian rất gần gũi với bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang xây dựng là xóa bỏ sự áp bức bóc lột giữa người và người, tạo sự tự do và bình đẳng, sống với nhau có tình người

Thứ sáu, những giá trị kinh tế của văn hóa dân gian

Bên cạnh những giá trị vô hình, văn hóa dân gian cũng đem lại những giá trị hữu hình như đem lại nguồn GDP to lớn cho đất nước hàng năm Ví dụ như lễ hội dân gian Lễ hội là một trong những thành tố của văn hóa dân gian, mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc, góp phần làm nên “tuyên ngôn độc lập”

về văn hóa Lễ hội góp phần mang lại lợi ích kinh tế, phát triển du lịch Hàng năm có một lượng lớn khách du lịch đến Việt Nam làm tăng nguồn GDP cho đất nước trong đó có một phần quan trọng là do chúng ta có kho tàng lễ hội phong phú, độc đáo

Trong chiến lược kinh tế - xã hội ở nước ta hiện nay, việc nghiên cứu văn hóa dân gian có thể giúp ích cho việc tìm cách nâng cao chất lượng sản phẩm trong một số lĩnh vực, nhất là trong những ngành thủ công mỹ nghệ, và những ngành sản xuất văn hóa phẩm cao cấp Nếu biết phát huy những kinh nghiệm và tài năng của các nghệ nhân thì những ngành sản xuất này có thể đưa lại lợi nhuận lớn Cùng một số vốn đầu tư như nhau thì các ngành thủ công mỹ nghệ có thể đưa lại lợi nhuận lớn gấp bội nhiều ngành sản xuất khác

Ngành nghiên cứu văn hóa dân gian có thể cùng với các ngành nghệ thuật học, các ngành công nghệ học góp phần vào việc tìm ra phương hướng đúng và cách thức thích hợp để cho những kinh nghiệm lâu dần, những tài năng đã hình thành và đang hình thành trong các ngành sản xuất thủ công, mỹ nghệ có thể phục vụ cho việc xây dựng nền kinh tế quốc dân hiện nay Những sản phẩm văn hóa cao cấp và những sản phẩm mỹ nghệ đang đáp ứng nhu cầu

Trang 28

văn hóa ngày càng cao của nhân dân ta, hơn nữa những sản phẩm đó lại còn

có giá trị xuất khẩu Nếu nâng cao được trình độ thẩm mỹ của các sản phẩm

ấy, đặc biệt là tận dụng một cách sáng tạo chất liệu dân gian, chất liệu dân tộc thì có thể tạo ra một nguồn hàng xuất khẩu quan trọng, góp phần đáng kể vào việc tích lũy vốn cho Nhà nước

1.2 Nội dung, phương thức và các yếu tố ảnh hưởng đến việc bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa hóa dân gian các dân tộc bản địa

1.2.1 Nội dung và phương thức của việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa hóa dân gian các dân tộc bản địa

Bảo tồn: Theo từ điển Tiếng Việt cắt nghĩa: “Bảo tồn là giữ lại không

để cho mất đi” Bảo tồn nghĩa là không để mai một, không để bị thay đổi, biến

hóa hay biến thái Như vậy bảo tồn văn hóa là lưu giữ lại những giá trị văn

hóa gốc, nhằm thúc đẩy sự phát triển của văn hóa

Có 2 dạng bảo tồn:

Bảo tồn ở dạng “tĩnh” (hoặc bảo tồn nguyên vẹn):

Bảo tồn dạng “tĩnh” hay bảo tồn nguyên vẹn giá trị văn hóa vật thể là vận dụng thành quả khoa học kỹ thuật, công nghệ hiện đại đảm bảo giữ nguyên trạng hiện vật như sự vốn có

Bảo tồn giá trị văn hóa phi vật thể ở dạng “tĩnh” là tiến hành điều tra, sưu tầm, thu thập các dạng thức văn hóa phi vật thể như nó hiện có theo quy trình khoa học nghiêm túc, chặt chẽ, “giữ” chúng trong sách vở, các ghi chép,

mô tả bằng băng hình (video), băng tiếng (audio), ảnh Tất cả các hiện tượng văn hóa phi vật thể này có thể lưu giữ trong các kho lưu trữ, các viện bảo tàng

Bảo tồn dạng “động” (bảo tồn trên cơ sở kế thừa):

Các di sản văn hóa vật thể sẽ được bảo tồn trên tinh thần giữ gìn những nét cơ bản của di tích, cố gắng phục chế lại nguyên trạng di sản văn hóa vật thể bằng nhiều kỹ thuật hiện đại Đối với di sản văn hóa phi vật thể, bảo tồn

“động” trên cơ sở kế thừa là bảo tồn các hiện tượng văn hóa đó ngay chính

Trang 29

trong đời sống cộng đồng Bởi lẽ, cộng đồng không những là môi trường sản sinh ra các hiện tượng văn hóa phi vật thể mà còn là nơi tốt nhất để giữ gìn, bảo vệ, làm giàu và phát huy văn hóa phi vật thể trong đời sống xã hội theo thời gian

Phát huy : Theo Từ điển Tiếng Việt: “phát huy là làm cho cái hay, cái

tốt tỏa sáng tác dụng và tiếp tục nảy nở thêm” Như vậy chúng ta có thể hiểu phát huy giá trị văn hóa chính là phát triển những giá trị văn hóa tốt đẹp và hấp thụ những cái mới của văn hóa tiến bộ

Người bản địa hay dân tộc bản địa là những người hay dân tộc sống

nguyên thủy và đầu tiên hay là lâu đời tại một địa phương nào đó

Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân gian các dân tộc bản địa là lưu

giữ lại những giá trị văn hóa dân gian ở các dân tộc bản địa, qua đó phát triển những giá trị tốt đẹp của văn hóa gốc và giao lưu với những nền văn hóa khác

để hấp thụ giá trị mới tiến bộ

Theo Nguyễn Khoa Điềm, trong xã hội đương đại, văn hoá dân gian

vẫn phải được bảo tồn và phát huy vì nó chính là “bộ gien của văn hoá dân

tộc”, là “vườn ươm cho văn nghệ chuyên nghiệp, là sự giữ gìn cốt cách bền vững của dân tộc” Do đó việc sưu tầm và nghiên cứu văn hoá dân gian chính

là cách “biến di sản quá khứ thành tài sản hôm nay” Văn hoá và văn hoá dân gian được phát huy đúng mức sẽ là “nguồn năng lượng nuôi dưỡng sức mạnh

kinh tế và chính trị mỗi quốc gia để vượt qua thử thách, khai thác thời cơ”

Nội dung và phương thức của bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân gian các dân tộc bản địa gồm:

1.2.1.1 Sưu tầm và lưu giữ những giá trị văn hóa dân gian

Theo từ điển Tiếng Việt (Trung tâm từ điển học Vietlex) thì sưu tầm có nghĩa là tìm kiếm, thu thập một cách có hệ thống Lưu giữ có nghĩa là giữ lại lâu dài (để khi cần có thể sử dụng được)

Trang 30

Khối lượng, số lượng di sản văn hóa dân gian của các dân tộc bản địa nước ta là vô cùng lớn đòi hỏi phải xây dựng những kế hoạch cụ thể như kiểm

kê, nghiên cứu và hệ thống hóa tư liệu Cần tổng kiểm kê toàn bộ các loại hình di sản truyền thống cả vật thể và phi vật thể trên toàn quốc Trên cơ sở

đó, phân loại, xếp hạng các loại hình di sản văn hóa Cần nắm rõ loại hình di sản nào đã biến mất hoặc đang có nguy cơ mai một, loại hình nào đang tồn tại, phát triển để có giải pháp hợp lý Mục đích của việc kiểm kê là để nhận diện, xác định giá trị, sức sống của các di sản từ đó đề xuất khả năng bảo tồn

và phát huy

Đối với một số loại hình di sản văn hóa dân gian có thể sưu tầm bằng việc ghi chép Việc ghi chép tuy có những hạn chế nhất định song đã giúp chúng ta lưu giữ được một khối lượng di sản văn hóa truyền thống đáng kể như: Văn học dân gian, văn bia, địa chí, hương ước, nghi lễ, lễ hội, phong tục tín ngưỡng, nghề truyền thống Đối với công việc ghi chép sưu tầm văn hóa dân gian như thế này mọi người, mọi nhà đều có thể thực hiện được Ngày nay, công tác sưu tầm đã có sự hỗ trợ đắc lực của máy móc hiện đại như máy ảnh, máy ghi âm, máy quay phim Ngoài những nhà hoạt động chuyên nghiệp, chúng ta có thể huy động rất nhiều lực lượng khác vào công tác sưu tầm văn hóa dân gian như học sinh, sinh viên, các nhà nghiên cứu, các nhà quản lý, những người làm công tác bảo tồn văn hóa dân gian, đặc biệt là nhân dân ở các địa phương Trong công tác sưu tầm văn hóa dân gian, một số nguyên tắc cần đặt ra là tôn trọng sự thực khách quan, ghi chép trung thực, chính xác, đầy đủ, thận trọng, tránh sự ngụy tạo

Sưu tầm nhằm mục đích là lưu giữ lại để khi cần thì có thể sử dụng và phát huy giá trị của nó, lưu lại những giá trị văn hóa truyền thống cho thế hệ mai sau, giữ lại bản sắc văn hóa dân tộc Chúng ta có thể lưu giữ tại bảo tàng, nhà văn hóa, các trung tâm văn hóa Hiện nay, để lưu giữ lâu dài cần sự hỗ trợ của các thiết bị hiện đại như máy ghi âm, quay phim, chụp ảnh Và quan

Trang 31

trọng nhất, để lưu giữ được lâu dài thì phải làm cho những giá trị văn hóa đó

“sống” trong cộng đồng, tức là phải làm cho những giá trị văn hóa dân gian tồn tại và phát huy được, gắn với đời sống và những sinh hoạt văn hóa của nhân dân

1.2.1.2 Tôn tạo và phục dựng những giá trị văn hóa dân gian

Theo từ điển tiếng Việt (trung tâm từ điển học Vietlex - Nxb Đà Nẵng,

Hà Nội, 2010) thì tôn tạo nghĩa là sửa chữa, làm lại những chổ hư hỏng để bảo tồn di tích lịch sử Vd: Trùng tu và tôn tạo lại ngôi chùa cổ

Phục dựng là khôi phục và dàn dựng lại cho giống như thật

Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, mỗi dân tộc đều có những giá trị văn hoá độc đáo, phong phú mà ngày nay vẫn luôn cần được bảo tồn Đó là: Những phong tục tập quán, cưới xin, lễ tục, lễ hội, kiến trúc nhà cửa, trang phục; các sản phẩm thủ công, mỹ nghệ, nghệ thuật biểu diễn…, đặc biệt là các

lễ hội mang nét văn hóa chung của các dân tộc, có ý nghĩa cầu phúc, cầu lộc, cầu mùa, mong muốn cuộc sống ngày càng tốt đẹp, tôn vinh các nhân vật lịch

sử có công lao chống giặc ngoại xâm, giữ gìn đất nước Qua thời gian và sự giao thoa văn hóa mạnh mẽ mạnh mẽ nên nhiều lễ hội cũng như các hình thức văn hóa dân gian khác đã bị mai một, mất dần trong đời sống của người dân

Yêu cầu đặt ra là cần phục dựng và duy trì nhằm đáp ứng yêu cầu sinh hoạt văn

hóa của nhân dân Đối với lễ hội, ở đây cũng yêu cầu phải tránh tình trạng

ở một số địa phương khôi phục lễ hội còn thiếu kinh nghiệm nên dẫn đến tình trạng tổ chức lễ hội chưa đúng nghi thức cổ truyền, cá biệt còn rườm rà, kém hiệu quả, chưa tạo sức hấp dẫn với đông đảo nhân dân; chưa có những sản phẩm truyền thống mang đặc trưng vùng; chưa xây dựng được lực lượng Nghệ nhân là những người tham gia giữ gìn, bảo tồn, phục dựng lễ hội tại cơ sở;

Trải qua sự thăng trầm của thời gian, của lịch sử, chiến tranh tàn phá nên nhiều đền miếu và các di tích lịch sử nay chỉ còn lại nền móng, bởi vậy việc trùng tu tôn tạo các di tích văn hoá lịch sử từng có trước đây trên quê

Trang 32

hương là rất quan trọng, phục dựng lại nguyên bản để làm nơi thờ tự gìn giữ, tôn vinh những nét truyền thống văn hoá

Khi phục dựng và tôn tạo các di tích lịch sử văn hóa cũng như lễ hội và các hình thức văn hóa dân gian khác cần chú ý không được làm tổn hại, giảm giá trị văn hóa, giá trị lịch sử và thẩm mỹ của nó, cần phải bảo đảm tính nguyên gốc

1.2.1.3 Tiếp biến những giá trị mới trên nền tảng giá trị cũ của văn hóa dân gian

Theo sách Từ điển văn hóa dân gian, tiếp biến văn hóa (đan xen văn hóa) là thuật ngữ mới để chỉ vào hiện tượng của các thực thể chịu những ảnh hưởng văn hóa khác nhau, trái ngược hay đồng quy để tạo nên những diện mạo, những sắc thái mới Tác phẩm Folklore cho thấy sự đan xen rõ rệt hơn

cả Trong cùng một sự kiện, hiện tượng hay tác phẩm, có thể thấy những sáng tạo của nhiều người, nhiều thời đại, nhiều địa phương chồng chất lên nhau,

mà vẫn kết hợp với nhau một cách tự nhiên, sinh động Theo dõi sự đan xen, tiếp biến này qua điều tra thực địa vận dụng nhiều tri thức khoa học các ngành liên quan, có thể nhận ra các lớp văn hóa trên một thực thể nhất định Ví dụ: xem xét Hội Gióng, có thể thấy những dấu vết về việc thờ cúng thổ thần, những tín hiệu của các thời đại văn hóa Thăng Long, Đại Việt cùng những biểu hiện của các sinh hoạt văn hóa khác nhau

Để phát huy giá trị văn hóa nói chung và giá trị văn hóa dân gian nói riêng thì một trong những vấn đề then chốt là phải giao lưu và tiếp nhận các giá trị văn hóa với các dân tộc khác, cũng như phải tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại để bồi bổ thêm cho văn hóa dân tộc những giá trị mới, phù hợp với quy luật phát triển chung của thế giới, đồng thời với quá trình đó là quảng

bá văn hóa dân tộc ra nước ngoài Giữa các nền văn hóa luôn có sự giao lưu, vay mượn nhau, tiếp nhận nhau, đó là một hiện tượng phổ biến và tất yếu, bởi

vì tự khép kín là làm trái quy luật phát triển, làm cho nền văn hóa trở nên

Trang 33

nghèo nàn, đơn điệu Văn hóa dân gian cũng như văn hóa nói chung không phải là những giá trị bất biến, mà luôn có những giá trị mới được hình thành, bồi tụ trong quá trình hội nhập, tiếp biến giữa các nền văn hóa Đã có thời kỳ chúng ta thực hiện “bế quan tỏa cảng” trước những làn sóng văn minh, văn hóa phương Tây, kết quả là một thời gian dài trì trệ, và khi thực hiện “mở cửa” thì ai cũng nhận ra tác dụng của hội nhập Trong quá trình tiếp biến văn hóa, phải luôn quán triệt quan điểm là tiếp thu tinh hoa, “gạn đục khơi trong” với bộ óc tỉnh táo, không tự ti dân tộc và kiên quyết bài trừ những luồng văn hóa độc hại Hòa nhập nhưng không được “hòa tan” Nhật Bản và Hàn Quốc

là những tấm gương sống động về việc giao lưu văn hóa trên cơ sở giữ gìn và

phát huy bản sắc dân tộc

1.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa dân gian các dân tộc bản địa

1.2.2.1 Các yếu tố khách quan

- Toàn cầu hóa văn hóa

Đây là xu thế khách quan, ảnh hưởng sâu sắc đến toàn bộ nền văn hóa nói chung và văn hóa dân gian của các dân tộc bản địa ở nước ta nói riêng Sự tác động của toàn cầu hóa văn hóa theo cả hai chiều thuận và nghịch

Cái lợi của toàn cầu hoá về văn hoá chính là sự đa nguyên về văn hoá,

giúp các nền văn hoá có cơ hội đến với nhau để giao lưu tiếp biến và thông qua đó tăng thêm nội lực và sức sáng tạo cho mình Các giá trị văn hóa dân tộc và văn hóa dân gian sẽ có cơ hội thể hiện, quảng bá những nét đẹp truyền thống đến với các dân tộc trên toàn cầu, các giá trị văn hóa đó cũng được tôi luyện và thử thách mình trước các dân tộc khác

Thông qua toàn cầu hóa văn hóa sẽ góp phần làm cho các giá trị văn hóa dân tộc cũng như văn hóa dân gian được bổ sung thêm, phong phú hơn, tiên tiến và hiện đại hơn Các giá trị văn hóa không phải là bất biến, quá trình toàn cầu hóa là cơ hội để chúng ta tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại,

Trang 34

hình thành nên những giá trị mới phù hợp với xu thế phát triển của thời đại, điều này cũng tạo nên sự đồng cảm, hiểu biết và xích lại gần nhau giữa dân tộc Việt Nam với các dân tộc khác trên thế giới

Toàn cầu hoá văn hóa cũng giúp hoạt động sáng tạo văn hoá trở nên hiệu quả hơn, quá trình hưởng thụ văn hóa cũng dễ dàng hơn, đa dạng hơn

Tuy nhiên, bên cạnh những tác động tích cực đó, toàn cầu hóa văn hóa cũng đặt ra nhiều thách thức cho sự phát triển văn hóa

Trước hết, quá trình này sẽ làm giảm tính đa dạng về văn hóa Trong diễn văn đọc ngày 21 tháng giêng năm 1988 nhân lễ phát động thập kỷ quốc

tế phát triển văn hóa, Tổng giám đốc UNESCO, ông F Mayor nêu rõ:

Sự quốc tế hóa không ngừng và sự gia tốc ngày càng tăng của nhịp sống thực tế đang tạo ra hai vấn đề mâu thuẫn nhau: một mặt, sự bùng nổ của công nghệ thông tin, sự hợp tác kinh tế quốc tế, sự trao đổi văn hóa và du lịch đó đã thúc đẩy các quốc gia ngày càng xích lại gần nhau hơn, mở mang sự hiểu biết về chân trời văn hóa và tri thức của nhau Mặt khác, bên cạnh đó là sự tác động ghê gớm về nguy cơ san bằng và đồng nhất hóa các tiêu chuẩn, các hệ thống giá trị, đe dọa làm suy kiệt khả năng sáng tạo của các nền văn hóa, nhân tố hết sức quan trọng đối với sự tồn tại lâu dài của cả nhân loại [11; tr 120 - 121]

Mặt khác, nhiều thứ văn hóa phẩm độc hại, phản động thẩm lậu vào nước ta thông qua quá trình này Đồng thời, toàn cầu hóa cũng là cơ hội để các thế lực thù địch lợi dụng để công kích đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước ta, qua đó phá vỡ khối đại đoàn kết dân tộc, cùng với chiến lược

“diễn biến hòa bình”, các thế lực thù địch dùng nhiều hình thức để truyền bá nhằm tấn công vào hệ tư tưởng và văn hóa nước ta, nhằm mục đích cuối cùng

là xóa nhòa bản sắc văn hóa dân tộc, đồng hóa văn hóa

Xu thế toàn cầu hóa văn hóa cũng dẫn tới sự chuyển đổi hệ giá trị, làm mai một dần bản sắc văn hóa, nhất là những giá trị văn hóa dân gian Văn hoá ngoại lai xâm nhập vào nền văn hoá cổ truyền Việt Nam nhân danh đủ thứ lí

Trang 35

lẽ, từ trang phục, nhà cửa, ăn uống đến cách ứng xử, v.v ., khi bệnh vọng ngoại đã trở nên trầm kha thì văn hoá truyền thống, nhất là văn hoá dân gian,

sẽ hầu như không còn chỗ đứng, bởi vậy, hiện nay ít ta nghe nói tới văn hoá dân gian Theo ông Nguyễn Khoa Điềm nhận định rằng, trong xã hội công nghiệp hoá - hiện đại hoá, hội nhập và giao lưu quốc tế như hiện nay, văn hoá

dân gian “rất dễ bị tổn thương, bị xoá nhoà, bị triệt tiêu” Chúng ta thấy

trước đây người ta thích nghe các điệu nhạc dân gian ngọt ngào thì hiện nay giới trẻ đa số thích nhạc ngoại như pop, rock, Jazz, Rap , về kiến trúc, trang phục, nghệ thuật, làng nghề truyền thống…ngày càng biến đổi trước xu thế toàn cầu hóa

Như vậy, toàn cầu hóa văn hóa vừa tạo ra cơ hội, vừa có những thách thức, chúng ta không thể đứng ngoài quá trình toàn cầu hóa, vì vậy vấn đề là cần phải có chiến lược thích ứng và khôn ngoan để tối đa hóa mặt tích cực và tối thiểu hóa mặt tiêu cực, làm cho văn hóa nói chung và văn hóa dân gian nói riêng ở nước ta vừa phong phú, đa dạng mà vẫn giữ được bản sắc riêng

- Kinh tế thị trường

Văn hóa và kinh tế có mối quan hệ biện chứng với nhau, trong đó cơ sở kinh tế sẽ quyết định nội dung, tính chất, hình thức biểu hiện của văn hóa Nghị quyết TW 5 (khóa VIII) Đảng Cộng sản Việt Nam viết: “Văn hóa là kết

quả của kinh tế đồng thời là động lực của sự phát triển kinh tế”

Trong thời đại hiện nay, văn hóa nói chung, văn hóa dân gian nói riêng đều chịu tác động của kinh tế thị trường, chịu sự quy định của các quy luật kinh tế thị trường.

Qua 30 năm đổi mới đã cho thấy tác dụng của kinh tế thị trường đối với

sự phát triển kinh tế - xã hội, cũng như đối với văn hóa và văn hóa dân gian Kinh tế thị trường giúp mở rộng trao đổi, quảng bá các sản phẩm văn hóa dân gian, phục vụ nhu cầu ngày càng đa dạng của xã hội Nó cũng kích thích nhu cầu hưởng thụ văn hóa - nghệ thuật dân gian, tạo điều kiện để huy động các nguồn lực cho phát triển văn hóa dân gian

Trang 36

Kinh tế thị trường cũng kích thích nhu cầu phát triển của khoa học và công nghệ, tạo ra những điều kiện thuận lợi cho việc truyền bá, lưu giữ, phát triển những giá trị văn hóa đặc sắc của dân tộc, trong đó có văn hóa dân gian Nhờ phương tiện kỹ thuật hiện đại mà các giá trị văn hóa dân tộc trở thành tài sản chung, giá trị chung của nhân loại, và ngược lại những giá trị chung của văn hóa nhân loại cũng dễ dàng được tiếp biến trong mỗi nền văn hóa riêng

Bên cạnh đó, kinh tế thị trường cũng đem đến nhiều thách thức cho nền văn hoá truyền thống Việt Nam Trong nền kinh tế thị trường, mọi thứ đều có thể trở thành hàng hoá và có thể được định giá bằng tiền Một khi đồng tiền

có khả năng chi phối toàn bộ đời sống kinh tế - xã hội thì nó cũng có khả năng chi phối đến đời sống tinh thần con người Do đó, trong nền kinh tế thị trường khó tránh khỏi lối sống chạy theo đồng tiền mà bất chấp tất cả, hệ giá trị xã hội bị đảo lộn, đạo đức xã hội bị coi nhẹ

Nền tảng của văn hóa dân gian chủ yếu dựa trên tính cộng đồng làng

xã, tính tập thể và sự ổn định, lối sống tình nghĩa trong xã hội nông nghiệp truyền thống Thế nhưng khi bước vào kinh tế thị trường với những tiêu cực của nó như lối sống thực dụng, cá nhân vị kỷ, chạy theo đồng tiền, nhịp sống ngày càng căng thẳng khiến cho quan hệ giữa con người trở nên lỏng lẽo hơn,

ít quan tâm đến nhau hơn điều đó đã và đang ảnh hưởng, làm băng hoại những giá trị văn hóa truyền thống, gây hại đến thuần phong mỹ tục của dân tộc, gây sức ép không nhỏ trong việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống nói chung và văn hóa dân gian nói riêng

Hiện nay, các quy luật của kinh tế thị trường đang chi phối nhiều hoạt động, sản phẩm, dịch vụ văn hoá, đẩy nhanh khuynh hướng thương mại hoá văn hóa.Tình trạng xuất hiện nhiều sản phẩm và dịch vụ văn hóa dân gian bị nhái lại, biến dạng, chất lượng thấp làm méo mó hình ảnh sản phẩm văn hóa dân gian, làm cho du khách hiểu lệch lạc về nội dung văn hóa của sản phẩm, ảnh hưởng xấu đến thị hiếu thẩm mỹ của công chúng, đe dọa đến việc

Trang 37

bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân gian Đồng thời, các giá trị tinh thần, các sản phẩm văn hoá dân gian cũng bị thương mại hoá nên khó tránh khỏi khuynh hướng thực dụng thấp kém, làm thủ tiêu giá trị nhân văn nhân bản vốn có của nó

Để bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân gian trong nền kinh tế thị trường thì khi xác định mục tiêu, giải pháp phát triển văn hóa và văn hóa dân gian phải căn cứ và hướng tới mục tiêu, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội,

để phát triển văn hóa thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội Khi xác định mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội phải đồng thời xác định mục tiêu văn hóa trong

đó có văn hóa dân gian, hướng tới xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Muốn vậy, phải có chính sách kinh tế trong văn hóa để gắn văn hóa với hoạt động kinh tế, khai thác tiềm năng kinh tế, tài chính hỗ trợ cho hoạt động văn hóa Đồng thời, xây dựng chính sách văn hóa trong kinh tế để chủ động đưa các yếu tố văn hóa thâm nhập vào các hoạt động kinh tế - xã hội

Tóm lại, toàn cầu hóa văn hóa và kinh tế thị trường là những yếu tố khách quan tác động đến việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân gian, các yếu tố khách quan này tác động theo hai chiều tích cực và tiêu cực, nhưng

có tận dụng được mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực của nó hay không lại phụ thuộc vào yếu tố chủ quan Nếu Đảng và Nhà nước đưa ra đường lối, chính sách phù hợp, phát huy được sức mạnh của nhân dân để thực hiện đường lối thành công, thì công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân gian sẽ được thực hiện tốt, lúc đó, văn hóa dân gian với vai trò là văn hóa

“gốc” sẽ thực sự là động lực cho sự phát triển đất nước

Trang 38

chủ chốt nhằm vạch ra phương hướng chiến lược, nhiệm vụ và các giải pháp lớn để lãnh đạo thực hiện thành công nhiệm vụ xây dựng và phát triển văn hóa theo đúng hướng phát triển đất nước

Một trong những nhiệm vụ cụ thể mà Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) của Đảng đã đề ra là: “Hết sức coi trọng và bảo tồn, kế thừa phát huy những giá trị văn hóa truyền thống (bác học và dân gian), văn hóa cách mạng,

bao gồm cả văn hóa vật thể và phi vật thể”[14; tr 63] Đó là kim chỉ nam cho

việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa dân gian của đồng bào các dân tộc

Nghị quyết Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa

XI đã xác định: “Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thống nhất trong đa dạng của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, với các đặc trưng dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học”[18; tr 48], và nghị quyết cũng đã đưa ra quan điểm: “Xây dựng và phát triển văn hóa là sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân là chủ thể

sáng tạo, đội ngũ trí thức giữ vai trò quan trọng”

Để các giá trị văn hóa dân gian được bảo tồn và phát huy, bản sắc văn hóa dân tộc không bị mai một, hòa tan trong quá trình hội nhập và toàn cầu hóa hiện nay là vấn đề phức tạp, đòi hỏi chủ thể lãnh đạo phải có cả tâm huyết

và trình độ, các quyết sách phải đảm bảo hài hòa giữa các yếu tố kinh tế - văn hóa, chính trị - văn hóa

Trong sự tồn tại và phát triển của văn hóa nói chung, văn hóa dân gian nói riêng thì quản lý của Nhà nước về văn hóa cũng đóng vai trò rất quan trọng Trên phương diện vĩ mô, hoạt động quản lý văn hóa sẽ góp phần định hướng, điều chỉnh sự phát triển của văn hóa quốc gia, giúp hiện thực hóa các chủ trương, đường lối văn hóa, văn nghệ của Đảng cầm quyền, từ đó tác động đến mục tiêu, bản chất của văn hóa dân tộc Trên phương diện vi mô, hoạt động quản lý văn hóa trong các lĩnh vực, địa bàn, nhóm dân cư cụ thể sẽ giúp kiểm soát sự tùy tiện, sai lệch trong khi thực thi các cơ chế, chính sách của

Trang 39

Nhà nước trên lĩnh vực văn hóa Nhà nước quản lý về văn hóa chủ yếu thông qua hệ thống văn bản quy phạm pháp luật có giá trị pháp lý cao trên lĩnh vực văn hóa, như: Luật Di sản vǎn hóa, Luật Điện ảnh, Luật Sở hữu trí tuệ, Nhà nước thực hiện việc kiểm tra, giám sát các hoạt động văn hóa nhằm bảo đảm sự vận hành của các hoạt động văn hóa

Để đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về văn hóa

đi vào quần chúng nhân dân và thực hiện trong thực tiễn thì cần có sự phối hợp hoạt động của các tổ chức đoàn thể như Mặt trận Tổ quốc, đoàn thanh niên, hội phụ nữ Vai trò của các tổ chức đoàn thể đó trong thực tiễn thể hiện ở chỗ:

Nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của quần chúng nhân dân, vận động, thuyết phục quần chúng nhân dân tham gia các phong trào văn hóa và công tác bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa dân gian của dân tộc; phát hiện những hiện tượng tiêu cực, tư tưởng lệch lạc, và cả những nhân tố mới, tiến bộ, những khả năng khách quan có lợi cho sự phát triển của cả xã hội; có kế hoạch cụ thể để hạn chế tiêu cực, bồi dưỡng, nhân rộng điển hình tiên tiến và tạo điều kiện thuận lợi biến khả năng thành hiện thực

Phát hiện những bất cập trong cơ chế, chính sách, những yếu tố cản trở tính tích cực, sáng tạo của nhân dân Từ đó, góp phần hoàn thiện cơ chế, chính sách và hành lang pháp lý cần thiết nhằm bảo đảm sự tự do hưởng thụ văn hóa, bảo tồn, phát huy tính sáng tạo văn hóa của các cá nhân, của cộng đồng dân tộc, đồng thời đảm bảo tính định hướng, mục tiêu phát triển của đất nước

- Hoạt động hướng dẫn trực tiếp của ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Đây là cơ quan hoạt động chuyên trách về văn hóa nên có vai trò vô cùng quan trọng, thể hiện ở việc tham mưu với các cấp ủy Đảng, chính quyền

và đoàn thể nhân dân về những định hướng, giải pháp thực hiện có hiệu quả công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân gian; tổ chức thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước về văn hóa đến

Trang 40

từng địa bàn cơ sở; tổ chức tuyên truyền và duy trì thường xuyên các hoạt động của thiết chế văn hóa, thu hút quần chúng nhân dân tham gia sáng tạo, phổ biến và hưởng thụ các giá trị văn hóa; phối hợp với các cơ quan, tổ chức liên quan xây dựng cơ chế chính sách huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa; hướng dẫn, kiểm tra hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa; có kế hoạch đào tạo nhân lực ngành văn hóa; đưa ra cơ chế, chính sách đặc thù trong đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng và đãi ngộ tài năng các lĩnh vực năng khiếu nghệ thuật; tổ chức thực hiện các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn, xử lý các hành vi mê tín, hủ tục, văn hóa phẩm đồi trụy và các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực văn hóa; tổ chức và chỉ đạo thực hiện công tác nghiên cứu khoa học, ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ trong lĩnh vực văn hóa qua đó góp phần bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa dân gian

Đối với các dân tộc thiểu số, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch càng có vai trò quan trọng, chính họ đã tiến hành khảo sát, thống kê, phục dựng từ cơ

sở các loại hình văn hóa dân gian Đồng thời khảo sát ở các làng nhằm tổng kiểm kê hệ thống di sản văn hóa vật thể và phi vật thể Trong đó, chú trọng phân loại các loại hình di sản văn hóa phi vật thể chủ yếu như nghệ thuật dân gian, tri thức dân gian, các nghề thủ công, các lễ hội và phong tục tập quán, chữ viết và ngôn ngữ các dân tộc ít người Trên cơ sở thống kê phân loại các

di sản, ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã cùng với người dân ở các làng,

bản đã tiến hành bảo tồn, phục dựng các di sản văn hóa tiêu biểu

Mặc dù, ngành văn hóa giữ vai trò nòng cốt trong việc bảo tổn và phát huy những giá trị văn hóa dân tộc nhưng về lâu dài, việc cần làm là nâng cao nhận thức cho lớp trẻ, cho đồng bào dân tộc hiểu giá trị văn hóa dân tộc mình,

để chính họ tự bảo tồn và phát huy văn hóa của dân tộc mình

Ngày đăng: 25/11/2021, 07:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w