1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo in cho trẻ em việt nam với vấn đề giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em (khảo sát báo nhi đồng, thiếu niên tiền phong, hoa học trò, mực tím năm 2015)

126 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 126
Dung lượng 1,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong đó, tập trung đến các kỹ năng sống chủ yếu đến 2 nhóm kỹ năng thiết yếu là Nhóm kỹ năng sinh tồn bao gồm Kỹ năng thoát hiểm; kỹ năng ứng phó, ứng biến; Kỹ năng sử dụng các vật dụng

Trang 1

HỒ CHÍ MINH

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

MAI THỊ HẠNH

BÁO IN CHO TRẺ EM VIỆT NAM

VỚI VẤN ĐỀ GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO TRẺ EM

(Khảo sát Báo Nhi đồng, Thiếu niên Tiền phong, Hoa học trò,

Mực Tím năm 2015)

LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC

HÀ NỘI - 2016

Trang 2

HỒ CHÍ MINH

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

MAI THỊ HẠNH

BÁO IN CHO TRẺ EM VIỆT NAM

VỚI VẤN ĐỀ GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO TRẺ EM

(Khảo sát Báo Nhi đồng, Thiếu niên Tiền phong, Hoa học trò,

Mực Tím năm 2015)

Ngành : Báo chí học

Mã số : 60 32 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN VĂN DỮNG

HÀ NỘI - 2016

Trang 3

CỦA HỘI ĐỒNG CHẤM LUẬN VĂN THẠC SĨ

Hà Nội, ngày tháng năm 2017

CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG

(Ký và ghi rõ họ tên)

PGS.TS Đỗ Thị Thu Hằng

Trang 4

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Văn Dững

Nội dung và kết quả nghiên cứu trong đề tài này là trung thực Các số liệu trích dẫn trong luận văn đảm bảo chính xác và dựa trên thực tế khảo sát

và báo cáo của các cơ quan liên quan Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những nội dung, kết quả trong quá trình thực hiện nghiên cứu luận văn này

Tác giả luận văn

Mai Thị Hạnh

Trang 5

Em xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo Khoa Báo chí (Học viện Báo chí và Tuyên truyền) đã dày công giảng dạy, đào tạo em trong suốt thời gian qua

Đặc biệt cảm ơn thầy giáo PGS.TS Nguyễn Văn Dững đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện Luận văn này

Xin cảm ơn Ban biên tập Báo Nhi đồng, Ban biên tập Báo Thiếu niên Tiền phong, Báo Hoa học trò và Báo Mực tím đã tạo điều kiện giúp đỡ, góp ý, động viên tác giả hoàn thành Luận văn

Mặc dù tác giả luận văn đã có nhiều cố gắng song luận văn vẫn còn đôi chỗ chưa được như mong muốn Tác giả mong tiếp tục nhận được sự chỉ bảo, giúp đỡ của các thầy, cô giáo để Luận văn được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Tác giả nghiên cứu

Mai Thị Hạnh

Trang 6

MỤC LỤC

Trang

Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT - THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ BÁO CHÍ

GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO TRẺ EM 23

1.2 Vai trò của báo in trong vấn đề giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em 34

Chương 2: THỰC TRẠNG BÁO IN VỚI VẤN ĐỀ GIÁO DỤC KỸ NĂNG

Chương 3: VẤN ĐỀ VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG

BÁO IN TRONG VIỆC GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO

3.1 Những vấn đề đặt ra qua khảo sát thực 2 nhóm Kỹ năng sinh tồn

Trang 7

CNTT : Công nghệ thông tin

Trang 8

Trang Bảng 2.1: Kết quả khảo sát tần suất và số lượng tin bài viết về kỹ

Bảng 2.2: Kết quả khảo sát về tần suất và số lượng trên báo Nhi đồng 46 Bảng 2.3: Mức độ xuất hiện tác phẩm trung bình tuần trên một tờ báo 47 Bảng 2.4: Tác giả viết vấn đề giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em

Bảng 2.5: Cơ cấu tác giả về kỹ năng sống cho trẻ em trên báo Nhi

Trang 9

Trang

Biểu đồ 2.1: Tỷ lệ tin, bài về các nhóm kỹ năng trên 4 tờ báo khảo

Biểu đồ 2.2: Tỉ lệ cơ cấu tác giả viết vấn đề giáo dục kỹ năng sống

Biểu đồ 2.3: Cơ cấu tỉ lệ tác giả viết bài kỹ năng sống cho trẻ em

Biểu đồ 2.4: Kết quả khảo sát tỷ lệ phụ huynh biết về giáo dục kỹ

Hình 2.1: Trẻ em chơi thể thao dưới đường phố ảnh hưởng đến

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam là quốc gia có cơ cấu dân số trẻ (có nhiều trẻ em được sinh ra) Theo số liệu thống kê của Tổng cục Dân số năm 2014, trẻ em từ 0- 14 tuổi chiếm tỷ lệ 23,5% dân số Trong đó, trẻ em từ 5- 14 tuổi (trong phạm vi nghiên cứu của luận văn) chiếm 15,2 Trẻ em là nhóm cư dân yếu thế cần được giáo dục kỹ năng sống (KNS) để có những ứng phó, ứng biến, ứng xử linh hoạt, an toàn hơn trong cuộc sống thường nhật

Nhất là thời điểm hiện nay, xã hội Việt Nam đang trong quá trình giao lưu, hội nhập phát triển kinh tế xã hội Vì sự thay đổi, biến động của môi trường kinh tế, xã hội với những mặt tích cực và tiêu cực, trong đó không ít cám dỗ và rủi ro, chính điều này khiến cho trẻ luôn đối diện với áp lực cuộc sống, phải đương đầu với những khó khăn, thử thách Đòi hỏi trẻ em chủ nhân tương lai của đất nước phát triển kỹ năng mềm, điều này liên quan tới việc trang bị kỹ năng sống cho trẻ em

Việc phát triển kinh tế đưa đến cho trẻ em được thụ hưởng những thành phẩm vật chất tốt hơn nhưng cũng đưa lại những bất cập vì có những tổ chức,

cá nhân làm giàu bằng mọi giá Điều này ảnh hưởng đến giá trị đạo đức, sức khỏe của xã hội, nhất là đối với trẻ em với khả năng hấp thụ cao

Nhất là sự phát triển kinh tế, đặt biệt là sự phát triển của cuộc cách mạng khóa học, nhất là công nghệ thông tin (CNTT) đưa đến cho xã hội tiếp thu tinh hoa văn hóa, giao lưu hội nhập tốt hơn Tác động của CNTT đối với xã hội loài người vô cùng to lớn, thúc đẩy nhanh quá trình tăng trưởng kinh tế Trong nền kinh tế toàn cầu, với sự phát triển của internet, thương mại điện tử đang trở thành một lĩnh vực phát triển rất mạnh mẽ, nó thúc đẩy các ngành sản xuất dịch

vụ trên phạm vi toàn thế giới, và đặc biệt quan trọng với các nước đang phát triển, nhất là đối với vùng xa xôi hẻo lánh, các nước và các vùng này có cơ hội

Trang 11

tiếp cận thị trường quốc tế Công nghệ thông tin là chiếc chìa khoá để mở cánh cổng vào nền kinh tế tri thức Mạng thông tin là môi trường lý tưởng cho sự sáng tạo, là phương tiện quan trọng để quảng bá và nhân rộng nhanh vốn tri thức, động lực của sự phát triển, thúc đẩy phát triển dân chủ trong xã hội, phát triển năng lực của con người…

Trong lĩnh vực Giáo dục, đào tạo việc ứng dụng CNTT đã góp phần nâng cao chất lượng dạy và học ở các cấp, các bậc học, mở rộng thêm nhiều loại hình đào tạo như đào tạo từ xa, phối hợp liên kết giữa các trường, các Quốc gia với nhau đang nhằm đưa chất lượng giáo dục của nước ta ngang bằng với các nước trong khu vực và trên thế giới Thương mại điện tử theo đó cũng xuất hiện, khách hàng có thể tiếp xúc và tìm hiểu mọi thông tin về công

ty dễ dàng ở bất cứ nơi nào, lúc nào

Tuy nhiên, CNTT cũng đưa đến nhiều nguy cơ đó là sự cách biệt giàu nghèo, sự phân hoá giữa một bên là các quốc gia, dân tộc biết nắm bắt và khai phá những nguồn lợi từ công nghệ thông tin, hạn chế những mặt tiêu cực mà

nó đưa lại với các quốc gia dân tộc không có hoặc chưa phát triển những công nghệ đó Và cũng chính từ đây nảy sinh một thách thức rất lớn đối với các nước đang phát triển như nước ta đó là làm thế nào để phát huy được thế mạnh của CNTT thúc đẩy sự phát triển của xã hội mà không mất đi văn hoá truyền thống quý báu của dân tộc Những điều đó, nếu không giải quyết, ứng

xử hợp lý, đối tượng bị ảnh hưởng nhiều nhất là trẻ em- đối tượng thiếu nhiều kinh nghiệm sống nhất Vì vậy, trể m sẽ chịu nhiều tác động, xét trên nhiều bình diện

Do có ưu thế vượt trội trong việc cung cấp thông tin, CNTT bị lạm dụng trong việc đáp ứng nhu cầu giao tiếp của con người Thay vì tham gia trực tiếp vào các hoạt động hay các quan hệ giao tiếp của cuộc sống sinh động, ngồi lỳ hàng giờ trước màn hình ti vi hoặc vi tính, giao tiếp với thế giới bên ngoài thông qua một thế giới ảo Cái thế giới ảo ấy thực sự có ích, khi nó

Trang 12

không tiêu tốn quá mức thời gian của con người Còn trong trường hợp ngược lại thì, nó trở thành một thứ phản tác dụng, đặc biệt là với trẻ em

Những nghiên cứu thực nghiệm đối chứng ở Mỹ đã cho thấy, những trẻ

em xem ti vi nhiều thường kém phát triển trí tưởng tượng hơn những trẻ em ít xem ti vi Về mặt tâm lý, điều đó cản trở sự phát triển tình cảm ở trẻ em Tình cảm chính là cơ sở tâm lý của quan hệ và hành vi đạo đức Con người xa lánh con người, không biết đến bổn phận đối với người khác, đối với xã hội là con người kém phát triển về mặt tình cảm Một trong những hiện tượng xuống cấp đạo đức trong xã hội hiện đại là sự suy giảm tình cảm đạo đức biểu hiện ở tính ích kỷ và chứng vô cảm về mặt xã hội của con người Điều đó có nguyên nhân từ cơ chế thị trường, nhưng cũng có nguyên nhân từ sự lạm dụng và không làm chủ được các thành tựu của tiến bộ khoa học - công nghệ

Trong điều kiện hiện nay, với sự xuất hiện và hoạt động của mạng Internet trên phạm vi toàn cầu, nhân loại lại phải đối mặt với một tình huống đạo đức khó giải quyết Thực tế cho thấy, hiện nay, nhiều quốc gia không quản lý được hoạt động của thông tin trên Internet Những văn hoá phẩm độc hại được đưa vào mạng và tác động tiêu cực đến sự phát triển đạo đức ở hàng loạt quốc gia Về điều này, thực tế tại Việt Nam cũng không ngoại lệ

Trong điều kiện xã hội phức tạp như vậy nhưng việc trang bị kỹ năng sống cho trẻ em tại Việt Nam còn rất hạn chế, thiếu khoa học, bài bản và đồng

bộ Thậm chí, phần lớn địa phương, nhà trường còn bỏ trống trong việc trang

bị kỹ năng sống cho học sinh Đặc biệt là học sinh bậc tiểu học và học sinh phổ thông cơ sở - phạm vi đối tượng nghiên cứu của luận văn

Trên thực tế, KNS cho trẻ em đang là vấn đề hết sức nóng bỏng, nhận được sự quan tâm của toàn xã hội nhưng việc trang bị kiến thức về kỹ năng sống cho trẻ em còn rất hạn chế Xã hội ngày càng phát triển, nhiều vấn đề phức tạp liên tục nảy sinh Bên cạnh những tác động tích cực, còn có những tác động tiêu cực, gây nguy hại cho con người, đặc biệt là trẻ em Nếu mỗi

Trang 13

người trong đó có trẻ em không có những kiến thức cần thiết để biết lựa chọn những giá trị sống tích cực, không có những năng lực để ứng phó, để vượt qua những thách thức mà hành động theo cảm tính thì rất dễ gặp trở ngại, rủi

ro trong cuộc sống Vì vậy, việc giáo dục kỹ năng sống đang được đặc biệt quan tâm và hết sức cần thiết

Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) đã xem xét đưa môn Kỹ năng sống lồng ghép vào chương trình giảng dạy đang được dư luận rất quan tâm Tuy nhiên, công tác giảng dạy còn thiếu giáo trình chuẩn Trong khi đó, nhiều nước trên thế giới đã đưa môn học giáo dục kỹ năng sống thật sự hữu ích vào chương trình học ở bậc tiểu học Tại Việt Nam, những năm gần đây cũng đã xuất hiện loại hình này song chủ yếu ở các thành phố lớn như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh… Nhưng những chương trình được giảng dạy kỹ năng sống ở một

số trường lại khiến cha mẹ và dư luận thấy lo lắng

Phương pháp dạy học của ngành giáo dục hiện nay đã lấy học sinh là trung tâm nhưng cũng chưa đáp ứng được những vấn đề liên quan đến kỹ năng sống Sự thiếu hụt này đang xảy ra rất nhiều những hệ lụy đáng tiếc cho trẻ em Điều mà chúng ta nhìn nhận rõ nhất đó là những năm gần đây, tình trạng trẻ vị thành niên phạm tội có xu hướng gia tăng Thậm chí, xuất hiện những vụ án giết người, cố ý gây thương tích mà đối tượng gây án là học sinh, nạn nhân là bạn học và thầy cô giáo

Mặt khác, trong quá trình toàn cầu hóa, truyền thông số, trẻ em càng cần nhiều kỹ năng thích hợp Trong khi đó, các chương trình giáo dục cho trẻ

em từ cấp 1 đến cấp 2 hầu như rất ít được quan tâm đến vấn đề này Báo chí cũng đã quan tâm nhưng còn rất hạn chế Hơn nữa, các thông tin trên báo chí dành cho đối tượng trẻ em nói chung hiện nay vẫn thiên về các thông tin hoạt động xã hội, giải trí, các vấn đề nóng của đất nước, trong khi thông tin về kỹ năng sống dành cho trẻ em vẫn chưa thật sự được quan tâm 5 tờ Báo được tiến hành khảo sát vẫn chưa có những bài báo, loạt bài, chuyên mục đậm đặc

Trang 14

thông tin giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em Các thông tin nếu có cũng chưa mang tính chất tập trung chuyên biệt dành cho trẻ em Đơn giản vẫn là những câu chuyện kể chưa cho trẻ em một khái niệm, một cách nhìn chung nhất về những kỹ năng sống kiểu như các câu sologan khiến trẻ buộc phải ghi nhớ để

có cuộc sống an toàn, lành mạnh mỗi khi gặp sự cố

Từ thực tế phân tích ở trên cho thấy, việc giáo dục toàn diện cho học sinh, trong đó có kỹ năng sống, ở nước ta còn quá nhiều hạn chế và thiếu hụt một cách nghiêm trọng Nhà trường vẫn còn quan niệm dạy học là dạy kiến thức chứ chưa dạy các em thái độ, kỹ năng ứng xử trong các mối quan hệ giữa con người với con người, con người với thiên nhiên Đây là một quan niệm hết sức sai lầm và cần phải sửa chữa một cách kịp thời

Bản chất của giáo dục kỹ năng sống là giáo dục, cung cấp, trang bị những kiến thức, kỹ năng cần thiết để giúp thanh thiếu niên có thể sống một cách chủ động, tích cực, ứng phó với mọi tình huống trong xã hội hiện đại

Vì vậy, tìm hiểu vấn đề kỹ năng sống cho trẻ em, chúng tôi muốn nghiên cứu chuyên sâu đến mức độ và khả năng báo chí dành cho vấn đề kỹ năng sống của trẻ em đã được báo giới quan tâm đến mức độ nào Trong đó, tập trung đến các kỹ năng sống chủ yếu đến 2 nhóm kỹ năng thiết yếu là

Nhóm kỹ năng sinh tồn bao gồm (Kỹ năng thoát hiểm; kỹ năng ứng phó, ứng biến; Kỹ năng sử dụng các vật dụng; Kỹ năng khám phá cuộc sống một cách

an toàn và hiệu quả); Và Nhóm kỹ năng ứng xử (Kỹ năng phản biện; Kỹ năng

thuyết phục, lấy thiện cảm từ người khác; Kỹ năng thiêt lập và quản lý mối

quan hệ);

Báo chí vì trẻ em có hai nhóm: một là báo chí cho người lớn để cung cấp kiến thức tác động đến người giáo dục trẻ em; hai là báo chí dành cho trẻ

em thì ở đây chúng tôi nghiên cứu báo chí dành cho trẻ em

Đây là lý do tác giả luận văn chọn đề tài: "Báo in cho trẻ em Việt Nam

với vấn đề giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em"

Trang 15

- Từ những lý do nêu trên có thể thấy việc giảng dạy kỹ năng sống cho trẻ em đang là vấn đề hết sức bức thiết của xã hội Trong bối cảnh hiện nay, việc nghiên cứu thành công đề tài giáo dục Kỹ năng sống cho trẻ em qua khảo sát 5 tờ báo in là: Thiếu niên Tiền phong, Nhi đồng, Hoa học trò, Rùa Vàng, Mực tím không chỉ phục vụ cho công tác chỉ đạo mà còn là cơ sở khoa học để xây dựng chương trình giáo dục khoa học kỹ năng sống cho trẻ em đối với gia

đình, nhà trường

- Bản thân tác giả hiện đang công tác tại Báo Gia đình và Xã hội, có

báo điện tử là www.giadinh.net.vn là tờ Báo thuộc Tổng cục Dân số kế hoạch hóa Gia đình, Bộ Y tế: Ngành Dân số cũng như Bộ Y tế đang trong giai đoạn chủ trọng đến chất lượng sống Theo đó, cơ quan ngôn luận cũng đặc biệt chú trọng đến vấn đề này vì vậy sẽ có những ý kiến đóng góp thích đáng cho tòa soạn báo trong việc tăng cường, tích cực hơn nữa trong việc thúc đẩy những

bài viết, loạt bài, thậm chí chuyên mục có chất lượng liên quan đến việc cung

cấp kiến thức tác động đến người giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em

Giáo dục kỹ năng sóng cho trẻ em là vấn đề có ý nghĩa vừa cơ bản, vừa cấp thiết không những để giúp các em có thể tự ứng xử trong những điều kiện bình thường hay bất trắc thường xuyên biến đổi, mà còn giúp các em trưởng thành chủ động trong suốt cuộc đời

Mặt khác, trong nền kinh tế - xã hội đang chuyển đổi nhanh và tiềm ẩn nhiều rủi ro ở các nước phát triển như Việt Nam, tai nạn rủi ro thường xuyên rình rập có thể uy hiếp tính mạng trẻ em, nếu các em thiếu kỹ năng sinh tồn,

kỹ năng ứng xử

Trong quá trình giáo dục, cung cấp và chia sẻ kỹ năng sống cho trẻ em,

có thể nói có nhiều thiết chế tham gia, vào cuộc Nhưng báo chí - truyền thông có vai trò đặc biệt quan trọng Bởi thiết chế báo chí - truyền thông tác động thường xuyên liên tục nhất, sinh động và hấp dẫn nhất, phổ cập nhất, với nhiều hình thức đa dạng phong phú nhất,

Trang 16

Do vậy, nếu nghiên cứu thành công sẽ góp phần tổng kết thực tiễn về vấn đề báo chí nói chung, báo in nói riêng trong vấn đề cung cấp, giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em sẽ có ý nghĩa cả trên phương diện lý thuyết cũng như thực tiễn; đồng thời có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với đội ngũ những

người làm báo, làm truyền thông hiện nay Trước hết, góp phần nâng cao

nhận thức trách nhiệm của giới truyền thông, hạn chế lợi dụng các hiện tượng liên quan đến trẻ em để giật gân câu khách nhằm mục đích câu view mà xa lãng trách nhiệm bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Từ những năm 60 của thế kỷ XX, tổ chức UNESCO đã chỉ ra ba thành

tố của học vấn, đó là: kiến thức, kỹ năng và thái độ, trong đó thái độ và kỹ

năng đóng vai trò then chốt Thái độ tích cực, năng động trong học tập và làm

việc thể hiện sự xử trí, ứng phó trước những đòi hỏi, thử thách của cuộc sống

sẽ giúp cho trẻ em vững bước tới một tương lai có định hướng Giáo dục kỹ năng sống mới xuất hiện từ những năm 1990 của thế kỷ trước song đã nhanh chóng lan rộng ra khắp thế giới Trên thực tế, nhiều nước phát triển như Nhật,

Mỹ, Scotland… có quan điểm giáo dục là phát triển toàn diện, trong đó chú trọng tới sức khỏe thể chất và tinh thần

Ở Nhật Bản không có sách giáo khoa dạy riêng về KNS nhưng học sinh Nhật có bộ môn Đạo đức bao hàm hết nội dung về KNS Điều quan trọng hơn

cả là người Nhật quan niệm dạy KNS cho trẻ không phải từ khi trẻ đi học mà

nó cần được dạy từ khi trẻ mới sinh ra và cha mẹ chính là người thầy đầu tiên

và quan trọng nhất dạy cho trẻ những kỹ năng đó

Tại Scotland cũng như vậy, dù KNS không là môn học riêng, nhưng học sinh vẫn được trang bị khá tốt do mục đích giáo dục quốc gia, xác định rõ giáo dục cho trẻ 3-18 tuổi để các em trở thành: người học thành công, cá nhân

tự tin, công dân trách nhiệm, người đóng góp cho cộng đồng Từ đó xác định chi tiết hệ thống mục tiêu kỹ năng, hướng dẫn cho các trường tự xây dựng

Trang 17

chương trình riêng miễn sao đáp ứng được yêu cầu giáo dục quốc gia, nhu cầu học sinh và phụ huynh

Ở Việt Nam, khái niệm giáo dục kỹ năng sống cũng xuất hiện ngay sau

đó nhưng phương pháp giáo dục KNS vẫn còn mới lạ đối với xã hội nên chưa được sự quan tâm đúng mức Hơn nữa, giáo dục tại Việt Nam nhìn chung còn kém phát triển Ngoại trừ một số các trung tâm giáo dục không chính quy như Tâm Việt group; Học viện masterkids; Học viện Kỹ năng sống LSA; Trung tâm ABS Training, Trung tâm dạy nghề GDVT Swisscontact, hệ thống các trường tiểu học, PTCS quốc tế tại Việt Nam… có các chương trình giáo dục

kỹ năng sống Còn lại, hầu hết các trường tiểu học, phổ thông cơ sở chưa được quan tâm nhiều đến việc trang bị kỹ năng sống cho học sinh Trong khi

đó, kỹ năng sống của trẻ em trong xã hội ngày càng chuyên môn hoá cao như

xã hội Việt Nam hiện nay không thể thiếu được và cần phải được nâng cao hơn ở hai mảng kỹ năng đó là kỹ năng chuyên môn và kỹ năng mềm mà có thể gọi chung là những KNS

Từ năm học 2008 - 2009, Bộ GD-ĐT nước ta đã phát động trong các trường phổ thông trên toàn quốc phong trào "Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực" nhằm mang lại "môi trường giáo dục an toàn thân thiện, hiệu quả, phù hợp điều kiện địa phương và đáp ứng nhu cầu xã hội"

Tuy nhiên, việc nghiên cứu thực trạng giáo dục KNS cũng như nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động giáo dục KNS cho học sinh tiểu học, học sinh phổ thông trung học trong cả nước đến nay vẫn chưa bài bản, chưa thực hiện một cách có hệ thống

Tính đến thời điểm hiện nay, chưa có cuốn sách, tài liệu khoa học nào nghiên cứu về vấn đề KNS cho trẻ em một cách bản bài, khoa học Dù trên thực

tế vấn đề này được bàn luận, tranh cãi nhiều trên hệ thống thông tin đại chúng nhưng mới dừng lại việc viết những bài báo đơn lẻ, chuyên mục thưa kỳ, viết

Trang 18

sách hoặc dịch sách về KNS dưới dạng những câu chuyện cụ thể Có thể liệt kê

và bình luận ra đây những cuốn sách viết về kỹ năng sống cho trẻ em:

-Bộ sách "Rèn luyện Kỹ năng sống dành cho học sinh" của tác giả

Duy Hoàng, Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, xuất bản năm 2012 chia thành nhiều tập như: Tập viết về "27 bài học tự cổ vũ bản thân"; "25 thói quen tốt để thành công"; "78 bài học suy nghĩ tích cực để thành công"… dành cho học sinh bậc tiểu học Mỗi bài học là một câu chuyện cụ thể qua mỗi câu chuyện rút ra cho trẻ một một bài học cụ thể Cuốn sách cho học sinh sự trải nghiệm cũng nhân vật chính trong câu chuyện qua đó giúp học sinh hiểu rõ hơn những khó khăn trong cuộc sống, từ đó giúp học sinh rèn luyện và trưởng thành lành lạnh

-Bộ sách "Kỹ năng năng tồn cho trẻ" do Nhà Xuất bản Dân trí xuất bản

năm 2014 của tác giả Hàn Dương (Trung Quốc) được nhiều tác giả dịch lại với 4 tập khác nhau: Tập 1: Sống khỏe ư? Đơn giản cực!, do Thanh Vân dịch; Tập 2: Sống khỏe ư? Đơn giản cực kỳ!, dịch giả Thùy Dung; Tập 3: Trong nhà chưa chắc đã an toàn đâu nhé, dịch giả Quân Đặng; Tập 4: Những cạm bẫy ngoài đường phố, Happy Zeng dịch Bộ sách là tổng hợp kiến thức kỹ năng sinh tồn dành cho trẻ đề cập đến tất cả những mối nguy hiểm được miêu

tả qua 100 câu chuyện tranh cụ thể cung cấp cho trẻ những kiến thức đúng đắn để phòng tránh hiệu quả nhất

- Cuốn sách "Khéo ăn nói sẽ có được thiên hạ" do Trắc Nhã chủ biên,

Phương Thảo dịch của Nhà xuất bản Văn học thì dạy trẻ những kỹ năng giao tiếp thành công trong những tình huống cụ thể Nội dung cuốn sách cũng đề cập đến sự lợi lại trong việc giao tiếp thành công và không thành công: Không biết ăn nói đụng đâu hỏng đấy; Biết ăn nói, làm gì thuận đấy; Khéo ăn nói muốn gì được nấy

Tác giả Alpha Book biên soạn bộ sách "Thoát nạn trong gang tấc" gồm

15 chương, tập hợp thật đầy đủ và chi tiết những tình huống bất ngờ, nguy

Trang 19

hiểm mà bạn nhỏ có thể gặp phải trong sinh hoạt, đời sống: như "Trong nhà";

"Ngoài đường"; "Ở trường học", "Thiên nhiên"; "Ăn uống sức khỏe"… Mỗi tập đều có những câu chuyện ngắn dạy các bạn nhỏ cách xử lí thật thông minh

để có thể thoát nạn trong gang tấc và ngày càng trưởng thành Chẳng hạn trong tập 1 là những câu chuyện mách cho các em những "phép thuật" để đánh bại những nguy hiểm thường gặp trong nhà hàng ngày như: "Kẻ gian đột nhập, đối phó sao đây?"; "Cháy nhà rồi, tớ phải làm sao?; "Rắc rối trong thang máy, xử trí thế nào?"; "Cái gì bay vào mặt tớ thế này"… Tất cả đều là những câu chuyện cụ thể và bài học về việc thoát hiểm an toàn cụ thể đối với trẻ em

Cuốn sách không cho trẻ em khung lý thuyết khoa học về kỹ năng sống

để từ cách hiểu đó trẻ em có thể dễ dàng nhận diện những tình huống cụ thể trong cuộc sống và có cách ứng biến linh hoạt Với cách truyền đạt bằng câu chuyện buộc trẻ em phải đọc tất cả những câu chuyện trong sách và gặp tình huống tương tự mới biết cách ứng xử Trong khi đó, cuộc sống có vô vàn biến động với những tình huống khó lường không có trong sách thì ngay cả khi đã đọc hết những câu chuyện trong sách học sinh gặp tình huống ngoài sách cũng sẽ không biết cách ứng xử

Điều mà tác giả luận văn muốn nói đến ở đây là cần đưa ra khung lý thuyết mang tính đặc thù cùng việc trích dẫn những câu chuyện cụ thể để trẻ

em có thể căn cứ vào khung lý thuyết đó ứng biến linh hoạt với các tình huống cụ thể trong cuộc sống

- Với nhiều năm nghiên cứu, nhóm tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Đinh Thị Kim Thoa, Trần Văn Tính, Vũ Phương Liên đã cho ra đời cuốn sách

"Giáo dục giá trị sống và Kỹ năng sống cho học sinh THPT" Cuốn sách được viết lồng ghép giữa giá trị sống và kỹ năng sống Đây là tiền đề đưa công tác giáo dục kỹ năng sống vào trường học nhằm định hướng những kỹ năng cơ bản cho học sinh

Trang 20

Vấn đề giáo dục Kỹ năng sống hiện nay cũng đã và đang nhận được sự quan tâm ủng hộ của mọi người Bằng các phương pháp trực quan sinh động, những Kỹ năng sống tích cực tạo điều kiện cho người trẻ bộc lộ những điểm yếu và thế mạnh của bản thân, những xu hướng và sở thích cá nhân Việc trang bị kỹ năng sống cho giới trẻ không chỉ dừng lại ở việc cung cấp cho họ những kỹ năng cần thiết, đó còn là việc hướng dẫn giới trẻ cách thức vận dụng nó vào thực tế cuộc sống như thế nào cho phù hợp với mỗi cá nhân và môi trường sống tương ứng

Hiện nay có khá nhiều đề tài nghiên cứu về nội dung kỹ năng sống, nhưng chủ yếu mới nằm trong phạm vi nghiên cứu, ứng dụng cho việc giáo dục kỹ năng sống trong nhà trường Trong khi có nhiều phương tiện, cách thức truyền tải thông điệp về kỹ năng sống rất sinh động, phong phú về nội dung, đa dạng về hình thức thể hiện, trong đó có báo chí

- Bài viết "Tầm quan trọng của giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em" của

TS.Nguyễn Trọng Tiến, Trung tâm đào tạo và phát triển tài năng trẻ em iSmartKids Bài nghiên cứu chỉ ra 3 nguyên nhân khiến trẻ bị thiếu kỹ năng sống:

Một là trẻ em được cha mẹ chăm sóc quá kỹ, vô tình tước mất khả năng

sinh tồn của con, trẻ được nuông chiều quá mức mất tính tự lập; Thứ hai là, trẻ bị cô đơn trong chính ngôi nhà của mình , giao tiếp gia đình eo hẹp do số

mẹ ít có thời gian giành cho con cái do như những chuyến đi công tác dài ngày, do không sắp xếp được công việc giành thời gian tâm sự trò chuyện với con Khi ở nhà thì chăm chú xem công nghệ thay vì chơi với con; Thứ 3 là chương trình giáo dục của chúng ta lý thuyết vẫn nhiều hơn thực hành, chú trọng dạy văn hóa mà không quan tâm nhiều đến việc trang bị cho các kỹ

năng sống

Bài viết phản ảnh được thực trạng của việc giáo dục kỹ năng sống hiện nay nhưng tất cả chỉ nói chung chung mang tính chất hô hào, khẩu hiệu nhưng làm thế nào và cách thức thực hiện ra sao, triển khai trong thực tế như thế nào

Trang 21

cho hiệu quả thì bài viết không phản ánh được Nói chung với bài viết này phụ huynh đọc cũng thấy đây là câu chuyện cũ ai cũng biết, không dung nạp được kiến thức mới, bài học từ thực tế mà bài viết mang lại

- "Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trong nhà

trường trung học phổ thông", Luận văn Thạc sĩ Giáo dục học, tác giả Hoàng

Nghĩa Kiên, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2013 Luận văn đã đưa ra khách

nhiệm quản lý, quản lý giáo dục, kỹ năng, kỹ năng sống Luận văn tập trung phân tích góc độ tác động của công tác quản lý đối với hoạt động giáo dục KNS trong nhà trường Đề ra những giải pháp nâng cao tình quản lý hoạt

động giáo dục giá trị sống, KNS cho học sinh ở cấp THPT

- Bài viết của tác giả Nguyễn Cao Thế, Bộ Môn Tâm lý Giáo dục,

Trường Đại học Hà Tĩnh đăng trên website của trường viết về "Bạo lực học

đường và những hậu quả" Bài viết chỉ ra rằng hậu quả của hành vi bạo lực

học đường đang ngày càng hiển hiện trong đời sống tâm lý của học sinh, của gia đình, của nhà trường và xã hội, nó là hồi chuông cảnh báo cho những ai thực sự quan tâm đến thế hệ trẻ và tương lai của đất nước, sẽ còn tốn nhiều thời gian, công sức, của cải để chúng ta giải quyết vấn nạn bạo lực học đường Tuy nhiên, để làm được điều đó cần phải có nhận thức đúng đắn về vấn đề bạo lực học đường, một quyết tâm cao độ đánh tan vấn nạn bạo lực học đường, của toàn ngành giáo dục, của các cấp liên ngành, của các lực lượng liên quan, của gia đình, nhà trường, của giáo viên và học sinh

- "Giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống cho học sinh tiểu học" - Tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Đinh Thị Kim Thoa, Bùi Thị Thúy Hằng Luận văn đưa ra hệ thống khái niệm kỹ năng, kỹ năng sống, giá trị sống cũng như tầm quan trọng của việc giáo dục kỹ năng sống và giá trị sống cho học sinh cấp tiểu học Đồng thời đề ra một số giải pháp nâng hiệu quả hoạt động giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống cho học sinh ở cấp tiểu học

Trang 22

- "Giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống cho học sinh tiểu học" - Tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Đinh Thị Kim Thoa, Bùi Thị Thúy Hằng Luận văn đưa ra hệ thống khái niệm kỹ năng, kỹ năng sống, giá trị sống cũng như tầm quan trọng của việc giáo dục kỹ năng sống và giá trị sống cho học sinh cấp tiểu học Đồng thời đề ra một số giải pháp nâng hiệu quả hoạt động giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống cho học sinh ở cấp tiểu học

- "Tổ chức phối hợp của huyện đoàn với nhà trường trung học phổ thông thực hiện giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ở huyện Gia Lâm hiện nay" - Luận văn Thạc sỹ Giáo dục học, tác giả Phùng Thị Hoài Thương, 2009 Luận văn đề cập tới vai trò của tổ chức Đoàn thanh niên cấp huyện và nhà trường cấp THCS trong việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ở huyện Gia Lâm hiện nay Đồng thời chỉ ra mối quan hệ, cách thức phối hợp giữa 2 tổ chức sao cho hiệu quả

- "Hãy dành nửa giờ mỗi ngày với con trẻ để chúng thông minh hơn", Báo Thanh niên ra ngày 13/12/2015 Thông tin trên bài báo phân tích việc cha

mẹ mỗi ngày chơi cùng con, độc sách báo, đưa con đi chơi sẽ giúp con hiểu biết và thông minh hơn, mạnh dạn hơn trong cuộc sống Vì vậy, một trong những cách giúp con phát triển tốt hơn là cha mẹ nên chơi cùng con

Bài: "Bộ Giáo dục: Không ép buộc học sinh học kỹ năng sống", đăng trên báo điện tử Vnexpress.vn ra ngày 29/12/2015 Bài viết phân tích nội dung giáo dục kỹ năng sống phải phù hợp với lứa tuổi, rèn luyện theo mức độ tăng dần

và không khiên cưỡng, không gây áp lực, không ép buộc học sinh tham gia Trong công văn mới nhất ngày 28/1, Bộ GD&ĐT yêu cầu các cơ sở giáo dục khi tổ chức dạy kỹ năng sống cho học sinh phải đảm bảo an toàn, nghiêm túc, hiệu quả, dựa vào điều kiện thực tế của trường, địa phương và tâm lý lứa tuổi của học sinh để tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng sống Các trường tránh tổ chức hình thức, quá tải, khiên cưỡng, không gây áp lực, không ép học sinh tham gia

Trang 23

Nhìn chung các cuốn sách, tài liệu, luận văn, bài báo khoa học kể trên mới bước đầu đề cập đến một số khía cạnh của của vấn đề giáo dục KNS cho trẻ em như khái niệm, thực trạng, giải pháp chung chung, công tác quản lý, chỉ đạo hoạt động KNS trong nhà trường Tuy nhiên, về mặt khoa học chưa

có tài liệu nào nghiên cứu cụ thể, cơ bản nội dung giáo dục KNS cho trẻ em trên báo chí nói chung và trên 5 tờ báo được khảo sát nói riêng chưa có chuyên mục thật sự đặc sắc nói về kỹ năng sống

Đây chính là lỗ hổng về mặt lý luận và thực tiễn cần được tiếp tục được nghiên cứu chuyên sâu, với mong muốn tìm kiếm các giải pháp, khuyến nghị khoa học nhằm tiếp tục nâng cao vai trò của báo chí nói chung, báo in Việt Nam nói riêng trong vấn đề giáo dục KNS cho trẻ em Luận văn của tôi sẽ kế thừa những giá trị đã được khai phá của những nhà nghiên cứu đi trước đó và coi đó là tiền đề lý luận và thực tiễn để triển khai chuyên sâu đề tài nghiên

và báo chí nói chung trong vấn đề giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em Việt Nam hiện nay

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện được mục tiêu nói trên luận văn tập trung giải quyết mấy

nhiệm vụ chính sau đây:

- Bước đầu hình thành khung lý thuyết về vấn đề báo in đối với việc

giáo dục KNS cho trẻ em trên báo in hiện nay

Trang 24

- Khảo sát thực trạng 5 tờ báo in diện khảo sát về vấn đề giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em, nhìn nhận những vấn đề thực tế về vấn đề này

- Phân tích thực trạng, những vấn đề đặt ra, trên cơ sở đó tìm kiếm giải pháp, khuyến nghị khoa học nhằm tiếp tục nâng cao vai trò của báo in trong vấn đề giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em hiện nay

4 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu là báo in với vấn đề giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em

- Phạm vi nghiên cứu là báo in cho trẻ em, chứ không phải báo chí về trẻ em nói chung Tức là không nghiên cứu nhóm báo về trẻ em nhưng dành cho người lớn tuổi

- Theo đó, đối tượng khảo sát báo gồm:

Báo Thiếu niên tiền phong, nhóm công chúng đích chủ yếu vào nhóm

công chúng trẻ em độ tuổi từ 6 - 16

- Hoa học trò, nhóm công chúng đích chủ yếu tập trung phục vụ đối

tượng ở tuổi mới lớn từ 12- 15 tuổi

- Mực Tím là tờ báo phục vụ nhóm công chúng đích thuộc nhóm tuổi

mới lớn 12 đến 18 tuổi tuy nhiên phạm vi nghiên cứu khảo sát của Luận văn

chỉ dừng lại ở 16 tuổi

- Báo Nhi đồng là tờ báo phục vụ nhóm công chúng đích nhóm lứa tuổi

nhi đồng

Theo đó, tác giả luận văn sẽ tập trung nghiên cứu nhóm đối tượng trẻ

em trực tiếp chịu tác động của báo chí (biết đọc từ 6- 16 tuổi) mà cụ thể ở đây

là báo in Không nghiêm cứu đối tượng trẻ em chịu tác động gián tiếp thụ

động đối với báo in (chưa biết chữ từ 0- 5 tuổi)

- Phạm vi nghiên cứu

Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu vấn đề kỹ năng sống mà 4 tờ báo Thiếu niên Tiền phong, Nhi đồng, Hoa học trò, Mực tím viết cho trẻ em Đó

Trang 25

là các bài báo liên quan đến vấn đề giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em Trong

đó, tập trung chủ yếu đến các kỹ năng sống chủ yếu thuộc 2 nhóm kỹ năng sơ

bản như Nhóm kỹ năng sinh tồn (Kỹ năng thoát hiểm; kỹ năng ứng phó, ứng

biến; Kỹ năng sử dụng các vật dụng; Kỹ năng khám phá cuộc sống một cách

an toàn và hiệu quả); Nhóm kỹ năng ứng xử (Kỹ năng phản bác; Kỹ năng

thuyết phục, lấy thiện cảm từ người khác; Kỹ năng thiết lập mối quan hệ) cho

trẻ em trên năm tờ báo tiến hành khảo sát chủ yếu được thể hiện dưới dạng chuyên mục, bài, loạt bài, truyện tranh Thời gian tiến hành khảo sát là 1 năm (năm 2015) trên 4 tờ báo nói trên

5 Cơ sở lý luận v phương pháp nghi n cứu đề tài

5.1 Cơ sở lý luận

- Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận là các quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng, Nhà nước và các chủ trương, định hướng của ngành Giáo dục về công tác báo chí…

- Luận văn cũng sử dụng một số lý thuyết về báo chí - truyền thông nói chung và một số lý luận về báo chí in ấn nói riêng làm cơ sở cho việc nghiên cứu và đánh giá

- Cơ sở lý luận trực tiếp cho vấn đề nghiên cứu là hệ thống lý thuyết

báo chí về trẻ em trong cuốn Báo chí về trẻ em [12] Mặt khác, tác giả cũng tham chiếu các vấn đề lý thuyết truyền thông trong cuốn Truyền thông - Lý

thuyết và kỹ năng cơ bản [15]

5.2 Phương pháp nghiên cứu đề tài

Phương pháp thống kê phân tích:

Được dùng để xác định tầng số xuất hiện thống kê và phân loại các tác phẩm báo chí thuộc diện khảo sát để tìm hiểu về tần suất các mảng vấn đề và

cách thức giải quyết vấn đề giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em

Trang 26

Bảng khảo sát thứ nhất: Khảo sát 1 năm (năm 2015) để xác định xem 4

tờ báo trong diện khảo sát thông tin về vấn đề giáo dục KNS như thế nào

Thời điểm nào các tờ báo nói trên nói nhiều đến kỹ năng sống dành cho trẻ

em (tiến hành khảo sát số nói nhiều nhất về trẻ em), để xem tần suất xuất hiện tần suất xuất hiện báo in viết cho trẻ em, bao nhiêu phần trăm

Bảng khảo sát thứ 2: Phân nhóm kỹ năng sống cho trẻ em làm 2 nhóm:

Thứ nhất là nhóm trẻ em đang là học sinh tiểu học (từ 6- 11 tuổi) chiếm 50%; Nhóm trẻ em là học sinh phổ thông cơ sở (từ 12- 15 tuổi) chiếm 50% Qua thực tế khảo sát tìm hiểu xem nhóm tuổi nào gặp nhiều rủi ro trong cuộc sống:

tai nạn, đuối nước là kỹ năng sinh tồn chiếm bao nhiêu %

Bảng khảo sát thứ 3: Những bài viết như vậy tác giả chủ yếu là ai: PV,

nhà báo hay các nhà nghiên cứu, các nhà luật học, chuyên gia tâm lý Xem cơ cấu tác giả để xem khả năng huy động nguồn lực xã hội trong việc viết cho trẻ

em như thế nào?

Bảo khảo sát thứ 4: Thể loại và chuyên mục: xem tờ báo nào có chuyên

mục không, có tờ báo làm quanh năm nhưng có tờ tới các ngày lễ, thời điểm nhất định mới triển khai nội dung này; Thời gian, thời điểm xuất hiện của

những bài báo có đều hay không

Phương pháp phỏng vấn sâu

Gồm ba nhóm đối tượng:

Những người làm báo cho trẻ em

Ban biên tập 5 báo diện khảo sát (mỗi tờ 2 người)

Phỏng vấn một số chuyên gia liên quan đến vấn đề nghiên cứu

Phỏng vấn một số nhà quản lý liên quan vấn đề trẻ em

Để tìm hiểu vấn đề báo chí thực hiện, triển khai KNS cho trẻ em sao

cho hiệu quả

Thảo luận nhóm

Thực hiện ở mỗi tòa soạn một cuộc thảo luận nhóm tập trung để tìm hiểu nhận thức, kỹ năng của những người làm báo cho trẻ em, những thách

Trang 27

thức, thuận lợi, khó khăn đặt ra trong qua trình thực hiện việc giáo dục KNS thời điểm hiện tại

Phương pháp thảo luận nhóm: Thảo luận ở tòa soạn với những người đảm trách về mảng trẻ em; Thảo luận với công chúng trẻ em (mỗi đối tượng

An và Trường Tiểu học Tô Vĩnh Diện- khảo sát trong 1 quận - mỗi trường

50 phiếu)

4 trường thuộc quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội: 2 trường tiểu học là Trường Tiểu Học Cầu Diễn và Trường Tiểu học Hồ Tùng Mậu; 2 trường PTCS, mỗi trường 50 phiếu Tổng 400 phiếu

Mục đích phát bản hỏi an két: Thứ nhất là tìm hiểu mức độ tiếp nhận sản phẩm báo chí của trẻ em đối với sản phẩm báo chí dành cho trẻ em tại địa bàn khảo sát; Thứ 2 là để tìm hiểu thông tin phản hồi, đáp ứng nhu cầu giáo dục công chúng kỹ năng sống cho trẻ em như thế nào

Để thực hiện đề tài, tác giả sử dụng một số phương pháp cụ thể như: + Phương pháp truyền thông thay đổi hành vi: Vai trò báo chí truyền thông trong xã hội; Báo chí xã hội truyền thông

+ Phương pháp điều tra bằng phiếu an-két (300 phiếu khảo sát) cho nhóm công chúng trẻ em xem có tiếp cận được thông tin trên công chúng không, có đọc báo không?); Cho phụ huynh học sinh; Đội ngũ nhà báo, chuyên gia nghiên cứu, nhà quản lý về vấn đề này Qua đó, thống kê, phân tích, xử lý các số liệu của đề tài, giúp đánh giá vấn đề chính xác, khoa học

Trang 28

6 Câu hỏi nghiên cứu

Đặt ra một số câu hỏi nghiên cứu sau đây:

- Vì sao phải giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em?

Nêu ra hiện trạng thiếu kỹ năng sống của trẻ em hiện nay, những thách thức mà họ phải đối diện trong bối cảnh xã hội có nhiều thay đổi Đồng thời, chỉ ra tầm quan trọng và tính cấp thiết phải giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em không chỉ trong gia đình, trường học mà còn trên các phương tiện truyền thông, cụ thể ở đây là trên 4 tớ báo: Ni đồng, Thiếu niên Tiền Phong, Mực tím, Hoa học trò dành riêng cho trẻ em

- Giáo dục kỹ năng sống gồm những nội dung gì?

Dựa trên những kiến thức, nội dung giáo dục kỹ năng sống trong trường học hiện nay do Bộ giáo dục và Đào tạo đang triển khai, kết hợp với những khái niện của một số tổ chức uy tín như: Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), Quỹ cứu trợ Nhi đồng LHQ (UNICEF), Tổ chức Giáo dục, khoa học

và văn hóa LHQ (UNESCO) để hệ thống hóa và rút ra những kỹ năng sống được giáo dục trên báo in hiện nay

- Giáo dục kỹ năng sống như thế nào?

Thông qua việc khảo sát nội dung, hình thức, tần suất xuất hiện, ưu, nhược điểm của các chương trình có nội dung giáo dục kỹ năng sống trên 4 tờ báo, luận văn sẽ chỉ ra thực trạng giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em hiện nay

về cả nội dung và hình thức

- Làm thế nào để giáo dục kỹ năng sống thông qua báo in đạt hiệu quả cao?

Từ kết quả khảo sát chương trình, điều tra khán giả, lấy ý kiến chuyên gia, những phóng viên, biên tập viên trực tiếp sản xuất nội dung các số báo, luận văn sẽ đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng mang nội dung giáo dục kỹ năng sống trên báo in

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

Đây là một công trình khoa học nghiên cứu cơ bản và hệ thống về vấn

đề báo chí với vấn đề về giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em Có thể đây là lần

Trang 29

đầu tiên thiết lập nhận thức lý thuyết, lý luận khung lý thuyết về vấn đề này Thông qua nghiên cứu về vấn đề này chúng tôi đề xuất những giải pháp để nâng cao năng lực và hiệu quả tác động của báo chí cho trẻ em Việt Nam về vấn đề giáo dục KNS cho trẻ em; Đây cũng là vấn đề bức xúc hiện nay

7.1 Ý nghĩa lý luận

- Kết quả của luận văn một lần nữa khẳng định vai trò của báo chí nói chung, lĩnh vực giáo dục nói riêng đối với một lĩnh vực quan trọng, nóng bỏng của đời sống xã hội, đó là lĩnh vực giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em

- Làm rõ thêm về công tác truyền thông về giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em với các kỹ năng sống cơ bản dục kỹ năng sinh tồn, kỹ năng ứng xử, kỹ năng thoát hiểm và ứng phó với tình huống nguy cấp của năm tờ báo được tiến hành khảo sát

- Nghiên cứu cũng làm thay đổi cách nhìn nhận của công chúng về vai trò của truyền thông báo chí trong công tác tuyên truyền giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em Từ đó, thu hút thêm nhiều công chúng trẻ em nói riêng, công chúng nói chung quan tâm theo dõi các bài báo, phương tiện truyền thông nói

về giáo dục kỹ năng sống và áp dụng phù hợp cho mình và cho con em mình

- Luận văn là đề tài hết sức cần thiết nhằm bổ sung nguồn số liệu mà các nghiên cứu ở một số loại hình báo chí khác đã đề cập hoặc làm cơ sở cho việc triển khai nghiên cứu các đề tài có liên quan Hơn nữa, đây là công trình nghiên cứu trên lĩnh vực báo chí về công tác truyền thông về giáo dục kỹ

năng sống và làm nền tảng cho các nghiên cứu sâu hơn trong những năm tới

7.2 Ý nghĩa thực tiễn

- Luận văn sẽ cung cấp cho các phương tiện truyền thông có cơ sở khoa học đáng tin cậy để đề ra định hướng công tác truyền thông về giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em trong những năm tới nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin kiến thức cũng như cách thức giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em nói chung

- Là cơ sở để xây dựng kế hoạch, nội dung cũng như hình thức phù hợp, chất lượng hơn những bài báo, chuyên mục trên các báo góp phần làm

Trang 30

cho chất lượng các sản phẩm báo chí đề cập đến giáo dục kỹ năng sống ngày càng được nâng cao, phục vụ tốt hơn nhu cầu của công chúng và theo kịp sự phát triển của xã hội

- Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là nguồn tư liệu tham khảo, có hệ thống cho phóng viên đang hoạt động trên lĩnh vực thông tin nói chung và truyền thông về giáo dục về kỹ năng sống nói riêng thông qua các tờ báo để truyền trải Đồng thời là nguồn tài liệu tham khảo cho những nhà hoạch định chính sách của ngành giáo dục có cơ sở để đánh giá công tác chất lượng công tác truyền thông giáo dục kỹ năng sống Từ đó, xây dựng kế hoạch, định hướng công tác phối hợp giữa ngành và các báo, đài truyền hình ngày càng chặt chẽ, nhằm nâng cao chất lượng giáo dục kỹ năng sống, thúc đẩy Bộ Giáo

dục đào tạo ra giáo trình chuẩn dạy về kỹ năng sống

8 Kết cấu của luận văn

Chương 1: Giới thuyết các cơ sở lý thuyết, thực tiễn về báo chí nói

chung và báo in nói riêng về vấn đề giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em Đặc biệt chỉ ra sự cần thiết phải giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em trước những thách thức đang gặp phải hiện nay

Trình bày các khái niệm liên quan, trong đó tập trung vào việc giới thuyết khái niệm kỹ năng sống và hai nhóm kỹ năng sinh tồn và kỹ năng ứng

xử được tiến hành khảo sát trên 4 báo: Báo Nhi đồng, Thiếu niên Tiền phong, Mực Tím, Hoa học trò; Đặc điểm đối tượng nghiên cứu, Cơ sở lý thuyết về báo chí, báo in với vấn đề giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em Trong khuôn khổ luận văn này, tác giả luận văn sẽ tập trung vào nhóm kỹ năng sống và nhóm kỹ năng ứng xử Trong đó, nhóm kỹ năng ứng xử sẽ tập trung nghiên cứu những kỹ năng mang tính ứng phó, ứng biến giúp các em có thể tự ứng

xử trong những điều kiện bất trắc thường xuyên biến đổi, từ đó hình thành thói quen ứng xử chủ động trong suốt cuộc đời

Chương 2: Thực trạng báo in với vấn đề giáo dục kỹ năng sống cho trẻ

em: Giới thiệu các đơn vị khảo sát (Báo Nhi đồng, Báo Thiếu niên Tiền

Trang 31

phong, Mực Tím, Hoa học trò); Tiến hành khảo sát tần xuất xuất hiện các tin bài, ảnh, truyện tranh, truyện ngắn… nội dung giáo dục kỹ năng sống liên quan đến 2 nhóm kỹ năng sinh tồn và kỹ năng ứng xử thể hiện qua các bảng khảo sát có con số cụ thể Nhận xét chất lượng bài viết, tỷ lệ tác giả thực hiện các bài viết về kỹ năng sống, nhóm kỹ năng được công chúng quan tâm, đánh giá sự vào cuộc của báo chí giành cho trẻ em trong vấn đề giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em

Chương 3: Vấn đề và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng báo in trong

việcgiáo dục kỹ năng sống cho trẻ em hiện nay: Tập trung vào 3 nội dung chính, thứ nhất là nói về những vấn đề đặt ra trong giáo dục trẻ em trong bối cảnh thế giới đang bị "làm phẳng", sự hội nhập kinh tế, giao lưu văn hóa mở cuộc sống ra thế giới rộng lớn, xóa nhòa biên giới các nước, áp lực đặt ra cũng lớn hơn; Thứ hai là, đánh giá thực tế khảo sát 2 nhóm kỹ năng sinh tồn và

kỹ năng ứng xử trên 4 báo thuộc diện khảo sát, qua đó phân tích đánh giá thực tế; Thứ ba là, đưa ra một số giải pháp và khuyến nghị khoa học để việc giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em trong hệ thống giáo dục được chú trọng bài bản hơn, tiếp tục nâng cao năng lực và hiệu quả tác động của báo in nói riêng và báo chí nói chung trong vấn đề giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em Việt Nam hiện nay

Trang 32

Chương 1

CƠ SỞ LÝ THUYẾT - THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ

BÁO CHÍ GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO TRẺ EM

1.1 CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN VÀ LÝ THUYẾT CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1.1 Các khái niệm cơ bản

- Khái niệm trẻ em (giới hạn nhóm trẻ em mà nhóm báo chí tác động

từ 6- 16 tuổi)

Trong khoa học trẻ em được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau, tùy theo cách tiếp cận của từng khoa học cụ thể (Triết học, Xã hội học, Tâm lý học…) Cái chung trong tất cả các định nghĩ đó là ở chỗ đều thừa nhận rằng, trẻ em không phải là người lớn thu nhỏ lại mà trẻ em và người lớn là chặng đường phát triển khác nhau của một thể hệ người (Từ lúc sinh ra đến khi chết đi) Điều đó có nghĩa là trẻ em vận động và phát triển theo quy luật riêng của trẻ; người lớn vận động phát triển theo quy luật riêng của người lớn Cần lưu

ý rằng, thuật ngữ trẻ em dùng để chỉ một giai đoạn phát triển của con người

Từ lúc lọt lòng đến tuổi 18 (theo Luật Lao động Việt Nam)

Theo luật Bảo vệ và chăm sóc và Giáo dục trẻ em của nước ta thì trẻ em

là người dưới 16 tuổi Trong lứa tuổi này, tâm lý học lại chỉ ra nhiều giai đoạn phát triển tương ứng với độ tuổi như sau (Ở giai đoạn nhỏ này, trẻ em lại vận động phát triển theo những quy luật riêng) Trong phạm vi luận văn này chỉ đề cập đến trẻ em từ 6- 16 tuổi, có thể chia ra các giai đoạn ở độ tuổi trẻ em như sau: tuổi nhi đồng từ 6 - 11 tuổi, tuổi thiếu niên 11- 15 tuổi; Tuổi thanh niên mới lớn từ 15- 18 tuổi tuy nhiên, phạm vi luận văn chỉ tính đến 16 tuổi

Mặt khác, cần thấy rằng, trẻ em ở mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau được tiếp thu một nền văn hóa khác nhau (chẳng hạn, trẻ em trước Cách mạng tháng 8 tiếp thu nên văn hóa khác hẳn trẻ em ngày nay) Kết quả là mỗi thời đại lịch sử lại có trẻ em riêng của nó)

Trang 33

Vì vậy, có thể khẳng định rằng, trẻ em rất khác nhau không chỉ ở độ tuổi mà còn khác nhau bởi thời đại, bởi nền văn hóa mà nó được thụ hưởng thông qua hoạt động của chính nó Không có trẻ em chung chung; chỉ có trẻ

em ở một thời đại, ở một độ tuổi cụ thể Chính vì vậy, phải nhìn trẻ em bằng

con mắt biện chứng, không thể lấy quá khứ để làm chuẩn cho trẻ em hiện nay

- Giáo dục và báo chí giáo dục

Khái niệm giáo dục:

Giáo dục là hoạt động nhằm hình thành ý thức ở đối tượng Khi nhận được những thông tin (về quá khứ và hiện tại, về những quy luật vận động và phát triển của xã hội, về những giá trị và chuẩn mực của cuộc sống ) tạo ra

sự thay đổi về chất trong mỗi con người Nếu những thông tin tiếp nhận ấy là chân thực và khách quan thì quan điểm riêng được hình thành sẽ là tích cực (và ngược lại) Để đạt được hiệu quả giáo dục, báo chí khi truyền bá những thông tin về thực tiễn phải giúp cho công chúng hiểu biết được những quy luật, những sự kiện, hiện tượng, những quá trình của đời sống xã hội, phải quan tâm đến việc tạo ảnh hưởng tư tưởng mạnh mẽ tới họ, phải phối hợp và gắn với những giá trị, những chuẩn mực, những tư tưởng hiện hành, có nghĩa

là gắn với chức năng mục tiêu của hoạt động thông tin, với toàn bộ các hình thức định hướng xã hội

Báo chí giáo dục

Báo chí giáo dục là hình thành tư duy kinh tế, giáo dục ý thức chính trị,

ý thức lao động, ý thức đạo đức, ý thức luật pháp, tinh thần yêu nước và đấu tranh chống lại những tư tưởng và những chuẩn mực đạo đức xa lạ

Hoạt động giáo dục trong báo chí góp phần tạo ra niềm tin của công chúng Sự xuất hiện của niềm tin đối với báo chí - đó là kết quả của việc tiếp thu thông tin cá nhân, hình thành từ sự tin tưởng vào những phản ánh, phân tích và đánh giá, đề xuất, kiến nghị và kết luận của báo chí Do vậy, để hình thành niềm tin của công chúng, đòi hỏi báo chí phải sử dụng một cách linh

Trang 34

hoạt và sáng tạo các phương pháp tái tạo thực tiễn trong các tác phẩm báo chí, vận dụng một cách linh hoạt và sáng tạo những đặc điểm, những quy luật của hoạt động tuyên truyền, cổ động và tổ chức mà nhờ những phương pháp này thực hiện một cách hiệu quả nhiệm vụ giáo dục của báo chí

1.1.2 Vai trò kỹ năng sống

1.1.2.1 Kỹ năng

Từ điển tâm lí học của Mỹ do tác giả J.P.Chaplin chủ biên (1968) định nghĩa kỹ năng là "thực hiện một trật tự cao cho phép chủ thể tiến hành hành động một cách trôi chảy và đúng đắn" [32, tr.458] Tác giả Nga V.A.Crutexki

(1974) viết: "Kỹ năng là phương thức thực hiện hành động đã được con người

nắm vững từ trước" [8, tr.78]

Nhà nghiên cứu tâm lý học, PGS Trần Trọng Thủy cho rằng: Kỹ năng

là mặt kỹ thuật của hành động Con người nắm được các hành động tức là có

kỹ thuật hành động và có kỹ nănag

Các tác giả như Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Ánh Tuyết, Trần Quốc Thành cũng quan niệm: Kỹ năng là một mặt năng lực của con người trong việc thực hiện một công việc có kết quả

Có thể đưa ra khái niệm về kỹ năng để tiện cho quá trình nghiên cứu

tiếp theo: Kỹ năng là năng lực của chủ thể trong việc vận dụng những hiểu

biết, tri thức để thực hiện một hoạt động một cách phù hợp với những điệu kiện hiện có nhằm đạt được mục đích đề ra

Theo PGS, TS, Nguyễn Văn Dững "kỹ năng là khả năng hay năng lực vận dụng để biến, chuyển những tri thức khoa học, những hiểu biết thành hành vi, hành động thực tế để có thể tạo ra sản phẩm có ích, phù hợp với mục đích đã định" [15]

1.1.2.2 Kỹ năng sống

Tổ chức Y tế Thế giới WHO định nghĩa KNS là "khả năng thích nghi

và hành vi tích cựccho phép cá nhân có khả năng đối phó hiệu quả với nhu

Trang 35

cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày" Trong giáo dục tiểu học và giáo dục trung học, kỹ năng sống có thể là một tập hợp những khả năng được rèn luyện và đáp ứng các nhu cầu cụ thể của cuộc sống hiện đại hóa; ví dụ cuộc sống bao gồm quản lý tài chính (cá nhân), chuẩn bị thức ăn, vệ sinh, cách diễn đạt, và kỹ năng tổ chức Đôi khi kỹ năng sống, nhưng không phải luôn luôn, khác biệt với các kỹ năng nghiệp vụ (trong nghề nghiệp)

- Còn theo UNICEF: Kỹ năng sống là tập hợp nhiều kỹ năng tâm lý xã hội và giao tiếp cá nhân giúp cho con người đưa ra những quyết định có cơ

sở, giao tiếp một cách có hiệu quả, phát triển các kỹ năng tự xử lý và quản lý bản thân nhằm giúp họ có một cuộc sống lành mạnh và có hiệu quả Từ kỹ năng sống có thể được thể hiện thành những hành động cá nhân và những hành động

đó sẽ tác động đến hành động của những người khác cũng như dẫn đến những hành động nhằm thay đổi môi trường xung quanh, giúp nó trở nên lành mạnh

Có thể hiểu, kỹ năng sống là các kỹ năng hết sức cần thiết cho cuộc sống của chính mỗi người, nhất là với đối tượng trẻ em còn thiếu những trải nghiệm trong thực tế cuộc sống Đó là những kỹ năng mà trẻ em thực sự cần

để trở thành một con người, muốn sống tốt và sống an toàn Kỹ năng sống chính là những thói quen hợp lý, cần thiết để xử lý trong tình huống cụ thể Những tình huống này phải có thật và có nhiều khả năng xảy ra trong thời điểm hiện tại hoặc trong tương lai Ứng xử phù hợp trong những tình huống này sẽ giúp chúng thoát khỏi nguy hiểm hoặc xử lý vấn đề hiệu quả, hợp lý

Kỹ năng sống khuyến khích thái độ tích cực, phòng ngừa và giảm thiểu các hành vi nguy cơ Nó giúp con người phát huy sức mạnh nội lực để có thể làm chủ được cuộc sống của mình và sống khỏe mạnh, hạnh phúc, có mục đích, có ý nghĩa

1.1.2.3 Giáo dục kỹ năng sống

- Giáo dục kỹ năng sống là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch đến trẻ em nhằm giúp trẻ em có những kiến thức về cuộc sống, có

Trang 36

những thao tác, hành vi ứng xử đúng mực trong các mối quan hệ xã hội như quan hệ của cá nhân với xã hội, của cá nhân với lao động, của cá nhân với mọi người chung quanh và của cá nhân với chính mình, giúp cho nhân cách mỗi học sinh được phát triển đúng đắn đồng thời thích ứng tốt nhất với môi trường sống

Bản chất của giáo dục kỹ năng sống là giáo dục, cung cấp, trang bị những kiến thức, kỹ năng cần thiết để giúp thanh thiếu niên có thể sống một

cách chủ động, tích cực, ứng phó với mọi tình huống trong xã hội hiện đại

1.1.2.4 Nội dung thực hiện nghiên cứu

Trong xã hội hiện đại, những tình huống nảy sinh ngoài mong muốn có thể ảnh hưởng đến sự an nguy của trẻ Vì vậy, cuộc sống luôn đòi hỏi trẻ không chỉ biết cách sống an toàn mà còn phải biết ứng xử một cách đúng mực, có văn hóa Biết sống an toàn là cách tốt nhất để trẻ tồn, vượt qua hiểm nguy chính là được trang bị những kỹ năng "sống sót"

Dạy trẻ em Kỹ năng sinh tồn là một việc làm rất cần thiết trong xã hội đầy những thử thách, biến động ngày nay vì trẻ em càng được trải nghiệm nhiều kỹ năng thích nghi với cuộc sống càng tốt Để có thể sống tốt, sống an

toàn thì việc trang bị nhóm Kỹ năng ứng xử và nhóm Kỹ năng sinh tồn là hết

sức quan trọng Chính vì vậy, trong phạm vi luận văn sẽ tập trung nghiên cứu hai nhóm kỹ năng thiết yếu này

+ Nhóm kỹ năng sinh tồn: là những kỹ năng xử trí phù hợp trong những

tình huống nguy cấp hoặc có dấu hiệu không an toàn giúp thoát khỏi nguy hiểm hoặc xử lý vấn đề hiệu quả, hợp lý

- Kỹ năng thoát hiểm: Trong tai nạn hay tình huống nguy hiểm xảy ra,

trẻ em cần làm là phải biết cách thoát ra khỏi nơi nguy hiểm một cách an toàn

và hiệu quả Những kỹ năng này bao gồm: thoát khỏi hỏa hoạn, ngập lụt, động đất, tai nạn thương tích, xâm hại hay bắt cóc Đây là những kỹ năng vô

cùng quan trọng và vô cùng cần thiết nhất là khi đối mặt với hiểm nguy

Trang 37

- Kỹ năng ứng phó, ứng biến: Nhiều tình huống không phải là nguy

hiểm nhưng tiềm tàng mối hiểm nguy, nếu biết cách xử phù hợp sẽ không phải chịu thiệt hại hoặc thiệt hại nhỏ Chẳng hạn, uống phải nước có thuốc mê khi đi với người lạ với nguy cơ bị bắt cóc hay xâm hại Việc biết trước nguy

cơ sẽ giúp trẻ em không bị rơi vào tình huống nguy hiểm này Đây chính là kỹ năng ứng phó, ứng biến

- Kỹ năng sử dụng các vật dụng (nhất là những vật dụng có khả năng

gây sát thương như: Dao, kéo, kim, búa, đinh, điện ) Người lớn sử dụng những vật dụng này nhiều khi thiếu cần trọng còn bị sát thương, vì vậy trẻ em rất cần được truyền dạy kỹ năng này để được an toàn khi cần thiết phải dung đến những vật dụng này

- Kỹ năng khám phá cuộc sống một cách an toàn và hiệu quả: khám

phá sự thú vị của cuộc sống nhưng thiếu an toàn cho bản thân thì đó là một khiếm khuyết Làm thế nào để trẻ có thể khám phá được cuộc sống một cách

an toàn, hiệu quả là việc phải học ngay Chỉ có tự khám phá mới nâng cao liên

tục những hiểu biết trong trí não trẻ

+ Nhóm kỹ năng ứng xử: Là những kỹ năng thể hiện và thuyết phục

người khác Đây là kỹ năng giao tiếp, để đạt mục đích tốt nhất thông qua lời nói

- Kỹ năng thuyết phục, lấy thiện cảm từ người khác: xưng hô đúng tuổi

tác, nói rõ ràng dễ nghe Không đề cập đến các chủ đề mà người nghe không hiểu, không quan tâm hoặc các chủ đề nhạy cảm, thái độ chân thành trên thực

tế trẻ em nhiều khi cũng bị rơi vào những tình huống khó xử như bị bạn bè trêu ghẹo ở lớp như bị ghán ghép, bị chọc quê

- Kỹ năng phản biện: Là khi gặp những đòi hỏi vô lý không thể chấp

nhận được nhưng không thể bác bỏ thẳng thừng Việc khéo léo chỉ ra sự vô

lý, những điều bất lợi, sự nguy hiểm với đòi hỏi đó để bác bỏ đòi hỏi vô lý

- Kỹ năng thiết lập mối quan hệ: Đây là kỹ năng hết sức quan trọng,

bởi muốn đạt được thành công, trẻ em không chỉ cần kỹ năng giao tiếp tốt mà

Trang 38

còn phải biết cách để tạo dựng cho mình những mối quan hệ bền vững cả trong học tập và trong cuộc sống

Tóm lại: Luận văn sẽ tập trung nghiên cứu 2 nhóm kỹ năng, nhóm kỹ

năng ứng xử (Kỹ năng phản biện, Kỹ năng thuyết phục, lấy thiện cảm từ người khác, Kỹ năng thiết lập mối quan hệ); Nhóm kỹ năng sinh tồn (Kỹ năng

thoát hiểm, Kỹ năng ứng phó, ứng biến, Kỹ năng sử dụng vật dụng, Kỹ năng khám phá cuộc sống một cách an toàn và hiệu quả)

1.1.3 Công chúng trẻ em

- Nhóm công chúng trẻ em:

Theo định nghĩa của PSG, TS Nguyễn Văn Dững trong cuốn Báo chí cho trẻ em ở nước ta hiện nay: "Công chúng báo chí được hiểu là nhóm đối tượng chịu tác động trực tiếp, gián tiếp hoặc có khả năng ảnh hưởng, tác động của báo chí Có công chúng trực tiếp, công chúng gián tiếp, công chúng mục tiêu và công chúng liên quan

Mỗi nhóm công chúng có nhu cầu, mỗi quan tâm và lợi ích riêng trong việc tiếp nhận sản phẩm báo chí truyền thông Công chúng báo chí không chỉ

là đối tượng tác động, đối tượng điều chỉnh mà còn là đối tác quan trọng và tiêu chí quan trọng nhất đánh giá năng lực và hiệu quả tác động của báo chí

Là đối tượng tiếp nhận sản phẩm báo chí, trẻ em được đánh giá dưới nhiều góc độ, vừa là đối tượng tiếp nhận, vừa là đối tượng sản xuất sản phẩm báo chí, vừa là chủ thể, vừa là đối tượng Xét về phương diện tiếp nhận trẻ em

là đối tượng tiêu thụ sản phẩm báo chí; Về góc độ giáo dục trẻ em là đối tượng được giáo dục, hoàn thiện nhân cách và phát triển để phục vụ lại cho sự phát triển của đất nước sau này

Tại Việt Nam, nhóm công chúng trẻ em chiếm tới gần 40% dân số và được toàn xã hội đặc biệt quan tâm vì vậy sản phẩm báo chí phải truyền tải, phản ánh được tâm tư nguyện vọng, tình cảm và bù đắp thiếu hụt cho trẻ em góp phần làm cho trẻ em được phát triển toàn diện, an toàn

Trang 39

Công chúng trẻ em là nhóm công chúng lớn trong xã hội vì vậy thấu hiểu đối tượng công chúng này để báo chí, đặc biệt là báo chí dành cho trẻ em đưa thông tin phù hợp, đáp ứng nguyện vọng chính đáng của trẻ em là điều hết sức cần thiết

Đối tượng nghiên cứu là nhóm công chúng trẻ em từ 6- 16 tuổi, nghĩa

là đối tượng trẻ em học bậc tiểu học và phổng thông cơ sở chịu tác động trực tiếp của báo chí (biết đọc báo) Theo đó, có thể chia đặc điểm đối tượng

nghiêm cứu cụ thể như sau

- Đặc điểm công chúng trẻ em lứa tuổi học sinh tiểu học

Tâm lý lứa tuổi học sinh tiểu học là thực thể đang hình thành và phát triển cả về mặt sinh lý, tâm lý, xã hội các em đang từng bước gia nhập vào xã hội thế giới của mọi mối quan hệ Do đó, học sinh tiểu học chưa đủ ý thức, chưa đủ phẩm chất và năng lực như một công dân trong xã hội, mà các em luôn cần sự bảo trợ, giúp đỡ của người lớn, của gia đình, nhà trường và xã hội Học sinh tiểu học dễ thích nghi và tiếp nhận cái mới và luôn hướng tới tương lai Nhưng cũng thiếu sự tập trung cao độ, khả năng ghi nhớ và chú ý

có chủ định chưa được phát triển mạnh, tính hiếu động, dễ xúc động còn bộc

lộ rõ nét Trẻ nhớ rất nhanh và quên cũng nhanh

Nhân cách của các em lúc này mang tính chỉnh thể và hồn nhiên, trong quá trình phát triển trẻ luôn bộc lộ những nhận thức, tư tưởng, tình cảm, ý nghĩ của mình một cách vô tư, hồn nhiên, thật thà và ngay thẳng; nhân cách của các em lúc này còn mang tính tiềm ẩn, những năng lực, tố chất của các

em còn chưa được bộc lộ rõ rệt, nếu có được tác động thích ứng chúng sẽ bộc

lộ và phát triển; và đặc biệt nhân cách của các em còn mang tính đang hình thành, việc hình thành nhân cách không thể diễn ra một sớm một chiều, với học sinh tiểu học còn đang trong quá trình phát triển toàn diện về mọi mặt vì thế mà nhân cách của các em sẽ được hoàn thiện dần cùng với tiến trình phát triển của mình

Trang 40

Hiểu được những điều này mà cha mẹ hay thầy cô giáo và báo chí dành cho trẻ em tuyệt đối không được "chụp mũ" nhân cách của trẻ, trái lại phải dùng những lời lẽ nhẹ nhàng mang tính gợi mở và chờ đợi, phải hướng trẻ đến với những hình mẫu nhân cách tốt đẹp mà không đâu xa, chính cha mẹ,

thầy cô và các bạn

- Đặc điểm công chúng trẻ em lứa tuổi của học sinh THCS

Lứa tuổi học sinh trung học cơ sở từ lớp 6 đến lớp 9 (còn gọi là lứa tuổi thiếu niên) là giai đoạn phát triển của trẻ từ 11 đến 15, 16 tuổi Lứa tuổi này

có một vị trí đặc biệt và tầm quan trọng trong thời kỳ phát triển của trẻ em vì

nó là thời kỳ chuyển tiếp từ tuổi thơ sang tuổi trưởng thành và được phản ánh bằng những tên gọi khác nhau như: "thời kỳ quá độ", "tuổi khó bảo", "tuổi khủng hoảng", "tuổi bất trị"

Đây là lứa tuổi có bước phát triển nhảy vọt về thể chất lẫn tinh thần, các em đang tách dần khỏi thời thơ ấu để tiến sang giai đoạn phát triển cao hơn (người trưởng thành) tạo nên nội dung cơ bản và sự khác biệt trong mọi mặt phát triển: thể chất, trí tuệ, tình cảm, đạo đức… của thời kỳ này Ở lứa tuổi này có sự tồn tại song song "vừa tính trẻ con, vừa tính người lớn", điều này phụ thuộc vào sự phát triển mạnh mẽ về cơ thể, sự phát dục, điều kiện sống và hoạt động… của các em Mặt khác, ở những em cùng độ tuổi lại có

sự khác biệt về mức độ phát triển các khía cạnh khác nhau của tính người lớn

- điều này do hoàn cảnh sống, hoạt động khác nhau của các em tạo nên

Hiểu rõ vị trí, ý nghĩa của giai đoạn phát triển tâm lý thiếu niên sẽ giúp

ta có cách đối xử đúng đắn, giáo dục và điều chỉnh hành vi qua thông tin đăng tải để các em có một nhân cách toàn diện

Trong cuốn "Báo chí cho trẻ em ở nước ta hiện nay", PGS TS Nguyễn Văn Dững đã nhận định rất đúng: "Mục đích của báo chí là nâng cao nhận

thức, tạo ra sự tương đồng về nhận thức thông qua việc định hướng nhận thức

và dư luận xã hội, mở rộng hiểu biết tiến tới thay đổi, điều chỉnh thái độ, hành

Ngày đăng: 25/11/2021, 07:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w