1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vai trò của nhà nước trong quản lý lao động người nước ngoài tại các doanh nghiệp ở việt nam hiện nay

101 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 1,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VAI TRÕ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG QUẢN LÝ LAO ĐỘNG NGƯỜI NƯỚC NGOÀI (38)
    • 1.1. Quản lý nhà nước đối với lao động người nước ngoài (16)
    • 1.2. Vai trò của Nhà nước trong quản lý lao động người nước ngoài (21)
    • 1.3. Kinh nghiệm về thực hiện vai trò của nhà nước trong quản lý lao động người nước ngoài của một số quốc gia và một số gợi mở đối với Việt Nam 23 Chương 2: THỰC TRẠNG VAI TRÕ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG QUẢN LÝ LAO ĐỘNG NGƯỜI NƯỚC NGOÀI TẠI DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2011-2016 (31)
    • 2.1. Tình hình lao động người nước ngoài tại doanh nghiệp ở Việt Nam (38)
    • 2.2. Tình hình thực hiện vai trò của Nhà nước trong quản lý lao động người nước ngoài tại các doanh nghiệp ở Việt Nam (43)
    • 2.3. Đánh giá chung về thực hiện vai trò của nhà nước trong quản lý lao động người nước ngoài tại các doanh nghiệp ở Việt Nam (59)
  • Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM TĂNG CƯỜNG (74)
    • 3.1. Phương hướng tăng cường vai trò của nhà nước trong quản lý lao động người nước ngoài tại các doanh nghiệp ở Việt Nam (74)
    • 3.2. Giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường vai trò của nhà nước trong quản lý lao động người nước ngoài tại các doanh nghiệp ở Việt Nam đến năm 2025 (77)
    • 3.3. Một số khuyến nghị nhằm nâng cao vai trò của Nhà nước trong quản lý lao động người nước ngoài tại các doanh nghiệp ở Việt Nam đến năm 2025 (88)
  • KẾT LUẬN (92)

Nội dung

Kinh nghiệm về thực hiện vai trò của nhà nước trong quản lý lao động người nước ngoài của một số quốc gia và một số gợi mở đối với Việt Nam 23 Chương 2: THỰC TRẠNG VAI TRÕ CỦA NHÀ NƯỚC T

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VAI TRÕ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG QUẢN LÝ LAO ĐỘNG NGƯỜI NƯỚC NGOÀI

Quản lý nhà nước đối với lao động người nước ngoài

1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của quản lý lao động người nước ngoài

Quản lý nhà nước về lao động người nước ngoài là một nhiệm vụ quan trọng Khi xuất hiện các dòng di cư lao động quốc tế, dù có quy mô nhỏ, lẻ hay lớn, đều cần tới sự quản lý, chỉ đạo của Nhà nước để điều hòa những hoạt động, xu hướng phát triển của các dòng di cư quốc tế nói chung và di cư lao động nói riêng Lao động nước ngoài là một đối tượng đặc biệt Do đó quản lý lao động người nước ngoài là một quá trình gắn bó chặt chẽ với việc bảo vệ quyền con người và có tính quốc tế sâu sắc Quản lý nhà nước đối với lao động người nước ngoài là một trong những nội dung của quản lý nhà nước, trong đó đối tượng quản lý là lao động người nước ngoài

Theo tác giả Bùi Thanh Tùng “Quản lý nhà nước về lao động người nước ngoài là việc Nhà nước xác định mục tiêu và bằng pháp quyền tác động có tổ chức lên các quan hệ và hoạt động của nguồn lao động người nước ngoài nhằm khai thác và sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực trong và ngoài nước, các cơ hội có thể có, để đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước đã đặt ra” [45]

* Đặc điểm của quản lý lao động người nước ngoài

Thứ nhất, quản lý lao động người nước ngoài là một quá trình gắn bó chặt chẽ với việc bảo vệ quyền con người và có tính quốc tế sâu sắc

Có quan điểm cho rằng, về cơ bản, quyền con người trong lao động là những quyền con người liên quan đến điều kiện lao động và điều kiện sử dụng lao động, bao gồm việc làm, tiền lương, an toàn lao động, hoạt động công đoàn, an sinh xã hội nói chung và bảo hiểm nói riêng Nếu hiểu mối quan hệ giữa người sử dụng lao động và người lao động bao gồm các nội dung liên quan tới điều kiện lao động và điều kiện sử dụng lao động, thì quản lý lao động nước ngoài làm việc tại nước sở tại là quá trình tác động của chủ thể quản lý lên các điều kiện lao động và sử dụng lao động liên quan tới vấn đề người lao động mà những người này không phải là công dân của nước sở tại Như vậy quản lý lao động nước ngoài không thể không liên quan tới mối quan hệ quốc tế và việc bảo vệ quyền con người Hiện tại, Việt Nam đặt vấn đề lao động di trú có tầm quan trọng lớn trong chính sách kinh tế và chính sách ngoại giao Tại diễn đàn ASEAN năm 2008, Việt Nam đã khuyến nghị, với tư cách là một cộng đồng cùng trách nhiệm và chia sẻ, cần hành động một cách cụ thể và trọn vẹn để người dân các nước thành viên mà muốn tìm việc làm ở nước ngoài có thể được hưởng lợi từ một thỏa thuận mới của khu vực mà qua đó các quyền của họ với tư cách là những người lao động di trú sẽ được bảo vệ Thực tế, Việt Nam hiện có khoảng 500.000 lao động đi làm việc ở trên 40 quốc gia và vùng lãnh thổ, nên đòi hỏi có cơ chế pháp lý quốc tế để bảo vệ họ Sự đòi hỏi này được hiểu ở chiều ngược lại là Việt Nam suy tính tới quan hệ quốc tế và cam kết thi hành các cơ chế bảo vệ quyền của những người lao động di trú Đây là đặc điểm quan trọng không chỉ liên quan tới thiết kế chính sách, thiết lập cơ chế quản lý, xây dựng pháp luật về quản lý lao động nước ngoài, mà còn liên quan tới các tác nghiệp quản lý cụ thể

Thứ hai, quản lý lao động người nước ngoài là một quá trình liên quan tới nhiều ngành, địa phương và nhiều quan hệ lao động Để bảo đảm cho một người lao động nước ngoài vào làm việc tại một quốc gia, có nhiều vấn đề quản lý sau phải được đặt ra như: Nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú, cấp phép lao động, điều kiện lao động và sử dụng lao động, việc làm, giáo dục, y tế, công đoàn, bảo hiểm, an ninh, trật tự… Người lao động nước ngoài có thể làm việc, cư trú, đi lại nghỉ ngơi ở tất cả các địa phương và họ có thể tham dự vào nhiều quan hệ lao động khác nhau không kể lao động giản đơn hay lao động đòi hỏi trình độ cao…Vì vậy, chủ thể quản lý lao động nước ngoài làm việc tại nước sở tại bao gồm nhiều cơ quan trong bộ máy nhà nước và tất cả các chính quyền địa phương, nhiều tổ chức cung cấp hàng hóa công cộng khác như các tổ chức chính trị - xã hội Các phương thức quản lý cũng khác nhau tùy theo chức năng, quyền hạn và nhiệm vụ của từng cơ quan, đơn vị

1.1.2 Mục tiêu của quản lý lao động người nước ngoài

Một là, đáp ứng nhu cầu sử dụng lao động nước ngoài một cách hợp lý Phát triển kinh tế có thể dẫn tới sự thiết hụt lao động trong một số lĩnh vực có thể do mở rộng sản xuất, kinh doanh đòi hỏi thêm lao động, do sự thu hút lao động vào một số lĩnh vực nhất định mà bỏ trống những lĩnh vực khác, hoặc do lực lượng lao động trong nước chưa đáp ứng được nhu cầu của sản xuất, kinh doanh Chẳng hạn Việt Nam vào thời kỳ đầu đổi mới với mong muốn thu hút vốn đầu tư nước ngoài và thu hút công nghệ tiến tiến của nước ngoài, nhưng lực lượng lao động trong các lĩnh vực công nghệ cao rất mỏng, nhu cầu sử dụng lao động nước ngoài phát sinh trong khi đó lại tìm cách đưa nhiều lao động chưa có trình độ cao ra nước ngoài làm việc Kinh nghiệm Hàn Quốc cho thấy, tại thời điểm tháng 5/2016 có hơn 1,4 triệu người nước ngoài lao động tại Hàn Quốc [13] Rõ ràng, nền kinh tế nước này có nhu cầu cần thêm sức lao động trong những ngành nghề nhất định Từ đó, phát sinh đòi hỏi quản lý lao động nước ngoài như thế nào để bảo đảm cung cấp sức lao động hợp lý cho nhu cầu sử dụng lao động để phát triển kinh tế Với mục tiêu này các chính sách và pháp luật cụ thể liên quan được xây dựng

Hai là, gắn việc sử dụng lao động nước ngoài của từng người sử dụng lao động với lợi ích chung của toàn xã hội

Khi người lao động nước ngoài vào làm việc tại nước sở tại không đơn giản là họ chỉ có mối quan hệ hợp đồng với người sử dụng lao động cụ thể mà họ và gia đình của họ sinh sống tại nước sở tại Có nhiều mối quan hệ khác phát sinh từ đó có liên quan tới lợi ích của toàn xã hội Tuy nhiên mục tiêu chủ yếu của họ là việc làm tại một nơi cụ thể của một người sử dụng lao động cụ thể Do đó việc gắn kết giữa việc sử dụng lao động nước ngoài của từng người sử dụng lao động với lợi ích chung của toàn xã hội là một mục tiêu phải được đặt ra cho hoạt động quản lý lao động nước ngoài Mục tiêu này góp phần thiết kế các chính sách và ban hành các quy tắc pháp luật phù hợp, đồng thời bảo đảm cho việc thi hành các chính sách và pháp luật liên quan bởi hơn ai hết người sử dụng lao động gần gũi nhất với người lao động nước ngoài

Ba là, bảo đảm phát triển kinh tế xã hội, giữ vững an ninh chính trị

Trong ngắn hạn, quản lý lao động người nước ngoài là giải quyết vấn đề thiếu hụt về cầu lao động trong nước, quản lý sự biến đổi tức thời về tình hình an ninh trật tự xã hội do sự khác nhau trong văn hóa của lao động nước ngoài nhập cư Về dài hạn quản lý lao động người nước ngoài giúp các quốc gia xây dựng được định hướng phát triển kinh tế thông qua việc huy động và sử dụng nguồn lao động từ bên ngoài và có được các biện pháp thúc đẩy sự giao lưu văn hóa, xã hội của lao động người nước ngoài nhập cư và dân bản địa mà không xảy ra tình trạng mất an ninh trật tự và tệ nạn xã hội Nhà nước thực hiện tốt công tác quản lý lao động người nước ngoài sẽ giúp quốc gia đó có được nguồn nhân lực tốt tạo điều kiện tăng trưởng kinh tế và giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội

Bốn là, bảo đảm quyền lợi của lao động người nước ngoài

Quyền lợi của lao động di cư thường bị xâm phạm hoặc không được quan tâm, đặc biệt là nhóm lao động đến từ các nước kém phát triển và đang phát triển có trình độ tay nghề thấp thường bị kỳ thị bởi tư tưởng bài ngoại, có nguy cơ bị bóc lột Quyền lợi của lao động nước ngoài trong các doanh nghiệp được thể chế hóa bằng các quy định của pháp luật đã từng bước bảo đảm quyền lợi cho lao động người nước ngoài, tạo môi trường thuận lợi để họ yên tâm làm việc và cống hiến

Năm là, nâng cao chất lượng lao động người nước ngoài vào làm việc và hạn chế lao động người nước ngoài nhập cư trái phép

Thị trường lao động trong điều kiện nền kinh tế mở cửa đã tạo ra dòng di chuyển lao động quốc tế ngày càng sôi động Tuy nhiên bên cạnh dòng lao động di cư hợp pháp đáp ứng yêu cầu về trình độ và kỹ năng của quốc gia tiếp nhận cũng đã xuất hiện một số lượng không nhỏ lao động di cư bất hợp pháp Lao động người nước ngoài nhập cư trái phép là vấn đề các quốc gia đều rất quan tâm bởi nó đe dọa về an ninh chính trị, kinh tế và các hệ lụy khó lường khác Phát huy tốt vai trò của Nhà nước trong công tác quản lý sẽ nâng cao được chất lượng nguồn lao động nước ngoài vào làm việc và hạn chế được lao động nước ngoài không đủ tiêu chuẩn nhập cư trái phép

1.1.3 Hệ thống tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về lao động người nước ngoài

Chính sách tiếp nhận lao động người nước ngoài vào làm việc của từng quốc gia tương đối phức tạp, liên quan tới nhiều luật, nhiều cơ quan quản lý Các quốc gia khác nhau có bộ máy quản lý ở các cấp khác nhau, tuy nhiên vẫn có một số điểm chung sau đây:

(1) - Cơ quan quản lý lao động người nước ngoài cấp quốc gia:

Tại cấp quốc gia, có các Bộ, các cơ quan thay mặt nhà nước chịu trách nhiệm trong quản lý lao động người nước ngoài, gồm các Bộ có liên quan đến thủ tục tiếp nhận hoặc trục xuất lao động, quản lý lao động và các vấn đề khác của lao động nhập cư, bao gồm: Bộ Công an, Bộ Lao động (Nguồn nhân lực),

Bộ Tư pháp, Bộ Y tế…

(2) - Cơ quan quản lý lao động người nước ngoài cấp địa phương: Tại cấp địa phương, việc quản lý lao động người nước ngoài liên quan trực tiếp đến hoạt động gia hạn VISA, lĩnh vực làm việc (Sở Công an, Sở Tư pháp, Sở Lao động ) Tùy theo quy định của từng quốc gia về quản lý lao động người nước ngoài, cơ quan quản lý lao động người nước ngoài cấp địa phương theo định kỳ tiến hành kiểm tra, đánh giá về nhu cầu sử dụng lao động người nước ngoài, chấp thuận nhu cầu sử dụng người lao động người nước ngoài và tình hình sử dụng lao động người nước ngoài làm việc trên địa bàn Tại các địa phương, người đứng đầu của địa phương về quản lý hành chính chịu trách nhiệm trong việc phê duyệt quyết định cho các đơn vị tuyển dụng lao động người nước ngoài.

Vai trò của Nhà nước trong quản lý lao động người nước ngoài

1.2.1 Khái niệm và nội dung vai trò của Nhà nước trong quản lý lao động người nước ngoài

Trước hết cần phải hiểu Nhà nước có vai trò như thế nào trong quản lý lao động người nước ngoài? về từ ngữ, nghĩa của từ “vai trò”, cuốn từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản khoa học xã hội, năm 1998 do Hoàng Phê chủ biên giải thích vai trò: tác dụng, chức năng trong sự hoạt động, phát triển của cái gì đó (tr 1130), còn chức năng được giải thích: nhiệm vụ và tác dụng nói chung (tr 211), Nhiệm vụ được giải thích là công việc phải làm vì mục đích và trong một thời gian nhất định (tr 746) Cuốn Đại từ điển tiếng việt do Nguyễn Như Ý chủ biên cũng giải thích các từ trên một cách tương tự Khi giải thích vai trò của nhà nước đối với xã hội, cuốn “Giáo trình quản lý nhà nước về kinh tế” do GS.TS Đỗ Hoàng Toàn và PGS.TS Mai Văn Bưu đồng chủ biên, sau khi khẳng định nhà nước đóng vai trò quyết định nhất trong quản lý xã hội và là nhân tố cơ bản nhất giúp cho xã hội tồn tại, hoạt động, phát triển hoặc suy thoái Vai trò này được biểu hiện thông qua các sứ mệnh, nhiệm vụ, chức năng mà nhà nước phải gánh vác trước xã hội (tr 7) Từ sự giải thích và cách hiểu trên, ta thấy quan niệm khá phổ biến của các nhà nghiên cứu cho rằng vai trò được thể hiện qua chức năng, nhiệm vụ

Từ giải thích và các khái niệm trên, chúng ta có thể hiểu: Vai trò của

Nhà nước trong quản lý lao động người nước ngoài tại doanh nghiệp là chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước đối với việc quản lý lao động người nước ngoài tại doanh nghiệp

Chức năng, nhiệm vụ quản lý lao động nước ngoài tại doanh nghiệp bao gồm: Hoạch định chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình sử dụng lao động người nước ngoài tại doanh nghiệp; xây dựng và thực thi hệ thống luật pháp và các quy định dưới luật về quản lý lao động người nước ngoài tại doanh nghiệp

* Nội dung vai trò của Nhà nước trong quản lý lao động người nước ngoài

Vai trò của Nhà nước trong quản lý lao động người nước ngoài được thể hiện ở một số nội dung như sau:

Thứ nhất, Nhà nước xây dựng định hướng, chiến lược sử dụng có hiệu quả lao động người nước ngoài

(1) Định hướng sử dụng lao động người nước ngoài đến làm việc là việc xác định các mục tiêu, yêu cầu cần đạt được trong việc thu hút và sử dụng nguồn nhân lực bên ngoài một cách hiệu quả nhất phục vụ phát triển kinh tế xã hội một cách bền vững Định hướng thu hút lao động người nước ngoài nước ngoài bao gồm xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án cụ thể

(2) Chiến lược sử dụng lao động người nước ngoài đến làm việc

Chiến lược sử dụng lao động người nước ngoài đến làm việc là hệ thống các phân tích, đánh giá và lựa chọn về quan điểm, mục tiêu tổng quát định hướng phát triển và các giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện các mục tiêu đề ra

Chiến lược sử dụng lao động người nước ngoài đến làm việc xác định mục tiêu thu hút hay hạn chế việc sử dụng lao động người nước ngoài về số lượng, cơ cấu theo ngành nghề, lĩnh vực

Chiến lược sử dụng lao động người nước ngoài có thể tách thành hai nhánh là chiến lược sử dụng lao động theo phương thức tiếp cận thị trường lao động và chiến lược sử dụng lao động theo phương thức hiện diện thể nhân của GATS

Nhà nước chủ động xây dựng và thực hiện chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước trong từng giai đoạn, thời kỳ khác nhau, trong đó có chiến lược định hướng, quy hoạch, kế hoạch phát triển và sử dụng nguồn nhân lực, kể cả nguồn nhân lực nước ngoài đến làm việc, nhằm hướng các hoạt động kinh tế nhất là đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực ưu tiên để đạt mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội Để xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển và sử dụng lao động người nước ngoài một cách khoa học cần phải dự báo cung - cầu lao động người nước ngoài trên phạm vi quốc gia và của các ngành, từng địa phương Chiến lược này cần phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, phù hợp với công ước, điều ước quốc tế, đảm bảo lợi ích quốc gia, tôn trọng lợi ích của người lao động

Thứ hai, Nhà nước xây dựng và hoàn thiện môi trường pháp lý, thể chế chính sách quản lý lao động người nước ngoài

Nhà nước đóng vai trò quan trọng và chủ đạo trong việc xây dựng và hoàn thiện môi trường pháp lý, thể chế chính sách quản lý lao động người nước ngoài Trên cơ sở quan điểm, mục tiêu và nhiệm vụ của chiến lược thu hút lao động người nước ngoài; nhà nước xây dựng, ban hành hệ thống luật pháp liên quan như: Luật lao động, Luật về lao động người nước ngoài, Luật xuất nhập cảnh, Luật cư trú… Hệ thống luật pháp tạo thành một hệ thống nhất điều chỉnh toàn bộ các quan hệ và hành vi của các chủ thể liên quan đến lao động người nước ngoài đến làm việc

Bằng hệ thống pháp luật, Nhà nước xác định quyền và nghĩa vụ của Nhà nước, quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp; quyền và nghĩa vụ của người lao động; quy định những hành vi được coi là đúng luật, những hành vi bị cấm và các hình thức xử phạt trong việc tuyển dụng lao động người nước ngoài Thông qua hệ thống văn bản pháp quy, Nhà nước quy định cụ thể việc tuyển dụng và quản lý lao động người nước ngoài; trình tự, thủ tục cấp giấy phép lao động và việc sử dụng giấy phép lao động; trách nhiệm, nghĩa vụ của lao động người nước ngoài, người sử dụng lao động và các cơ quan nhà nước trong tuyển dụng và quản lý lao động người nước ngoài đến làm việc

Trong quá trình tổ chức thực hiện chính sách pháp luật sẽ có những phát sinh trong thực tế cần phải điều chỉnh Trên cơ sở đánh giá việc thực thi pháp luật, Nhà nước phát hiện những bất hợp lý sẽ dần bổ sung, sửa đổi, điều chỉnh cho phù hợp với thực tiễn nhằm từng bước hoàn thiện môi trường pháp lý, thể chế chính sách quản lý lao động người nước ngoài

Nhà nước quản lý lao động người nước ngoài làm việc bằng pháp luật; do đó, để nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước đối với lao động người nước ngoài, hệ thống pháp luật phải đảm bảo tính khách quan, tính cưỡng chế, tính đồng bộ, nhất quán, thông suốt và không loại trừ lẫn nhau

Thứ ba, Nhà nước tổ chức thực thi chính sách quản lý lao động người nước ngoài

Nhà nước tổ chức thực thi chính sách quản lý lao động người nước ngoài thông qua thiết lập hệ thống tổ chức bộ máy làm nhiệm vụ quản lý nhà nước đối với lao động người nước ngoài và quy định trách nhiệm, quyền hạn, cơ chế phối hợp giữa các cơ quan, như Công an, Ngoại giao, Lao động, Y tế, Tư pháp Đồng thời dần hoàn thiện hệ thống tổ chức, quản lý lao động người nước ngoài các cấp; rà soát, bổ sung, kiện toàn nhân sự tham gia bộ máy quản lý nhà nước theo nhu cầu thực tiễn của từng địa phương, từng giai đoạn; nâng cao trình độ chuyên môn, ngoại ngữ cho cán bộ quản lý nhằm đáp ứng yêu cầu thực thi công vụ Xây dựng và đào tạo đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, hòa giải viên cơ sở, hướng dẫn người sử dụng lao động người nước ngoài thực hiện các quy định về tuyển dụng, sử dụng lao động người nước ngoài; đầu tư cơ sở vật chất, điều kiện làm việc và các chế độ phúc lợi cho cán bộ làm công tác quản lý nhà nước đối với lao động người nước ngoài

Thứ tư, Nhà nước kiểm tra, giám sát hoạt động quản lý lao động người nước ngoài

Kiểm tra, giám sát việc thực thi pháp luật về quản lý lao động người nước ngoài là toàn bộ những hoạt động của Nhà nước nhằm phát hiện kịp thời và xử lý những vi phạm pháp luật trong việc sử dụng lao động người nước ngoài làm việc nhằm thực hiện đúng và có hiệu quả các mục tiêu đã đề ra

Nhiệm vụ của kiểm tra, giám sát việc sử dụng lao động người nước ngoài làm việc là đánh giá chính xác kết quả đạt được để có những can thiệp hợp lý của Nhà nước nhằm thực hiện các mục tiêu đã định Nội dung kiểm tra, giám sát quản lý lao động người nước ngoài bao gồm: (1) kiểm tra, giám sát hoạt động theo định hướng, kế hoạch, quy hoạch… để điều chỉnh các sai lệch; (2) kiểm tra, giám sát việc chấp hành các chủ trương, chính sách, pháp luật để đảm bảo hiệu lực của pháp luật; (3) kiểm tra, giám sát việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước để đảm bảo trách nhiệm trong quản lý; (4) kiểm tra, giám sát tính hợp lý của các công cụ chính sách nhằm tạo môi trường để thực hiện các mục tiêu đề ra

Công tác kiểm tra, giám sát được thực hiện thông qua các cơ quan thanh tra nhà nước, các cơ quan quản lý nhà nước

1.2.2 Sự cần thiết khách quan tăng cường vai trò của Nhà nước trong quản lý lao động người nước ngoài

Kinh nghiệm về thực hiện vai trò của nhà nước trong quản lý lao động người nước ngoài của một số quốc gia và một số gợi mở đối với Việt Nam 23 Chương 2: THỰC TRẠNG VAI TRÕ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG QUẢN LÝ LAO ĐỘNG NGƯỜI NƯỚC NGOÀI TẠI DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2011-2016

1.3.1 Kinh nghiệm của một số quốc gia

1) Kinh nghiệm của Hàn Quốc

Sự bùng nổ của nền kinh tế Hàn Quốc từ năm 1980 đã khiến nước này thiếu hụt nhân công trầm trọng Việc hợp tác cung ứng và sử dụng lao động người nước ngoài của Hàn Quốc bắt đầu từ năm 1990 và được thực hiện theo

(1) Tu nghiệp sinh, gồm những ngành nghề: công nghiệp, xây dựng, nông nghiệp và thủy sản (tuy nhiên từ ngày 1/1/2007, chương trình tu nghiệp sinh bị hủy bỏ)

(2) Thuyền viên đánh cá cho các tàu cá Hàn Quốc;

(3) Cung ứng lao động cho tập đoàn Hàn Quốc trúng thầu ở nước ngoài;

(4) Cung ứng lao động theo Luật tiếp nhận lao động người nước ngoài (EPS);

(5) Cung ứng lao động kỹ thuật cao

Số lao động người nước ngoài đến Hàn Quốc làm việc ngày càng tăng: từ 21.235 người năm 1990 lên 1.425.000 người tại thời điểm tháng 5/2016, chiếm 3,6% lực lượng lao động Hàn Quốc [13]

Do điều kiện sống và làm việc tốt, xu hướng những người đi lao động hết hạn hợp đồng ở lại Hàn quốc bất hợp phát tăng lên, đặc biệt là lao động có trình độ thấp Theo thống kê chưa đầy đủ của Cục Phát triển nguồn nhân lực

(Bộ Lao động và Việc làm Hàn Quốc) có khoảng 20% lao động nhập cư đang sống bất hợp pháp tại nước này (Việt Nam có khoảng 15.000 lao động), Trong số 15 nước phái cử lao động đến làm việc tại Hàn Quốc theo chương trình EPS, Việt Nam luôn có tỷ lệ lao động hết hạn không về nước cao nhất, gấp hơn 2,6 lần so với tỷ lệ chung (45,8% so với 18% năm 2012), tuy nhiên tình trạng này cũng được cải thiện dần (đến Quý 3/2015 còn 31,9%)

Hiến pháp Hàn Quốc nghiêm cấm các loại hình lao động cưỡng bức, bảo đảm quyền làm việc của công dân với các quy định các mức tiền lương tối thiếu, tiêu chuẩn, điều kiện làm việc; cấm phân biệt đối xử về giới tính, tôn giáo, địa vị xã hội

Chính phủ Hàn Quốc đã xây dựng hệ thống pháp luật kiểm tra giám sát lao động nhập cư tương đối đầy đủ Theo Luật xử phạt của Hàn Quốc, nếu chủ sử dụng lao động bị phát hiện sử dụng lao động không có giấy tờ hợp pháp, lần đầu tiên sẽ phải nộp phạt 2 -3 triệu KRW, nếu tái phạm lần thứ 2 thì phải nộp phạt tiếp và không được phép tuyển mới lao động Tuy nhiên, chế tài xử phạt này chưa hiệu quả do khoản tiền nộp phạt của người chủ thấp (so với chi phí họ thuê lao động bất hợp pháp) và khi bị bắt thì người lao động chỉ bị trục xuất về nước mà không bị phạt tiền hay các xử lý khác

Luật pháp hiện hành của Hàn Quốc và việc thực thi luật pháp liên quan đến quyền lao động quốc tế tại Hàn Quốc phần lớn phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế đã đặt ra, có tác động bảo vệ nhân quyền của người lao động, kiểm soát chặt chẽ lao động di cư (đối với người lao động không có trình độ tay nghề, việc chuyển đổi việc làm bị hạn chế) và nhiều khuyến khích đối với lao động có trình độ cao

Giải quyết bài toán nhập cư hiện là thách thức đối với công tác quản lý lao động người nước ngoài của nhiều quốc gia, trong đó có nước Nga, do nó phải đảm bảo cho lợi ích hợp pháp của công dân nước sở tại và thu hút được nguồn lao động từ các nước khác đặc biệt là nguồn lao động chất lượng cao Trên thực tế, Nga đã thực hiện rất nhiều biện pháp khác nhau, bao gồm chế tài, các biện pháp khuyến khích, giáo dục để thu hút nguồn chất xám và giảm tình trạng nhập cư bất hợp pháp

Ngày 19/7/2004 Chính phủ Nga thành lập Cục di trú Liên Bang (thuộc

Bộ Nội Vụ) có chức năng phụ trách chính sách nhập cư và bảo đảm thực hiện các chính sách nhà nước trong lĩnh vực di cư và tiến hành việc thực thi pháp luật, giám sát và cung cấp các dịch vụ công về di cư

Nga kiểm tra giám sát lao động người nước ngoài thông qua hệ thống cấp phép lao động, số lượng hạn ngạch (côta) cấp giấy phép lao động (quyền lao động) cho công dân nước ngoài, được phân theo ngành nghề

Nga sử dụng bản đồ mật độ cư trú để theo dõi số lượng người nước ngoài đang có mặt ở Nga, có bao nhiêu người trong số đó thuộc diện du lịch thăm thân, đi học, đi chữa bệnh, có bao nhiêu người đến làm việc, bao nhiêu người có quyền lao động và thẻ xanh đang còn hiệu lực v.v Bản đồ chỉ rõ tình trạng di trú theo khu vực, theo dân tộc của người nước ngoài đến Nga Đồng thời, cũng phân loại những người lao động tới Nga làm việc, bao gồm lao động phổ thông; lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật; các chuyên gia và người lao động làm việc tại Nga trên cơ sở có bằng sáng chế Luật di trú mới đã đơn giản hóa thủ tục nhận thị thực cho công dân nước ngoài có trình độ chuyên nghiệp cao với việc thời hạn gia hạn hợp đồng lao động của nhóm này lên đến ba năm

Tuy nhiên chính sách thu hút lao động nhập cư của Nga còn nhiều bất cập: chưa đồng bộ, thiếu ổn định gây ra nhiều khó khăn cho lao động nhập cư Hiện tại vẫn còn tranh luận về việc nên có hay không hạn ngạch đối với lao động nhập cư

Trong quá trình chuyển đổi kinh tế thị trường, chính sách hợp tác lao động, quản lý di cư lao động của Nga với các nước còn hạn chế, hạn ngạch quá ít so với nhu cầu thị trường nên chưa khuyến khích được lao động người nước ngoài trong những ngành có nhu cầu lao động người nước ngoài Ngoài ra do chế độ hạn ngạch ngắn hạn, chi phí cư trú hợp pháp và thuế cao dẫn tới nhiều doanh nghiệp làm ăn bất hợp pháp đẩy các lao động vào tình trạng bất hợp pháp, vi phạm pháp luật Theo Cục Di trú, số người nhập cư trên toàn Nga khoảng 10 triệu, nhưng con số làm việc hợp pháp chỉ chiếm khoảng 1,5 triệu, đến với mục đích khác khoảng 1,5 triệu và khoảng 6,5 triệu là bất hợp pháp [33] Một bộ phận lớn lao động người nước ngoài bất hợp pháp ở Nga hiện nay với trình độ văn hóa thấp, chưa qua đào tạo nghề, chưa biết tiếng Nga đã gây ra những ảnh hưởng tiêu cực tới đời sống xã hội của đất nước này làm gia tăng các tệ nạn, mất an toàn xã hội, gây nên tình trạng thiếu việc làm cho người dân sở tại và người nhập cư hợp pháp

1.3.2 Một số gợi mở đối với Việt Nam

Từ thực tế thực hiện chính sách quản lý lao động người nước ngoài của các nước cho ta thấy xu hướng sử dụng lao động người nước ngoài là xu hướng tất yếu trong quá trình phát triển và hội nhập quốc tế Cùng với dòng lao động di cư hợp pháp, dòng lao động di cư bất hợp pháp cũng gia tăng gây khó khăn cho việc quản lý lao động di cư Qua kinh nghiệm của các quốc gia có thể gợi mở một số bài học nâng cao vai trò của nhà nước trong công tác quản lý lao động người nước ngoài làm việc trong các doanh nghiệp ở Việt Nam như sau:

Một là, cần coi việc sử dụng lao động người nước ngoài là một tất yếu trong nền kinh tế thị trường, là yêu cầu để các doanh nghiệp phát triển Không được coi đó là nguyên nhân của hiện tượng thất nghiệp, hiện tượng mất việc làm của lực lượng lao động trong nước Vấn đề ở đây là phát huy vai trò của Nhà nước trong công tác quản lý để buộc các bên thực hiện đầy đủ, đúng đắn theo quy định của pháp luật, bảo vệ quyền lợi hợp pháp, chính đáng của người lao động, đồng thời tạo điều kiện để người lao động bảo vệ được quyền lợi của mình Cần xoá bỏ mọi rào cản đối với việc di chuyển lao động, nhất là lao động người nước ngoài có trình độ chuyên môn cao Khuyến khích và tạo mọi điều kiện thuận lợi để các tổ chức, doanh nghiệp thu hút và sử dụng lao động người nước ngoài có chuyên môn kỹ thuật khi nguồn lao động trong nước không đáp ứng được

Tình hình lao động người nước ngoài tại doanh nghiệp ở Việt Nam

2.1.1 Số lượng và cơ cấu

(1)- Số lượng: Số liệu thống kê của Cục Việc làm, Bộ Lao động -

Thương binh và Xã hội cho thấy lực lượng lao động người nước ngoài nhập cảnh vào Việt Nam có xu hướng gia tăng, trung bình từ năm 2006 đến 2009 mỗi năm tăng khoảng 16,2%, riêng năm 2011 tăng cao đột biến, so với năm

Bảng 2.1- Số lượng lao động người nước ngoài làm việc tại Việt Nam giai đoạn 2005-2016 Đơn vị: Người

Nguồn: Tổng hợp từ báo cáo hàng năm của Cục Việc làm

- Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội

Lao động người nước ngoài vào Việt Nam tăng nhanh do nhiều nguyên nhân, nhưng có hai nguyên nhân chính:

Thứ nhất, do đầu tư từ nước ngoài vào Việt Nam tăng nhanh dẫn đến nhu cầu lao động người nước ngoài vào Việt Nam làm việc tăng lên

Thứ hai, Việt Nam có nhiều ngành, nhiều lĩnh vực mới đòi hỏi người lao động người nước ngoài có kinh nghiệm và có chuyên môn mới đảm đương được công việc mà nhân lực trong nước chưa thể đáp ứng được

- Phân theo quốc gia: Lao động người nước ngoài đến từ nhiều quốc gia khác nhau (năm 2014 đến từ 74 quốc gia; năm 2016 tăng lên 110 quốc gia), trong đó quốc tịch Châu Á như Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan luôn chiếm tỷ lệ lớn (năm 2014 chiếm 58%; năm 2016 chiếm 71,6%), quốc tịch Châu Âu chiếm 28,5% (năm 2014) và các nước khác chiếm 13,5% (năm 2014)

Bảng 2.2-Lao động người nước ngoài làm việc tại Việt Nam theo nơi xuất cƣ (số liệu năm 2014)

Chỉ tiêu Số lượng (người) Tỷ trọng (%)

Tổng số lao động người nước ngoài 78.440 100

Lao động đến từ Châu Á 45.495 58

Lao động đến từ Châu Âu 22.356 28.5

Lao động đến từ châu lục khác 10.589 13.5

Nguồn: Cục Việc làm- Báo cáo tình hình quản lý lao động nước ngoài và đánh giá thực hiện Nghị định số 102/2013/NĐ-CP

- Phân theo giới tính và độ tuổi: Lao động người nước ngoài là nam giới luôn chiếm số đông (năm 2014 chiếm 89,9%, năm 2016 chiếm 83,4%); chủ yếu có độ tuổi từ 30 trở lên (năm 2014 và 2016 chiếm 86%) [21]

Bảng 2.3- Lao động người nước ngoài làm việc theo giới tính và độ tuổi (số liệu năm 2014) Lao động người nước ngoài Tỷ lệ (%)

Nguồn: Cục Việc làm- Báo cáo tình hình quản lý lao động nước ngoài và đánh giá thực hiện Nghị định số 102/2013/NĐ-CP

- Theo ngành nghề, trình độ chuyên môn: Đa số lao động người nước ngoài làm việc trong bộ phận quản lý cấp cao và các phòng ban kỹ thuật Kết quả khảo sát việc sử dụng lao động nước ngoài của Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam thực hiện năm 2013 cho thấy có đến 62% lao động người nước ngoài làm việc trong Ban giám đốc hoặc Trưởng các bộ phận

Tại thời điểm năm 2014 lao động người nước ngoài giữ vị trí quản lý, giám đốc điều hành cũng chiếm 15,5% (12.114 người); chuyên gia lao động và kỹ thuật chiếm 67,06% (52.715 người); các hình thức khác là 16,9% (13.209 người) [21]

Bảng 2.4- Lao động người nước ngoài theo ngành nghề

(số liệu năm 2014) Chỉ tiêu Số lượng (người) Tỷ trọng (%)

Tổng số lao động người nước ngoài 78.038 100

1.Quản lý, Giám đốc điều hành 12.114 15.5

2.Chuyên gia và Lao động kỹ thuật 52.715 67.06

Nguồn: Cục Việc làm- Báo cáo tình hình quản lý lao động nước ngoài và đánh giá thực hiện Nghị định số 102/2013/NĐ-CP

2.1.2 Lao động người nước ngoài làm việc tại doanh nghiệp ở một số địa phương

Lao động người nước ngoài làm việc tại Việt Nam chủ yếu tập trung tại các thành phố lớn hoặc những địa phương có các dự án lớn, nơi có đông nhà thầu xây lắp Các tỉnh khu vực miền núi, địa phương có điều kiện kinh tế còn khó khăn, hoặc không có dự án lớn thu hút nhà thầu nước ngoài thì số lượng lao động người nước ngoài không nhiều, tại thời điểm tháng 10/2016 Bắc Cạn có 47 người, Điện Biên chỉ có 2 người, Lai Châu có 6 người, Kon Tum có 8 người, Sóc Trăng có 8 người

Bảng 2.5- Lao động người nước ngoài làm việc tại một số địa phương

(số liệu tại thời điểm tháng 9, tháng 10 năm 2014) Địa phương Số lượng (người) Lao động

Nguồn: Cục Việc làm- Báo cáo tình hình quản lý lao động nước ngoài và đánh giá thực hiện Nghị định số 102/2013/NĐ-CP

(1) Lao động người nước ngoài làm việc tại doanh nghiệp trên địa bàn

Tính đến hết tháng 9/2014 tổng số lao động người nước ngoài làm việc tại các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố là 17.744 người (trong đó lao động Trung Quốc là 2.233 người, chiếm 12,6% ) Trong 9 tháng đầu năm

2014, TP Hồ Chí Minh có 6.315 hồ sơ đề nghị cấp giấy phép lao động, trong đó đã cấp giấy phép cho 5.303 trường hợp, chiếm 83,9% (cấp mới là 4.277 trường hợp, cấp lại là 1.026 trường hợp); số còn lại 1.012 hồ sơ có 357 hồ sơ đang xử lý và 655 hồ sơ trả lại để hoàn thiện [21]

(2) Lao động người nước ngoài làm việc tại các doanh nghiệp trên địa bàn TP Hà Nội

Tính đến hết tháng 9/2014 tổng số lao động người nước ngoài làm việc tại các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố là 9.340 người (trong đó lao động Trung Quốc 1.088 người, chiếm 11,6%)

Riêng 9 tháng đầu năm 2014, TP Hà Nội có 3.800 hồ sơ đề nghị cấp giấy phép lao động, trong đó đã cấp giấy phép cho 2.626 trường hợp, chiếm 61,9%; số còn lại 1.174 hồ sơ có 799 hồ sơ đang xử lý và 375 hồ sơ trả lại để hoàn thiện [21]

(3) Lao động người nước ngoài làm việc tại các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh

Tính đến 21/10/2014 tổng số lao động người nước ngoài làm việc tại Vũng Áng (thuộc khu kinh tế Hà Tĩnh) là 5.917 người (lao động Trung Quốc là 4.268 người, chiếm 72,1% tập trung chủ yếu tại Dự án Formosa Hà Tĩnh)

Trong tổng số 5.917 lao động người nước ngoài làm việc tại Vũng Áng thì số lao động không thuộc diện cấp phép là 195 người (chiếm 3,3%); Số lao động người nước ngoài đã được cấp phép tại các địa phương khác đến làm việc tại Vũng Áng là 231 người (chiếm 3,9%)

Số lao động phải cấp phép là 5.491 người (chiếm 92,8% trong tổng số lao động người nước ngoài làm việc tại Vũng Áng) Trong đó, số lao động đã được cấp giấy phép là 4.396 người (chiếm 80,1%); số lao động đã có hồ sơ nộp chờ cấp phép là 670 người (chiếm 12,2%); số lao động còn lại đang hoàn thiện hồ sơ (khám sức khỏe, dịch vụ chứng thực, lý lịch tư pháp, chuyển đổi visa ) là 425 người (chiếm 7,7%)

Trong tổng số 4.268 lao động Trung Quốc làm việc tại Vũng Áng thì số lao động Trung Quốc phải cấp phép là 4.115 người (chiếm 96,4%) Trong đó, số lao động đã được cấp giấy phép là 3.088 người (chiếm 75,0%); số lao động đã có hồ sơ nộp chờ cấp giấy phép là 670 người (chiếm 16,3%); số lao động đang hoàn thiện hồ sơ (khám sức khỏe, dịch vụ chứng thực, lý lịch tư pháp, chuyển đổi visa ) là 375 người (chiếm 8,7%) [21]

Tình hình thực hiện vai trò của Nhà nước trong quản lý lao động người nước ngoài tại các doanh nghiệp ở Việt Nam

Ở nước ta vai trò của Nhà nước trong quản lý lao động người nước ngoài (trong đó bao gồm người nước ngoài làm việc tại các doanh nghiệp) được thực hiện qua một số nội dung sau:

2.2.1.Nhà nước xây dựng và thực thi chiến lược quản lý lao động người nước ngoài

Nhà nước Việt Nam chủ trương mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế với nước ngoài và các tổ chức quốc tế trong lĩnh vực lao động theo đúng quan điểm của Chiến lược phát triển nhân lực thời kỳ 2011-2020 là “tăng cường và mở rộng hợp tác quốc tế để phát triển nhân lực” Trên tinh thần đó chúng ta chỉ cho phép lao động người nước ngoài là người có trình độ cao, chuyên gia trong các lĩnh vực mới được phép làm việc tại Việt Nam; với mục tiêu bảo đảm đủ số lượng lao động người nước ngoài phục vụ chiến lược phát triển kinh tế, sự chọn lựa này nhằm giải quyết nhu cầu lao động trong nước (nhiều ngành, lĩnh vực mới, đòi hỏi người lao động có trình độ chuyên môn, kỹ thuật, kinh nghiệm), mặt khác chuyển giao khoa học công nghệ và tạo việc làm cho lao động trong nước (hình thành và phát triển các ngành nghề mới, đặc thù mà trong nước chưa có, rút ngắn thời gian đào tạo và áp dụng công nghệ mới, tiết kiệm chi phí trong việc nắm bắt khoa học kỹ thuật của các nước đi trước) Các quy định cho đến nay luôn nhất quán là Việt Nam không chấp nhận lao động phổ thông nước ngoài vào làm việc và đối với các công việc cần chuyên gia, giám đốc điều hành hay lao động kỹ thuật, nếu người Việt Nam có thể đáp ứng được thì cũng phải tuyển lao động Việt Nam Hiện nay điều kiện tuyển dụng lao động là công dân nước ngoài được quy định tại Điều 170 Bộ Luật lao động năm 2012, việc xác định công việc được sử dụng lao động người nước ngoài được hướng dẫn bởi Mục 1 Chương II Nghị định 11/2016/NĐ-CP

2.2.2 Nhà nước xây dựng và hoàn thiện môi trường pháp lý, thể chế chính sách quản lý lao động người nước ngoài

Trên cơ sở các mục tiêu, chiến lược quản lý lao động người nước ngoài và các quan điểm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước đã xây dựng và ban hành hệ thống các văn bản pháp luật quy định tất cả các nội dung liên quan đến lao động người nước ngoài tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động quản lý lao động người nước ngoài làm việc tại Việt Nam nói chung và trong các doanh nghiệp ở Việt Nam nói riêng

Trong thời kỳ hội nhập và mở cửa, Việt Nam đón nhận nguồn vốn đầu tư, tiếp nhận những kỹ thuật công nghệ cao của các nước, do vậy việc gia tăng dòng lao động người nước ngoài từ các nước đến làm việc tại các doanh nghiệp là tất yếu Nhà nước khi ban hành các quy định pháp luật về quản lý lao động người nước ngoài làm việc tại các doanh nghiệp phải đảm bảo được những yêu cầu cơ bản sau:

- Thứ nhất, tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp, tổ chức trong tuyển và sử dụng lao động người nước ngoài Trong quá trình phát triển kinh tế, nhu cầu sử dụng đối tượng này là tất yếu vì vậy chính sách pháp luật về tuyển dụng lao động người nước ngoài không được là rào cản

- Thứ hai, tạo thuận lợi cho lao động người nước ngoài, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp và khuyến khích những điều kiện có lợi hơn cho họ nhưng cũng không ảnh hưởng đến an ninh việc làm trong nước Các biện pháp xử lý vi phạm cần mềm dẻo, linh hoạt nhưng vẫn phải đảm bảo tính răn đe, phòng ngừa

Thứ ba, tạo thuận lợi cho các cơ quan Nhà nước trong việc quản lý lao động người nước ngoài Quy định rõ trách nhiệm và cụ thể hóa nhiệm vụ của những cơ quan chức năng, đồng thời có sự phối hợp hiệu quả giữa các cơ quan này, kiểm soát chặt chẽ các vi phạm

Thứ tư, phù hợp với pháp luật các nước, thông lệ quốc tế và đặc biệt với những cam kết của Việt Nam tại các Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên Trong tiến trình hội nhập, Việt Nam phải có những thay đổi trong quy định pháp luật để không trái với cam kết đã ký Để đáp ứng những yêu cầu này, Nhà nước đã xây dựng và ban hành nhiều văn bản pháp luật quản lý lao động người nước ngoài làm việc trong các doanh nghiệp tại Việt Nam, như: chính sách pháp luật về xuất nhập cảnh, lao động việc làm, đầu tư Các chính sách này từng bước được bổ sung, sửa đổi phù hợp với từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội Đặc biệt các chính sách về lao động người nước ngoài làm việc trong các doanh nghiệp đã được ban hành tương đối đầy đủ và từng bước phù hợp với luật pháp quốc tế, tình hình thực tiễn của Việt Nam góp phần thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao từ bên ngoài, đồng thời thúc đẩy việc làm cho lao động trong nước và bảo đảm an ninh quốc gia

(1)-Chính sách pháp luật về xuất nhập cảnh

Ngày 28/4/2000 Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa X thông qua Pháp lệnh nhập cảnh, xuất cảnh và cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam số

24/2000/PL-UBTVQH10, Pháp lệnh có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/8/2000 Trên cơ sở Pháp lệnh này, các cơ quan có thẩm quyền đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật để hướng dẫn, tạo cơ sở pháp lý cho công tác quản lý xuất cảnh, nhập cảnh và cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam

Một số văn bản xuất nhập cảnh điển hình:

- Nghị định số 21/2001/NĐ-CP ngày 28/5/2001 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam;

- Thông tư số 66/2009/TT-BTC ngày 30/3/2009 của Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành quy định chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng lệ phí cấp hộ chiếu, thị thực, giấy tờ về nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh và cư trú tại Việt Nam;

- Thông tư liên tịch số 04/2002/TTLT-BCA-BNG ngày 29/01/2002 hướng dẫn thực hiện Nghị định số 21/2001/NĐ-CP ngày 28/5/2001 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam;

- Thông tư liên tịch số 01/2007/TTLT-BCA-BNG ngày 30/01/2007 sửa đổi bổ sung một số điều của Thông tư liên tịch số 04/2002/TTLT-BCA-BNG ngày 29/01/2002.

Tuy nhiên, qua thực tiễn công tác quản lý cho thấy, Pháp lệnh nhập cảnh, xuất cảnh và cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam đã bộc lộ một số hạn chế, vướng mắc, chưa phù hợp với thực tiễn và các luật khác, như:

- Pháp lệnh Nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam quy định người nước ngoài sau khi nhập cảnh nếu có nhu cầu sẽ được xét cho chuyển đổi mục đích nhập cảnh Lợi dụng quy định này, nhiều người nước ngoài đã vào Việt Nam với danh nghĩa tham quan, du lịch, sau đó xin chuyển đổi để thực hiện các mục đích khác, đặc biệt xin chuyển đổi ở lại lao động trong đó có nhiều lao động đang làm việc tại các dự án do nước ngoài trúng thầu

- Pháp lệnh Nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam quy định thị thực Việt Nam có thời hạn không quá 12 tháng, trong khi Luật Đầu tư năm 2005 quy định thời hạn của thị thực cấp cho người nước ngoài vào đầu tư tối đa là 05 năm

Đánh giá chung về thực hiện vai trò của nhà nước trong quản lý lao động người nước ngoài tại các doanh nghiệp ở Việt Nam

Một là, chính sách pháp luật của Nhà nước trong công tác tiếp nhận và quản lý lao động người nước ngoài vào làm việc tại các doanh nghiệp cơ bản đã bao phủ trên tất cả các mặt liên quan đến lao động người nước ngoài, tạo ra khung pháp lý đồng bộ tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp tuyển dụng lao động người nước ngoài vào làm việc, đồng thời giúp cho công tác quản lý được chặt chẽ hơn, đáp ứng được yêu cầu của công tác quản lý người nước ngoài trên toàn quốc Các chính sách này từng bước được hoàn thiện, bổ sung theo hướng ngày càng thuận lợi hơn, phù hợp với thông lệ quốc tế và điều kiện phát triển của Việt Nam Các Bộ, ngành có liên quan đã ban hành các văn bản hướng dẫn, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp tiếp nhận lao động người nước ngoài đủ điều kiện vào làm việc, tổ chức kiểm tra, thanh tra các doanh nghiệp sử dụng lao động người nước ngoài Nhiều địa phương đã xây dựng quy chế phối hợp giữa các ngành trong việc quản lý lao động người nước ngoài

Hai là, các cấp ủy, chính quyền địa phương đã chủ động nhập cuộc tuyên truyền phổ biến chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước từ đó đã giúp cho nhận thức của người sử dụng lao động, lao động người nước ngoài có chuyển biến tích cực trong việc tuân thủ các quy định về quản lý lao động người nước ngoài của Nhà nước Việt Nam

Ba là, việc thực thi chính sách, pháp luật trong việc tiếp nhận lao động người nước ngoài vào làm việc tại các doanh nghiệp đã được các cơ quan chức năng cơ bản thực hiện đúng quy định Các doanh nghiệp sử dụng lao động người nước ngoài thực hiện tương đối đầy đủ các quy định của pháp luật về lao động người nước ngoài làm việc tại Việt Nam Nhờ đó đã thu hút lao động người nước ngoài đến làm việc tại các doanh nghiệp ở Việt Nam ngày một gia tăng và đã đóng góp đáng kể vào phát triển kinh tế-xã hội của Việt Nam Lực lượng lao động người nước ngoài làm việc tại các doanh nghiệp là chuyên gia, nhà quản lý, giám đốc điều hành và lao động kỹ thuật đã bổ sung đáng kể nguồn nhân lực có chuyên môn kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý điều hành, kỹ năng làm việc chuyên nghiệp theo tiêu chuẩn quốc tế mà lao động Việt Nam chưa đáp ứng được, thỏa mãn một phần nhu cầu về nguồn nhân lực chất lượng cao của nước ta Trong quá trình làm việc với lao động người nước ngoài, lao động Việt Nam có cơ hội tiếp cận, học hỏi và chia sẻ về kinh nghiệm cũng như nâng cao trình độ, kỹ năng làm việc, qua đó tạo sự chuyển biến mạnh về kỹ thuật, tác phong và thái độ làm việc chuyên nghiệp, từng bước nhận sự chuyển giao công nghệ mới

Thứ nhất, về các quy định của luật pháp trong công tác quản lý lao động người nước ngoài

Mặc dù Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp luật về quản lý lao động người nước ngoài, nhưng nhìn chung hệ thống các văn bản đó vẫn thiếu đồng bộ, một số điều khó thực hiện và gây khó khăn cho các cơ quan quản lý và cho người sử dụng lao động, người lao động Cho đến nay Nhà nước vẫn chưa xây dựng và ban hành chiến lược tiếp nhận lao động người nước ngoài làm việc trong các lĩnh vực ngành nghề Các quy định của luật pháp trong công tác tiếp nhận và quản lý lao động người nước ngoài tại Việt Nam chưa phân định rõ người nước ngoài tiếp cận thị trường lao động với người hiện diện thể nhân để cung cấp dịch vụ theo phương thức 4 của GATS

Qua thực tiễn quản lý và phản ánh của các doanh nghiệp cho thấy vẫn còn những bất cập, như: (1) quy định "lao động làm việc dưới 3 tháng không cần giấy phép" đã tạo kẽ hở cho nhiều doanh nghiệp đưa lao động phổ thông vào Việt Nam, một số nhà thầu cố tình không làm thủ tục xin cấp giấy phép lao động cho người nước ngoài, họ đối phó bằng cách làm thủ tục xin cấp thị thực nhập cảnh nhiều lần với thời hạn dưới 3 tháng, khi gần hết hạn thị thực, người nước ngoài xuất cảnh, sau đó lại nhập cảnh trở lại làm việc mà không làm giấy phép lao động; (2) quy định trước khi tuyển dụng lao động người nước ngoài, doanh nghiệp phải thực hiện việc đăng báo tuyển dụng hoặc thông qua trung tâm giới thiệu việc làm và các phương tiện truyền thông thực tế chỉ mang tính hình thức Vì theo cách thông thường, chủ sử dụng lao động chỉ cần đăng thông báo tuyển dụng trên một số phương tiện truyền thông và sau đó kết luận không tìm được người đúng như nhu cầu sử dụng của mình và buộc phải sử dụng lao động người nước ngoài Các doanh nghiệp nước ngoài tại Việt Nam luôn đặt ra nhưng yêu cầu "khó" với lao động Việt Nam nhưng lại “dễ” đối với lao động người nước ngoài, (3) quy định cho phép được chuyển đổi mục đích nhập cảnh nên xảy ra tình trạng người nước ngoài xin thị thực du lịch nhưng vào Việt Nam lao động gây khó khăn trong công tác theo dõi, kiểm tra, quản lý

Chế tài xử phạt hành chính trong vi phạm pháp luật về quản lý lao động người nước ngoài chưa đủ mức răn đe và buộc người sử dụng lao động và người lao động phải thực hiện; các biện pháp cưỡng chế chưa cương quyết; chưa có nhiều biện pháp xử lý triệt để đối với các doanh nghiệp, nhà thầu hay cá nhân lao động người nước ngoài cố tình vi phạm pháp luật Việt Nam làm ảnh hưởng đến tính nghiêm minh của pháp luật

Thứ hai, về công tác trực tiếp quản lý lao động người nước ngoài ở các địa phương

Qua thực tiễn giám sát của Ủy ban các vấn đề xã hội của Quốc hội trong thời gian qua cho thấy có rất nhiều địa phương không quản lý, không biết được số lao động người nước ngoài trên địa bàn tỉnh mình

Một số địa phương thực hiện các quy định của pháp luật về quản lý lao động người nước ngoài chưa nghiêm túc; theo dõi và quản lý lao động người nước ngoài chưa được thực hiện thường xuyên, kịp thời và thiếu sự phối hợp, hỗ trợ của các ngành, các đơn vị ở địa phương; thực hiện chế độ báo cáo không đầy đủ (Theo báo cáo của Cục Việc làm trong năm 2016 địa phương chưa thực hiện đầy đủ báo cáo định kỳ và đột xuất tình hình tuyển và sử dụng lao động người nước ngoài theo quy định là: Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Hưng Yên, Nam định, Ninh Thuận, Lâm Đồng…), không đúng quy định; việc kiểm tra, thanh tra và xử lý các vi phạm còn rất hạn chế; thiếu chủ động trong thanh tra, kiểm tra về lao động người nước ngoài; việc phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật lao động về quản lý lao động người nước ngoài hạn chế; chưa có nhiều đề xuất với Uỷ ban nhân dân, Bộ Lao động - Thương binh và

Xã hội và các cơ quan có liên quan để có những giải pháp hiệu quả quản lý lao động người nước ngoài

- GS, TSKH Nguyễn Mại-Nguyên Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho biết: Theo nguyên tắc bất kể lao động người nước ngoài nào khi vào Việt Nam cũng phải đăng ký, tuy nhiên vẫn xuất hiện những trường hợp lao động Trung Quốc đăng ký kỹ sư nhưng lại làm việc chân tay thì đó là trách nhiệm của Sở Lao động- Thương binh và Xã hội các tỉnh Quản lý quá lỏng lẻo, không có biện pháp kiểm tra, giám sát

- Báo cáo của Sở Sở Lao động- Thương binh và Xã hội Bình Thuận cho biết tại công trường Nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân 2 (xã Vĩnh Tân, H.Tuy Phong, Bình Thuận) còn 528 lao động người Trung Quốc Trong số đó chỉ có 283 lao động có giấy phép, còn lại là lao động “chui”

- Tại Thanh Hóa, nhà thầu Viện Nghiên cứu và thiết kế xi măng Hợp Phì (Trung Quốc) đưa 163 lao động Trung Quốc sang làm việc có thời hạn từ nay đến tháng 12/2014 tại Nhà máy xi măng Công Thanh Điều đáng nói là trong số 163 lao động này chỉ có 49 lao động có trình độ chuyên môn đại học trở lên; còn tới 114 lao động kỹ thuật mà hầu hết tại Việt Nam đều sẵn có nhưng nhà thầu Trung Quốc không tuyển dụng [1].

Mạng lưới quản lý lao động người nước ngoài còn quá mỏng, ở địa phương (cấp huyện, xã) chưa có cán bộ chuyên trách theo dõi, quản lý lao động người nước ngoài, vì thế công tác theo dõi, quản lý, xây dựng hồ sơ dữ liệu không được cập nhật thường xuyên

- Mặc dù Chính phủ và nhiều Tỉnh/Thành phố đã ban hành quy định cơ chế phối hợp giữa các đơn vị trực thuộc trong công tác quản lý lao động người nước ngoài song trên thực tế sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc quản lý lao động người nước ngoài còn nhiều bất cập Lao động người nước ngoài đến địa phương không chỉ làm việc mà còn sinh sống tại địa phương, vì vậy liên quan đến khai báo tạm trú, an ninh, văn hóa,…Như vậy, quản lý người lao động không chỉ Sở Lao động, Phòng Lao động mà cần sự vào cuộc của Công an và chính quyền địa phương nơi các lao động này cư trú Ở một số dự án công tác quản lý lao động người nước ngoài gặp khó khăn do lao động người nước ngoài ở phân tán

Một số địa phương xác nhận đối tượng không phải cấp giấy phép lao động sai quy định; hoặc áp dụng “linh hoạt” khi cấp giấy phép lao động, như cho nợ phiếu lý lịch tư pháp hay các giấy tờ trong hồ sơ đề nghị cấp giấy phép lao động; hoặc khi gia hạn giấy phép lao động, không xây dựng và thực hiện kế hoạch đào tạo người lao động Việt Nam để thay thế

Việc phát hiện ra quá nhiều lao động làm việc không phép tại các công trình, dự án do nhà thầu nước ngoài thực hiện, cho thấy năng lực quản lý của các cơ quan chức năng là thực sự có vấn đề

PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM TĂNG CƯỜNG

Ngày đăng: 25/11/2021, 07:51

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. An An (07/07/2014), “Trà Vinh cấp phép 2.100 lao động Trung Quốc, thêm lo ngại”, http://dantri.com.vn/thi-truong/tra-vinh-cap-phep-2100-lao-dong-trung-quoc-them-lo-ngai-1405286506.htm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trà Vinh cấp phép 2.100 lao động Trung Quốc, thêm lo ngại
2. Thành An (22/08/2012), “Bất cập lao động nước ngoài tại Việt Nam”, http://thoibaokinhdoanh.vn/Lang-kinh-8/Bat-cap-lao-dong-nuoc-ngoai-tai-Viet-Nam-7562.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bất cập lao động nước ngoài tại Việt Nam
3. Phạm Quốc Anh (2008), Những điều cần biết về Người lao động di trú, NXB Hồng Đức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những điều cần biết về Người lao động di trú
Tác giả: Phạm Quốc Anh
Nhà XB: NXB Hồng Đức
Năm: 2008
4. Nguyễn Thị Hồng Bích (2007), “Xuất khẩu lao động của một số nước Đông Nam Á: Kinh nghiệm và Bài học”, Trung tâm nghiên cứu Quốc tế và Khu vực, Viện Khoa học xã hội Việt Nam , Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xuất khẩu lao động của một số nước Đông Nam Á: Kinh nghiệm và Bài học”, "Trung tâm nghiên cứu Quốc tế và Khu vực, Viện Khoa học xã hội Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Hồng Bích
Năm: 2007
6. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (2005), Lao động - việc làm ở Việt Nam 1996 - 2010, NXB Lao động - Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lao động - việc làm ở Việt Nam 1996 - 2010
Tác giả: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
Nhà XB: NXB Lao động - Xã hội
Năm: 2005
26. Phan Huy Đường (2009), “Giải pháp tăng cường quản lý Nhà nước về xuất khẩu lao động”, Tạp chí Lao động và Xã hội, (357), tr.15-16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp tăng cường quản lý Nhà nước về xuất khẩu lao động”
Tác giả: Phan Huy Đường
Năm: 2009
27. Phan Huy Đường (2010), Quản lý nhà nước về Kinh tế, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý nhà nước về Kinh tế
Tác giả: Phan Huy Đường
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2010
28. Phan Huy Đường (2009), Quản lý nhà nước về xuất khẩu lao động trong hội nhập quốc tế ở Việt Nam, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý nhà nước về xuất khẩu lao động trong hội nhập quốc tế ở Việt Nam
Tác giả: Phan Huy Đường
Năm: 2009
29. Đỗ Thị Hải Hà (2007), Quản lý nhà nước đối với cung ứng dịch vụ công , NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý nhà nước đối với cung ứng dịch vụ công
Tác giả: Đỗ Thị Hải Hà
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 2007
30. Lê Thanh Hà (2008), Quan hệ lao động trong hội nhập kinh tế quốc tế, NXB Lao động - Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ lao động trong hội nhập kinh tế quốc tế
Tác giả: Lê Thanh Hà
Nhà XB: NXB Lao động - Xã hội
Năm: 2008
31. Hội Luật gia Việt Nam (2008), Bảo vệ quyền của người lao động di trú - Pháp luật và thực tiễn quốc tế, khu vực và quốc gia, Nxb. Hồng Đức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ quyền của người lao động di trú - Pháp luật và thực tiễn quốc tế, khu vực và quốc gia
Tác giả: Hội Luật gia Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Hồng Đức
Năm: 2008
32. Lê Hồng Huyên (1+2/2009), “Tác động của di chuyển lao động quốc tế đối với sự phát triển của Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế”, Tạp chí Quản lý kinh tế, (24), tr.13-19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tác động của di chuyển lao động quốc tế đối với sự phát triển của Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế”
33. Lê Hồng Huyên (2011), Quản lý nhà nước về di chuyển lao động Việt Nam ra làm việc ở nước ngoài, Luận án Tiến sĩ kinh tế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý nhà nước về di chuyển lao động Việt Nam ra làm việc ở nước ngoài
Tác giả: Lê Hồng Huyên
Năm: 2011
34. Lê Huyền (22/08/2012), “Quản lý lao động nước ngoài còn nhiều kẽ hở”, http://danviet.vn/tin-tuc/quan-ly-lao-dong-nuoc-ngoai-con-nhieu-ke-ho-135815.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý lao động nước ngoài còn nhiều kẽ hở
35. Viết Long (12/07/2016), “Khó ngăn tai nạn lao động do thanh tra viên quá ít”, http://plo.vn/thoi-su/kho-ngan-tai-nan-lao-dong-do-thanh-tra-vien-qua-it-640106.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khó ngăn tai nạn lao động do thanh tra viên quá ít
36. Võ Hoài Nam (02/07/2011), “Nga mạnh tay với người nhập cư trái phép”, http://laodong.com.vn/nguoi-viet-xa-xu/nga-manh-tay-voi-nguoi-nhap-cu-trai-phep-46820.bld Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nga mạnh tay với người nhập cư trái phép
37. Nguyễn Bá Ngọc (2008), Quan hệ lao động và môi trường kinh doanh ở Việt Nam, NXB Lao động - Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ lao động và môi trường kinh doanh ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Bá Ngọc
Nhà XB: NXB Lao động - Xã hội
Năm: 2008
39. Quốc hội Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2012), Bộ luật Lao động và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động (năm 2002, năm 2006 và năm 2007), NXB Tư Pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật Lao động và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động (năm 2002, năm 2006 và năm 2007)
Tác giả: Quốc hội Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: NXB Tư Pháp
Năm: 2012
40. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2007), Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng và văn bản hướng dẫn thi hành, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng và văn bản hướng dẫn thi hành
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2007
13. Lam Châu (23/10/2016) Ngày càng có nhiều lao động nước ngoài làm việc tại Hàn Quốc. http://baoquocte.vn/ngay-cang-nhieu-lao-dong-nuoc-ngoai-lam-viec-o-han-quoc-38008.html Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w