Bên cạnh đó tư tưởng về nhà nước, pháp luật là sự tiếp tục trực tiếp các nguyên lý triết học về bản chất của nhà nước, pháp luật, sự tác động qua lại của nhà nước và pháp luật với cơ sở
Trang 1XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI - 2017
Trang 2LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS Trần Hải Minh
HÀ NỘI - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong luận văn là trung thực, có cơ sở, xuất xứ rõ ràng Những kết luận trong luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
TRỊNH THỊ DUNG
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: BỐI CẢNH LỊCH SỬ VÀ TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN CHO SỰ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG VỀ NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN TRONG TRIẾT HỌC TÂY ÂU CẬN ĐẠI (THẾ KỶ XVIII - XIX) 8
1.1 Bối cảnh lịch sử Tây Âu Cận đại (thế kỷ XVIII - XIX) 8
1.2 Tiền đề lý luận 18
Tiểu kết chương I 26
CHƯƠNG II: TƯ TƯỞNG VỀ NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN TRONG LỊCH SỬ TRIẾT HỌC TÂY ÂU CẬN ĐẠI (THẾ KỶ XVIII – XIX) 27
2.1 Những tư tưởng cơ bản về nhà nước pháp quyền trong tác phẩm “Bàn về tinh thần pháp luật” của C.S.Montesquieu 27
2.2 Quan niệm về nhà nước pháp quyền trong tác phẩm “Bàn về khế ước xã hội” của J.J.Rousseau (1712 - 1778) 45
2.3 Nội dung cơ bản của tư tưởng G.W.Heghen về nhà nước pháp quyền trong tác phẩm “Các nguyên lý của triết học pháp quyền” 65
Tiểu kết chương II 82
CHƯƠNG III: GIÁ TRỊ, HẠN CHẾ VÀ Ý NGHĨA CỦA TƯ TƯỞNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN TÂY ÂU CẬN ĐẠI (THẾ KỶ XVIII – XIX) TRONG XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 84
3.1 Giá trị của tư tưởng nhà nước pháp quyền trong triết học Tây Âu Cận đại (thế kỷ XVIII – XIX) 84
3.2 Hạn chế của tư tưởng nhà nước pháp quyền trong lịch sử triết học Tây Âu Cận đại ( thế kỷ XVIII – XIX) 88
Trang 63.3 Ý nghĩa tư tưởng về nhà nước pháp quyền trong lịch sử triết học Tây
Âu Cận đại (thế kỷ XVIII – XIX) trong xây dựng nhà nước pháp quyền
Xã hội Chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay 91
Tiểu kết chương III 106
KẾT LUẬN 107
TÓM TẮT LUẬN VĂN 110
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 112
Trang 7
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nhà nước là vấn đề trung tâm của đời sống chính trị trong xã hội có giai cấp Thực tiễn lịch sử sinh động đã cho thấy giai cấp nào thống trị xã hội, cải tạo xã hội phục vụ cho lợi ích của giai cấp mình đều phải giành lấy công
cụ quan trọng nhất, đó là chính quyền nhà nước Cũng bởi thế mà nhà nước trở thành một vấn đề quan trọng của mọi cuộc cách mạng
Sự phát triển tư tưởng về nhà nước pháp quyền trong lịch sử triết học là
sự phản ánh sự phát triển nền sản xuất vật chất cũng như sự đấu tranh giai cấp trong xã hội Bên cạnh đó tư tưởng về nhà nước, pháp luật là sự tiếp tục trực tiếp các nguyên lý triết học về bản chất của nhà nước, pháp luật, sự tác động qua lại của nhà nước và pháp luật với cơ sở kinh tế, chính trị và sự biến đổi của chúng theo sự phát triển của đời sống xã hội
Ngày nay, xây dựng nhà nước pháp quyền là mục tiêu cơ bản cần hướng tới của mọi quốc gia, vì nó đáp ứng được khát vọng tự do, dân chủ, công bằng xã hội, đem lại phúc lợi cho nhân dân, bảo đảm các quyền cơ bản của con người
Tại Hội nghị đại biểu giữa nhiệm kỳ khóa VII của Đảng Cộng sản Việt Nam, vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam chính thức được đưa vào nghị quyết: "Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện từng bước nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam" [11, tr.56] Việc xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta không làm thay đổi bản chất của nhà nước XHCN mà là để thể hiện đầy đủ bản chất của một nhà nước dân chủ, nhà nước thực sự của dân, do nhân dân, vì nhân dân, phù hợp với xu thế phát triển chung của thời đại và dân tộc
Trong Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về các văn kiện Đại hội XI của đã tiếp tục nhấn mạnh: "Nhà nước ta là Nhà nước
Trang 8pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, do Đảng lãnh đạo Nhà nước chăm lo, phục vụ nhân dân, bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân Tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước theo nguyên tắc tập trung dân chủ Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp" [12, tr.52] Song, do nhu cầu đổi mới, phát triển toàn diện đất nước, đồng thời xuất phát từ thực trạng yếu kém trong bộ máy nhà nước; lý luận về nhà nước pháp quyền và hệ thống pháp luật chưa hoàn chỉnh; việc thực hiện quản lý nhà nước bằng luật pháp ở các cấp, các ngành còn nhiều bất cập, nên vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam hiện nay đang là vấn đề có ý nghĩa cấp bách
Vì những lí do nêu trên, chúng tôi chọn đề tài:” Tư tưởng về nhà nước pháp quyền trong lịch sử triết học Tây Âu Cận đại (thế kỷ XVIII - XIX)
và ý nghĩa của nó trong xây dựng nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa
Việt Nam hiện nay” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Vấn đề nhà nước pháp quyền nói chung và tư tưởng về nhà nước pháp
quyền Tây Âu Cận đại thế kỷ XVIII – XIX nói riêng đã có nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu
Nhóm đề tài khoa học, sách báo:
- Vấn đề nhà nước trong tác phẩm “Nhà nước và cách mạng cuả
Lênin” và vấn đề nhà nước pháp quyền XHCN đã có rất nhiều công trình
nghiên cứu như: “Quan điểm chính trị trong một số tác phẩm kinh diển Mác – Leenin” của PGS,TS Nguyễn Thanh Tuấnn, PGS.TS Trần Ngọc Linh, PGS,TS Nguyễn Tuyên đồng chủ biên (Nxb Chính trị - Quốc gia, Hà Nội,
2008) “Các vấn đề triết học trong tác phẩm của Mác – Ănghen, Lênin” của
PGS,TS Doãn Chính và PGS,TS Đinh Ngọc Thạch (Nxb Chính trị quốc gia,
Trang 92003) Trong các công trình trên thì tác giả đã nghiên cứu hệ thống những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và trình bày khá rõ lý luận chung về nhà nước trong một số tác phẩm kinh điển
Bên cạnh đó, một số công trình khác như: Đỗ Đức Minh (2006), “Xây
dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam - Những tác động từ truyền thống và hiện tại”,Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Luật học, số 3; TS Trần Hải
Minh, Mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật, Đề tài khoa học, Học viện Báo
chí và Tuyên truyền cũng đều đề cập đến các vấn đề về nhà nước và xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN
Các nhóm đề tài luận văn, luận án:
Luận án Tiến sĩ của tác giả Lê Minh Quân:“Mối quan hệ giữa việc
xây dựng nhà nước pháp quyền với sự phát triển đất nước theo định hướng
Xã hội Chủ nghĩa” (Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 1998) Tác
giả đã khái quát những tư tưởng lịch sử về nhà nước pháp quyền trong sự phát triển của xã hội, từ đó đưa ra các phương hướng và các nguyên tắc cơ bản trong xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam
Bên cạnh đó, có một số luận văn Thạc sĩ của tác giả: Nguyễn Thị Hoàn:
“Quan niệm về nhà nước pháp quyền của CH.S.Montesquieu trong “Bàn về tinh thần pháp luật” và ý nghĩa của nó trong xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam hiện nay” (Đại học Khoa học Xã hội và nhân văn); luận
văn Thạc sĩ của tác giả Phạm Thị Huyên: “Quan niệm của J.J.Rousseau về
quyền lực và sự phân chia quyền lực nhà nước trong tác phẩm “Bàn về khế ước xã hội” (Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, 2015); luận văn
Thạc sĩ của tác giả Nguyễn Văn Huấn: “Quan niệm của Hêghen về nhà nước
trong tác phẩm “Các nguyên lý về triết học pháp quyền” (Trường Đại học
Khoa học xã hội và Nhân văn, 2014): Các luận văn Thạc sĩ trên đều phân tích các quan niệm về nhà nước pháp quyền của các nhà triết học Tây Âu Cận đại
Trang 10thế kỷ XVIII – XIX): Montesquieu, Hêghen, J.J.Rousse,…và đưa ra ý nghĩa, liên hệ xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam hiện nay Kế thừa những thành quả của các nhà nghiên cứu đi trước thì tác giả đi sâu phân tích
tư tưởng về nhà nức pháp quyền của các nhà triết học Tây Âu Cận đại (thế kỷ XVIII – XIX) trong tính hệ thống của mối liên hệ, sự tác động qua lại của chúng, từ đó rút ra giá trị, hạn chế và ý nghĩa của nó trong xây dựng nhà nước pháp quyền Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam hiện nay thể hiện qua 5 nội dung cụ
thể: 1 Nguyên tắc dân chủ và quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân; 2 Nhà
nước pháp quyền Việt Nam quản lý xã hội bằng pháp luật kết hợp với những giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc; 3.Trong xây dựng và thực thi pháp luật phải tôn trọng nguyên tắc về tính thượng tôn của pháp luật; 4.Giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức và nhân dân góp phần tăng cường pháp chế
xã hội chủ nghĩa; 5 Quyền lực Nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Mục đích của luận văn là góp phần tìm hiểu một số tư tưởng tiêu biểu
về nhà nước pháp quyền trong lịch sử triết học phương Tây Cận đại (thế kỷ XVIII – XIX), trên cơ sở đó góp phần làm sáng tỏ những ý nghĩa của nó trong việc xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN ở nước ta hiện nay
Để thực hiện mục đích trên, luận văn thực hiện những vấn đề sau:
* Phân tích làm rõ những tư tưởng tiêu biểu về nhà nước pháp quyền trong lịch sử triết học Tây Âu Cận đại (thế kỷ XVIII – XIX)
* Đánh giá về giá trị, hạn chế và ý nghĩa của nó đối với việc xây dựng, hoàn thiện nhà nước và pháp quyền XHCN Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Trang 114 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu luận văn
Đối tượng: Luận văn nghiên cứu về tư tưởng nhà nước pháp quyền trong lịch sử triết học Tây Âu Cận đại (thế kỷ XVIII – XIX) và ý nghĩa của nó trong xây dựng nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay
Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu tư tưởng nhà nước pháp quyền
trong lịch sử triết học Tây Âu Cận đại (thế kỷ XVIII-XIX) trong 3 tác phẩm: “Bàn
về tinh thần pháp luật” của Montesquieu (1689 - 1755); “Các nguyên lý về triết học pháp quyền” của Hêghen (1779 - 1831); “Bàn về khế ước xã hội “ của Jean
Jacquies Rousseau” (1712 - 1778) và ý nghĩa của nó trong xây dựng nhà nước pháp quyền bắt đầu từ Đại hội VII (1991) đến nay
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, đặc biệt là những quan điểm, tư tưởng Hồ Chí Minh, của Đảng cộng sản Việt Nam về xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN trong công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế hiện nay
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong luận văn dưới góc độ triết học
là phương pháp biện chứng duy vật; phương pháp thống nhất giữa lịch sử và logic, phương pháp so sánh, phân tích và tổng hợp; phương pháp đi từ trừu tượng đến cụ thể; đặc biệt chú ý tới mối quan hệ biện chứng giữa cái chung và cái riêng
6 Đóng góp mới của tác giả
Đây là công trình nghiên cứu cơ bản tìm hiểu những tư tưởng tiêu biểu
về nhà nước pháp quyền trong lịch sử triết học Tây Âu thế kỷ XVIII - XIX, từ
đó góp phần làm rõ một số vấn đề về xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam, nên luận văn đã thể hiện được những điểm mới sau:
Một là, trình bày một cách tương đối có hệ thống những tư tưởng tiêu
biểu về nhà nước pháp quyền trong lịch sử triết học Tây Âu (Cận đại thế kỷ XVIII – XIX)
Trang 12Hai là, phân tích làm rõ một số vấn đề cơ bản trong quá trình xây dựng
và hoàn thiện nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam trong công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay
Với những kết quả đạt được, luận văn sẽ góp phần lý giải một số vấn đề
về bản chất, vai trò, nhiệm vụ và chức năng của nhà nước pháp quyền, đặc biệt những giải pháp để xây dựng, hoàn thiện nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam hiện nay
Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho công tác học tập,
nghiên cứu, giảng dạy triết học và hoạt động thực tiễn quản lý, điều hành xã hội
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận chung và danh mục tài liệu tham khảo; nội dung của luận văn gồm 3 chương và 9 tiết:
Chương I: Bối cảnh của sự hình hành, phát triển về tư tưởng nhà nước pháp quyền trong triết học Tây Âu Cận đại (thế kỷ XVIII - XIX)
1.1 Bối cảnh kinh tế - chính trị - xã hội Tây Âu Cận đại (thế kỷ XVIII - XIX)
1.2 Tiền để lý luận
Chương II: Tư tưởng về nhà nước pháp quyền trong lịch sử Tây
Âu Cận đại (thế kỷ XVIII - XIX)
2.1 Những tư tưởng cơ bản về nhà nước pháp quyền trong tác phẩm
“Bàn về tinh thần pháp luật” của C.S.Montesquieu
2.2 Quan niệm về nhà nước pháp quyền trong tác phẩm “Bàn về khế
ước xã hội” của J.J.Rousseau (1712 - 1778)
2.3 Nội dung cơ bản của tư tưởng G.W.Heghen về nhà nước pháp
quyền trong tác phẩm “Các nguyên lý của triết học pháp quyền”
Trang 13Chương III: Gía trị, hạn chế và ý nghĩa của tư tưởng nhà nước pháp quyền Tây Âu Cận đại (thế kỷ XVIII – XIX) trong xây dựng nhà nước pháp quyền Xã hội Chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay
3.1 Gía trị của tư tưởng về nhà nước pháp quyền trong triết học Tây
Âu Cận đại (thế kỷ XVIII - XIX)
3.2 Hạn chế của tư tưởng về nhà nước pháp quyền trong triết học Tây
Âu Cận đại (thế kỷ XVIII - XIX)
3.3 Ý nghĩa của tư tưởng nhà nước pháp quyền trong triết học Tây Âu
Cận đại (thế kỷ XVIII - XIX) trong xây dựng nhà nước pháp quyền Xã hội Chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay
Trang 14CHƯƠNG I:
BỐI CẢNH LỊCH SỬ VÀ TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN CHO SỰ HÌNH THÀNH
TƯ TƯỞNG VỀ NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN TRONG TRIẾT HỌC
TÂY ÂU CẬN ĐẠI (THẾ KỶ XVIII - XIX) 1.1 Bối cảnh lịch sử Tây Âu Cận đại (thế kỷ XVIII - XIX)
Vào thế kỷ XVIII - XIX, CNTB đã được thiết lập ở một số nước Tây
Âu như: Italia, Anh, Pháp, …đem lại một nền sản xuất phát triển chưa từng có trong lịch sử, tỏ ra ưu việt và tiến bộ hơn hẳn so với tất cả các chế độ trước
đó Những thành tựu về kinh tế và văn hóa thời kỳ này mà đỉnh cao là các cuộc cách mạng công nghiệp càng khẳng định được sức mạnh của con người trong nhận thức và cải tạo thế giới
Ở Anh, nước Anh là nước đầu tiên tiến hành cách mạng công nghiệp: Công trường thủ công đã có những điều kiện để sử dụng máy móc, chia quá trình lao động thành những công việc đơn giản để có thể làm máy móc, đào tạo những đội ngũ công nhân thành thạo nghề biết sử dụng máy móc Tuy vậy, mâu thuẫn giữa khả năng sản xuất có hạn của công trường thủ công và nhu cầu về hàng hóa tăng lên nhanh chóng vẫn chưa được giải quyết Công trường thủ công đã có tính chất TBCN, nhưng chỉ khi sử dụng máy móc trong sản xuất thì công nghiệp TBCN mới hoàn toàn thắng lợi Mặt khác, do nền sản xuất hàng hóa ngày càng phát triển nên nhu cầu phát minh ra máy móc cũng trở nên bức thiết đáp ứng yêu cầu của những khách hàng mới, những thị hiếu mới
Do bị tước đoạt TLSX nên hầu hết nông dân tự canh đều trở thành bần
cố nông, nhiều người trong số đó đã chọn con đường di cư sang các thuộc địa hoặc phiêu bạt ra các thành thị để tìm kiếm việc làm Nông dân phá sản, dần dần hình thành quần chúng cơ bản của giai cấp vô sản
Trang 15Việc tập trung đất đai thành mảnh lớn đã đưa đến sự phát triển của kinh doanh trang trại TBCN nhằm cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp và phần lương thực cho thành thị và các khu công nghiệp Đồng thời, thị trường trong nước cho sản phẩm nông nghiệp không ngừng được mở rộng Nếu trước đây người nông dân tự túc phần lớn về ăn mặc thì nay họ phải mua đủ thứ
Có thể thấy sức lao động được tích lũy ở Anh lúc bấy giờ nhiều hơn bất cứ nước nào Lúc ấy, hơi nước và máy móc đã làm một cuộc cách mạng trong sản xuất công nghiệp Đại công nghiệp hiện đại thay thế cho công trường thủ công
Cải tiến kỹ thuật và phát minh máy móc ở Anh, bắt đầu từ ngành công nghiệp nhẹ - ngành ít đầu tư vốn mà thu được nguồn lợi nhuận cao
Cải tiến quan trọng đầu tiên trong ngành công nghiệp vải bông đã diễn
ra trong nghề dệt Năm 1733, người thợ máy Gionke phát minh ra con thoi bay, thay cho con thoi xâu chỉ bằng tay Con thoi bay làm cho quá trình dệt nhanh hơn gấp nhiều lần và người ta có thể dệt nhanh hơn những tấm vải có chiều rộng tùy ý Tuy nhiên, đã có những con thoi bay, sợi vẫn kéo bằng xa quay tay, trong lúc nhu cầu về sợi không ngừng tăng lên Chính nạn “đói sợi”
đã thúc đẩy các nhà tư bản cải tiến kỹ thuật kéo sợi Vì vậy, vào năm 1765, người thợ dệt Giem Hargivo đã phát minh ra chiếc máy kéo sợi, mang tên con gái ông là Gienni Máy kéo sợi Gienni tuy vẫn kéo bằng tay song thay cho một cọc suốt trước kia thì nay đã có tới 16 đến 18 cọc suốt, mà lại vẫn chỉ do một công nhân điều khiển Năm 1769, Risac Acrai đã phát minh ra máy kéo sợi chạy bằng sức nước Sự ra đời của máy này khiến cho các công trường mở rộng cả về quy mô lẫn số lượng Năm 1771, Accrai cho xây dựng xưởng dệt đầu tiên của nước Anh tại thành phố Manxotex [28, tr 166]
Năm 1785, kỹ sư Etmon Cacrai phát minh máy dệt, hoàn thiện vào năm 1880, làm cho tốc độ sản xuất tăng lên 39 lần và nhanh chóng được sử
Trang 16dụng rộng rãi ở Anh Nhờ vậy, mà sợi kéo ra có thể tiêu thụ được, giá cả cũng
hạ xuống Sau khi trải qua một loạt cải tiến, máy dệt được sử dụng rộng rãi ở Anh Vào khoảng thập niên 40 của thế kỷ XIX, việc dệt vải bằng máy đã hoàn toàn áp đảo nghề dệt thủ công Do tiến bộ của ngành hóa học mà việc: nhuộm màu, in hoa vải sợi, lanh lụa,… cũng được cải tiến
Từ ngành dệt vải bông, việc phát minh ra máy móc và việc cải tiến kỹ thuật cũng lan sang các ngành khác như: làm đăngten, dệt len, công nghiệp lanh, dệt tơ tằm,…
Sự phát triển mạnh mẽ của công nghiệp nước Anh từ thập niên 60 của thế kỷ XVIII đã không chỉ bó hẹp trong ngành dệt, mà dần dần còn lan rộng sang những ngành khác Trong ngành luyện kim, năm 1735, Abraham Đacbi
đã phát minh ra phương pháp nấu than cốc từ than đá để luyện gang, và đến năm 1756 thì phương pháp này được hoàn thiện Việc sử dụng nhiên liệu là khoáng chất thay cho than củi đã tạo ra bước ngoặt đối với sự phát triển của ngành luyện kim Kết quả là sản lượng gang của nước Anh đã tăng lên đáng
kể nhưng chưa chuyển gang thành sắt Vào khoảng những năm 1783 - 1784, Ônion và Cooc đã tìm ra phương pháp lấy than hòa lẫn trong sắt chảy Việc nấu quặng được đơn giản hóa bằng cách dùng những luồng khí nóng chảy nhờ đó mà sắt được sản xuất nhiều và có giá rẻ, đồ dùng bằng sắt dần dần được thay thế đồ dùng gỗ hoặc đá [28, tr.167]
Năm 1790, Hanxman đã sáng chế ra phương pháp đúc thép, thông qua việc nấu sắt trong những lò đất chịu lửa với một ít than gỗ và thủy tinh vụn Phát minh mới đem lại nhiều lợi ích, nó không chỉ tiết kiệm được sức lao động mà còn phục vụ cho việc đắc lực cho việc cung cấp nguyên liệu có chất lượng cao cho ngành chế tạo máy Công nghiệp luyện kim phát triển kéo theo
sự phát triển của các ngành khai thác khoáng sản Hàng năm, số lượng than
Trang 17dùng để nấu gang là hơn 3 triệu tấn Hoạt động khái thác các mỏ đồng, chì, thiếc ngày càng phát triển
Sau những tiến bộ kỹ thuật trên, sức nước được coi là động lực chủ yếu trong những nhà máy lớn đầu tiên Phần lớn những công xưởng đầu tiên đều được xây dựng cận kề các dòng sông Tuy nhiên, không phải dòng nào cũng đủ sức quay máy, việc xây dựng các bể chứa rất khó và tốn kém Bên cạnh đó, việc dùng sức nước rất bất tiện vì công xưởng không thể xây ở những đô thị có nhiều sức lao động, không thể ở gần những tuyến đường giao thông thuận tiện, chủ xưởng còn phải trả cho chủ đất một khoản tiền thuê đất lớn, mùa đông khiến nước trên các dòng sông đóng băng làm tê liệt mọi hoạt động của nhà máy
Năm 1705, Niucomen đã phát minh ra máy hơi nước không khí dùng
để đưa nước lên, rồi cho nước xuống các bánh xe và làm chuyển động các bơm để hút nước trong hầm mỏ
Năm 1784, Giêm Oát - một thực nghiệm viên của trường Đại học Anh
- đã chế tạo ra máy hơi nước, giảm được nhiên liệu mà công suất lại lớn Trên
cơ sở đó mà nhà máy dệt đầu tiên chạy bằng hơi nước được xây dựng Đến đầu thế kỷ XIX, máy hơi nước được dùng khá phổ biến Ưu điểm của máy hơi nước là chạy bằng than và nước - những thứ nhiên liệu tương đối sẵn có - có thể di chuyển dễ dàng được, tạo điều kiện cho sự ra đời của nhiều xưởng lớn,
sử dụng nhiều công nhân tại các vùng miền khác nhau của nước Anh Nhờ sử dụng máy hơi nước, tốc độ sản xuất và năng suất lao động tăng cao, điều này chứng tỏ lao động bằng máy có nhiều ưu thế hơn hẳn lao động bằng chân tay trong các ngành công nghiệp chủ yếu của nước Anh
Ngành giao thông vận tải cũng đòi hỏi tăng cường để phục vụ sản xuất trong sản xuất trong công nghiệp Các cây cầu sắt được xây dựng ngày một nhiều thay thế cho các cây cầu gỗ và đá trước kia Năm 1814, Xtiphexon đã
Trang 18sáng chế thành công chiếc đầu xe lửa đầu tiên, kéo được 8 toa và chạy được 6km/h Đây là mốc khởi đầu quan trọng cho một phương tiện vận tải mới Năm 1803, tuyến đường sắt đầu tiên nối liền thành phố Livopun và Maxnexto
đã được khánh thành, và đến giữa thế kỷ XIX, xe lửa đạt được tốc độ hơn 50km/h Năm 1807, Phonton chế tạo thành công chiếc tàu thủy đầu tiên chạy bằng hơi nước [28, tr.168]
Từ nước Anh, cách mạng công nghiệp lan sang nhiều nước khác, nhất
là ở những nước đã hoàn thành cuộc cách mạng tư sản Nhìn chung các cuộc cách mạng công nghiệp ở các nước Âu - Mỹ được bắt đầu vào khoảng giữa thế kỷ XIX và hoàn thành vào cuối thế kỷ này
Ở Pháp, sau cách mạng tư sản Pháp năm 1789, đã có một nền kinh tế TBCN phát triển mạnh, Pháp trở thành cường quốc kinh tế thứ hai trên thế giới Nếu như vào năm 1820, Pháp có 65 máy hơi nước thì chỉ 10 năm sau Pháp đã có 616 máy hơi nước với tổng công suất khoảng 10000 sức ngựa; tới năm 1847, con số đó là 4853 máy với 61630 sức ngựa Sản lượng của các ngành công nghiệp nặng cũng có mức tăng mạnh mẽ Năm 1832, Pháp nấu được 225000 tấn gang và luyện được 148000 tấn sắt; đến năm 1846, số gang sản xuất đã tăng lên 586000 tấn, số sắt là 373000 tấn Số lượng than đá tiêu thụ cũng không ngừng tăng lên, năm 1830 đạt xấp xỉ 2500000 tấn, đến năm
1847 đã lên hơn 7600000 tấn Hệ thống đường sắt của nước Pháp cũng từng bước được hình thành Năm 1831, Pháp có 31 km đường sắt, đến năm 1848, tổng chiều dài đường sắt là 1900 km [28, tr 171]
Nền công nghiệp Pháp đã đạt được những tiến bộ quan trọng như vậy, song tốc độ phát triển vẫn còn tương đối chậm, quy mô còn nhỏ bé chưa tương xứng với tiềm năng của nước Pháp Sự phát triển của nền kinh tế TBCN còn rất nhiều trở ngại, sự tồn tại chủ yếu của tiểu nông đã làm cho thị
Trang 19trường trong nước bị thu hẹp đáng kể, nguồn nhân công hạn chế, chính sách phản động của triều đình phong kiến
Ở Đức, cuộc cách mạng công nghiệp chính thức bắt đầu vào những năm 40 của thế kỷ XIX, vùng sông Ranh và Vecxphala, Solinde,…là những miền có nền kinh tế TBCN phát triển mạnh nhất Mặc dù sự chia cắt về lãnh thổ và sự phân tán về chính trị, nhưng đến năm 40 của thế kỷ XIX nền kinh tế Đức cũng đạt được những tiến bộ đáng kể Nếu vào năm 1822, trên đất nước Đức chưa sử dụng quá 2 máy hơi nước thì đến năm 1837 đã có hơn 300 chiếc Một thập niên sau đó, con số này tăng 1139 chiếc Hai ngành công nghiệp phát triển nhanh nhất là dệt và khai khoáng Thủ đô Beclin trở thành một trung tâm thương mại của Đức, nơi tập trung 1/3 sản xuất cơ khí và vải hoa của cả nước Sự tiến bộ về kỹ thuật thể hiện rõ nhất trong ngành công nghiệp hóa chất và giao thông vận tải Năm 1824, ở Đức xuất hiện chiếc tàu thủy đầu tiên chạy bằng hơi nước trên sông Ranh Năm 1835, người Đức mới đặt thanh ray đầu tiên, thế nhưng chỉ sau đó một thập niên, hệ thống đường sắt của Đức
đã có độ dài hơn 2000 km [28, tr 172]
Ở Italia, nhiều nhà máy cơ khí và luyện kim được xây dựng tại miền Bắc, mạng lưới đường sắt cũng dần dần được hình thành khiến cho giao thông giữa các đường phố lớn ở khu vực này trở nên thuận lợi hơn QHSX TBCN cũng thâm nhập vào nông nghiệp, thúc đẩy sản xuất và buôn bán nông phẩm… Sự chia cắt đất nước là một trở ngại cho sự phát triển tại Italia [28, tr 172]
Ở Áo, vào thế kỷ XIX, trong chế độ phong kiến, đa dân tộc này những yếu tố TBCN tuy đã xuất hiện khá sớm nhưng lại phát triển hết sức chậm chạp, vì nhiều trở ngại của chế độ phong kiến Tuy vậy, bên cạnh số lượng của các công trường thủ công là sự ra đời của nhiều xí nghiệp hiện đại Ngành
Trang 20dệt là ngành phát triển hơn cả, thủ đô Viên nổi tiếng với sản phẩm lụa và đồ gốm [28, tr 172]
Trong lĩnh vực giao thông vận tải, năm 1839 con đường xe lửa đầu tiên của Áo nối liền Viên - Bretxlap - Brôn đã được khánh thành
Ở Mĩ, CNTB phát triển khá mạnh trong những điều kiện thuận lợi Đầu thế kỷ XIX công cuộc công nghiệp hóa được tiến hành, trước tiên là trong ngành dệt, rồi sau đó lan nhanh sang các ngành khác như: công nghiệp năng, luyện kim, đường sắt Tốc độ tăng trưởng của ngành công nghiệp được thể hiện rõ nét qua số liệu sau: từ 1830 đến 1837, sản lượng gang tăng 51%, than tăng đến 266% Ngành đường sắt là ngành phát triển nhanh nhất và mạnh
mẽ nhất Đến năm 1850, Mĩ có một mạng lưới đường sắt dài nhất thế giới 15000km [28, tr 172]
Tuy vậy, sự phát triển của nền kinh tế TBCN ở Mĩ vẫn còn gặp phải những trở ngại lớn: đó là sự tồn tại của chế độ nô lệ trong các đồn điền miền Nam trong hệ thống chính quyền Điều này đã làm cho chính quyền Mĩ chưa đưa ra được những chính sách bảo hộ nền sản xuất công nghiệp trong nước
mà chỉ quan tâm đến làm sao xuất khẩu được bông và các mặt hàng nông phẩm Xóa bỏ sự tồn tại của chế độ nô lệ và hạn chế quyền lực của chủ nô, tăng cường và củng cố thế lực của giai cấp tư sản công nghiệp là những vấn
đề đặt ra ngày càng cấp thiết mở đường cho sự phát triển của CNTB ở Mĩ
Trong nửa đầu thế kỷ XIX, cuộc cách mạng công nghiệp đã hoàn thành ở Anh và lan rộng, phát triển mạnh trong các nước châu Âu và châu Mĩ Đối với các nước khác chưa tiến hành cuộc cách mạng tư sản, LLSX TBCN tiếp tục phát triển ngày càng mạnh mẽ và mâu thuẫn sâu sắc với chế độ phong kiến cũ Sự phát triển đó không chỉ góp phần sản xuất ra một lượng của cải vật chất cho xã hội, mà còn góp phần trực tiếp vào sự thắng lợi và phát triển của CNTB trên toàn phạm vi thế giới trong giai đoạn thế kỷ XVIII – XIX
Trang 21Việc cải tiến, sáng chế ra công cụ mới như máy kéo sợi, máy in cùng với rất nhiều các cuộc phát kiến địa lý, như việc tìm ra châu Mỹ và đường biển đến những miền đất mới,…càng tạo điều kiện cho sự phát triển của nền sản xuất theo hướng TBCN Sự ra đời của các công cụ lao động mới có mối liên hệ chặt chẽ với sự phát triển vượt bậc của khoa học tự nhiên lúc giờ như:
Cơ học, Toán học, Thiên văn học,…Sự phát triển của khoa học tự nhiên thời
kỳ này là nguồn gốc trực tiếp và quan trọng nhất tạo nên sự khác biệt của nền sản xuất TBCN so với tất cả các xã hội trước đó Những phát minh khoa học ứng dụng thâm nhập vào cuộc sống, có vai trò rất lơn trong việc cấu thành một PTSX mới Không dừng lại ở đó, khoa học còn thâm nhập vào địa hạt KTTT của xã hội, tương tác với các bộ phận của nó Những phát minh khoa học đã tạo nên những bước ngoặt lịch sử nhận thức nhân loại và có ảnh hưởng quan trọng đến tư tưởng các nhà triết học Tây Âu Cận đại thế kỷ XVIII - XIX
Chính sự phát triển của nền sản xuất TBCN mà nguồn gốc của nó là
sự ra đời của công cụ lao động mới, dẫn đến việc nhân loại đã sáng tạo ra một lượng của cải vật chất gấp hàng trăm lần lượng của cải mà phương thức cũ đã tạo ra được Đặc biệt là cuộc cách mạng công nghiệp Anh như một biến cố kinh tế quan trọng nhất trong đời sống kinh tế - xã hội châu Âu lúc bấy giờ, làm tăng trưởng mạnh mẽ trình độ, khối lượng và nhịp độ sản xuất của xã hội, đem lại một nền sản xuất phát triển chưa từng có Sự kiện này khẳng định sức mạnh của con người trong nhận thức thế giới Sự phát triển kinh tế CNTB phá tan dần các QHKT làm nảy sinh giai cấp mới - giai cấp tư sản Giai cấp tư sản đã nhanh chóng trở thành một lực lượng sản xuất tiến bộ đại diện cho một lực LLSX tiến bộ đại diện cho một PTSX mới - PTSX TBXN
Trong xã hội phong kiến, giai cấp tư sản dưới hình thức mầm mống thuộc đẳng cấp thứ ba phải chịu sự thống trị của tầng lớp quý tộc và tăng lữ Đẳng cấp thứ ba này không chỉ bị sự áp bức về mặt kinh tế mà còn bị kìm kẹp
Trang 22về quyền lợi chính trị, cùng lúc phải chịu sự sự thống trị của cả vương quyền lẫn thần quyền Chính vì sự biến đổi của công cụ lao động với tư cách là thành tố quan trọng hàng đầu của LLSX - cùng với sự phát triển của nền sản xuất TBCN đã làm cho QHSX cũ mà về cơ bản là chế độ sở hữu đã trở nên lỗi thời, lạc hậu, kìm hãm sự phát triển chung của toàn xã hội Chế độ phong kiến châu Âu cùng với những đặc trưng của nó là sự chuyên chế, đặc quyền
đã không còn phù hợp trước những đòi hỏi của thời đại, của lịch sử đặt ra lúc bấy giờ Do đó, việc xóa bỏ chế độ phong kiến, đẳng cấp, xây dựng một chế
độ xã hội mới dựa trên phù hợp với sự phát triển của LLSX là một xu thế lịch
sử mà không gì có thể ngăn cản nổi
Cùng với sự lớn mạnh về kinh tế, giai cấp tư sản đã nhanh chóng khẳng định được mình là một lực lượng chính trị độc lập Giai cấp này - đứng trước đòi hỏi bức thiết của sự phát triển của lịch sử - cùng với nhân dân đã tự mình tổ chức cuộc đấu tranh lâu dài nhằm lật đổ sự thống trị của chế độ phong kiến và nhà thờ Các cuộc cách mạng tư sản đầu tiên đã nổ ra ở Hà Lan, sau đó là Anh Tuy rằng, các cuộc cách mạng tư sản ở Anh đã giành được thắng lợi nhưng đó lại là cuộc cách mạng tư sản chưa triệt để, theo nghĩa
nó chưa thực hiện được nhiệm vụ lịch sử của mình là tiêu diệt tận gốc chế độ phong kiến ở châu Âu Tiếp bước cách mạng tư sản Anh là cuộc đại cách mạng tư sản Pháp (1789 - 1794) cùng với việc xử tử vua Lui XVI là một trong những đòn quyết định tiêu diệt chế độ phong kiến ở châu Âu
Đúng thời điểm cách mạng tư sản Pháp hoàn thành thì lịch sử châu Âu lật sang một trang mới, tràn ngập ánh sáng Sự kiện vĩ đại đó cũng đồng nghĩa với sự tiêu vong, đồng nghĩa với việc chấm dứt sự tồn tại dai dẳng của chế độ phong kiến trong hơn một nghìn năm
Trong thời kỳ Tây Âu Cận đại thế kỷ XVIII - XIX, “tự do” trở thành khái niệm trung tâm của giai đoạn này Thật vậy, tự do - đó là lý tưởng đấu
Trang 23tranh của cuộc Đại cách mạng tư sản Pháp năm 1789 Dưới ngọn cờ tự do, giai cấp tư sản đã tập hợp và lôi cuốn được sức mạnh của quần chúng nhân dân trong cuộc đấu tranh vì sự nghiệp phát triển cho tiến bộ xã hội Như vậy, một tất yếu không thể đảo ngược, triết học với tư cách là sự phản ánh một cách bao trùm và sâu sắc của thời đại trong phạm vi tư tưởng, sẽ là “tấm gương” phản ánh tinh thần tự do của thời đại cách mạng tư sản
Đi cùng với thời đại chuyển từ chế độ phong kiến sang CNTB thì một yêu cầu mới đã nảy sinh đối với hệ tư tưởng tiên tiến (ý thức hệ của giai cấp
tư sản) là: phải đáp ứng tất cả những gì là chính đáng cho lợi ích tư sản, trong tương quan đối lập với lợi ích phong kiến Các nhà tư tưởng tư sản đòi trả lại cho con người những cái mà hệ tưởng phong kiến đã và đang phủ nhận như: quyền tự do, quyền bình đẳng, quyền sở hữu riêng của mỗi cá nhân và quyền mưu cầu hạnh phúc Trong tư tưởng, tính chuyển tiếp của lịch sử được thể hiện ra ở việc “hạ bệ” thuyết “Thần” là trung tâm đồng hành với sự xây dựng thuyết con người là trung tâm Hệ tư tưởng tư sản tuyến bố: con người là thực thể tối cao, con người phải vươn đến trí tuệ và tự do, phải thực hiện tiến bộ
xã hội và hạnh phúc cho con người Chính thời đại đã đặt ra cho triết học vấn
đề là phải đánh giá lại vị trí và vai trò của con người trong xã hội, đề cao tự
do như là phẩm giá cao nhất, như bản tính cố hữu của con người, qua đó hình thành một thế giới quan mới tiến bộ Như vậy, tinh thần phê phán và tinh thần
ca ngợi tính tích cực của con người cá nhân chính là hai đặc trưng của văn hóa tinh thần Tây Âu Cận đại thế kỷ XVIII - XIX
Về phương diện nào đó, có thể nói tư tưởng triết học Tây Âu Cận đại thế kỷ XVIII - XIX là một hiện tượng nằm trong bối cảnh phát triển văn hóa
và triết học Cận đại, nó biểu thị những đặc điểm của một chặng đường phát triển tinh thần và văn hóa của Tây Âu
Trang 241.2 Tiền đề lý luận
Ở phương Tây cổ đại, sự ra đời tư tưởng về quyền lực nhà nước và phân chia quyền lực nhà nước gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của nhà nước chiếm hữu nô lệ Hy Lạp với những tên tuổi điển hình như: Sôlông (638 - 559tr.CN), Pitago (580 - 500 tr.CN), Heraclit (530 - 470 tr.CN), Platon (427 - 347 tr.CN),…Các triết gia thời kỳ này đều có những tư tưởng về
mô hình nhà nước pháp quyền lấy pháp luật là công cụ chủ yếu được nhà nước và coi đó là chính quyền lực cao nhất Ở đây, các triết gia chưa đưa ra khái niệm cụ thể về quyền lực nhà nước hay sự phân chia quyền lực nhà nước
mà mới chỉ coi pháp luật chính là biểu hiện của quyền lực nhà nước Sử dụng pháp luật để quản lý xã hội chính là đặc điểm cơ bản nhất về tư tưởng quyền lực nhà nước của các ông
Sôlông (638 - 559 tr.CN) là người đầu tiên nêu ra ý tưởng về một nhà nước xây dựng trên cơ sở tuyển cử và sự hòa hợp giữa quyền lực nhà nước và pháp luật Trong nhà nước này, pháp luật có vai trò tiên quyết để đảm bảo trật
tự xã hội, tự do, công bằng Đứng trên lập trường của giai cấp chủ nô, ông cho rằng những người lãnh đạo xã hội là những người quyền quý, cao sang, giàu
có các nhà công thương nghiệp, còn nhân dân thì chỉ có quyền lựa chọn và giám sát các chức năng Điều đảm bảo bình yên cho quốc gia chính là chính quyền và luật pháp cứng rắn Tư tưởng của Sôlông đã đề cao pháp luật trong nhà nước và đại diện cho tư tưởng của tầng lớp thị dân đang lên lúc đó Nhà nước của ông chưa thực sự quan tâm đến lợi ích và quyền của đông đảo quần chúng nhân dân
Sau tư tưởng của Sôlông, nhà toán học kiêm triết gia Pitago đưa ra quan điểm thực hiện mệnh lệnh của nhà nước, tức là tuân thủ pháp luật, pháp luật phải đứng cao hơn các phong tục, tập quán truyền thống
Trang 25Sau này, các nhà triết học khác như: Hêraclit, Xôcrat đều có quan điểm đề cao pháp luật, pháp luật là biểu hiện cao nhất của quyền lực nhà nước khi khẳng định chỉ có pháp luật mới có thể duy trì được trật tự xã hội Hêraclit (530 - 470tr CN), là nhà triết học thuộc tầng lớp quý tộc thị tộc Trên quan điểm biện chứng, ông cho rằng thế giới được tạo nên bởi những mâu thuẫn Tất cả được sinh ra trong một cuộc đấu tranh giữa các sức mạnh đối kháng, chiến tranh Quyền, theo ông là con đẻ của chiến tranh và sự tất yếu Đồng thời nó là sự phản ánh của luật thiên định muôn đời Ông cho rằng đa số dân chúng là kém cỏi, chỉ có một số người là tốt đẹp, thông minh Bởi vậy, việc tuân theo quyền lực cũng như ý niệm của một người không chỉ là tất yếu
mà còn là sự tuân thủ của kẻ yếu với kẻ mạnh Quyền lực nhà nước được ông hiểu là quyền của một số người đứng đầu nhà nước Ông thừa nhận sự bất bình đẳng trong xã hội là tất yếu Theo ông, những khái niệm về công bằng và bất công được hình thành bởi chính con người, vì đối với trời mọi thứ đều hoàn mỹ và công bằng Chỉ có riêng con người mới có giàu sang, tôi tớ “Ông coi trọng pháp luật đến mức cho rằng, thành phố phải được thiết lập trên cơ sở pháp luật và người ta phải đấu tranh cho pháp luật như đấu tranh cho thành lũy của thành phố quê hương” [27, tr.58] Ông cũng coi trọng pháp luật và coi
đó như là công cụ quyền lực nhất mà nhà nước cần có để đảm bảo xã hội phát triển theo nguyên tắc nhất định
Xôcrat (469 - 399 tr.CN) là một trong những nhà triết học nổi tiếng của Hy Lạp đã có những quan điểm chính trị mang tính khai sáng ngay trong thời điểm mà sự bất đồng những nhóm cấp tiến thành thị với tập đoàn bảo thủ Aten tăng lên nghiêm trọng Xôcrat không đề cập đến vấn đề bản thể luận như những nhà triết học trước đó mà ông quan tâm đến vấn đề con người - con người đạo đức Vì vậy, tư tưởng về nhà nước pháp quyền của ông cũng chủ yếu bàn về vấn đề đạo đức của mỗi người trong nhà nước ấy Theo ông, nhà
Trang 26nước là điều ác không thể tránh khỏi được mà ai cũng buộc phải phục tùng để bình tâm trao cho mình điều quan trọng nhất cuộc đời là tự hoàn thiện đạo đức Khi sống trong một quốc gia, người nông dân dường như đã “ký một bản hợp đồng” về việc tuân thủ tuyệt đối các đạo luật của nó, cho dù những đạo luật đó tốt hay xấu Các đạo luật của Xôcrat ở đây cũng chính là quyền lực nhà nước, quyền lực cao nhất của nhà nước mà nhân dân buộc phải thực hiện Ông thừa nhận sự bất bình đẳng trong xã hội, pháp luật là công cụ quyền lực nhất mà nhà nước sử dụng để duy trì trật tự xã hội Quyền lực nhà nước nằm trong tay một số người đứng đầu nhà nước Ông khẳng định tất yếu của chế
độ xã hội và vị trí của người dân trong xã hội Ở đây, nhân dân hoàn toàn chấp nhận mà không có sự thỏa thuận nào với nhau Đứng đầu nhà nước là thiểu số những người được lựa chọn, được chuẩn bị trước để lãnh đạo chính trị Họ là những người có đạo đức, phẩm chất và tri thức Ông coi trọng năng lực và phẩm chất đạo đức, tri thức của những người đứng đầu nhà nước Đây cũng là vấn đề quan trọng khi nhân dân lựa chọn người đại diện cho quyền lợi của mình trong nhà nước
Tuy nhiên, phải đến Platon (427 - 347 tr.CN), mới phát triển quan điểm từ người thầy của mình là Xôcrat - đề cao pháp luật và đạo đức cá nhân trong nhà nước một cách có hệ thống thông qua các tác phẩm đối thoại về nhà
nước nổi tiếng như: “Nhà nước”, “Các luật” Theo ông, nhà nước được hình
thành là một tất yếu hợp với quy luật tự nhiên của con người khi có nhu cầu kết nối lại với nhau Dựa trên học thuyết ý niệm của mình, ông đưa ra quan niệm về nhà nước lý tưởng Nhà nước lý tưởng của ông là sự hiện thực hóa ý niệm về cái phúc Nhà nước phải đảm bảo cho con người có cuộc sống tốt nhất và phải có đạo đức Ngược lại, thì ông cũng đòi hỏi con người phải sống
vì nhà nước chứ không phải nhà nước sống vì con người Như vậy, quyền lực nhà nước là tuyệt đối, nhân dân là nô lệ của nhà nước ấy Nhân dân phải phục
Trang 27tùng cho nhà nước Ông vẫn thừa nhận sự bất bình đẳng trong xã hội và quan điểm của ông là bảo vệ nền chính trị dân chủ chủ nô Ông phê phán các kiểu nhà nước quân chủ, dân chủ và chuyên chế và thấy được nhà nước nào cuối cùng cũng đều rơi vào tình trạng thoái hóa, lạm quyền, biến chất Bởi những người đứng đầu nhà nước ấy đều có thiên hướng quan tâm đến bản thân mình, đến lợi ích của mình hơn là của dân chúng Do vậy, nhà nước lý tưởng mà ông xây dựng đòi hỏi người đứng đầu nhà nước phải là những người có đạo đức, tri thức Không ai khác đó là những nhà triết học Nhà nước lý tưởng đó cần phải xây dựng một hệ thống pháp luật đảm bảo sự ổn định và vững chắc của pháp luật, có tính chất bắt buộc đối với mọi người Ông cho rằng, chỉ có pháp luật mới có thể duy trì được trật tự xã hội, mới đảm bảo cho con người
có cuộc sống tốt và đạo đức hơn Ở đây, pháp luật chính là biểu hiện cao nhất của quyền lực nhà nước Nó do một số người đứng đầu nhà nước nắm giữ phục vụ cho giai cấp thống trị Ông cũng là người chỉ ra nguyên nhân suy thoái của nhà nước, của chính trị là do nhà cầm quyền lạm quyền và lộng quyền, thoái hóa đạo đức
Cũng khẳng định vai trò của pháp luật trong nhà nước, Aristot (384 -
322 tr.CN) - học trò xuất sắc của Platon cũng đã có những quan điểm khá cụ thể về quyền lực nhà nước, đặc biệt ông đề cao pháp luật và coi đó là bản chất của nhà nước Ông cho rằng, bản thân sự tồn tại của loài người đã nảy sinh sự bất công mà chế độ chiếm hữu nô lệ là cơ bản và là biểu hiện chính của sự bất công đó Bản thân tự nhiên sinh ra một số người cầm quyền và thống trị, một
số khác là kẻ bị trị và nô lệ Chế độ nô lệ - đó là nền tảng, điều kiện cần thiết cho sự tồn tại của nhà nước, bởi lẽ sự lao động cực nhọc để duy trì cuộc sống làm cho con người tự do mất khả năng thỏa mãn cuộc sống tốt đẹp, tức là khả năng tham gia vào các công việc của nhà nước Nguồn gốc của nhà nước đươc ông khẳng định xuất hiện do lịch sử Nó được phát triển từ gia đình và
Trang 28làng xã với tư cách là một hình thức tổng thể và hoàn thiện nhất trong giao tiếp giữa mọi người - những thực thể chính trị và do những thúc đẩy bên trong
mà liên kết lại, nhằm đạt đến cuộc sống sung sướng Đối với ông, trong pháp quyền bộ lộ rõ bản chất của nhà nước, bởi lẽ bằng pháp luật các quyền chung của công dân được thể hiện và củng cố Ông ủng hộ chế độ quân chủ và coi
đó là hình thức cao nhất của nhà nước Trong nhà nước ấy có một người nắm mọi quyền hành tối cao, tức là quyền lực nhà nước tập trung trong tay một người, thậm chí người đứng đầu nhà nước đó còn đứng trên cả pháp luật Ông
là người đầu tiên phân chia quyền lực nhà nước, khởi thảo lý thuyết phân quyền Theo đó, nhà nước điều hành và quản lý xã hội trên cả ba phương diện: lập pháp, hành pháp và phân xử
Hy Lạp và La Mã là những quốc gia phương Tây đã phát triển đến trình độ cao và có tính chất điển hình về kinh tế - chính trị - xã hội thời cổ đại Lần đầu tiên nền dân chủ chủ nô với tính cách là một chế độ xã hội được hình thành, tạo ra những cơ sở thuận lợi cho sự phát triển của nền văn minh phương Tây Dân chủ ở một mức độ nhất định, đã trở thành động lực thúc đẩy phát triển xã hội và con người Con người được chú ý, được khơi dậy theo hướng tạo lập cuộc sống tự do, bình đẳng, khám phá tự nhiên và xã hôi Tư duy về nhà nước pháp quyền của người Hy Lạp và La Mã cổ đại thật phong phú Tư duy ấy vừa phản ánh hiện thực chính trị - xã hội sôi động và biến đổi không ngừng, vừa thúc đẩy đời sống kinh tế, chính trị và xã hội phát triển Tư duy về nhà nước và pháp quyền Hy Lạp - La Mã cổ đại có giá trị cao đến mức được đánh giá là nếu không có cơ sở của nền văn minh Hy Lạp và đế chế La
Mã thì không có nền văn minh châu Âu hiện tại
Sau thời kỳ Hy Lạp - La Mã Cổ đại và Phục hưng, đặc biệt sau cuộc cách mạng tư sản diễn ra vào năm 1640 - 1660 và kết thúc vào năm 1688, một đường hướng đến trong triết học chính trị ra đời đó là sự phê phán trực tiếp
Trang 29hay gián tiếp nền chuyên chính và khẳng định quyền tự do của con người Từ đây, các giá trị của con người lại được đề cao Các hoạt động khoa học, triết học, chính trị, văn hóa đều lấy con người làm đối tượng của những mục đích của mình Dựa trên quyền tự nhiên của con người đó mà các thuyết chính trị sau này đã đưa ra mô hình nhà nước công dân lý tưởng
J.Locke (1632 - 1704) với tác phẩm “Khảo luận thứ hai về chính
quyền” (1690) đã phát triển theo hướng đó Theo ông, xã hội công dân là
thuộc trạng thái văn minh mà trong đó chính quyền nhà nước đươc thiết lập J.Locker xem quyền tự do, quyền bình đẳng, quyền tư hữu là những quyền tự nhiên của con người, là những quyền bất biến, không thể bị tước bỏ Điều đáng chú ý là trong các quyền tự nhiên, ông coi có cả quyền tư hữu, mà quyền này bắt nguồn từ lao động cá nhân Ông muốn phản ánh sở hữu tư nhân như
là một “sản phẩm của tình yêu lao động và sự tiết kiệm” Ông đã gián tiếp ủng
hộ quyền tư hữu tài sản của giai cấp tư sản Ông cho rằng, mặc dù có sự hữu
ái được đảm bảo chắc chắn, vì vậy, để tránh tranh cãi và đảm bảo các quyền
tự nhiên, mọi người đã có sự giao ước chung về việc thành lập một nhà nước
Vì vậy, nhà nước ra đời là sự giao ước chung của các công dân nhằm đảm bảo các quyền tự nhiên đó Nhà nước thiết lập các đạo luật, sử dụng các lực lượng
xã hội để thực hiện những đạo luật này và chống lại sự tấn công từ bên ngoài
Học thuyết của ông, đã dựa trên thuyết quyền tự nhiên để giải thích nguồn gốc xã hội cũng như quyền lực nhà nước Dựa trên những quyền cơ bản, con người mới có nhu cầu hình thành nhà nước bảo vệ các quyền đó Sau này các nhà Khai sáng sau Locke đều dựa trên thuyết quyền tự nhiên này để giải thích xã hội và đưa ra các quan điểm khác nhau về mô hình nhà nước pháp quyền
Nhằm hạn chế các quyền lực của nhà vua, ông đưa ra các yêu cầu quyền lực nhà nước phải được phân chia, không tập trung trong tay nhà vua
Trang 30Ông cũng là người đã xây dựng một cách có hệ thống, rõ ràng học thuyết phân chia quyền lực nhà nước Theo ông, lập pháp là cơ quan quyền lực cao nhất trong bộ máy nhà nước thuộc về quyền hạn của nghị viện Ngoài ra, nghị viện cũng có quyền phủ quyết, bãi miễn Nghị viện chỉ thông qua các đạo luật
mà không can thiệp vào việc thực hiện chúng Việc thực hiện luật pháp tức là quyền hành pháp trao cho nhà vua Vua bổ nhiệm các bộ trưởng, chánh án và các quan chức khác Hoạt động của nhà vua phụ thuộc vào pháp luật và vua không có đặc quyền nhất định nào với viện nhằm không cho phép vua thâu tóm toàn bộ quyền lực về ta và xâm phạm các quyền tự nhiên của công dân Nhà nước thực hiện quyền liên minh, tức là giải quyết các vấn đề chiến tranh, hòa bình và đối ngoại Học thuyết chính trị của Locke có ảnh hưởng lớn đến
sự phát triển sau này của hệ tư tưởng chính trị tư sản Đặc biệt phổ biến là học thuyết quyền tự nhiên của con người đã được các nhà lý luận cách mạng Mỹ
sử dụng và sau đó đưa vào “Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền” của Pháp
năm 1789
Như vậy, các nhà tư tưởng trước thời kỳ Tây Âu Cận đại (thế kỷ XVIII – XIX) đã đưa ra được những tư tưởng đầu tiên về nhà nước và pháp luật, có ý nghĩa thời đại làm nền tảng kế thừa về sau cho các nhà triết học Tây Âu Cận đại thế kỷ XVIII - XIX:
-Xã hội phương Tây ngay từ thời Cổ đại đã đề cao vấn đề dân chủ, vấn đề quyền con người, nhà nước là sự thể hiện quyền lợi chung của công dân
-Sự kết hợp giữa nhà nước và pháp luật là cách tốt nhất để khách quan hóa công việc nhà nước, hạn chế việc nhà nước phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của người cầm quyền, nhà nước hoạt động trong khuôn khổ của pháp luật là tuân theo lý trí chung của xã hội
Trang 31-Quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân Dân là chủ thể của quyền lực nhà nước, dù khái niệm nhân dân có mang tính lịch sử Những người cầm quyền dù họ là ai cũng không có quyền, mà chỉ dược ủy quyền, người cầm quyền phải biết dựa vào dân
-Phương thức cai trị có hiệu quả nhất đáp ứng yêu cầu phát triển kinh
tế, thống nhất và mở rộng quốc gia, ổn định xã hội là kết hợp giữa nhà nước
và pháp luật
-Quyền lực nhà nước phải được phân biệt, kiểm soát và hạn chế Quyền lực của nhân dân là thường xuyên và không giới hạn Quyền lực của nhà nước và người cầm quyền là không thường xuyên và có giới hạn
-Lần đầu tiên trong lịch sử, ý tưởng về con người với tư cách là “động vật công dân” đã được xuất hiện Đó là khi con người đã liên kết với nhau tạo nên xã hội và nhà nước Đây là cơ sở tư tưởng cho việc hình thành nên lý thuyết về xã hội công dân - cơ sở của nhà nước pháp quyền sau này
Về cơ bản tư tưởng của các nhà triết học Tây Âu trước thế kỷ XVIII đều đứng trên lập trường của giai cấp thống trị để bênh vực quyền lợi và bảo
vệ cho giai cấp ấy Mặc dù các nhà nước đó đã quan tâm đến cuộc sống của nhân dân nhưng vẫn chưa đưa ra được các biện pháp hữu hiệu nào để đạt được cuộc sống tự do, xóa mọi bất công bình đẳng Đến thời kỳ Cận đại, các nhà triết học đã đi sâu vào việc thiết lập nhà nước của dân, do dân và vì dân nhưng chưa có biện pháp thực hiện triệt để mục tiêu đó
Trang 33
CHƯƠNG 2:
TƯ TƯỞNG VỀ NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN TRONG LỊCH SỬ TRIẾT
HỌC TÂY ÂU CẬN ĐẠI (THẾ KỶ XVIII – XIX) 2.1 Những tư tưởng cơ bản về nhà nước pháp quyền trong tác
phẩm “Bàn về tinh thần pháp luật” của C.S.Montesquieu
Sau thời kỳ dài của “đêm trường Trung cổ”, nhu cầu về thiết lập một trật tự xã hội mới với nền tảng cơ bản là giải phóng con người, tôn trọng quyền tự do của con người đặt ra hết sức gay gắt Các nhà tư tưởng khai sáng đã xuất hiện và các ông đã có những công trình triết học, văn học, pháp luật, xã hội học , nhằm hướng tới xây dựng một xã hội “tự do, bình đẳng, bác ái”
Montesquieu (1689 - 1755) là nhà tư tưởng có những ảnh hưởng rất lớn đến cuộc cách mạng tư sản Pháp nói riêng và nền văn minh thế giới nói chung Tác phẩm: “Bàn về tinh thần pháp luật” (1748) của Montesquieu ra đời, trở thành bộ đôi tác phẩm có ý nghĩa khai sáng về quan điểm pháp chế, vạch ra định hướng xây dựng xã hội công dân, nhà nước pháp quyền, mở đường cho tư duy xã hội Pháp đi tới cuộc đại cách mạng tư sản năm 1789 Nhiều quan điểm trong hai tác phẩm này đã trở thành những nguyên tắc pháp
lý chi phối sâu sắc đến sự phát triển của nhà nước và pháp luật hiện đại Tác phẩm ra đời đúng vào thời điểm mà tư tưởng cách tân bị ngăn cản, cấm đoán bởi các thế lực phong kiến hủ bại và thần quyền đương thời Nhưng tác giả đã dũng cảm thể hiện thái độ và tinh thần xây dựng tích cực của mình trước hiện thực xã hội “Bàn về tinh thần pháp luật” đã đề cập và lý giải hàng loạt vấn đề luật học cũng như các khoa học xã hội đương thời; phân tích so sánh các nội dung và bản chất của các thể chế chính trị khác nhau, chỉ ra nhiều điểm hạn chế và tích cực của từng thể chế; bàn về các yếu tố liên quan đến luật, cách soạn thảo luật và ứng dụng luật trong các lĩnh vực xã hội,
Trang 342.1.1 Quan niệm về nguồn gốc, bản chất và nguyên tắc của nhà nước pháp quyền
Montesquieu quan niệm nhà nước không xuất hiện một cách ngẫu nhiên hay sự sắp đặt có sẵn bởi một thế lực hay một lực lượng siêu nhiên nào
đó, mà nó ra đời là một tất yếu của lịch sử Và trình độ đầu tiên đó là trạng thái tự nhiên của con người Trong trạng thái tự nhiên này, con người sống chủ yếu bằng cảm giác và kinh nghiệm Montesquieu đưa ra dẫn chứng: “Hãy tìm một người nguyên thủy trong rừng cái gì cũng làm cho anh ta sợ hãi và chạy trốn Trong trạng thái đó, mỗi người đều thấy mình thấp kém và hầu như
ai cũng như mình [38, tr.41] Và trong trạng thái tự nhiên này, con người vận
động và phát triển theo các quy luật tự nhiên, thỏa mãn những nhu cầu, bản năng tự nhiên của mình như: ăn, uống,quan hệ nam nữ duy trì nòi giống,…
Montesquieu khẳng định bốn quy luật tự nhiên chi phối con người ở trạng thái tự nhiên Quy luật đầu tiên của con người là sống hòa thuận, theo ông dẫn đến quy luật đó là do con người còn nhận thức kém luôn luôn sống trong cảm giác yếu đuối và sợ hãi và do đó “họ không tìm cách tấn công nhau” [38, tr.41] Quy luật thứ hai, là tự kiếm sống, thỏa mãn nhu cầu của mình để tồn tại mà trước tiên là: thức ăn và nước uống, ông giải thích con người trong giai đoạn này có cảm giác về nhu cầu sống và gắn liền với cảm giác về sự yếu đuối của mình nên phải tìm cách tự nuôi sống mình Quy luật thứ ba là quy luật hôn phối, đó là nhu cầu của nam và nữ muốn sống chung với nhau, thỏa mãn bản năng và duy trì nồi giống, quy luật thứ ba này là cơ sở cho việc hình thành các hình thức gia đình trong xã hội loài người Và quy luật thứ tư là ý nguyện mong muốn của con người chung sống thành xã hội, liên kết, gắn bó lại với nhau
Sau khi trải qua giai đoạn tự nhiên, mông muội, dã man, con người có
ý thức hơn và được tổ chức thành xã hội, Montesquieu cho rằng con người bị:
Trang 35“Mất cảm giác yếu đuối, cảm giác về bình đẳng trước đây cũng mất” [38, tr.42] Nguyên nhân nảy sinh tình trạng mâu thuẫn giữa các tập đoàn người
theo ông là do “mỗi dân tộc riêng biệt, dần dần nhận thức được sức mạnh của mình…mỗi cá nhân của dân tộc cũng bắt đầu nhận thức về sức mạnh của
mình và tìm cách chiếm ưu thế trong xã hội” [38, tr.42] Vì vậy, mà họ muốn
thôn tính lẫn nhau để tranh giành lãnh thổ và dân cư Đó là cơ sở cho sự ra đời các luật thực tiễn Vì theo ông, con người sống trong xã hội “muốn duy trì được các trật tự phải quy định mối quan hệ giữa người cai trị và người bị trị”
[38, tr.42] Ông phân chia quyền lực thành hai loại: Luật chính trị và luật dân
sự Như vậy, có thể thấy trong quan niệm của Montesquieu sự ra đời của nhà
nước là “sản phẩm muộn hơn của sự phát triển lịch sử loài người” [38, tr.92]
Sự ra đời của pháp luật và nhà nước là tất yếu khi con người chuyển từ trạng thái tự nhiên sang trạng thái xã hội, khi mà trạng thái hòa bình bị thay thế bằng các cuộc chiến tranh thôn tính lẫn nhau Như vậy, nhà nước không phải
là “thứ quyền từ bên ngoài áp đặt vào xã hội mà là lực lượng sản sinh ra xã hội”, là sản phẩm sự phát triển nội tại của xã hội Thực tiễn lịch sử đã chứng minh nhà nước không xuất hiện ngay một lúc mà quá trình đó diễn ra theo quy luật, vận động đi lên theo tiến trình của lịch sử, trong đó các cơ quan quản lý của thị tộc, bộ lạc chuyển hóa dần thành các cơ quan quyền lực của nhà nước, sự phân hóa tài sản và sự phân chia giai cấp Hay nói cách khác, nhà nước ra đời là sản phẩm của những mâu thuẫn giai cấp không thể điều hòa được
Nếu phần đầu, Montesquieu đưa ra được những quan niệm khá tiến bộ khi luận giải về nguồn gốc của nhà nước thì đến phần tiếp theo ông đề cập đến hai khái niệm đó là: Bản chất của nhà nước và nguyên tắc của nhà nước
Đó cũng là một trong những tiền đề lý luận để chủ nghĩa Mác - Lênin sau này
kế thừa và phát triển
Trang 36Montesquieu khẳng định bản chất của nhà nước biểu hiện : “Quan hệ giữa người cai trị và người bị cai trị” [38,tr.42] Nhà nước do giai cấp thống trị lập ra, là một bộ máy cưỡng chế đặc biệt, là công cụ duy trì sự thống trị của giai cấp thống trị, đàn áp giai cấp bị trị, bảo vệ địa vị và lợi ích của giai cấp thống trị Giai cấp thống trị tồn tại trong mối quan hệ với các giai cấp và tầng lớp khác Ngoài phục vụ giai cấp thống trị, nhà nước còn giải quyết những vấn đề nảy sinh trong đời sống xã hội, đảm bảo trật tự chung, ổn định giá trị chung của xã hội để xã hội tồn tại và phát triển Nhà nước bảo vệ lợi ích của giai cấp cầm quyền và giai cấp khác khi lợi ích đó không mâu thuẫn với nhau Đó chính là tính xã hội của nhà nước Tuy nhiên, biểu hiện cụ thể
và mức độ thực hiện vai trò xã hội là khác nhau ở những kiểu nhà nước khác nhau, và ngay trong một kiểu nhà nước cũng khác nhau ở từng giai đoạn phát triển và tuỳ điều kiện kinh tế xã hội Chính vì vậy mà bản chất nhà nước này quy định và biểu hiện cơ cấu, cơ chế hoạt động của chính phủ Nó quy định nội tại của mỗi hình thức nhà nước cầm quyền Từ bản chất của nhà nước sinh
ra các luật chính trị, luật tổ chức của chính thể và các luật hiến pháp Còn nguyên tắc của nhà nước trong quan niệm của Montesquieu là cái làm cho chính phủ hoạt động Từ lịch sử đã hiện tồn, ông cho rằng có ba loại chính thể hay ba phương thức cai trị: dân chủ, quân chủ và chuyên chế Ông định nghĩa:
“Chính thể dân chủ là chính thể mà dân chúng hay một bộ phận dân chúng có quyền lực tối cao Chính thể quân chủ là chỉ một người cai trị, nhưng cai trị bằng luật pháp hẳn hoi Trong chính thể chuyên chế thì trái lại, chỉ một người cai trị mà không có luật gì hết, chỉ theo ý chí và sở thích của hắn thì thôi” [38, tr.46]
Từ khía cạnh pháp luật ông viết: “Luật quy định đầu phiếu là cơ bản
của chính thể dân chủ” [38, tr.47], cùng với nó: “Luật về cách bầu cử cũng là một luật cơ bản trong nền dân chủ” [38, tr.51] Với hệ thống pháp luật đó
Trang 37chính thể cộng hòa dân chủ là chính thể mà ở đó: “Dân chúng có quyền lực tối cao Phải tự mình làm lấy những điều có thể làm tốt được, còn những điều
mà dân không thể là tốt thì phải giao cho các vị bộ trưởng thừa hành” [38,
tr.48] Ông xác lập nền dân chủ từ sự tham gia tối đa của quần chúng vào việc
cai trị
Chính thể chuyên chế cho thấy: ”Việc đặt chức tể tướng là một luật
cơ bản” [38, tr.54] Về thực chất toàn bộ quyền lực nằm trong tay nhà vua,
các chức vụ còn lại chỉ là hỗ trợ cho sự chuyên chế đó mà thôi, không có ảnh hưởng nhiều trong việc cầm quyền
Tiếp theo, Montesquieu khẳng định nguyên tắc của các chính thể đó Với chính thể dân chủ: “Người dân chấp hành luật pháp với ý thức mình làm
cho mình, tự gánh lấy gánh nặng của mình” [38, tr.56], vì thế với chính thể
dân chủ - sự tham gia rộng rãi của quần chúng trên cơ sở ý thức về quyền và nghĩa vụ của mình Chính thể quân chủ gắn liền với nguyên tắc về sự danh diện Chính thể chuyên chế - nguyên tắc cơ bản: sự sợ hãi Ông cũng lưu ý không nên tuyệt đối các nguyên tắc cấu thành chính thể mà các nguyên tắc này có tính tương đối và khi nghiên cứu phải khảo sát từ sự biểu hiện xem như tính chất của chính thể đó Để tới điều này cần đến giáo dục và tất yếu có luật giáo dục
Khi đề cập đến vấn đề vai trò của giáo dục, ông khẳng định: “Các luật
về giáo dục trong mỗi chính thể tất nhiên là không giống nhau: trong thể chế quân chủ mục đích của giáo dục là danh diện, trong thể chế quân chủ là đức
hạnh, trong chính thể chuyên chế là sợ hãi” [38,tr.59] Các điều luật về giáo
dục là những điều tiếp nhận đầu tiên của con người, vì giáo dục là nền tảng đầu tiên chuẩn bị cho con người làm công dân Các nền giáo dục tương thích với điều đó phải hướng đến các nguyên tắc Nếu nhân dân cả nước sống, làm việc và thực hiện theo một nguyên tắc chung thì mỗi gia đình cũng cần phải
Trang 38có nền tảng và nguyên tắc Ông có tư tưởng rất hay khi nói giáo dục luật pháp trong gia đình ở nước cộng hòa như sau: “Muốn cho trẻ em có tình yêu luật pháp thì điều chắc chắn là ông bố trong gia đình đó phải có tình yêu ấy đã”
[38, tr.66]
Trong chính thể quân chủ theo ông: “Ở các nước quân chủ không phải
từ nhà trường dạy trẻ người ta đã tiếp nhận được sự giáo dục chính yếu Chỉ đến khi bước vào đời, người ta mới tiếp thu giáo dục: đó là nhà trường của danh diện, ông thầy học tổng quát dìu dắt chúng ta khắp nơi” [38, tr.60] Tính chất của nền giáo dục này đem lại ý niệm về sự cao quý, sự thật thà và lễ độ như những quy tắc cơ bản của nền đạo đức xã hội Cách giáo dục ấy gắn liền với thực tiễn và đề cao các hoạt động thực tiễn
Trong chính thể chuyên chế: “Giáo dục là một công cụ nô dịch “[38, tr.64] vì chế độ chuyên chế tập trung quyền lực vào tay nhà vua, lạc hậu, lỗi thời Thực tế sự cai trị độc đoán tất yếu dẫn đến: “Phải tước bỏ tất cả để đưa vào đầu óc người ta một cái gì, và bắt đầu cách biến một thần dân xấu thành
nô lệ tốt” [38, tr.64] Montesquieu nhận xét: “Trong chính thể quân chủ, giáo
dục chỉ tìm cách nâng cao trái tim Trong chính thể chuyên chế, giáo dục chỉ
tìm cách hạ thấp trái tim” [38, tr.64]
Kết thúc phần đầu của tác phẩm, ông quan tâm đến sự suy thoái trong các nguyên tắc của chính thể Sự suy thoái của mỗi chính thể hầu như bao giờ cũng bắt đầu từ sự thoái hóa của các nguyên tắc của chính thể đó Với chính thể dân chủ “khi người ta để mất tư tưởng bình đẳng, mà còn trong trường hợp người ta hiểu bình đẳng một cách cực đoan, và mỗi người đều muốn ngang bằng với các vị mà họ đã bầu làm người điều khiển xã hội Như thế là dân chúng không chịu nổi chính quyền mà họ đã ủy thác Họ muốn tự mình làm lấy tất cả, bàn cãi thay cho viện nguyên lão, hành pháp thay cho quan
chấp chính và xét xử thay cho các vị thẩm phán” [38, tr.88 - 89] thì nguy cơ
Trang 39suy thoái ở chính thể xuất hiện Nếu vậy thì trong chính thể dân chủ không còn còn đạo đức nữa, người ta không còn kính trọng và tin tưởng vào nhà cầm quyền Quyết định của viện nguyên lão mất trọng lượng Dần đến việc chỉ huy cũng như tuân lệnh trở nên suy giảm, phong tục, tập quán, lòng yêu trật
tự, rồi đến cả đạo đức cũng không còn nữa Nó dẫn đến khả năng phá vỡ tính dân chủ đưa xã hội về trạng thái vô chính phủ và sự tự do tuyệt đối Đồng thời chính thể dân chủ sẽ dẫn đến sự suy thoái khi nó duy trì quá lâu sự bất bình đẳng Với chính thể chuyên chế, sự suy thoái xuất phát từ bản chất của nó Ông cho rằng cái xấu xuất phát từ bản chất thì không thể sửa chữa được vì chính thể chuyên chế luôn tồn tại trong sự xa đọa Với chính thể quân chủ suy thoái xuất hiện khi: “nhà quý tộc biến thành nhà độc tài” [38, tr.91] Và kết quả là: “Nguyên tắc của nền quân chủ bị nó xa đọa khi mà các ông lớn không được nhân dân kính trọng nữa mà người ta phải dùng đến những công cụ tồi
tệ của chính quyền độc tài để bắt dân kính trọng” [38, tr.93] Ở chính thể chuyên chế, sự xa đọa không những do bản chất của chính thể này mà nó còn biểu hiện từ ngay quá trình thực hiện thể chế này dù đôi lúc có bớt dịu Vì thế, dân chủ, quân chủ và chuyên chế - bất kỳ thể chế nào cũng cần đến giáo dục, giáo dục là nền tảng hình thành nên đạo đức, ý thức chấp hành của người dân
Nó đảm bảo tính minh bạch về quyền và nghĩa vụ của công dân, xác lập sự hiện tồn của thể chế thông qua sự phổ quát hóa các nguyên tắc cấu thành thể chế đó
Như vậy, trong tác phẩm, ông đã tập trung trình bày khá rõ các quan niệm của ông về nguồn gốc, bản chất và nguyên tắc của nhà nước khá đúng đắn và tiến bộ Pháp luật, nhà nước trong quan niệm của ông là sản phẩm của lịch sử Sự ra đời của pháp luật và nhà nước là tất yếu khi con người chuyển
từ trạng thái tự nhiên khi bước vào trạng thái xã hội, khi mà trạng thái hòa bình bị thay thế bằng một cuộc chiến tranh thôn tính, tranh giành lẫn nhau
Trang 40Hay nói cách khác, nhà nước là sản phẩm của những mâu thuẫn không thể điều hòa được Montesquieu đã đi từ quyền tự nhiên của con người để lý giải
về sự ra đời của nhà nước cũng như bản chất và nguyên tắc của nó Trong khi bàn về các hình thức của các thể chế trong lịch sử, Montesquieu đã trình bày mối quan hệ giữa pháp luật và các chính thể nhà nước, sự quy định của chính thể nhà nước tới pháp luật Tuy nhiên, hạn chế của ông là ở chỗ coi chính thể như là cái gì đó có sẵn và thực tế Từ đó, ông cho rằng luật phải phù hợp với chúng ta Thêm vào đó, ông coi sự biến dạng, tha hóa của các nguyên tắc pháp luật là nguyên nhân căn bản của sự thay đổi các thể chế nhà nước trong lịch sử, chứ Montesquieu chưa chỉ ra được các nguyên nhân khác như: sự phát triển kinh tế, đấu tranh giai cấp, lợi ích của các tập đoàn đứng đằng sau việc thực hành chính thể,…điều này đã dẫn đến những hạn chế duy tâm, siêu hình trong quan niệm về nhà nước của ông
2.1.2 Lý thuyết Tam quyền phân lập
Kế thừa các nhà tư tưởng đi trước, ông khẳng định: “Trong một quốc gia đều có ba thứ quyền: quyền lập pháp, quyền thi pháp, những điều hợp
quốc tế công pháp và quyền thi hành những điều trong luật dân sự” [38, tr.105] Montesquieu giải thích bên dưới đó là quyền hành pháp và tư pháp
Ông phân chia từng nhánh quyền lực, vị trí, vai trò, chức năng của từng bộ phận và mối quan hệ giữa chúng để đưa ra những tiêu chí của một nền cai trị, một chính thể hợp lý nhất cho nhân dân
Quyền lập pháp: là quyền làm ra, sửa đổi, hủy bỏ các luật và giám sát thi hành các luật Quyền này biểu thị ý chí chung của quốc gia, nó thuộc về toàn thể nhân dân nên phải trao vào cơ quan đại diện cho nhân dân, ông cho rằng dân chúng mỗi địa phương nên lựa chọn lấy đại biểu của mình chứ không nên bầu chung cả nước Montesquieu khẳng định: “Quyền lập pháp thể
hiện ý chí chung của quốc gia” [38, tr.108] Theo ông, quyền lập pháp được