1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đảng bộ thành phố lạng sơn lãnh đạo công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa từ năm 2005 đến năm 2015

129 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 129
Dung lượng 1,62 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN HOÀNG LỆ THÙY ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ LẠNG SƠN LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ C

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA

HỒ CHÍ MINH

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

HOÀNG LỆ THÙY

ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ LẠNG SƠN LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ CÁC DI SẢN VĂN HÓA TỪ NĂM 2005 ĐẾN NĂM 2015

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

HÀ NỘI - 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA

HỒ CHÍ MINH

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

HOÀNG LỆ THÙY

ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ LẠNG SƠN LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ CÁC DI SẢN VĂN HÓA TỪ NĂM 2005 ĐẾN NĂM 2015

Chuyên ngành : Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS,TS Phạm Xuân Mỹ

HÀ NỘI - 2017

Trang 3

Luận văn đã được chỉnh sửa theo khuyến nghị của Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ

CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG

TS Phùng Thị Hiển

Trang 4

iii

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của tôi.Các số liệu và trích dẫn trong luận văn là trung thực.Các kết quả nghiên cứu của luận văn không trùng với bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Hoàng Lệ Thùy

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, em xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc nhất tới thầy giáo hướng dẫn PGS,TS Phạm Xuân Mỹ.Thầy đã hết lòng quan tâm, hướng dẫn tận tình và dành nhiều thời gian quý báu giúp em hoàn thành luận văn này

Em xin cảm ơn sự giúp đỡ từ các thầy cô giáo trong và ngoài khoa lịch sử Đảng, Học viện Báo chí và Tuyên truyền - những người đã tận tình giảng dạy, chỉ bảo em trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu cao học tại trường

Tôi cảm ơn các lãnh đạo và cán bộ văn phòng tỉnh ủy, thành ủy Lạng Sơn, Sở văn hóa thông tin tỉnh Lạng Sơn, Phòng văn hóa thông tin thành phố Lạng Sơn đã giúp đỡ tôi trong quá trình tìm và hệ thống tư liệu cần thiết cho luận văn tốt nghiệp thạc sĩ

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình, người thân, bạn

bè đã luôn động viên, khích lệ để tôi hoàn thành khóa học

Mặc dù đã cố gắng và nỗ lực, song trình độ có hạn, luận văn không tránh khỏi những sai sót

Tác giả rất mong nhận được ý kiến của quý thầy cô và các bạn

Xin chân thành cảm ơn!

Tác giả luận văn

Hoàng Lệ Thùy

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÔNG TÁC BẢO TỒN, PHÁT HUY GIÁ TRỊ CÁC DI SẢN VĂN HÓA C ỦA ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ LẠNG SƠN 7

1.1 Những vấn đề chung về bảo tồn, phát huy các giá trị di sản văn hóa 7

1.2 Những nhân tố tác động đến công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa ở thành phố Lạng Sơn 17

1.3 Công tác bảo tồn, phát huy giá trị các di sản văn hóa ở Thành phố Lạng Sơn trước năm 2005 28

Chương 2: CHỦ TRƯƠNG VÀ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ LẠNG SƠN V Ề BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ CÁC DI SẢN VĂN HÓA (2005 - 2015) 32

2.1 Chủ trương và chỉ đạo của đảng bộ Thành phố Lạng Sơn trong giai đoạn 2005 - 2010 32

2.2 Chủ trương và chỉ đạo của đảng bộ thành phố Lạng Sơn trong giai đoạn 2010- 2015 50

Chương 3: KẾT QUẢ VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM 73

3.1 Kết quả 73

3.2 Một số kinh nghiệm 94

KẾT LUẬN 106

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 108

Trang 8

DANH MỤC NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT

BTV : Ban thường vụ CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa DSVH : Di sản văn hóa

HĐND : Hội đồng nhân dân HTCT : Hệ thống chính trị KT-XH : Kinh tế - xã hội MTTQ : Mặt trận Tổ Quốc THPT : Trung học phổ thông TNCS : Thanh niên cộng sản UBND : Ủy ban nhân dân VHTTDL : Văn hóa - Thể thao - Du lịch XHCN : Xã hội chủ nghĩa

Trang 9

MỞ ĐẦU

Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh khẳng định vai trò to lớn của văn hoá Văn hóa như một bộ phận hữu cơ trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội.Văn hoá có tính giai cấp, do cơ sở kinh tế quyết định nhưng thúc đẩy phát triển kinh tế.Văn hóa phục vụ chính trị Văn hóa giáo dục nhận thức, giáo dục tư tưởng, tình cảm và hành động; định hướng cho con người phát triển toàn diện tới chân, thiện, mỹ Văn hoá luôn được kế thừa và phát huy, có khả năng dự báo tương lai Văn hóa mở đường cho quốc dân đi

Di sản văn hóa bao gồm di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể, là thành quả sáng tạo của ông cha ta để lại, là bộ phận quan trọng cấu thành môi trường sống của con người Di sản văn hóa là sản phẩm của những điều kiện lịch sử, văn hóa, kinh tế và chính trị cụ thể qua nhiều thời kỳ lịch

sử, có giá trị nhiều mặt, nhất là về giáo dục truyền thống và tình yêu quê hương, đất nước

Việc bảo tồn và phát huy di sản văn hóa không chỉ nhằm giáo dục thế

hệ trẻ hiểu về cội nguồn, lịch sử của dân tộc và góp phần lưu giữ những giá trị truyền thống của dân tộc; nhằm giữ gìn ngọn lửa truyền thống văn hóa và đem đến ý nghĩa sinh động cho truyền thống đó trong thời đại mới Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa góp phần hình thành nhân cách con người và đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng phục vụ phát triển đất nước Bảo vệ và phát huy giá trị của di sản văn hóa là nền tảng, là nguồn động lực phát triển kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, giáo dục và thẩm mỹ

Trong xu thế hội nhập quốc tế hiện nay, mọi quốc gia dân tộc đều hướng tới việc tôn trọng sự đa dạng văn hóa và bảo vệ, tôn vinh bản sắc văn hóa dân tộc, tạo nền tảng tinh thần cho phát triển.Nước ta đang ở thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế càng cần điều kiện, môi trường thuận lợi để phát huy giá trị các sản văn hóa

Trang 10

Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là để đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội và con người Văn hóa là nền tảng tinh thần xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy kinh tế xã hội đồng thời tiếp thu có chọn lọc những giá trị tinh hoa văn hóa nhân loại, làm giàu thêm giá trị văn hóa vốn có của dân tộc

Lạng Sơn là một tỉnh miền núi ở vùng Đông Bắc Việt Nam, nơi chứa đựng nhiều giá trị văn hóa độc đáo.Theo thống kê sơ bộ của Ban quản lý di tích tỉnh Lạng Sơn, trên địa bàn hiện có gần 600 di tích, thuộc 04 loại hình khác nhau, trong đó có 15 điểm, khu di tích được xếp hạng cấp quốc gia Lạng Sơn hiện có 586 di tích, trong đó có 247 di tích lịch sử cách mạng; 44 di tích khảo cổ; 250 di tích kiến trúc nghệ thuật Cùng với di sản văn hóa vật thể, Xứ Lạng còn là một vùng đất chứa đựng nhiều vốn văn hóa phi vật thể vô cùng độc đáo, mang sắc thái riêng của 7 dân tộc anh em với trên 300 lễ hội truyền thống

Nét văn hóa đặc trưng riêng biệt của người dân Xứ Lạng còn chứa đựng nhiều vốn văn hóa dân gian đang tiềm ẩn, lưu truyền trong nhân dân Chỉ tính riêng dòng dân ca, dân vũ và nhạc truyền thống của các dân tộc thiểu số đã có rất nhiều thể loại như: hát then, lượn, quan lạng, phong slư của người Tày, hát sli, cỏ lẩu của người Nùng hay múa khèn, hát giao duyên của người Mông…

Riêng trên địa bàn thành phố Lạng Sơn có 43 di tích thuộc 04 loại hình: 04 di tích lịch sử cách mạng, 05 di tích danh thắng, 04 di tích khảo cổ học, 25 di tích văn hoá - nghệ thuật - tôn giáo tín ngưỡng Trong đó 21 di tích

đã được xếp hạng,12 di tích được xếp hạng quốc gia, 9 di tích được quản lý ở cấp tỉnh Đặc điểm này đã tạo nên sự đa dạng, phong phú, giàu bản sắc của văn hoá các dân tộc Xứ Lạng

Trong 30 năm đổi mới, Đảng bộ thành phố Lạng Sơn đã chú trọng thực hiện tốt công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa trên địa bàn và đã đạt

Trang 11

được nhiều thành tựu quan trọng.Các di sản văn hoá xứ Lạng đã thực sự trở thành tài nguyên, tiềm năng để Lạng Sơn phát triển du lịch mạnh mẽ.Tuy nhiên trong nhận thức và hành động bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa của Đảng bộ thành phố Lạng Sơn vẫn còn nhiều hạn chế, khuyết điểm cần khắc phục

Với các lý do nêu trên, nhằm tái hiện quá trình Đảng bộ thành phố Lạng Sơn lãnh đạo và chỉ đạo thực hiện tốt công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa trên địa bàn thời kỳ 2005-2015, đánh giá thành tựu, hạn chế

cơ bản, nêu ra những kinh nghiệm cần thiết nhằm tăng cường sự lãnh đạo của Đảng bộ thành phố về công tác này trong thời kỳ mới, tác giả lựa chọn đề tài

“Đảng bộ thành phố Lạng Sơn lãnh đạo công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa từ năm 2005 đến năm 2015” làm Luận văn Thạc sĩ

lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

2.1 Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu liên quan đến văn hóa

- Hoàng Vinh (1997), Một số vấn đề về bảo tồn và phát triển di sản văn hóa dân tộc, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội

- Nguyễn Duy Bắc (2001): Về lãnh đạo quản lý văn học nghệ thuật trong công cuộc đổi mới Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội

- Nguyễn Văn Tình (2009): Chính sách văn hóa trên thế giới và việc hoàn thiện chính sách văn hóa ở Việt Nam, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội

- Quản Hoàng Linh (2012); Một số giải pháp bảo tồn và phát huy di

sảnv ăn hóa truyền thống; Tạp chí Văn hóa nghệ thuật

- Chiến lược phát triển văn hóa văn hóa thể dục thể thao (2012), du lịch và gia đình đến năm 2020, tầm nhìn 2030, Nxb.Văn hóa Thông tin, Hà Nội

- Phan Văn Tú, Nguyễn Văn Huy và các tác giả (2013): Quản lý hoạt động văn hóa Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội

- Vũ Khiêu,Vấn đề quảng bá văn hóa dân tộc Việt Nam trong giao lưu

văn hóa ngày nay, Hội thảo khoa học (10-2006) Trung tâm Bảo tồn và phát huy nghệ thuật dân tộc

Trang 12

-Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch (2008),Kỷ yếu Hội nghị triển khai công tác văn hóa, thể thao và du lịch năm 2008, Hà Nội

- Một số vấn đề về văn hóa Việt Nam, truyền thống và hiện đại, Nxb Lao động, Hà Nội của Nguyễn Đăng Duy (2005)

- Lê Hồng Lý ( chủ biên), (2010), Quản lý di sản văn hóa với phát triển

du lịch, trường đại học văn hóa Hà Nội

Ngoài ra còn nhiều công trình khác nữa

Dưới các góc độ khác nhau, các công trình trên đã chỉ rõ thực trạng tình hình, chỉ ra những giải pháp cần thiết nhằm bảo tồn và phát triển di sản văn hóa dân tộc ở Việt Nam trong tình hình mới

2.2 Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu về thành phố Lạng Sơn

- Vương Đắc Huy (2012), Di tích và lễ hội truyền thống đền kỳ cùng,

Sở văn hóa, Thể thao và du lịch tỉnh Lạng Sơn

Mặc dù không nhiều, các công trình trên đã chỉ rõ những vấn đề cần thiết nhằm bảo tồn và phát triển di sản văn hóa dân tộc ở Lạng Sơn mà Luận văn có thể kế thừa và phát triển

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Làm rõ quá trình lãnh đạo công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa của Đảng bộ thành phố Lạng Sơn từ năm 2005 đến năm 2015; chỉ

Trang 13

rõ thành tựu, hạn chế, nguyên nhân của thực trạng trên, nêu ra một số kinh nghiệm cần thiết nhằm nâng cao hiệu quả công tác này trong thời gian tới

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn về bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa

- Trình bày những chủ trương lớn và chỉ đạo của Đảng bộ thành phố Lạng Sơn về bảo tồn, phát huy giá trị các di sản văn hóa trong giai đoạn 2005 - 2015

- Chỉ ra một số thành tựu, hạn chế, nguyên nhân của thực trạng đó

- Nêu ra một số kinh nghiệm của Đảng bộ thành phố Lạng Sơn trong lãnh đạo công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa trên địa bàn thành phố

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa của Đảng bộ thành phố Lạng Sơn thời kỳ 2005 - 2015

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Đảng bộ thành phố Lạng Sơn lãnh đạo công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa

- Về không gian: Thành phố Lạng Sơn

- Về thời gian: Trong 10 năm gần đây, từ năm 2005 đến năm 2015

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở phương pháp luận

Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng

Hồ Chí Minh về bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa; chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách Nhà nước về bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng, về bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa,

đề tài sử dụng phương pháp lịch sử kết hợp với phương pháp logic và một số phương pháp khác như khảo sát thực tiễn, phân tích, tổng hợp quá trình Đảng

Trang 14

bộ thành phố Lạng Sơn lãnh đạo công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa (2005 - 2015)

6 Đóng góp mới về mặt khoa học của đề tài

- Góp phần hệ thống những chủ trương lớn của Đảng, chính sách nhà nước và chủ trương của Tỉnh ủy, Uỷ ban nhân dân (UBND) tỉnh Lạng Sơn về

về bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa

- Trình bày quá trình lãnh đạo của Đảng bộ thành phố Lạng Sơn về công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa trên địa bàn tỉnh

- Phân tích thực trạng, ưu điểm, hạn chế, nêu ra một số kinh nghiệm về quá trình lãnh đạo công bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa ở thành phố giai đoạn 2005 - 2015;

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

7.1 Ý nghĩa lý luận

Củng cố các quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh ; quan điểm, chủ trương của Đảng về vai trò của công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa

8 Cấu trúc của luận văn

Ngoài Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu gồm 3 chương, 7 tiết

Trang 15

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÔNG TÁC BẢO TỒN, PHÁT HUY GIÁ TRỊ CÁC DI SẢN VĂN HÓA CỦA ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ

LẠNG SƠN 1.1 Những vấn đề chung về bảo tồn, phát huy các giá trị di sản văn hóa

1.1.1 Một số khái niệm

Di sản và di sản văn hóa

Di sản với tư cách là một thuật ngữ khoa học, đã có quá trình hình

thành lâu dài, xuất hiện và được biết đến nhiều nhất trong cách mạng tư sản Pháp 1789 Chính việc tịch thu tài sản của tầng lớp quý tộc, tăng lữ, nhà thờ giáo hội để tập trung lại thành tài sản quốc gia sau cách mạng tư sản đã dần hình thành khái niệm di sản Để tránh hiện tượng thất thoát và phá hoại, nhà nước Pháp lúc đó đã tiến hành kiểm kê, mô tả, sắp xếp, phân loại để xác định thứ tự ưu tiên nhằm khôi phục và bảo tồn loại tài sản này Di sản lúc đó được hiểu như ý niệm về một tài sản chung của mọi công dân, chứ không phải của riêng một ai Đó là ý niệm đã tạo thành ý thức về di sản quốc gia

Di sản theo nghĩa Hán Việt: di là để lại, còn lại, dịch chuyển, chuyển lại; sản là tài sản, là những gì quý giá, có giá trị Từ điển Tiếng Việt định nghĩa: Di sản là cái của thời trước để lại Như vậy, di sản văn hóa được hiểu

như là tài sản, là báu vật của thế hệ trước để lại cho thế hệ sau, gồm các tác phẩm nghệ thuật dân gian, công trình kiến trúc, tác phẩm điêu khắc, tác phẩm văn học

Luật Di sản văn hóa được Quốc Hội thông qua năm 2013 khẳng định:

Di sản văn hóa bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa

vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước

Trang 16

Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Điều 4, Luật Di sản văn hóa định nghĩa:

Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng

hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch

sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác

Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn

hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia

Di tích lịch sử - văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di

vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học

Danh lam thắng cảnh là cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự

kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị lịch sử, thẩm mỹ, khoa học

Di vật là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị lịch sử, văn hóa,

khoa học Cổ vật là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị tiêu biểu

về lịch sử, văn hóa, khoa học, có từ một trăm năm tuổi trở lên.Bảo vật quốc gia là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị đặc biệt quý hiếm tiêu biểu của đất nước về lịch sử, văn hóa, khoa học.Bản sao di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia là sản phẩm được làm giống như bản gốc về hình dáng, kích thước, chất liệu, màu sắc, trang trí và những đặc điểm khác

Sưu tập là một tập hợp các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia hoặc di

sản văn hóa phi vật thể, được thu thập, gìn giữ, sắp xếp có hệ thống theo những dấu hiệu chung về hình thức, nội dung và chất liệu để đáp ứng nhu cầu tìm hiểu lịch sử tự nhiên và xã hội

Trang 17

Thăm dò, khai quật khảo cổ là hoạt động khoa học nhằm phát hiện,

thu thập, nghiên cứu di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia và địa điểm khảo cổ

Bảo quản di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia là hoạt động nhằm phòng ngừa và hạn chế

những nguy cơ làm hư hỏng mà không làm thay đổi những yếu tố nguyên gốc vốn có của di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia

Tu bổ di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh là hoạt động nhằm

tu sửa, gia cố, tôn tạo di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh

Phục hồi di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh là hoạt

động nhằm phục dựng lại di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh đã bị hủy hoại trên cơ sở các cứ liệu khoa học về di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh đó

Kiểm kê di sản văn hóa là hoạt động nhận diện, xác định giá trị và

lập danh mục di sản văn hóa

Yếu tố cấu thành di tích là yếu tố có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa

học, thẩm mỹ, thể hiện đặc trưng của di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh

Bảo tàng là thiết chế văn hóa có chức năng sưu tầm, bảo quản,

nghiên cứu, trưng bày, giới thiệu di sản văn hóa, bằng chứng vật chất về thiên nhiên, con người và môi trường sống của con người, nhằm phục vụ nhu cầu nghiên cứu, học tập, tham quan và hưởng thụ văn hóa của công chúng

Điều 5,Luật Di sản văn hóa quy định: Nhà nước thống nhất quản lý

di sản văn hóa thuộc sở hữu nhà nước; công nhận và bảo vệ các hình thức sở hữu tập thể, sở hữu chung của cộng đồng, sở hữu tư nhân và các hình thức sở hữu khác về di sản văn hóa theo quy định của pháp

Trang 18

luật Quyền sở hữu, quyền tác giả đối với di sản văn hóa được xác định theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan

Điều 6, Mọi di sản văn hóa ở trong lòng đất thuộc đất liền, hải đảo,

ở vùng nội thủy, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đều thuộc sở hữu nhà nước

Điều 12, Di sản văn hóa Việt Nam được sử dụng nhằm mục đích: 1

Phát huy giá trị di sản văn hóa vì lợi ích của toàn xã hội; 2 Phát huy truyền thống tốt đẹp của cộng đồng các dân tộc Việt Nam; 3 Góp phần sáng tạo những giá trị văn hóa mới, làm giàu kho tàng di sản văn hóa Việt Nam và mở rộng giao lưu văn hóa quốc tế [61, tr, 56]

Luật Di sản văn hóa đã thực sự đi vào đời sống, trở thành cơ sở pháp lý

quan trọng giúp tăng cường nhận thức và hành động cho toàn xã hội trong việc bảo vệ và phát huy kho tàng di sản văn hóa của dân tộc

Việt Nam là một trong những quốc gia tiên phong trong việc phê

chuẩn Công ước về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể năm 2003 của UNESCO

và là thành viên của ủy ban Liên Chính phủ tham gia xây dựng phương hướng hoạt động và các chính sách quốc tế có liên quan đến Công ước này

Di sản văn hóa Việt Nam là tài sản văn hóa quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và cũng là một bộ phận của di sản văn hóa nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta, đồng thời

là giao diện quan trọng của văn hóa nhân loại Bảo tồn và phát huy các giá trị

di sản văn hóa là hoạt động thiết thực nhằm hướng tới xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và đóng góp vào việc giữ gìn và làm phong phú cho kho tàng di sản văn hóa nhân loại

Trang 19

Giá trị di sản văn hóa

Di sản văn hóa là yếu tố cốt lõi của văn hóa, tiềm ẩn bản sắc văn hóa của cộng đồng xã hội, nó có giá trị quan trọng giúp tăng cường nhận thức và hành động cho toàn xã hội trong việc bảo vệ và phát huy kho tàng di sản văn hóa của dân tộc

Về tinh thần, di sản văn hóa góp phần làm cho công tác giáo dục ý thức

về cội nguồn, sự gắn bó máu thịt của con người Việt Nam, giáo dục truyền thống đấu tranh dựng nước và giữ nước, tình yêu quê hương đất nước

Về kinh tế các di sản văn hóa ngày càng đóng góp quan trọng cho việc phát triển kinh tế của đất nước thông qua các hoạt động dịch vụ du lịch văn hóa Vì vậy, cần bảo tồn và phát huy tốt các giá trị di sản văn hóa

+Phân loại di sản văn hóa

Theo quan niệm của UNESCO, di sản văn hóa bao gồm hai loại:

Thứ nhất, di sản văn hóa vật thể là những sản phẩm văn hóa hữu hình,

tồn tại dưới dạng vật thể có hình khối, có chiều cao, chiều rộng, trọng lượng, đường nét, màu sắc và kiểu dáng trong không gian và thời gian xác định Di sản văn hóa vật thể được tạo tác từ bàn tay khéo léo của con người, để lại dấu

ấn lịch sử xã hội rõ rệt; được khách thể hóa và tồn tại như một thực thể ngoài bản thân con người; và luôn chịu sự thách thức bào mòn của quy luật thời gian trong những tác động, chi phối của con người Di sản văn hóa vật thể luôn đứng trước nguy cơ biến dạng hoặc thay đổi rất nhiều so với nguyên gốc.Hiện nay, vấn đề bảo tồn những di sản văn hóa vật thể lâu đời vô cùng khó khăn, đòi hỏi phải có công nghệ kỹ thuật cao mới có thể phục nguyên lại như cũ

Thứ hai, di sản văn hóa phi vật thể là dạng thức tồn tại của văn hóa

tiềm ẩn trong trí nhớ, ký ức cộng đồng, tập tính, hành vi ứng xử của con người và thông qua các hoạt động sống của con người trong sản xuất, giao tiếp xã hội mà thể hiện ra Từ đó người ta có thể nhận biết được sự tồn tại của văn hóa

Trang 20

Đặc trưng rõ nhất của văn hóa phi vật thể là nó luôn chìm khuất trong tâm thức của một cộng đồng xã hội và chỉ bộc lộ ra qua hành vi và hoạt động của con người Văn hóa phi vật thể được lưu giữ trong thế giới tinh thần, được

bộc lộ sinh động thông qua hình thức diễn xướng trong tư cách một hiện

tượng văn hóa

Các hiện tượng văn hóa phi vật thể cũng có thể bị mai một, biến dạng, hoặc mất đi vĩnh viễn bởi thử thách của thời gian, sự khúc xạ và thất tán do ý thức con người Trong thực tế, người ta thường có xu hướng thêm bớt hoặc lãng quên trong quá trình lưu giữ những giá trị phi vật thể.Cho nên, văn hóa

phi vật thể vừa có tính bền vững (trong ký ức của cộng đồng) lại vừa mang tính mong manh, dễ bị tổn thương (phụ thuộc vào cuộc sống của một cá

nhân - nghệ nhân) Hơn nữa, văn hóa phi vật thể còn có nguy cơ biến dạng rất

cao bởi tính dị bản của nó do sự can thiệp của các nhóm xã hội qua các thời đại

Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác, bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ công truyền thống, tri thức về y, dược học cổ truyền, về văn hóa ẩm thực, về trang phục truyền thống dân tộc và các tri thức dân gian khác Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm các di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia [ 56, tr 5]

Như vậy, di sản văn hóa phi vật thể là những giá trị văn hóa sống trong tâm trí con người, được con người nắm giữ và trình diễn các kỹ năng thực hành biểu hiện giá trị của nó Di sản văn hóa phi vật thể luôn đồng hành cùng con người, gắn với ký ức của nhân loại theo dòng lịch sử

Trang 21

1.1.2 Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa

Nội dung bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa

Di sản văn hóa được xác định là bộ phận quan trọng cấu thành môi trường sống của con người; là loại tài sản quý giá không thể tái sinh và không thể thay thế nhưng rất dễ bị biến dạng do tác động của các yếu tố ngoại cảnh (khí hậu, thời tiết, thiên tai, chiến tranh, sự phát triển kinh tế, sự khai thác không kiểm soát chặt chẽ.Do đó, bảo tồn, phát huy giá trị các di sản văn hóa nhằm hướng tới sự tôn trọng đa dạng văn hóa và bảo vệ, tôn vinh bản sắc văn

hóa dân tộc, tạo nền tảng tinh thần cho phát triển Bảo tồn là giữ lại, không để

mất đi, không để bị thay đổi, biến hóa hay biến thái

Công ước về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể của UNESCO, trong

phiên họp thứ 32 tại Paris(10-2003) đã ghi nhận quá trình toàn cầu hóa và chuyển đổi cơ cấu xã hội cùng với các điều kiện khác đã tạo nhiều cơ hội đối thoại mới giữa các cộng đồng, đồng thời cũng làm nảy sinh những mối đe dọa

về sự suy thoái biến mất và hủy hoại các di sản văn hóa phi vật thể

Đối tượng bảo tồn các giá trị di sản văn hóa vật thể và phi vật thể cần

thỏa mãn hai điều kiện:Một là, nó phải được coi là tinh hoa, là một giá trị đích thực được thừa nhận minh bạch, không có gì phải hồ nghi hay bàn cãi.Hai là,

nó phải hàm chứa khả năng, chí ít là tiềm năng đứng vững lâu dài với thời gian, là cái giá trị lâu dài trước những biến đổi tất yếu về đời sống vật chất và tinh thần của con người, nhất là trong bối cảnh nền kinh tế thị trường và toàn cầu hóa mạnh mẽ

Bảo tồn nguyên vẹn (dạng tĩnh) là vận dụng thành quả khoa học kỹ

thuật công nghệ cao, hiện đại đảm bảo giữ nguyên trạng hiện vật như vốn có

về kích thước, vị trí, chất liệu, đường nét, màu sắc, kiểu dáng Khi cần phục nguyên, cần sử dụng hiệu quả các phương tiện kỹ thuật cao.Khi bảo tồn nguyên vẹn, phải so sánh đối chiếu với nguyên mẫu đã được lưu giữ, không làm biến dạng Tất cả các di sản văn hóa phi vật thể này được lưu giữ trong các kho lưu trữ, bảo tàng…

Trang 22

Bảo tồn trên cơ sở kế thừa (dạng động)là bảo tồn các di sản văn hóa

trên cơ sở kế thừa theo tinh thần giữ gìn những nét cơ bản của nó, phục chế lại nguyên trạng bằng nhiều kỹ thuật công nghệ hiện đại.Đối với các di sản văn hóa phi vật thể, bảo tồn động là bảo tồn nó ngay trong đời sống cộng đồng.Cộng đồng không những là môi trường sản sinh ra các di sản văn hóa phi vật thể mà còn là nơi tốt nhất để giữ gìn, bảo vệ, làm giàu và phát huy chúng trong xã hội.Văn hóa phi vật thể tồn tại trong ký ức cộng đồng dưới hình thức tiếng nói, diễn xướng, nghi lễ, nghi thức, quy ước dân gian, trong

tâm thức và trí nhớ của con người, đặc biệt là những nghệ nhân.Bảo tồn và

phát huy các giá trị văn hóa phi vật thể đồng nghĩa với việc bảo vệ những nghệ nhân được xã hội thừa nhận do có tài năng dân gian

Bảo tồn phục hồi nguyên dạng là phương thức tốt nhất Nếu không thể bảo tồn nguyên dạng thì có thể bảo tồn theo hiện dạng đang có Theo quy luật

của thời gian, các di sản văn hóa phi vật thể ngày càng có xu hướng xa dần

nguyên gốc.Nếu không thể khôi phục được nguyên gốc thì bảo tồn hiện dạng là điều cần nhất Bảo tồn hiện dạng phải liên hệ chặt chẽ với bảo tồn nguyên dạng.Cần xác định rõ thời điểm bảo tồn để khi có tư liệu tin cậy

thì sẽ phục dựng nguyên dạng

Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa gắn kết chặt chẽ, biện chứng

Hai lĩnh vực này thống nhất, tương hỗ, chi phối, ảnh hưởng qua lại trong hoạt động giữ gìn di sản văn hóa.Bảo tồn di sản văn hóa thành công thì mới phát huy được các giá trị di sản văn hóa.Phát huy cũng là cách bảo tồn di sản văn hóa tốt nhất.Bảo tồn, phát huy giá trị các di sản văn hóa là việc “giữ lửa và tiếp lửa”, thổi sinh khí văn hóa cổ truyền vào hiện đại, làm cho giá trị cổ truyền không bao giờ xưa cũ, mà luôn luôn mới và có vị trí xứng đáng trong đời sống đương đại

Con người được coi là trung tâm của quá trình phát triển Bảo tồn, phát huy giá trị các di sản văn hóa là hoạt động nhằm giữ gìn truyền thống văn hóa tốt đẹp, tạo ra động lực cho phát triển, tác động tới việc hình thành nhân cách

Trang 23

con người và đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cho phát triển Di sản văn hóa gắn với con người nên cộng đồng dân cư dân chính là chủ thể sáng tạo văn hóa và chủ sở hữu di sản văn hóa, đáp ứng nhu cầu sinh hoạt văn hóa lành mạnh của đông đảo công chúng trong xã hội.Những giá trị di sản văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc được phát huy sẽ đem đến những giá trị mới,

ý nghĩa sinh động cho sự phát triển toàn diện kinh tế- xã hội

Di sản văn hóa là sản phẩm của những điều kiện lịch sử, văn hóa, kinh

tế và chính trị qua các thời kỳ lịch sử.Vì thế,công tác bảo tồn và phát huy cần quan tâm hai yếu tố quan trọng, quyết định giá trị của các di sản văn hóa là

tính nguyên gốc và tính chân xác.Tính nguyên gốc gắn với những bộ phận cấu thành của di sản văn hóa có từ lúc khởi dựng ban đầu Tính chân xác gắn với

những sáng tạo được hình thành trong quá trình tồn tại của di sản văn hóa Giá trị của di sản văn hóa và nhu cầu khai thác, sử dụng nó sẽ quyết định phương pháp bảo tồn và phát huy giá trị của các di sản văn hóa

Công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa không thể là mô hình có sẵn mà cần được vận dụng linh hoạt vào điều kiện lịch sử cụ thể của

những di tích sản văn hóa cụ thể Trước hết, ưu tiên hàng đầu là bảo vệ và

phát huy các mặt giá trị tiêu biểu về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, những

chức năng truyền thống… của các di sản văn hóa.Thứ hai, áp dụng mọi biện

pháp có thể để bảo tồn và trùng tu, tạo điều kiện lưu giữ lâu dài và chuyển giao yếu tố nguyên gốc và tính chân xác lịch sử của các di sản văn hóa cho

thế hệ tiếp theo đưa ra những phương án bảo tồn thích hợp hơn Thứ ba, việc

bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa phải đảm bảo duy trì được những chức năng truyền thống của các di sản văn hóa; tạo cho nó khả năng đáp ứng được nhu cầu sử dụng của thời đại

Nguyên tắc bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa

Thứ nhất, can thiệp tối thiểu tới các di sản văn hóa, lập cơ chế bảo

dưỡng thường xuyên và định kỳ để đảm bảo cho các di sản văn hóa ổn định lâu dài

Trang 24

Thứ hai, có thể sử dụng và phát huy giá trị các di sản văn hóa phục vụ

nhu cầu xã hội theo những chuẩn mực khoa học đã được xác định, đây chính

là biện pháp bảo tồn di sản văn hóa có hiệu quả nhất

Thứ ba, bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa phải triển khai

đồng thời và phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội và ngược lại

Thứ tư, tôn trong tự do tín ngưỡng trong bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa Tín ngưỡng dân gian Việt Nam luôn gắn chặt với đạo lý uống nước

nhớ nguồn, tôn vinh những danh nhân văn hóa, anh hùng giải phóng dân tộc, nhân vật lịch sử có công với dân với nước Hạt nhân tín ngưỡng là động lực tinh thần cho việc hình thành các công trình tôn giáo tín ngưỡng, có sức mạnh huy động nguồn lực xã hội cho việc duy tu, bảo dưỡng từ đời này sang đời khác

Di sản văn hóa cần được bảo vệ và phát huy giá trị với tư cách là một bộ phận cấu thành môi trường sống của con người Môi trường bao gồm các yếu tố

tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại và phát triển của con người

và thiên nhiên.Môi trường sống của con người có 3 bộ phận cấu thành: môi

trường tự nhiên, môi trường nhân tạo và môi trường văn hóa xã hội

Khái niệm di sản văn hóa bao hàm: các hạng mục kiến trúc, các địa điểm lịch sử; môi trường - cảnh quan thiên nhiên bao quanh di tích và giá trị văn hóa phi vật thể gắn với di tích

Từ đặc trưng đó, yêu cầu bảo tồn di sản văn hóa phải gắn với bảo vệ môi trường thiên nhiên và ngược lại, bảo vệ môi trường thiên nhiên là tạo ra môi trường tự nhiên trong lành cho sự tồn tại lâu dài của di sản, hơn nữa, còn tạo nên sức hấp dẫn thẩm mỹ cho di sản văn hóa Mục tiêu bảo tồn di sản văn hóa là đáp ứng nhu cầu sinh hoạt văn hóa lành mạnh của công chúng trong xã hội

Phát huy,theo từ điển Tiếng Việt là làm cho cái hay, cái tốt lan rộng tác dụng và tiếp tục phát triển thêm.Theo đó, phát huy giá trị các di sản văn hóa

là làm cho các giá trị hay, cái tốt của văn hóa lan rộng tác dụng trong cộng đồng xã hội và tiếp tục phát triển thêm về mọi mặt

Trang 25

Con người được coi là trung tâm của quá trình phát triển Bảo tồn, phát huy giá trị các di sản văn hóa là hoạt động nhằm giữ gìn truyền thống văn

hóa tốt đẹp, tạo ra động lực cho phát triển, tác động tới việc hình thành nhân cách con người và đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cho phát triển

Di sản văn hóa gắn với con người nên cộng đồng dân cư dân chính là chủ thể sáng tạo văn hóa và chủ sở hữu di sản văn hóa, đáp ứng nhu cầu sinh hoạt văn hóa lành mạnh của đông đảo công chúng trong xã hội

Những giá trị di sản văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc được phát huy sẽ đem đến những giá trị mới, ý nghĩa sinh động cho sự phát triển toàn diện kinh tế- xã hội

Bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa gắn kết chặt chẽ, biện chứng với nhau.Hai lĩnh vực này thống nhất, tương hỗ, chi phối, ảnh hưởng qua lại trong hoạt động giữ gìn di sản văn hóa.Bảo tồn di sản văn hóa thành công thì mới phát huy được các giá trị di sản văn hóa.Phát huy cũng là cách bảo tồn di sản văn hóa tốt nhất.Bảo tồn, phát huy giá trị các di sản văn hóa là việc “giữ lửa và tiếp lửa”, thổi sinh khí văn hóa cổ truyền vào hiện đại, làm cho giá trị cổ truyền không bao giờ xưa cũ, mà luôn luôn mới và có vị trí xứng đáng trong đời sống đương đại

Di sản văn hóa là sản phẩm của những điều kiện lịch sử, văn hóa, kinh

tế và chính trị qua các thời kỳ lịch sử.Vì thế, công tác bảo tồn và phát huy cần quan tâm hai yếu tố quan trọng, quyết định giá trị của các di sản văn hóa là tính nguyên gốc và tính chân xác

1.2 Những nhân tố tác động đến công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa ở thành phố Lạng Sơn

1.2.1 Điều kiện kinh tế- xã hội, lịch sử, văn hóa thành phố Lạng Sơn

Lạng Sơn là một tỉnh ở vùng Đông Bắc Việt Nam- mảnh đất địa đầu của Tổ quốc, nơi mang vẻ đẹp hùng vĩ của núi rừng và chứa đựng nhiều giá trị văn hóa độc đáo Lạng Sơn có cửa khẩu quốc tế và quốc gia , cử a ngõ giao lưu mọi mặt với nước láng giềng Trung Quốc

Trang 26

Ngày 4/11/2016, Lạng Sơn vừa kỷ niệm 185 năm ngày thành lập tỉnh (4/11/1831) nhưng mảnh đất và cư dân nơi đây có từ lâu đời Các nhà khảo cổ học đã tìm thấy ở hang Thẩm Khuyên, Thẩm Hai, Mai Pha, Phai Vệ, Phia Điểm, Ba Xã, Lũng Yêm…những dấu tích hóa thạch của người Vượn cổ cách chúng ta hàng chục vạn năm

Thành phố Lạng Sơn là vùng đất “phên dậu”, địa đầu của Tổ quốc, giữ

vị trí chiến lược quan trọng về chính trị, kinh tế, văn hóa, quốc phòng, an ninh

và đối ngoại của đất nước Trong suốt quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc, đồng bào các dân tộc tỉnh Lạng Sơn đã cùng đồng bào cả nước anh dũng, kiên cường chiến đấu bảo vệ nền độc lập của nước nhà, lập nên nhiều chiến công hiển hách, ghi vào lịch sử những trang vàng chói lọi

Nhân dân Lạng Sơn đã trải qua hàng nghìn năm chống giặc ngoại xâm phong kiến Phương Bắc và thực dân phương Tây.Lạng Sơn đã ghi dấu nhiều

di tích nổi tiếng như Ải Chi Lăng, Đường số 4, khu di tích Khởi nghĩa Bắc Sơn, khu du kích Chi Lăng, … Lạng Sơn ghi dấu nhiều di tích cách mạng: Sân vận động Đông Kinh (thành phố Lạng Sơn) - nơi Bác Hồ nói chuyện với đồng bào các dân tộc Lạng Sơn, Di tích Trạm khí tượng thuỷ văn Tràng Định

- nơi Bác Hồ đến thăm năm 1961 Lạng Sơn có những người con ưu tú đóng góp vào lịch sử vẻ vang của đất nước như các anh hùng liệt sĩ Hoàng Văn Thụ, Lương Văn Tri

Tỉnh Lạng Sơn hiện nay có thành phố tỉnh lỵ Lạng sơn và 10 huyện, là tỉnh ở vùng biên giới, lại nằm trên đường giao thông thuận lợi nối với thủ đô

Hà Nội, thường xuyên thu hút khách du lịch tham quan, giao lưu, trao đổi, hoạt động thương mại giữa Việt Nam và Trung Quốc

Thành phố Lạng Sơn được Chính phủ quyết định thành lập vào ngày 17

tháng 10 năm 2002, có diện tích khoảng 78.11 km² Thành phố nằm giữa một lòng chảo lớn, có dòng sông Kỳ Cùng chảy qua trung tâm với 140 tuyến đường, phố nội, ngoại thị; đầu mối giao thông của tỉnh, với nhiều tuyến

Trang 27

đường giao thông huyết mạch chạy qua như Quốc lộ 1A, quốc lộ 4B, tuyến đường sắt liên vận quốc tế Việt Nam - Trung Quốc Liền kề với khu tam giác năng động Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh; nằm trong quy hoạch phát triển hành lang kinh tế kinh tế Nam Ninh - Lạng Sơn - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh trong chiến lược “Hai hành lang - một vành đai kinh tế” giữa hai nước Việt Nam - Trung Quốc

Thành phố Lạng Sơn nằm bên quốc lộ 1A, cách biên giới Việt Nam Trung Quốc18 km; cách Hữu Nghị quan 15 km và Đồng Đăng 13 km về phía đông bắc Thành phố Lạng Sơn là đơn vị hành chính cấp huyện loại I, đô thị loại III trực thuộc tỉnh gồm 5 phường và 3 xã: phường Hoàng Văn Thụ, phường Vĩnh Trại, phường Tam Thanh, phường Chi Lăng, phường Đông Kinh, xã Mai Pha, xã Quảng Lạc, xã Hoàng Đồng

-Dân số Lạng Sơn 93.015 người (niên giám thống kê năm 2015) với nhiều dân tộc anh em, trong đó dân tộc Kinh chiếm tỷ lệ 44% dân số; dân tộc thiểu số chiếm 56% dân số, gồm dân tộc Tày, Nùng, Hoa, Mường, Dao, Thái, H’mông

Khí hậu Lạng Sơn có 4 mùa rõ rệt: mùa hè nóng, ẩm, có mưa từ tháng 5 đến tháng 9; mùa đông khô hanh từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau Thiên nhiên đã ban tặng cho Lạng Sơn nhiều hang động, núi rừng tự nhiên và phong cảnh đẹp với khí hậu mùa hè mát mẻ, dễ chịu, được coi là một điểm nghỉ mát,

an dưỡng lý tưởng đối với các du khách

Thành phố Lạng Sơn có vị trí chiến lược quan trọng cả về kinh tế, xã hội và quốc phòng an ninh trên địa bàn tỉnh cũng như cả nước, là cầu nối giao lưu kinh tế quốc tế, mang lại nhiều ưu thế để phát triển thương mại và dịch

vụ, công nghiệp, xây dựng

Từ hàng nghìn năm, nhân dân các dân tô ̣c trong thành phố Lạng Sơn đã phát huy, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tô ̣c , hòa nhập với cộng đồng các dân

tô ̣c Viê ̣t Nam Sự hòa nhập của cộng đồng, những tập quán sinh hoạt, những phong tục hội hè đã tạo nên những áng ca dao, làn điệu dân ca, hát then, hát

Trang 28

lượn, đặc biệt, hát sli là một làn điệu dân ca đặc sắc trong kho tàng văn nghệ dân gian của đồng bào dân tộc Nùng ở Lạng Sơn.Thành phố Lạng Sơn nổi tiếng với các di tích văn hoá - nghệ thuật: chùa Tam Giáo, chùa Tam Thanh, chùa Thành, chùa Tiên, đền Kỳ Cùng, đền Cửa Tây, đền Tả Phủ, đền Vua Lê;

1.2.2 Các di sa ̉ n văn hóa ở thành phố Lạng Sơn

Thành phố Lạng Sơn là trung tâm kinh tế, văn hóa, du lịch… của tỉnh Lạng Sơn Thành phố nằm bên quốc lộ 1A, cách biên giới Việt Nam -Trung Quốc18 km; cách Hữu Nghị quan 15 km và Đồng Đăng 13 km về phía đông bắc Thành phố Lạng Sơn là đơn vị hành chính cấp huyện loại I, đô thị loại III trực thuộc tỉnh gồm 5 phường và 3 xã: phường Hoàng Văn Thụ, phường Vĩnh Trại, phường Tam Thanh, phường Chi Lăng, phường Đông Kinh, xã Mai Pha,

xã Quảng Lạc, xã Hoàng Đồng

Thành phố Lạng Sơn nổi tiếng với các di tích văn hoá - nghệ thuật: chùa Tam Giáo, chùa Tam Thanh, chùa Thành, chùa Tiên, đền Kỳ Cùng, đền Cửa Tây, đền Tả Phủ, đền Vua Lê; di tích Đoàn Thành Lạng Sơn, Thành Nhà Mạc…

Với những lợi thế về đi ̣a lý và truyền thống văn hóa sẵn có , văn hoá thành phố Lạng Sơn đã ta ̣o được nét chấm phá riêng , độc đáo và để la ̣i ấn tươ ̣ng sâu sắc trong lòng du khách mỗi khi đến đây Ngày nay , những di sản văn hóa truyền thống thành phố Lạng Sơn đã trở thành nét tiêu biểu của văn hóa xứ Lạng

Các di tích văn hoá - nghệ thuật:Nằm trong lòng thành phố Lạng Sơn,

có quần thể di tích danh thắng nổi tiếng Nhị - Tam Thanh - Núi Tô Thị - Thành Nhà Mạc; chùa Tam Giáo, chùa Tam Thanh, chùa Thành, chùa Tiên;

Trang 29

đền Kỳ Cùng, đền Cửa Tây, đền Tả Phủ, đền Vua Lê, đền Bắc Lệ, đền Quan Tuần Tranh, đền Mẫu Đồng Đăng Hàng năm, các di sản văn hóa nêu trên đón tiếp và phục vụ hàng trăm nghìn lượt khách trong nước và quốc tế đến tham quan

Đa số các di sản văn hóa Lạng Sơn nổi tiếng, có giá trị phục vụ cho việc tham quan, nghiên cứu, học tập của đông đảo các tầng lớp nhân dân như

xứ Lạng và trong cả nước; trở thành một tài nguyên, tiềm năng lớn,đặc sắc tạo

sự thu hút, hấp dẫn và riêng có của nền văn hoá Xứ Lạng

Tỉnh Lạng Sơn, trong đó có thành phố Lạng Sơn cũng là quê hương của nhiều lễ hô ̣i truyền thống hấp dẫn, thú vịvà độc đáo, nhiều về số lượng, phong phú về nô ̣i dung, loại hình Lễ hô ̣i La ̣ng Sơn vừa mang những đă ̣c trưng của lễ hô ̣i cổ truyền Viê ̣t Nam và vùng Viê ̣t Bắc vừa mang sắc thái riêng của vùng văn hóa Xứ Lạng.Các lễ hội thường được tổ chức vào mùa xuân, từ tháng riêng đến tháng tư

âm li ̣ch hàng năm Các lễ hội đều mang nội dung xây dựng và bảo vệ cuộc sống

ấm no, hạnh phúc Ngoài các giá tri ̣ về tinh thần, văn hóa,

Lạng Sơn có đến 90% các lễ hội được tổ chức hàng năm Tiêu biểu là:

Lễ hô ̣i Lồng Tồng đươ ̣c tổ chức vào ngày 4 tháng giêng âm lịch hàng

năm, mô ̣t trong những lễ hô ̣i lớn nhất vùng với nghi lễ tí n ngưỡng cầu thành hoàng và thần nông, cầu mùa, cầu mưa thuận gió hoà, mùa màng bội thu,…

Lễ hô ̣i đầu pháo Kỳ Lừa tổ chức từ ngày 22 đến 27 tháng riêng âm

lịch tại đền Tả Phủ , chơ ̣ Kỳ Lừa , xã Hoàng Văn Thụ , thành phố Lạng S ơn Ngày lễ,trong đền Tả Phủ , đèn nến được thắp sáng trưng , khói hương nghi ngút suốt ngày đêm Trong những ngày này , người dân nơi đây tổ chức đón rước thổ công , thần thánh ở các đền miếu lân câ ̣n về dự hô ̣i Từ khi Chính phủ cấm đốt pháo nổ , tên gọi “Hô ̣i đầu pháo ” được đổi thành “Lễ hô ̣i xuân đền tả Phủ”

Lễ hô ̣i chùa Tam Thanh,Chùa Tam Thanh nằm trong động Tam Thanh

- di tích li ̣ch sử văn hóa nổi tiếng của Xứ La ̣ng , nguyên là nơi thờ tự của Đa ̣o

Trang 30

giáo Tên go ̣i Tam Thanh tức Ngo ̣c Thanh , Thượng Thanh và Thái Thanh , là

3 cung thanh cao nhất được coi là 3 nơi tiên cảnh , mỗi cung do mô ̣t vi ̣ thần cai quản Sau này, do ảnh hưởng nhiều yếu tố , nhân dân đi ̣a phương đã đưa các yếu tố thờ tự của Phâ ̣t giáo vào di tích này để thờ tự

Theo thông lê ̣ hàng năm , cứ đến ngày rằm tháng riêng , người dân Lạng Sơn lại mở hội chùa Tam Thanh Quy trình tế lễ gồm các tuần hương , hoa, trà, tử u, đo ̣c chúc văn , hóa vàng, trình tự tế giống như tế ở các đình đền chùa khác Về phần hô ̣i , bao gồm: những hoa ̣t đô ̣ng phong phú như đấu cờ người, thi múa võ , ném còn , và các làn điệu sli , then, lượn, quan ho ̣, chèo hòa theo cùng tiếng đàn then, đàn nhi ̣, tạo nên không khí ngày hội sôi

đô ̣ng, hào hứng

Chùa Tam Thanh còn gắn liền với danh thắng tượng đá nàng Tô Thị đứng chếch trên sườn núi trước mă ̣t chùa như mô ̣t biểu tượng của lòng chung thủy sắt son của người phụ nữ

Lễ hô ̣i Chùa Tiên xuất phát từ tín ngưỡng thờ đá và thờ nguồn nước

của cư dân nông nghiệp Trong di ̣p đầu năm mới , lễ hô ̣i Chùa Tiên được tổ chức đông vui, nhô ̣n nhi ̣p và điển hình nhất ở La ̣ng Sơn Lễ hô ̣i được diễn ra trong ngày 18 tháng giêng Phần lễ, bao gồm : các lễ hội thờ Phật , với nghi thức khai hô ̣i và phần nghi lễ tế Phần hội với hàng loạt các trò chơi, trò diễn mang đậm bản sắc văn hoá các dân tộc Xứ Lạng như: trò Sĩ - Nông - Công - Thương, đồng diễn múa Sư tử mèo, biểu diễn võ dân tộc, kéo co, đẩy gậy, đi

cà kheo, ném còn… Có nhiều làn điệu dân ca đằm thắm, mượt mà tình yêu quê hương và đôi lứa như hát sli - lượn, hát then đàn tính, hát Xắng cọ…

Văn hoá ẩm thực

Xứ Lạng có dòng văn hoá ẩm thực với những món ăn dân dã, hấp dẫn, đầy phong vị độc đáo Lạng Sơn Đó là món thịt lợn quay lá mác mật, phở chua, vịt quay, khau nhục, xá xíu, thịt lạp, xôi ngũ sắc, bánh cuốn, bánh phồng, măng ớt, khẩu Shi Vẻ đẹp của thiên nhiên, tấm lòng chân thật, mến

Trang 31

khách cùng những di sản văn hoá đặc trưng được kế thừa, bảo tồn, gìn giữ qua nhiều thế hệ, các dân tộc trên mảnh đất Lạng Sơn như đang mời khách trong nước và quốc tế đến đây để cùng cảm nhận và khám phá

1.2.3 Chủ trương của Đảng và Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn về bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa

Chủ trương của Đảng về di sản văn hóa

Ngày từ khi thành lập nước, ngày 23/11/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh

ký sắc lệnh số 65 về “Bảo tồn cổ tích trên toàn cõi Việt Nam” khẳng định

quan điểm của Chính phủ đối với việc bảo tồn di sản văn hóa của đất nước

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội(6-1991), lần đầu tiên Đảng ta chủ trương xây dựng nền văn hoá tiên tiến,

đậm đà bản sắc dân tộc.Nghị quyết Trung ương 5, khóa VIII (7-1998)giống

như bản Tuyên ngôn văn hóa của Đảng “Về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc” Nghị quyết khẳng định 5

quan điểm cơ bản:

Một là, văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, là động

lực phát triển bền vững đất nước.Văn hóa phải đặt ngang hàng với kinh tế,

chính trị, xã hội và hội nhập quốc tế

Hai là, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân

tộc, thống nhất trong đa dạng của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, với các

đặc trưng dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học

Ba là, phát triển văn hóa vì sự hoàn thiện nhân cách con người và xây

dựng con người để phát triển văn hóa

Bốn là, xây dựng đồng bộ môi trường văn hóa, trong đó chú trọng vai

trò của gia đình, cộng đồng.Phát triển hài hòa giữa kinh tế và văn hóa; cần

chú ý đầy đủ đến yếu tố văn hóa và con người trong phát triển kinh tế

Năm là, xây dựng và phát triển văn hả là sự nghiệp chung của toàn dân

do Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân là chủ thể sáng tạo, đội ngũ trí thức giữ vai trò quan trọng

Trang 32

Năm quan điểm nêu trên của Đảng là một tầm nhìn mới về văn hoá tương đối thống nhất với các quan điểm về văn hóa của nhiều quốc gia khác của thế giới đương đại Đó là gắn văn hóa với tư tưởng chính trị; văn hóa thể hiện đặc trưng dân tộc; sản phẩm văn hóa là một loại hàng hóa, cần hướng các hoạt động văn hóa vào 3 mục tiêu lớn là: bảo vệ di sản và khuyến khích sáng tạo; đảm bảo sự tiếp cận bình đẳng của mọi người đối với văn hóa; tạo cơ hội cho mọi người tham gia vào sáng tạo, phổ biến và hưởng thụ văn hóa

Hội nghị Trung ương 9 khóa IX (1-2004) xác định thêm và cụ thể hóa một bước quan hệ phát triển văn hoá đồng bộ với phát triển kinh tế

Hội nghị Trung ương 10 khóa IX (7-2004) đặt vấn đề bảo đảm sự gắn kết giữa nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm; xây dựng, chỉnh đốn Đảng

là then chốt với nhiệm vụ không ngừng nâng cao văn hoá - nền tảng tình thần của xã hội.Đây là bước phát triển quan trọng trong nhận thức của Đảng về vị trí của văn hóa và công tác văn hoá trong quan hệ với các công tác khác

Hội nghị Trung ương 10 khóa IX đã nhận định về sự biến đổi của văn hoá trong quá trình đổi mới Cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế đã làm thay đổi mối quan hệ giữa cá nhân với cộng đồng, thúc đẩy dân chủ hóa đời sống xã hội, đa dạng hóa thị hiếu và phương thức sinh hoạt văn hoá, phạm vi, vai trò của dân chủ hóa - xã hội hóa văn hoá của cá nhân ngày càng tăng lên

và mở rộng Đó là thách thức mới đổi với sự lãnh đạo, quản lý văn hoá của Đảng và Nhà nước

Báo cáo chính trị tại Đại hội IX của Đảng (4-2001) khẳng định:

Bảo tồn và phát huy các di sản văn hoá dân tộc, các giá trị văn học, nghệ thuật, ngôn ngữ, chữ viết và thuần phong mỹ tục của các dân tộc; tôn tạo các di tích lịch sử, văn hoá và danh lam thắng cảnh; khai thác các kho tàng văn hoá cổ truyền Tiếp thu tinh hoa và góp phần làm phong phú thêm nền văn hoá của nhân loại Đấu tranh chống sự xâm nhập của văn hoá độc hại [16, tr.115]

Trang 33

Để phát huy truyền thống và ý thức trách nhiệm của những người làm công tác bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá Việt Nam, động viên các tầng lớp xã hội tham gia tích cực vào sự nghiệp bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá dân tộc; ngày 24 tháng 2 năm 2005, Thủ tướng chính phủ ra

Quyết đinh số 36/2005/QĐ-TTG: Hàng năm lấy ngày 23 tháng 11 là“Ngày Di sản văn hoá Việt Nam”.Quyết định đó có ý nghĩa quan trọng trong việc giáo

dục truyền thống yêu nước, lòng tự hào dân tộc, ý thức trách nhiệm bảo vệ di sản văn hóa Việt Nam trong toàn dân; tăng cường ý thức trách nhiệm, niềm tự hào của những người làm công tác bảo vệ, giữ gìn và phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc

Báo cáo chính trị tại Đại hội X của Đảng (4-2006) khẳng định:

Tiếp tục đầu tư cho việc bảo tồn, tôn tạo các di tích lịch sử cách mạng, kháng chiến, các di sản văn hoá vật thể và phi vật thể của dân tộc, các giá trị văn hoá, nghệ thuật, ngôn ngữ, thuần phong mỹ tục của cộng đồng các dân tộc Bảo tồn và phát huy văn hoá, văn nghệ dân gian.Kết hợp hài hoà việc bảo vệ, phát huy các di sản văn hoá với các hoạt động phát triển kinh tế, du lịch [18, tr.107] Báo cáo chính trị tại Đại hội XI của Đảng (1-2011) khẳng định:

Hoàn thiện và thực hiện nghiêm túc các quy định của pháp luật về

sở hữu trí tuệ, về bảo tồn, phát huy giá trị các di sản văn hoá vật thể và phi vật thể của dân tộc Gắn kết chặt chẽ nhiệm vụ phát triển văn hoá, văn nghệ, bảo tồn, phát huy giá trị các di sản văn hoá với phát triển du lịch và hoạt động thông tin đối ngoại nhằm truyền bá sâu rộng các giá trị văn hoá trong công chúng, đặc biệt là thế hệ trẻ và người nước ngoài Xây dựng và thực hiện các chính sách bảo tồn, phát huy giá trị văn hoá, ngôn ngữ, chữ viết các dân tộc thiểu số [20, tr.225]

Trang 34

Chiến lược phát triển văn hóa văn hóa thể dục thể thao, du lịch và gia đình đến năm 2020, tầm nhìn 2030 khẳng định:

Di sản văn hóa là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị văn hóa mới và giao lưu văn hóa Hết sức coi trọng bảo tồn, kế thừa, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống (bác học và dân gian) văn hóa cách mạng bao gồm cả văn hóa vật thể và phi vật thể [6, tr.154]

Để bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa, đáp ứng nhu cầu về văn hóa ngày càng cao của nhân dân, góp phần xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và đóng góp vào kho tàng di sản văn hóa thế giới; để tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước, nâng cao trách nhiệm của nhân dân trong việc tham gia bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa; ngày 23

tháng 07 năm 2013, Quốc Hội bản hành Luật di sản văn hóa gồm 6 chương, 74

điều, có sửa đổi, bổ sung một số điều: Chương 1: Những quy định chung Chương 2;Quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân đối với di sản văn hóa.Chương 3.Bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể.Chương 4.Bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa vật thể.Chương 5.Quản lý nhà nước

về di sản văn hóa.Chương 6 Khen thưởng và xử lý vi phạm

Thực hiện Chương trình của Nhà nước, Bộ văn hóa, thể thao và du lịch đã xây dựng chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2020, trong đó xác định rõ:

Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc là nhiệm vụ then chốt của chiến lược phát triển văn hóa Tập trung điều tra toàn diện, nghiên cứu, sưu tầm, bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa và văn hóa phi vật thể; các loại hình nghệ thuật cổ truyền đặc sắc, văn hóa dân gian của từng địa phương, từng vùng văn hóa, từng vùng dân tộc; nghề thủ công truyền thống, lễ hội tiêu biểu, kho tàng Hán Nôm Kết hợp phải hài hòa việc bảo tồn và

Trang 35

phát huy giá trị di sản văn hóa với các hoạt động phát triển kinh tế,

du lịch bền vững

Điều tra, sưu tầm, xây dựng ngân hàng dữ liệu về văn hóa vật thể

và văn hóa phi vật thể tiêu biểu.Đầu tư trang thiết bị kỹ thuật hiện đại

để bảo quản, giữ gìn lâu dài tài liệu, hiện vật tại các bảo tàng, cơ quan lưu trữ tư liệu lịch sử, văn hóa, nghệ thuật ở trung ương và địa phương Thực hiện các hình thức tôn vinh các nghệ sĩ, nghệ nhân tiêu biểu và cơ chế chính sách để các nghệ nhân phổ biến, truyền dạy nghề cho các thế hệ [6, tr.161]

Nghị quyết Trung ương 9 khóa XI (5-2014) đã nêu ra mục tiêu chung, mục tiêu cụ thể, quan điểm nhiệm vụ, giải pháp về xây dựng và phát triển văn hóa con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước

Những chủ trương đó của Đảng, nhà nước là cơ sở, là nền tảng định hướng bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa của Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn

Chủ trương của Đảng bộ và chính quyền tỉnh Lạng sơn

Theo chủ trương của Tỉnh ủy, UBND tỉnh Lạng Sơn đã ban hành Quyết định số: 473/QĐ-UBND ngày 17 tháng 3 năm 2008 Sở văn hóa,Thể thao và

Du lịch Lạng Sơn Theo quyết định trên cơ sở hợp nhất Sở Văn hoá - Thông tin, Sở Thể dục Thể thao và bộ phận Du lịch của Sở Thương mại và Du lịch

Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch là cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh, có chức năng tham mưu giúp Uỷ ban nhân dân tỉnh thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về: văn hoá, gia đình, thể dục, thể thao, du lịch

và quảng cáo (trừ quảng cáo trên báo chí, mạng thông tin máy tính và xuất bản phẩm) ở địa phương, các dịch vụ công thuộc lĩnh vực quản lý của Sở và thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn theo sự uỷ quyền của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh và theo quy định của pháp luật

Ngay sau khi thành lập thành phố Lạng Sơn (17- 10 -2002), Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn đã chỉ đạo thành lập bộ máy lãnh đạo Đảng và chính quyền

Trang 36

thành phố và chỉ đạo chuẩn bị Đại hội Đảng bộ thành phố, trong đó chỉ rõ về bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa

Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn (10- 2005) xác định nhiệm vụ về văn hóa, trong đó chỉ rõ về về bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa

Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn lần thứ XXI, nhiệm kỳ 2015(8-2010), đã xác định phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp thực hiện Nghị quyết Đại hội đai biểu thành phố, nhiệm kỳ 2010-2015

2010-Chủ trương của Đảng bội thành phố là nâng cao vai trò lãnh đạo của các cấp ủy đảng, sự chỉ đạo, điều hành của các cấp chính quyền, sự phối hợp thống nhất của các ngành, tổ chức, đoàn thể về nhiệm vụ bảo tồn, phát huy vốn di sản văn hóa Thực hiện tốt việc khoanh vùng bảo vệ, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với các di tích.Tiếp tục nghiên cứu, lập hồ sơ khoa học các di tích có giá trị tiêu biểu quyết định xếp hạng các cấp Nghiên cứu, xây dựng và ban hành các cơ chế chính sách, đẩy mạnh các giải pháp tài chính nhằm huy động, khai thác các nguồn lực thực hiện tốt công tác xã hội hóa về bảo tồn, phát huy di sản văn hóa Tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền các văn bản pháp luật liên quan đến lĩnh vực di sản văn hóa tới tầng lớp nhân dân Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật

về bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc Thực hiện tốt việc tôn vinh, khen thưởng các tập thể, cá nhân có nhiều thành tích trong sự nghiệp bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa.Quan tâm công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực để đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ đề ra

1.3 Công tác bảo tồn, phát huy giá trị các di sản văn hóa ở Thành phố Lạng Sơn trước năm 2005

1.3.1.Thành tựu

Qua hơn 7 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII (1998 2005) về việc bảo tồn và phát huy vốn di sản văn hóa trên địa bàn thành phố,nhận thức của các cấp, các ngành và quần chúng nhân dân về di sản văn

Trang 37

-hóa đã được nâng lên.Đã tạo chuyển biến tích cực và nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân về tầm quan trọng, ý nghĩa của công tác bảo tồn di sản văn hóa,góp phần gắn kết các nhiệm vụ xây dựng, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng.Thông qua chương trình mục tiêu quốc gia và thực hiện chính sách xã hội hoá nhiều di sản văn hóa vật thể, phi vật thể được quan tâm đầu tư, trùng tu , tôn tạo, có sức hấp dẫn thu hút khách tham quan du lịch , đem lại nguồn thu đáng kể và giải quyết việc làm cho nhân dân địa phương

Hoạt động nghiên cứu, sưu tầm, kiểm kê lập hồ sơ khoa học các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể được quan tâm, chú trọng Các loại hình dân ca, dân vũ, nghệ thuật trình diễn dân gian được khai thác, phát huy phục vụ nhiệm vụ chính trị, đào tạo trong nhà trường và đáp ứng nhu cầu, thị hiếu của công chúng Các hoạt động văn hóa - thể thao truyền thống được duy trì thường xuyên tạo nên không gian, môi trường văn hóa lành mạnh đáp ứng nhu cầu giao lưu, hưởng thụ, bảo lưu, trao truyền, sáng tạo văn hóa trong cộng đồng

Tích cực thúc đẩy việc bảo tồn, phát huy, phát triển văn hóa, giữ gìn bản sắc văn hóa các dân tộc, đẩy lùi tệ nạn xã hội, hủ tục lạc hậu, ngăn chặn mọi biểu hiện tác động xấu tới các giá trị văn hóa của dân tộc

Hoạt động nghiên cứu, sưu tầm, kiểm kê lập hồ sơ khoa học các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể được quan tâm, chú trọng Các loại hình lễ hội truyền thống được quan tâm chú trọng nghiên cứu, khai thác sử dụng Các hoạt động văn hóa - thể thao truyền thống được duy trì thường xuyên tạo nên không gian, môi trường văn hóa lành mạnh đáp ứng nhu cầu giao lưu, hưởng thụ, bảo lưu, trao truyền, sáng tạo văn hóa

1.3.2 Hạn chế

Nhiều di tích đã đươ ̣c xếp ha ̣ng cấp tỉnh , cấp quốc gia đã và đang xuống cấp nghiêm tro ̣ng nhưng chưa được tu bổ , tôn ta ̣o ki ̣p thời Công tác sưu tầm, bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa phi vâ ̣t thể chưa đươ ̣c thường xuyên

Trang 38

quan tâm, chưa được nghiên cứu, đánh giá và áp dụng các phương án bảo vệ nên đứng trước nguy cơ mai một

Công tác khoanh vùng bảo vệ và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với di tích cấp tỉnh, cấp quốc gia còn chậm, chưa đáp ứng yêu cầu so với mục tiêu đề ra.Công tác xã hội hóa hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị

di tích còn thiếu định hướng, thiếu cơ chế, chính sách để khuyến khích, kêu gọi sự đóng góp của các tổ chức, cá nhân

Công tác tuyên truyền về nội dung, giá trị di sản còn hạn chế Nhiều di sản văn hóa chưa khai thác , phát huy tốt trong việc giáo dục truyền thống cho các thế hệ trẻ và phục vụ phát triển các tua tuyến , các điểm, khu du lịch , loại hình du lịch của tỉnh Sự gắn kết giữa di sản văn hóa với phát triển du lịch còn hạn chế, hiệu quả chưa cao.Hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về di sản văn hóa ở một số địa phương và lĩnh vực cụ thể chưa cao

Công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực quản lý, nghiệp vụ chuyên môn của đội ngũ cán bộ, công chức, đội ngũ hướng dẫn viên còn thiếu

và yếu; tình trạng xâm lấn , vi phạm hành lang bảo vệ di tích, cơi nới, tu bổ tôn ta ̣o không đúng quy đi ̣nh vẫn còn diễn ra nhiều nơi

Tiểu kết chương 1

Chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng ta đều khẳng định vai trò to lớn của văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, là động lực phát triển bền vững đất nước Văn hóa phải đặt ngang hàng với kinh

tế, chính trị, xã hội và hội nhập quốc tế.Di sản văn hóa là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị văn hóa mới và giao lưu văn hóa

Di sản văn hóa Việt Nam nói chung, ở tỉnh Lạng Sơn và ở thành phố Lạng Sơn nói riêng là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và

là một bộ phận của di sản văn hóa nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta

Trang 39

Để bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa trên địa bàn thành phố Lạng Sơn, đáp ứng nhu cầu về văn hóa ngày càng cao của nhân dân, góp phần xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc để tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước, nâng cao trách nhiệm của nhân dân trong việc tham gia bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa và đóng góp vào kho tàng di sản văn hóa Việt Nam; Đảng bộ và chính quyền thành phố Lạng Sơn, trước hết phải quán triệt và vận dụng sáng tạo các chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước, của Đảng bộ và chính quyền tỉnh Lạng Sơn vào điều cụ thể; nắm vững thực tiễn các di sản văn hóa; việc bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa trên địa bàn thành phố Lạng Sơn phố để có thể làm tốt công tác lãnh đạo, chủ đạo của mình trong thời kỳ mới

Trang 40

Chương 2 CHỦ TRƯƠNG VÀ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ LẠNG SƠN VỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ CÁC DI SẢN VĂN HÓA (2005 - 2015)

2.1 Chủ trương và chỉ đạo của đảng bộ Thành phố Lạng Sơn trong giai đoạn 2005 - 2010

2.1.1 Tình hình chung

Trong giai đoạn 2001 - 2005, thành phố đã từng bước phát huy thế mạnh, tạo thế ổn định và phát triển Kinh tế liên tục tăng trưởng với tốc độ khá so với bình quân chung của tỉnh GDP tăng bình quân hơn 10% mỗi năm;

cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ tăng dần Hoạt động thương mại, du lịch, dịch vụ phát triển nhanh; kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, diện mạo thành phố Lạng Sơn ngày càng thay đổi, cải thiện hơn trước

Tuy nhiên, kinh tế của thành phố Lạng Sơn vẫn còn bé nhỏ, tốc độ tăng trưởng chưa bền vững; chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm Phần lớn các doanh nghiệp có quy mô nhỏ, năng lực cạnh tranh sản phẩm hạn chế; hiệu quả sản xuất, kinh doanh của chưa cao…

Những năm 2005 -2010, Đảng bộ thành phố Lạng Sơn có nhiều chủ trương khai thác lợi thế về vị trí địa lý là đầu mối, là động lực phát triển kinh

tế, văn hóa của tỉnh Phát triển thành phố cùng với các khu kinh tế cửa khẩu liền kề thành trung tâm thương mại, dịch vụ và du lịch năng động

Về các di sản văn hóa, cho đến năm 2005, thành phố Lạng Sơn có 43 di

tích thuộc 04 loại hình là các di tích lịch sử cách mạng, danh thắng, di tích khảo cổ học, di tích văn hoá - nghệ thuật - tôn giáo tín ngưỡng Trong đó 21

di tích đã được xếp hạng,12 di tích được xếp hạng cấp quốc gia, 9 di tích được đăng ký quản lý cấp tỉnh

Ngày đăng: 25/11/2021, 07:50

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w