Trong đó, các ấn phẩm báo chí- truyền thông của những quốc gia tiên tiến trên khắp các châu lục như Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Trung Quốc…, với số lượng và chất lượng sản phẩm báo chí được công
Trang 1- -
HOÀNG THỊ KIM QUÝ
VẤN ĐỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TRÊN BÁO MẠNG
ĐIỆN TỬ NƯỚC NGOÀI HIỆN NAY (Khảo sát các báo: Washington Post, The Guardian và China Daily
từ tháng 1/2015 đến tháng 3/2016)
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC
HÀ NỘI-2016
Trang 2- -
HOÀNG THỊ KIM QUÝ
VẤN ĐỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TRÊN BÁO MẠNG
ĐIỆN TỬ NƯỚC NGOÀI HIỆN NAY (Khảo sát các báo: Washington Post, The Guardian và China Daily
từ tháng 1/2015 đến tháng 3/2016)
Chuyên ngành: Báo chí học
Mã số : 60 32 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN THỊ TRƯỜNG GIANG
HÀ NỘI-2016
Trang 3mạng điện tử nước ngoài hiện nay‖, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ, tạo điều kiện của các tập thể và cá nhân
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo đã truyền đạt kiến thức, kinh nghiệm trong quá trình tôi học tập tại Học viện Báo chí & Tuyên truyền Đặc biệt, xin được cảm ơn sự tận tình hướng dẫn, giúp đỡ của Phó giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Thị Trường Giang
Cảm ơn sự giúp đỡ, tạo điều kiện của các chuyên gia: Ông Hoàng Quốc Dũng, Phó Chủ tịch thường trực kiêm Tổng Thư ký Diễn đàn nhà báo Môi trường Việt Nam; Giáo sư James Borton, giảng viên Đại học South Carolina,
Mỹ - nghiên cứu viên không thường trú của Trung tâm SCIS, thành viên quốc gia Câu lạc bộ Nhà thám hiểm (nơi hội tụ các chuyên gia đa ngành quốc tế có trụ sở ở Mỹ); phóng viên Nguyễn Thị Ngọc Thùy, báo Tiền phong – người đã
có kinh nghiệm viết và theo dõi về BĐKH; phóng viên môi trường Nguyễn Thị Huế báo điện tử Phú Thọ; phóng viên môi trường Nguyễn Bảo Vân báo điện tử Sài Gòn Giải Phóng
Cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã động viên, khích lệ, tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn này
Tác giả luận văn
Hoàng Thị Kim Qúy
Trang 4Nội dung và kết quả nghiên cứu trong đề tài này là trung thực Những
số liệu trong luận văn có cơ sở rõ ràng được chính tác giả thu thập, phân tích
và tổng hợp Phần tài liệu tham khảo được dẫn nguồn đầy đủ và chính xác Các kết luận của luận văn chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào trước đây
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những nội dung, kết quả trong quá trình thực hiện nghiên cứu luận văn này
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Hoàng Thị Kim Qúy
Trang 5ĐỔI KHÍ HẬU TRÊN BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ 15
1.1.Các khái niệm cơ bản 15
1.2 Lý thuyết truyền thông về biến đổi khí hậu 20
1.3 Vai trò của báo chí nói chung và báo mạng điện tử nói riêng trong thông tin về vấn đề biến đổi khí hậu 27
1.4 Yêu cầu thông tin về vấn đề biến đổi khí hậu trên báo mạng điện tử 32
1.5 Ưu thế của báo mạng điện tử trong thông tin về vấn đề biến đổi khí hậu 38 1.6 Cam kết chống biến đổi khí hậu của Việt Nam và một số quốc gia 42
Tiểu kết chương 1 58
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TRÊN BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ NƯỚC NGOÀI HIỆN NAY 60
2.1 Giới thiệu 3 tờ báo Washington Post, The Guardian và China Daily 60
2.2 Khảo sát vấn đề biến đổi khí hậu trên tờ The Washington Post, The Guardian và China Daily 65
2.3 Một số đánh giá về ưu điểm, hạn chế khi thông tin về vấn đề biến đổi khí hậu trên báo mạng điện tử nước ngoài 89
Tiểu kết chương 2 104
CHƯƠNG 3: NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM TỪ BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ NƯỚC NGOÀI NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THÔNG TIN VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TRÊN BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ VIỆT NAM HIỆN NAY 106
3.1 Bối cảnh chung ở Việt Nam và những vấn đề đặt ra cho báo mạng điện tử Việt Nam khi thông tin về vấn đề biến đổi khí hậu 106
3.2 Bài học kinh nghiệm nhằm nâng cao chất lượng thông tin về vấn đề BĐKH trên báo mạng điện tử Việt Nam 112
Tiểu kết chương 3 121
KẾT LUẬN 123
TÀI LIỆU THAM KHẢO 126
PHỤ LỤC 132
Trang 6BMĐT : Báo mạng điện tử
CPP : Kế hoạch Năng lượng sạch
EPA : Cơ quan Bảo vệ Môi trường
IPCC : Ủy ban Liên Chính phủ về Biến đổi khí hậu LHQ : Liên hợp quốc
TĐNL : Trái Đất nóng lên
TTCH : Truyền thanh cấp huyện
TTĐC : Truyền thông đại chúng
UNEP : Chương trình Môi trường của Liên Hợp Quốc UN-REDD : Chương trình ―Giảm thải khí nhà kính thông qua
các nỗ lực hạn chế mất rừng và suy thoái rừng tại các nước đang phát triển‖
WMO : Tổ chức Khí tượng Thế giới
Trang 7từ tháng 1/2015-3/2016) 65 Biểu đồ 2.2: Tần suất tin, bài có sử dụng từ khóa BĐKH và TĐNL trên các báo được khảo sát từ 1/2015-3/2016 67 Biểu đồ 2.3: Tần suất xuất hiện tin, bài có sử dụng từ khóa BĐKH và TĐNL của 3 tờ báo khảo sát từ tháng 1/2015-3/2016 67 Biểu đồ 2.4: Số lượng tin, bài thông tin về chủ trương, chính sách các nước và tuyên
bố của các tổ chức đối phó BĐKH của 3 tờ báotừ tháng 1/2015-3/2016 71 Biểu đồ 2.5: Số lượng tin, bài thông tin về biểu hiện của BĐKH của 3 tờ báo
từ tháng 1/2015-3/2016 73 Biểu đồ 2.6: Số lượng tin, bài thông tin về ảnh hưởng, tác động của BĐKH của 3 tờ báo từ tháng 1/2015-3/2016 75 Biểu đồ 2.7: Số lượng tin, bài thông tin về giải pháp, hoạt động thích ứng, giảm thiểu tác động BĐKH của 3 tờ báo từ tháng 1/2015-3/2016 77 Biểu đồ 2.8: Số lượng tin, bài thông tin về cảnh báo và dự báo về BĐKH của
3 tờ báo từ tháng 1/2015-3/2016 79 Biểu đồ 2.9: Số lượng tin, bài thông tin về hành vi vi phạm việc bảo vệ môi trường và ứng phó BĐKH của 3 tờ báo từ tháng 1/2015-3/2016 81 Biểu đồ 2.10 - Tỉ lệ về thể loại các tác phẩm báo chí trên The Washington Post, China Daily và The Guardian tháng 1/2015-3/2016 83 Biểu đồ 2.11: Số lượng tin, bài chia theo kết cấu về mặt văn bản 84 Biểu đồ 2.12: Tỷ lệ tác phẩm có chứa từ khóa BĐKH và TĐNL sử dụng các công cụ chính trên ba báo khảo sát 87 Biểu đồ 2.13: Tỷ lệ tác phẩm có chứa từ khóa BĐKH và TĐNL sử dụng chương trình trực tuyến trên ba báo khảo sát 89 Biểu đồ 2.14: Sự quan tâm của độc giả tới các nội dung tin, bài về BĐKH trên
3 trang báo khảo sát 95
Sơ đồ 1.1: Mô hình truyền thông của H Lasswell 20
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Có thể nói biến đổi khí hậu (BĐKH) đã đang và sẽ tiếp tục là chủ đề nóng của nhiều hội nghị cấp cao trên thế giới Nhiệt độ trung bình trong 100 năm qua đã tăng 0,74 độ C và xu thế nhiệt độ tăng trong vòng 50 năm gần đây
là 0,130C/thập kỷ.Nhiệt độ trung bình ở Bắc cực tăng 1,50C, và ở đỉnh lớp băng vĩnh cửu ở Bắc bán cầu tăng 3 độ C kể từ năm 1980 đến nay 10 năm trở lại đây được xem là những năm nóng nhất theo chuỗi quan trắc từ năm 1850
Sự nóng lên của Trái đất, băng tan đã dẫn đến mực nước biển dâng cao Nếu khoảng thời gian 1962 - 2003, lượng nước biển trung bình toàn cầu tăng 1,8mm/năm, thì từ 1993 - 2003 mức tăng là 3,1mm/năm Tổng cộng, trong
100 năm qua, mực nước biển đã tăng 0,31m Theo quan sát từ vệ tinh, diện tích các lớp băng ở Bắc cực, Nam cực, băng ở Greenland và một số núi băng
ở Trung Quốc đang dần bị thu hẹp Chính sự tan chảy của các lớp băng cùng với sự nóng lên của khí hậu các đại dương toàn cầu (tới độ sâu 3.000m) đã góp phần làm cho mực nước biển dâng cao Dự báo đến cuối thế kỷ XXI, nhiệt độ trung bình sẽ tăng lên khoảng từ 2,0 - 4,5 độ C và mực nước biển toàn cầu sẽ tăng từ 0,18m - 0,59m
Liên Hợp quốc đã xem BĐKH là một trong những thách thức lớn nhất của nhân loại hiện nay Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc Ban Ki Moon cho rằng:
―BĐKH cũng khiến nhân loại phải đối mặt với những đe dọa to lớn như chiến tranh‖; ―BĐKH không chỉ là vấn đề môi trường, mà còn là mối đe dọa toàn diện, ảnh hưởng đến sức khỏe con người, đến tình hình cung cấp lương thực toàn cầu, vấn đề di dân và đe dọa nền hòa bình, an ninh thế giới‖
Trong hai nguyên nhân chính gây ra biến đổi khí hậu (BĐKH) (tự nhiên
và do con người) thì ngay từ những năm đầu của thế kỷ XXI, với những bằng chứng xác thực, các nhà khoa học đã chứng minh được sự can thiệp thô bạo
Trang 9của con người vào môi trường trái đất, đó là việc sử dụng các chất hóa thạch như than đá, dầu lửa, khí đốt; là việc tàn phá các cánh rừng; việc phát triển công nghiệp hóa đã và đang thải ra bầu khí quyển nhiều loại khí gây hiệu ứng nhà kính, làm cho trái đất nóng lên từng ngày Tương ứng với quy mô nền kinh tế, nhu cầu năng lượng phục vụ cho hoạt động kinh tế và đời sống xã hội tăng lên cùng với sự gia tăng của lượng khí phát thải gây BĐKH Hiện nay, nhiều nền kinh tế lớn trên thế giới đang trở thành những trung tâm gây ô nhiễm môi trường nặng nề
Nhiều nghiên cứu đã chứng minh được rằng các phương tiện truyền thông đại chúng đã cung cấp một lượng tri thức khoa học không nhỏ cho công chúng Ở những quốc gia đang phát triển, nhiều cuộc thăm dò đã cho thấy truyền hình và nhật báo là những nguồn thông tin chính.[45]
Do đó, để kiềm hãm quá trình BĐKH diễn ra nhanh hơn thì đòi hỏi phải có sự chung tay góp sức của toàn cầu Trong đó, báo chí- truyền thông thế giới cần được xem là một công cụ quan trọng, cơ bản, tác động trực tiếp hoặc gián tiếp làm thay đổi thái độ, hành vi của con người trong cộng đồng, từ
đó thúc đẩy họ tự nguyện tham gia vào các hoạt động thích ứng, giảm nhẹ BĐKH Hệ thống báo chí- truyền thông toàn cầu cũng giữ một vai trò tiên phong trong phát hiện ra các vấn đề vi phạm trong việc bảo vệ môi trường và ứng phó với BĐKH
Trong đó, các ấn phẩm báo chí- truyền thông của những quốc gia tiên tiến trên khắp các châu lục như Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Trung Quốc…, với số lượng và chất lượng sản phẩm báo chí được công nhận đã đóng góp không nhỏ vào việc ứng phó với BĐKH của loài người Tuy nhiên, BĐKH là một cuộc chiến dai dẳng cần sự ý thức và nỗ lực của tất cả mọi người chống lại
nó, bao gồm cả hoạt động thông tin trên báo chí, truyền thông hiện tại và tương lai
Trang 10Vì vậy trên cơ sở nhận thức rõ vai trò của báo chí- truyền thông thế giới, đặc biệt là báo mạng điện tử với việc chống BĐKH thì việc nghiên cứu hoạt động của báo chí nước ngoài, cụ thể là báo chí Mỹ, Anh, Trung Quốc, với 3 đại diện lần lượt là Washington Post, The Guardian và China Daily- những tờ báo có danh tiếng tại những quốc gia có nền báo chí phát triển mạnh
mẽ của nước Mỹ, Anh, Trung Quốc nói riêng và toàn cầu nói chung trên tất
cả các lĩnh vực, bao gồm môi trường- BĐKH là vô cùng cần thiết Đồng thời, với vị trí của Mỹ, Trung Quốc và Anh đều là những cường quốc công nghiệp, trong đó Mỹ, Trung Quốc là hai quốc gia sản xuất ra khoảng 45% lượng khí thải cacbonic toàn cầu, gánh vách một trách nhiệm không nhỏ đối với nguyên nhân dẫn đến BĐKH và cũng chịu những ảnh hưởng nghiêm trọng khi BĐKH khắc nghiệt hơn trong khi sự chuẩn bị để đối phó với BĐKH chưa thực sẵn sàng Còn Anh, một nước châu Âu, có thể nói là ít chịu hậu quả của BĐKH hơn (BĐKH đang tác động đến toàn cầu nhưng với mức độ và sức ảnh hưởng khác biệt của từng khu vực) nhưng chính phủ Anh và báo chí Anh nói riêng
đã dành nhiều sự quan tâm tới vấn đề môi trường, BĐKH Vì vậy, việc lựa chọn báo chí Mỹ, Trung Quốc và Anh, cụ thể là 3 tờ Washington Post, The Guardian và China Daily là hợp lí để thấy được hiệu quả hoạt động của báo chí mỗi nước trong lĩnh vực môi trường nói riêng và trách nhiệm đối với toàn cầu nói chung Từ đó, chỉ ra những nguyên nhân, hạn chế, để đưa ra một số khuyến nghị cho hoạt động thông tin về BĐKH của báo mạng điện tử Việt Nam trong thời gian tới Do vậy, tác giả lựa chọn đề tài ―Vấn đề biến đổi khí hậu trên báo mạng điện tử nước ngoài hiện nay‖ làm luận văn tốt nghiệp Thạc
sĩ chuyên ngành Báo chí có ý nghĩa nhất định về mặt lí luận và thực tiễn
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
2.1 Trong nước
Tại Việt Nam gần đây đã có một số công trình khoa học, báo cáo khoa học, luận văn đề cập đến truyền thông về BĐKH
Trang 11Chương trình ―Giảm thải khí nhà kính thông qua các nỗ lực hạn chế
mất rừng và suy thoái rừng tại các nước đang phát triển‖ (UN-REDD) (2012)
do Chính phủ Nauy tài trợ đã biên soạn cuốn Sổ tay tuyên truyền viên thôn bản, Hà Nội Đây là cuốn sách dùng để tuyên truyền ở cấp thôn, bản về công tác giảm thải khí nhà kính thông qua các nỗ lực hạn chế mất rừng và suy thoái rừng tại các nước đang phát triển và cơ chế hỗ trợ tài chính từ các nước phát triển cho nỗ lực của cộng đồng tại các nước đang phát triển tham gia bảo vệ rừng hoặc nâng cao chất lượng rừng
―Hỏi đáp về BĐKH‖ (2013) của GS TSKH Trương Quang Ngọc (chủ
biên) thực hiện, Nxb Chính trị quốc gia - Nxb Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội là cuốn sách tuyên truyền BĐKH dưới dạng hỏi đáp, được chia thành các chủ đề: Những vấn đề chung (thời tiết, khí hậu và biến đổi khí hậu toàn cầu); BĐKH ở Việt Nam (biểu hiện, tác động, thích ứng và giảm nhẹ BĐKH); liên kết để chống lại BĐKH; mỗi chúng ta có thể làm gì trong cuộc chiến chống BĐKH
Công trình ―Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, đẩy mạnh công tác
bảo vệ tài nguyên, môi trường - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn‖ (2013) do
Hội đồng khoa học các cơ quan Đảng Trung ương thực hiện, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội đã tập hợp các bài viết của các nhà khoa học, các chuyên gia phân tích về thực trạng BĐKH ở Việt Nam Trong đó, có bài viết đã chỉ ra thực trạng và đưa ra những giải pháp chủ yếu cho công tác tuyên truyền ứng phó BĐKH, bảo vệ tài nguyên, môi trường ở nước ta hiện nay
Sổ tay ―Tuyên truyền biến đổi khí hậu‖ (2013), do Sở Tài nguyên và
Môi trường Hà Nội cùng Trung tâm Dữ liệu và Truyền thông phòng ngừa thiên tai - Cục Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu phát hành, Nxb Tài nguyên môi trường và Bản đồ Việt Nam, Hà Nội Cuốn Sổ tay đã giới thiệu những kiến thức cơ bản nhất về thời tiết, khí hậu, BĐKH, các hiện tượng
Trang 12thiên tai thường gặp; các biện pháp và chỉ rõ trách nhiệm của cộng đồng dân
cư với BĐKH ở Việt Nam
―Báo chí đưa tin về BĐKH‖ (2012) của Thạc sỹ Dương Thu Hương
Nghiên cứu thông tin về BĐKH được đăng tải trên báo in và báo mạng Tác giả đã kết luận về các nội dung chủ yếu về BĐKH được đăng tải trên báo chí
là các thảm họa, hậu quả của nó trong khi ít truyền tải cho người dân những thông tin về việc xử lý thực tế, phòng tránh, khắc phục thảm họa Từ đó, có thể khiến người dân lo lắng thái quá và có thể gây ra những hiệu ứng xã hội tiêu cực
―Thực trạng đưa tin về BĐKH trên truyền hình‖ (2013) của Tiến sỹ
Phạm Hương Trà, Thạc sỹ Nguyễn Thị Tuyết Minh Phân tích nội dung về BĐKH trên kênh truyền hình VTV1 và truyền hình Vĩnh Long 1 và đưa ra kết luận rằng: hai kênh truyền hình trên thường gắn thông tin về BĐKH với các hội nghị, hội thảo hoặc khi xảy ra các sự kiện thời sự có liên quan đến BĐKH Bên cạnh đó, nhiều thông tin về BĐKH thường đến từ các báo cáo, đánh giá, hay lặp lại những thông tin của các chuyên gia hoặc đưa tin thiếu kiểm chứng, gây hoang mang dư luận
―Nhận thức, nhu cầu thông tin về BĐKH của đội ngũ làm công tác
truyền thông hiện nay‖ (2014) của Tiến sỹ Phạm Hương Trà Nghiên cứu về
nhận thức, nhu cầu thông tin về BĐKH của đội ngũ giảng viên, sinh viên ở
Hà Nội và các tỉnh phía Bắc
Luận văn Thạc sỹ ―Hiệu quả tuyên truyền BĐKH ở thành phố Việt Trì,
tỉnh Phú Thọ hiện nay‖ (2013) của Mè Quốc Việt đề cập đến hiệu quả công
tác tuyên truyền về BĐKH ở Phú Thọ Tuy nhiên, công trình chưa đi sâu vào phân tích thực trạng, đề xuất giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đối với 1 thể loại
Trang 13Luận văn Thạc sỹ ―Tuyên truyền về BĐKH của các đài truyền thanh cấp
huyện ở Cà Mau hiện nay‖ (2014) của Lê Kim Hậu đánh giá hoạt động tuyên
truyền về BĐKH (thành công, hạn chế) của các đài TTCH ở tỉnh Cà Mau
Luận văn Thạc sỹ ―Nhận thức và nhu cầu thông tin về BĐKH của đội
ngũ làm công tác truyền thông đại chúng hiện nay‖ (2015) của Nguyễn Thị
Xuân Nguyên nghiên cứu nhận thức, nhu cầu thông tin và các yếu tố tác động đến nhận thức, nhu cầu thông tin của đội ngũ làm công tác TTĐC về BĐKH
Luận văn Thạc sỹ ―Đài Phát thanh và Truyền hình Đồng Nai với vấn
đề môi trường‖ (2015) của Thái Hoàng Sơn Nghiên cứu công tác tuyên
truyền về môi trường của Đài Phát thanh truyền hình Đồng Nai Luận văn đã
đề cập đến vấn đề BĐKH được phản ánh trên sóng truyền hình Đồng Nai Tuy nhiên, luận văn chưa nghiên cứu công chúng truyền hình nên chưa đánh giá thực trạng nhu cầu công chúng
Luận văn Thạc sỹ ―Truyền hình các tỉnh Tây Nam Bộ truyền thông về
vấn đề BĐKH‖ (2015) của Nguyễn Thị Thanh Thảo nghiên cứu hoạt động
thông tin về BĐKH tại 3 tỉnh Tây Nam Bộ: Trà Vinh, An Giang, Sóc Trăng Công trình đã nghiên cứu về hiệu quả thông tin về BĐKH tại các khu vực đang chịu ảnh hưởng nhiều của BĐKH
Luận văn Thạc sỹ ―Báo mạng điện tử với vấn đề Biến đổi khí hậu tại
Việt Nam hiện nay‖ (2015) của Nguyễn Thị Huyền Trang nghiên cứu tình
hình thông tin về BĐKH của 3 tờ báo vietnamplus.vn, vnexpress.net, dantri.com Luận văn đã đánh giá được định hướng, hiệu quả thông tin về vấn
đề BĐKH trên 3 tờ báotrong giai đoạn hiện nay và rút ra kiến nghị phù hợp dựa trên ý kiến của các phóng viên, biên tập viên và công chúng
Các luận văn đã nghiên cứu hoạt động thông tin về BĐKH tại rất nhiều khu vực khác nhau trên toàn đất nước Việt Nam với những đối tượng phong phú như các đài phát thanh, truyền hình, BMĐT Tuy nhiên, chưa có một
Trang 14công trình nào nghiên cứu vấn đề biến đổi khí hậu trên báo mạng điện tử nước ngoài để rút ra bài học kinh nghiệm cho báo chí Việt Nam nói chung và báo mạng điện tử Việt Nam nói riêng
về BĐKH, tuy nhiên về mặt tổng thể, vấn đề này còn chưa được nhìn nhận
một cách tổng thể, phân tích chuyên sâu
Báo chí và môi trường, BĐKH chủ yếu được nhìn nhận dưới góc độ của các chuyên gia quốc tế thông qua một số cuốn sách như:
―Environmenal risks and the media‖ (Những nguy cơ môi trường và
truyền thông) (2000) của 3 tác giả Stuart Allan, Barbara Adam, Cynthia Carter, xuất bản lần đầu bởi Routledge, London đề cập đến phương thức mà các phương tiện truyền thông sử dụng khi thông tin về các rủi ro và thảm họa môi trường
―Who speaks for the climate? Making sense of media reporting on
climate change‖ (Ai nhân danh cho khí hậu? Làm rõ cách truyền thông thông
tin về BĐKH) (2011) của Maxwell T Boykoff, Nhà xuất bản Đại học Cambridge đề cập đến lập trường khác biệt của báo chí trong việc thông tin về vấn đề BĐKH như một chủ đề chính trị và xã hội quan trọng
―Climate change and journalistic norms: A case-study of US
mass-media coverage‖ (BĐKH và các quy phạm báo chí: nghiên cứu trường hợp
đưa tin của hệ thống thông tin trên phương tiện thông tin đại chúng Mỹ) (2007) của Maxwell T Boykoff và Jules M Boykoff, Nhà xuất bản Elsevier
đề cập đến vấn đề BĐKH và các quy phạm báo chí – nghiên cứu báo chí và
Trang 15truyền hình Mỹ trong việc thông tin về sự đóng góp của loài người đối phó với BĐKH từ 1988 đến 2004 để tổng kết ra những hạn chế trong việc các phương tiện truyền thông thông tin về BĐKH
―Climate change and the media‖ (BĐKH và truyền thông) (2009) của
Tammy Boyce và Justin Lewis, Nhà xuất bản Peter Lang tập hợp ý kiến của các học giả quốc tế về vấn đề BĐKH và vai trò then chốt của các phương tiện truyền thông trong việc cung cấp thông tin cho cộng đồng để đối phó với BĐKH; so sánh và đánh giá mối quan hệ giữa các phương tiện truyền thông
và BĐKH tại Mỹ, Anh, châu Âu, Trung Quốc và Australia
―Media attention for climate change around the world: Data from 27
countries‖ (Sự chú ý của truyền thông đến BĐKH trên toàn thế giới: Dữ liệu
của 27 quốc gia) (2012) của MikeS Schafer, Ana Ivanova, Andreas Schmidt, Đại học Colorado Đây là tài liệu chuẩn bị cho Hội thảo quốc tế về Văn hóa, Chính trị và BĐKH – tổng hợp dữ liệu về sự chú ý của truyền thông đối với BĐKH – dữ liệu từ 27 quốc gia từ 1990-2012
―Comparing Events Coverage in Online News and Social Media: The
Case of Climate Change‖ (So sánh việc thông tin các sự kiện trên báo mạng
điện tử và truyền thông xã hội) (2015) của các tác giả Alexandra Olteanu, Carlos Castillo, Nicholas Diakopoulos, Karl Aberer, Kỷ yếu hội nghị lần thứ
9 của Hiệp hội vì tiến bộ của trí tuệ nhân tạo đã so sánh sự giống và khác của hoạt động thông tin về BĐKH trên báo mạng điện tử và mạng xã hội
―Mass-media coverage, its influence on public awareness of
climate-change issues, and implications for Japan’s national campaign to reduce greenhouse gas emissions‖ (Đưa tin trên phương tiện thông tin đại chúng và
ảnh hưởng đối với nhận thức của công chúng về vấn đề biến đổi khí hậu và tác động đối với chiến dịch giảm phát thải khí nhà kính của Nhật Bản) (2008) của Yuki Sampei, Midori Aoyagi-Usui, Viện nghiên cứu quốc gia về môi
Trang 16trường, Irabaki, Nhật Bản nói đến ảnh hưởng của các phương tiện truyền thông đối với nhận thức của công chúng về vấn đề BĐKH và việc thực thi các chiến dịch quốc gia của Nhật Bản để giảm khí nhà kính
Trên cơ sở đánh giá những công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài trong nước và quốc tế có thể thấyđề tài của tác giả là đề tài mới, không trùng lặp với bất kì đề tài nào đã được công bố, cần được thực hiện, đi sâu nghiên cứu, phân tích, đánh giá công tác thông tin của các trang báo mạng điện tử Washington Post, The Guardian, China Daily Luận văn về đề tài này góp phần đúc kết về mặt lí luận, từ đó điều chỉnh hoạt động thực tiễn, cụ thể là giúp cho việc truyền thông về BĐKH trên BMĐT hiệu quả hơn, đáp ứng nhu cầu của công chúng Bên cạnh đó, việc đi sâu phân tích để chỉ ra những ưu điểm, hạn chếđối với truyền thông về vấn đề BĐKH trên BMĐT nước ngoài
sẽ giúp cho đội ngũ người làm BMĐT Việt Nam có thêm thông tin để nghiên cứu, áp dụng vào thực tiễn
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.2.Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, đề tài sẽ thực hiện những nhiệm vụ chủ yếu sau:
- Hệ thống hóa những vấn đề lí luận về báo mạng điện tử, nội dung về BĐKH, vai trò của việc đưa tin về BĐKH trên báo chí…
- Khảo sát, đánh giá thực trạng vấn đề BĐKH trên 3 trang báo mạng Washington Post, The Guardian và China Daily trong thời gian từ tháng 1/2015 đến 3/2016
Trang 17- Rút ra bài học kinh nghiệm từ BMĐT nước ngoài nhằm nâng cao chất lượng thông tin về BĐKH trên BMĐT Việt Nam hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: Vấn đề BĐKH trên báo mạng điện
tử nước ngoài hiện nay
sự kiện được cập nhật và mang tính thời sự
Tuy nhiên, BĐKH là vấn đề rộng nên đề tài tập trung nghiên cứu các tác phẩm báo chí có sử dụng từ khóa Climate change (Biến đổi khí hậu) và Global warming (Trái đất nóng lên) trên 3 tờ báo trên
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu đề tài
5.1 Cơ sở lý luận
Luận văn tuân thủ các nguyên tắc và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác Lênin, lấy chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng làm cơ sở cho quá trình nghiên cứu
Trang 18Luận văn dựa trên quan điểm của Đảng về công tác báo chí, truyền thông, hoạt động thông tin về vấn đề môi trường, BĐKH làm cơ sở nghiên cứu
Luận văn dựa trên hệ thống lý thuyết về báo chí, truyền thông và phân tích tác phẩm báo chí của Việt Nam và thế giới
5.2 Phươngpháp nghiên cứu
Để thực hiện được mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu trên, tác giả luận văn đã sử dụng những phương pháp chính sau đây:
Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Dùng để xem xét phân tích các
nguồn tài liệu liên quan đến luận văn, bao gồm: Công ước Liên hợp quốc, nghị định thư Kyoto, bối cảnh chính trị các quốc gia, các lí thuyết về báo chí, phân tích tác phẩm báo chí, tài liệu nghiên cứu, các bài phân tích, nghiên cứu chuyên sâu và các chủ đề liên quan đến luận văn, trên cơ sở đó kế thừa những giá trị vốn có, sau đó rút ra những dữ liệu để so sánh, đối chiếu
Phương pháp phân tích nội dung:
Mẫu nghiên cứu: các tin, bài báo được sử dụng nghiên cứu được thu thập trong 1 năm và 3 tháng từ tháng 1/2015-3/2016 trên 3 tờ báo mạng điện
tử Washington Post, The Guardian và China Daily
Tiêu chí lựa chọn: Các tin, bài có sử dụng từ khóa Climate change (Biến đổi khí hậu- BĐKH) và Global warming (Trái đất nóng lên- TĐNL)
+ Chọn tất cả tin, bài có sử dụng 1 trong 2 từ khóa Climate change (Biến đổi khí hậu) và Global warming (Trái đất nóng lên) hoặc cả hai từ khóa
để phân tích về số lượng tin, bài; tần suất tin, bài,
Kết quả thu đƣợc nhƣ sau:
Số lượng tin, bài sử dụng từ khóa BĐKH và TĐNL của 3 tờ báo từ tháng 1/2015-3/2016
Washington Post The Guardian China Daily
Trang 19+ Phân tích nội dung về BĐKH được đăng tải qua các tin, bài trên
.) Theo 6 nhóm nội dung chính: Chủ trương, chính sách của các nước
và tuyên bố của các tổ chức đối phó BĐKH; Biểu hiện của BĐKH; Ảnh hưởng, tác động của BĐKH; Giải pháp, hoạt động thích ứng, giảm thiểu tác động BĐKH; cảnh báo và dự báo về BĐKH; hành vi vi phạm việc bảo vệ môi trường và ứng phó BĐKH
.) Thể loại tác phẩm báo chí: tin và bài
.) Kết cấu văn bản: khuyết và đầy đủ
.) Kết cấu nội dung: đẳng lập, đan xen, thời gian, hình tháp ngược, quy nạp/ diễn dịch
.) Sử dụng các công cụ text, ảnh, video, audio, biểu đồ, tương tác trực tuyến Quá trình xử lí thông tin: Tác giả lưu trữ nội dung của các tin, bài có hai từ khóa BĐKH và TĐNL dựa trên việc sử dụng công cụ tìm kiếm trên tờ báo điện tử và sau đó tổng hợp, phân tích, xử lí số liệu và đánh giá những kết quả nghiên cứu trên Excel
Phương pháp phỏng vấn sâu: Do gặp khó khăn trong việc tiếp cận với
các phóng viên, chuyên gia tại các quốc gia khảo sát, tác giả luận văn tiến hành phỏng vấn các phóng viên, biên tập viên, chuyên gia Việt Nam về lĩnh vực báo chí - môi trường, có nghiên cứu về hoạt động thông tin BĐKH trên báo chí nước ngoài để thu được các ý kiến đa dạng về vấn đề nghiên cứu, qua
đó làm phong phú và sâu sắc nội dung nghiên cứu
Danh sách phỏng vấn:
1 Hoàng Quốc Dũng Phó Chủ tịch thường trực kiêm Tổng thư ký
Diễn đàn nhà báo môi trường Việt Nam
2 James Borton Giảng viên Đại học South Carolina, Mỹ -
nghiên cứu viên không thường trú của Trung tâm SCIS
3 Trương Thị Ngọc Thùy Phóng viên báo điện tử Tiền Phong
4 Nguyễn Thị Huế Phóng viên môi trường báo điện tử Phú Thọ
5 Nguyễn Bảo Vân Phóng viên môi trường báo điện tử Sài Gòn
Giải Phóng
Trang 20Phương pháp điều tra xã hội bằng bảng hỏi: Thu thập ý kiến công
chúng đánh giá vềthông tin vấn đề BĐKH trên các tờ báo khảo sát Số lượng phiếu: 200 phiếu, tập trung vào các độc giả Việt Nam và nước ngoài đọc 3 tờ báo trên
Tác giả tạo phiếu khảo sát trực tuyến với google biểu mẫu, gửi link tới các độc giả Việt Nam và nước ngoài và nhận được 162 câu trả lời Trong đó đối tượng thu thập thông tin nam – nữ; học sinh, phóng viên – nhà báo; công nhân; nhân viên công sở - nhân viên công vụ; giám đốc- quản lý
Đề tài cũng sử dụng phương pháp phân tích, so sánh để lý giải vấn đề, kế thừa một cách có chọn lọc những kết quả nghiên cứu khoa học có liên quan
6 Đóng góp mới của đề tài
Kết quả của luận văn sẽ rút ra những kinh nghiệm, bài học trong sáng tạo tác phẩm báo chí liên quan đến lĩnh vực môi trường và BĐKH nói riêng
Luận văn có thể là tư liệu tham khảo cho báo chí - truyền thông Việt Nam về việc thông tin về lĩnh vực môi trường, chống BĐKH cũng như nâng cao nhận thức của các nhà hoạch định chính sách Việt Nam trong việc thúc đẩy hiệu quả của báo chí nước nhà ứng phó với BĐKH
7 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của luận văn
7.1 Ý nghĩa lí luận
Luận văn cung cấp một số lý luận về nội dung thông tin về BĐKH trên báo điện tử; bổ sung và làm rõ hơn hệ thống lý luận về vai trò, chức năng của báo điện tử thế giới trong điều kiện mới và nhiệm vụ thông tin BĐKH trên báo điện tử thế giới; đưa ra những khuyến nghị đối với thông tin BĐKH trên
báo chí Việt Nam
Luận văn góp phần khẳng định tính ưu việt của báo mạng điện tử và khẳng định sự lớn mạnh nhanh chóng của nó trong thời gian tới như một xu thế phát triển tất yếu của xã hội, đặc biệt trong việc giải quyết vấn đề toàn cầu
Trang 217.1 Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn góp phần làm rõ nội dung thông tin BĐKH trên báo chí nước ngoài trong điều kiện mới Qua đó, khẳng định những đóng góp của báo chí
nước ngoài trong việc thông tin về BĐKH
Luận văn là tài liệu tham khảo cho công tác giảng dạy, đào tạo; cho các nhà quản lý, nhà báo và những người quan tâm tới các nội dung liên quan trên phạm vi thế giới và Việt Nam
Trang 22CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ
BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TRÊN BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ
1.1.Các khái niệm cơ bản
Newspaper), báo trực tuyến, báo online, báo mạng điện tử…
―Báo trực tuyến‖ là khái niệm được sử dụng đầu tiên tại Mỹ và trở thành cách gọi quốc tế Thuật ngữ ―trực tuyến‖ (online) trong các từ điển tin học được dùng để chỉ trạng thái của một máy tính khi đã kết nối với mạng máy tính và sẵn sàng hoạt động Hiện nay, thuật ngữ này đang được sử dụng rộng rãi trong lĩnh vực truyền thông nhằm chỉ các khái niệm có cùng đặc tính như: ‗xuất bản trực tuyến‖ (online publishing); ―phương tiện truyền thông trực tuyến‖ (online media); ―nhà báo trực tuyến‖ (online journalist); ―truyền hình trực tuyến‖ (online television)… Tuy nhiên, cách gọi này gắn với tin
học nhiều hơn và chưa được Việt hóa
Báo Internet cũng là khái niệm được dùng khá rộng rãi Thuật ngữ này được sử dụng trong 1 số đề tài khoa học, hội thảo khoa học về vai trò của công nghệ thông tin đối với loại hình báo chí mới Cách gọi này là sự kết hợp tên gọi của Internet với 1 tờ báo ở chỗ: Internet cung cấp không gian đầy đủ
Trang 23tiện nghi cho một tờ báo hoạt động Tờ báo lấy Internet làm phương tiện truyền tải, lấy các khả năng ưu việt của Internet làm lợi thế và hoạt động độc lập trên Internet Tờ báo- dưới dạng 1 địa chỉ web- và Internet là đôi bạn song
hành trên xa lộ thông tin
Năm 2011, PGS,TS Nguyễn Thị Trường Giang đã hoàn thiện thêm khái niệm báo mạng điện tử (BMĐT) và từ đó khái niệm này được dùng như một khái niệm chính thức trong công tác giảng dạy và học tập ở Học viện Báo chí và Tuyên truyền Trong luận văn này, khái niệm BMĐT sẽ được hiểu, như
sau: ―Báo mạng điện tử là một loại hình báo chí được xây dựng dưới hình
thức của một trang web và phát hành trên mạng Internet, có ưu thế trong chuyển tải thông tin một cách nhanh chóng, tức thời đa phương tiện và tính
mềm ứng dụng
Thứ hai, nó cho phép hiểu một cách chính xác về bản chất đặc trưng của loại hình báo chí này: tính đa phương tiện, tính tương tác cao, tính tức thời, phi định kỳ, khả năng truyền tải thông tin không hạn chế, với cách lưu trữ thông tin dưới dạng dữ liệu siêu văn bản, khả năng siêu liên kết các trang báo được tổ chức thành từng lớp với cơ chế ―nở‖ ra số trang không hạn chế Tên gọi này chỉ rõ người làm báo và đọc báo đều phải có trình độ kỹ
thuật nhất định
Thứ ba, đây là sự kết hợp các tên gọi có nội dung riêng biệt như: báo, mạng, điện tử Chính vì vậy, tên gọi này thỏa mãn được các yếu tố: Việt hóa,
Trang 24đặc trưng khu biệt của loại hình báo chí mới, khắc phục được sự thiếu về nghĩa, sự máy móc của từ ngoại lai Báo mạng điện tử là một loại hình báo chí mới, được tổ chức sản xuất, cập nhật thông tin qua môi trường Internet Do vậy, quy trình tác nghiệp cũng khác biệt so với các loại hình báo chí có trước
như: Phát thanh, Truyền hình, Báo in, Báo ảnh…
Trong luận văn này tác giả sử dụng khái niệm BMĐT nước ngoài để chỉ các tờ báo mạng điện tử của các quốc gia bên ngoài lãnh thổ Việt Nam, hoạt động hợp pháp, tức được cấp phép bởi một cơ quan chức năng của nước
sở tại
1.1.2 Truyền thông
Truyền thông là hiện tượng xã hội phổ biến, ra đời và phát triển cùng với sự phát triển của xã hội loài người, tác động và liên quan trực tiếp đến mọi cá thể xã hội Do đó có rất nhiều quan niệm và định nghĩa khác nhau, tùy theo góc nhìn đối với truyền thông.[8, tr.11]
Theo John R Hober (1954), truyền thông là quá trình trao đổi tư duy hoặc ý tưởng bằng lời
Theo Martin P Adelsm: Truyền thông là quá trình liên tục, qua đó chúng ta hiểu được người khác và làm cho người khác hiểu được chúng ta
Đó là một quá trình luôn thay đổi, biến chuyển và ứng phó với tình huống
Theo Gerald Miler (1966): Truyền thông quan tâm đến tình huống hành
vi, trong đó nguồn thông tin truyền nội dung đến người nhận với mục đích tác động đến hành vi của họ
Truyền thông là việc truyền tin hai chiều trong đó bên truyền tin sẽ cố gắng cung cấp thông tin và kêu gọi thay đổi hành vi còn bên nhận tin sẽ cung cấp một số phản hồi như là kết quả việc nhận tin Các phản hồi này có thể được thực hiện thông qua hội thoại hoặc hoạt động
Trang 25Theo PGS TS Tạ Ngọc Tấn: truyền thông là sự trao đổi thông điệp giữa các thành viên hay nhóm người trong xã hội nhằm đạt được sự hiểu biết lẫn nhau [33, tr7-8]
Theo PGS TS Đỗ Thị Thu Hằng, Truyền thông là quá trình liên tục trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm,… chia sẻ kĩ năng và kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều người với nhau để gia tăng hiểu biết lẫn nhau và hiểu biết về môi trường xung quanh, nhằm thay đổi nhận thức, tiến tới điều chỉnh hành vi
và thái độ phù hợp với nhu cầu phát triển cá nhân, nhóm hoặc cộng đồng xã hội nói chung, bảo đảm sự phát triển bền vững [14, tr3]
Như vậy trong luận văn này, truyền thông là quá trình liên tục trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm,… chia sẻ kĩ năng và kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều người với nhau để đạt được sự hiểu biết, tiến tới điều chỉnh hành vi và thái độ phù hợp với nhu cầu phát triển của cộng đồng xã hội
Trên cơ sở hiểu rõ về truyền thông và dựa trên quá trình phân tích các tác phẩm báo chí sẽ giúp tác giả đánh giá được hiệu quả truyền thông về vấn
đề biến đổi khí hậu trên báo mạng điện tử nước ngoài hiện nay
1.1.3 Biến đổi khí hậu
Hiện nay, BĐKH đang diễn biến ngày càng phức tạp, khó lường và là vấn đề thời sự, thu hút sự quan tâm của nhiều tổ chức, quốc gia trên thế giới
Đã có hàng trăm khái niệm khác nhau về BĐKH, sau đây là một số khái niệm tiêu biểu về BĐKH:
Điều 1.2 của Công ước khung của Liên Hợp Quốc về BĐKH có giải thích: BĐKH nghĩa là biến đổi của khí hậu được quy cho trực tiếp hoặc gián tiếp do hoạt động của con người làm thay đổi thành phần của khí quyển toàn cầu và sự thay đổi này được cộng thêm vào khả năng biến động tự nhiên của khí hậu quan sát được trong những thời kỳ có thể so sánh được [20; tr3]
Trang 26Theo định nghĩa của Ủy ban Liên Chính phủ về Biến đổi khí hậu (IPCC) trong báo cáo Lần thứ tư (AR4) năm 2007, BĐKH là sự biến đổi trạng thái của hệ thống khí hậu, có thể được nhận biết qua sự biến đổi về trung bình và sự biến động của các thuộc tính của nó, được duy trì trong một thời gian đủ dài, điển hình là hàng thập kỷ hoặc dài hơn Nói cách khác, nếu coi trạng thái cân bằng của hệ thống khí hậu là điều kiện thời tiết trung bình
và những biến động của nó trong khoảng vài thập kỷ hoặc dài hơn, thì BĐKH là sự biến đổi từ trạng thái cân bằng này sang trạng thái cân bằng khác của hệ thống khí hậu [2; tr3-4]
Theo kịch bản BĐKH, nước biển dâng cho Việt Nam do Bộ Tài nguyên
và môi trường năm 2011: BĐKH là sự thay đổi khí hậu được quy trực tiếp hay gián tiếp là do hoạt động của con người làm thay đổi thành phần của khí quyển toàn cầu và đóng góp thêm vào sự biến động khí hậu tự nhiên trong các thời gian có thể so sánh được BĐKH xác định sự khác biệt giữa các giá trị trung bình dài hạn của một tham số thống kê khí hậu trong đó, trung bình được thực hiện trong một khoảng thời gian xác định, thường là vài thập kỉ
Từ các cách tiếp cận trên có thể hiểu: BĐKH trái đất là sự thay đổi của
hệ thống khí hậu gồm khí quyển, thuỷ quyển, sinh quyển, thạch quyển hiện tại
và trong tương lai bởi các nguyên nhân tự nhiên và nhân tạo trong một giai đoạn nhất định tính bằng thập kỷ hay hàng triệu năm, có thể được nhận biết qua sự biến đổi về trung bình và sự biến động các thuộc tính của nó, giới hạn trong một vùng nhất định hay có thể xuất hiện trên toàn Địa cầu
BĐKH đang làm đảo lộn cuộc sống của nhân loại trên toàn thế giới, đảo lộn các đới khí hậu truyền thống ở các vùng, miền, kèm theo đó là những tác động không thể lường hết được
Trang 271.2 Lý thuyết truyền thông về biến đổi khí hậu
1.2.1 Các yếu tố cơ bản của quá trình truyền thông
Các yếu tố cơ bản của quá trình truyền thông gồm: Nguồn- Thông điệp- Kênh truyền thông- Người nhận- Phản hồi/ Hiệu quả- Nhiễu
Sơ đồ 1.1: Mô hình truyền thông của H Lasswell
Nguồn: là yếu tố thông tin tiềm năng và khởi xướng quá trình truyền
thông Nguồn phát là một người hay một nhóm người mang nội dung thông tin trao đổi với người hay một nhóm người khác.[8, tr.13]
Giá trị thông tin từ nguồn có ý nghĩa tích cực tiến bộ sẽ tác động đến đối tượng truyền thông theo chiều hướng tiến bộ, phù hợp với quy luật phát triển và ngược lại, nguồn có ý nghĩa quan trọng trong quá trình cơ bản
Nguồn ở đây là 3 tờ báo mạng điện tử nước ngoài Washington Post, The Guardian và China Daily với uy tín vốn có đã làm tốt nhiệm vụ thông tin, truyền thông 2 chiều giữa tòa soạn và độc giả về mọi lĩnh vực trong đời sống
xã hội, bao gồm cả BĐKH
Thông điệp: là nội dung thông tin được trao đổi từ nguồn phát đến đối
tượng tiếp nhận Thông điệp chính là những tâm tư tình cảm, mong muốn, đòi hỏi, ý kiến, hiểu biết, kinh nghiệm sống, tri thức, khoa học kỹ thuật… được
mã hóa theo hệ thống kí hiệu nào đó.[8, tr.13]
Hệ thống này được bên phát và bên nhận cùng chấp nhận và có cùng cách hiểu- tức là khả năng giải mã Tiếng nói, chữ viết, hệ thống biển báo, hình ảnh, cử chỉ biểu đạt của con người được sử dụng để chuyển tải thông điệp
Trang 28Tính đặc thù của thông điệp báo chí được cấu thành từ các sự kiện và vấn đề thời sự đã và đang diễn ra Thông điệp báo chí gắn liền với đặc điểm
và yêu cầu của kênh chuyển tải
Thông điệp ở đây được thể hiện thông qua 6 nhóm nội dung về BĐKH – một vấn đề thời sự nóng bỏng được thông tin ngày càng nhiều trên các phương tiện thông tin đại chúng nói chung và báo mạng điện tử nói riêng
Kênh truyền thông: là phương tiện, con đường, cách thức chuyển tải
thông điệp từ nguồn phát đến đối tượng tiếp nhận Căn cứ vào tính chất, đặc điểm cụ thể để phân chia truyền thông thành các loại hình khác nhau: truyền thông cá nhân, truyền thông nhóm, truyền thông đại chúng, truyền thông trực tiếp, truyền thông đa phương tiện[8, tr.13]
Trong đó, kênh truyền thông có vai trò đặc biệt quan trọng đối với năng lực và hiệu quả truyền thông như BMĐT ngoài ngôn ngữ, hình ảnh động và tĩnh, lời nói, tiếng động… còn có các công cụ phi ngôn ngữ khác
Các quốc gia Mỹ, Trung Quốc và Anh đều là các quốc gia đang dành nhiều sự chú ý tới BĐKH nên các tờ BMĐT của các quốc gia này, với 3 đại diện là Washington Post, The Guardian và China Daily đã có sự quan tâm tới truyền thông về vấn đề BĐKH không chỉ bằng các nội dung thông tin, số liệu ngắn gọn mà còn có nhiều câu chuyện sinh động, hấp dẫn về BĐKH – vấn đề liên quan tới tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội
Người nhận: là cá nhân hay nhóm người tiếp nhận thông điệp trong quá
trình truyền thông Hiệu quả của truyền thông được xem xét trên cơ sở những biến đổi về nhận thức, thái độ và hành vi của đối tượng tiếp nhận cùng những hiệu ứng xã hội do truyền thông đem lại [8, tr.14]
Trong quá trình truyền thông, nguồn phát và đối tượng tiếp nhận có thể đổi chỗ cho nhau, tương tác và đan xen vào nhau Người nhận hay công chúng truyền thông có vai trò đặc biệt quan trọng: không chỉ là
Trang 29nhóm đối tượng tác động, thuyết phục và lôi kéo chủ thể truyền thông mà còn là đối tượng tương tác cách thức, chủ thể tham gia sáng tạo của quá trình truyền thông
Nghiên cứu công chúng của BMĐT là để biết nhu cầu truyền thông của công chúng về vấn đề BĐKH: trong xu hướng của báo chí hiện đại, ảnh hưởng của BĐKH tới các đối tượng khác nhau là khác nhau với những mối quan tâm riêng biệt Việc truyền thông đúng, trúng về BĐKH tới từng đối tượng chuyên biệt là vô cùng quan trọng để nâng cao hiệu quả của quá trình truyền thông, thông tin về BĐKH tới toàn bộ độc giả nói chung
Phản hồi/ Hiệu quả:là thông tin ngược, là dòng chảy của thông điệp từ
người nhận trở về nguồn phát Mạch phản hồi là thước đo hiệu quả của hoạt động truyền thông
Theo kết quả điều tra xã hội học bằng bảng hỏi có kết quả 13.8% độc giả thường xuyên tìm đọc nội dung thông tin về môi trường, BĐKH trên 3 tờ báo mạng Washington Post, The Guardian và China Daily chiếm 13%, số độc giả thỉnh thoảng tìm đọc chiếm 33%, số độc giả hiếm khi đọc chiếm 30% trong khi 22.3% độc giả có tin, bài xuất hiện thì đọc
Với kết quả này cho thấy thông tin về vấn đề BĐKH trên 3 tờ BMĐT nước ngoài trên đã phần nào đáp ứng được nhu cầu của công chúng, qua các tác phẩm báo chí, độc giả đã nắm bắt đươc thông tin về vấn đề BĐKH
Nhiễu: là yếu tố gây ra sự sai lệch không được dự tính trước trong quá
trình truyền thông (tiếng ồn, tin đồn, các yếu tố tâm lí, kĩ thuật…) dẫn đến tình trạng thông điệp, thông tin sai sự thật.[8, tr.14]
Quá trình truyền thông còn tính đến hai yếu tố: hiệu lực và hiệu quả truyền thông Hiệu lực có thể hiểu là khả năng gây ra và thu hút sự chú ý cho công chúng – nhóm đối tượng truyền thông Hiệu quả là những hiệu ứng xã hội về nhận thức, thái độ và hành vi của công chúng – nhóm đối tượng truyền
Trang 30thông tạo ra, phù hợp với mong đợi của nhà truyền thông Hiệu lực và hiệu quả có mối quan hệ biện chứng chặt chẽ với nhau
Hiện nay, với sự phủ sóng rộng rãi của mạng Internet, độc giả trên toàn thế giới có thể dễ dàng tiếp cận 3 tờ báo mạng điện tử Washington Post, The Guardian và China Daily Tuy nhiên, một số yếu tố nhiễu có thể ảnh hưởng đến quá trình thông tin về BĐKH tới các độc giả như: chất lượng, tín, hiệu, tốc độ của mạng Internet, rào cản về ngôn ngữ tới tất cả các độc giả trên toàn thế giới, vị trí các tin, bài về BĐKH xuất hiện trên giao diện trang chủ của 3
tờ báo hay do BĐKH là một vấn đề có liên quan đến nhiều thuật ngữ khoa học nên khó hiểu đối với một số công chúng
Các yếu tố của quá trình truyền thông kết hợp với nhau theo những cách thức khác nhau sẽ có thể hình thành các quan niệm, mô hình và lí thuyết truyền thông khác nhau
1.2.2 Phân loại truyền thông
Trong cuốn sách Truyền thông – lý thuyết và kĩ năng cơ bản của PGS
TS Nguyễn Văn Dững phân loại truyền thông có chủ đích: thông tin- giáo dục- truyền thông; truyền thông vận động và truyền thông thay đổi hành vi; truyền thông – vận động xã hội; truyền thông phát triển;…[8, tr 19-20]
Truyền thông có chủ đích bao gồm nhiều loại hình khác nhau, được thực hiện ở cả truyền thông trực tiếp và truyền thông gián tiếp, truyền thông
cá nhân, truyền thông nhóm và truyền thông đại chúng Trong các chiến dịch/ hoạt động truyền thông có tính chuyên nghiệp, các loại hình có tính phổ biến là: thông tin – giáo dục – truyền thông; truyền thông thay đổi hành vi và truyền thông vận động xã hội [8, tr.20]
Thông tin – giáo dục – truyền thông: truyền thông có chủ đích sử dụng
phối hợp 3 dạng truyền thông ứng với 3 mục đích: thông tin (cung cấp những thông tin cơ bản gồm: kiến thức nền, kiến thức cơ bản, kiến thức chuyên biệt
Trang 31và kĩ năng cần thiết, những thông tin cập nhật… về vấn đề cần truyền thông) [8, tr20]; giáo dục (không chỉ hướng vào các đối tượng đang cần những thông tin này mà cả những người cần đến trong tương lai nhằm tạo nên sự thông hiểu, chia sẻ); truyền thông (chia sẻ, trao đổi thông tin, kiến thức nhằm nhân lên những kiến thức – kỹ năng – kinh nghiệm nhằm thúc đẩy những thay đổi trong nhận thức, thái độ và hành vi)
Do muốn thay đổi trong nhận thức, thái độ và hành vi thì cần cung cấp những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm trong quá trình thông tin giao tiếp cho nên vấn đề tạo lập môi trường thông tin – giao tiếp phong phú, đa dạng, nhiều chiều có ý nghĩa quan trọng
Truyền thông về vấn đề BĐKH theo hệ thống đầy đủ, bằng nhiều kênh nhằm cung cấp lượng thông tin đa dạng, phong phú, đầy đủ để mọi người được thông tin và hiểu rõ thông điệp – vấn đề BĐKH để nhận thức đúng và hành động đúng
Truyền thông vận động: là sự hỗ trợ tích cực 1 vấn đề, 1 sự nghiệp và
cố gắng làm cho người khác cùng ủng hộ vấn đề, sự nghiệp đó Đó cũng là hoạt động truyền thông mà những người trong giới truyền thông lên tiếng làm cho mọi người chú ý một vấn đề quan trọng và hướng tới những người có quyền ra quyết định vào một giải pháp hợp lí Vì vậy người ta có thể gọi truyền thông có chủ đích với tên khác là vận động gây ảnh hưởng Trong loại hình này, tính chất thuyết phục có thể hiểu rõ nhất và thường sử dụng hình thức chiến dịch truyền thông nhiều hơn [8, tr.20-21]
Truyền thông- vận động xã hội: cũng nhằm tham gia giải quyết các vấn
đề lớn liên quan đén chiến dịch truyền thông Thông thường tập trung vào 3 hướng chính:
Hướng thứ nhất: nhằm tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho chiến dịch truyền thông; tập trung chủ yếu vào việc ban hành các văn bản quy phạm
Trang 32pháp luật Nhóm đối tượng cần truyền thông – vận động xã hội theo hướng này chủ yếu tập trung vào các nhà hoạt động chính sách
Các tờ BMĐT Washington Post, The Guardian và China Daily đã thông tin rộng rãi các chính sách, chiến lược, đạo luật… của chính phủ các nước và toàn thế giới để đi đến hoàn thiện về cơ chế, chính sách và đưa các nội dung này đi vào thực tiễn cuộc sống
Hướng thứ hai, cần tạo sự ủng hộ của cơ quan hành pháp, các cơ quan trong thể chế chính trị đối với chiến dịch truyền thông, nhất là trong việc triển khai, nhân rộng cái mới NHóm đối tượng chủ yếu của chiến dịch truyền thông – vận động xã hội theo hướng này là các cơ quan, đội ngũ cán bộ chủ chốt trong bộ máy hành pháp, trong thể chế hành chính cũng như các tổ chức trong hệ thống chính trị
3 tờ BMĐT Washington Post, The Guardian và China Daily phải thông tin để thấy được tầm quan trọng của việc chủ động phòng, chống và ứng phó với BĐKH để huy động được tối đa nguồn lực xã hội Điều này đặc biệt quan trọng khi Mỹ và Anh là các quốc gia đa đảng nên sự thống nhất quan điểm, lập trường về BĐKH còn đôi nét khác biệt còn Trung Quốc – quốc gia vẫn đang lưỡng lự giữa lập trường là một nước đang phát triển – yêu cầu các quốc gia phát triển (như Mỹ và phương Tây) có đóng góp nhiều hơn nữa và là quốc gia xả khí phát thải lớn nhất thế giới – cần có trách nhiệm lớn nhất
Hướng thứ 3 là tạo sự ủng hộ rộng rãi của dư luận xã hội đối với chiến dịch truyền thông Điều quan trọng là 3 tờ BMĐT thông tin để người dân hiểu được họ đang sống tại các vùng chịu ảnh hưởng của BĐKH để từ đó quan tâm hơn và nâng cao nhận thức đối với hành xử với môi trường của mình
Truyền thông thay đổi hành vi: lấy việc thay đổi hành vi làm mục đích
trực tiếp, có kế hoạch tác động vào tình cảm, lý trí của các nhóm đối tượng, từ
đó nâng cao nhận thức, kỹ năng, hình thành thái độ tích cực làm cho đối
Trang 33tượng chấp nhận và duy trì hành vi mới có lợi cho các vấn đề truyền thông trong việc tham gia giải quyết các vấn đề xã hội [8, tr.22-23]
Truyền thông thay đổi hành vi lấy mục tiêu thay đổi hành vi và duy trì hành vi bền vững làm tiêu chí đánh giá chủ yếu những nỗ lực và mức độ thành công của hoạt động truyền thông, Kết quả của truyền thông thay đổi hành vi là các nhóm đối tượng đều có sự thay đổi về hành vi bền vững phù hợp với hành vi mong muốn thay đổi của nhà truyền thông
1.2.3 Các mô hình truyền thông
Truyền thông là một hiện tượng xã hội phức tạp, gồm hàng loạt thành
tố trong sự tác động qua lại lẫn nhau.Theo Tiến sỹ Lưu Hồng Minh, có nhiều
mô hình truyền thông khác nhau theo chiều tác động của người phát đến người nhận
Mô hình truyền thông một chiều: thông tin được truyền 1 chiều từ
nguồn phát đến người nhận Nguồn phát giữ vai trò quyết định, công chúng chỉ là người tiếp nhận thông tin một cách thụ động, không hoặc có rất ít sự đóng góp tích cực hay lựa chọn các thông điệp mình muốn [25, tr.34]
Vấn đề BĐKH nếu được thông tin theo mô hình này sẽ không hiệu quả
và không phù hợp với nhu cầu hiện nay vì BĐKH liên quan đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, với nhiều cơ chế chính sách Nếu các tờ BMĐT trên thông tin quá nhiều, chỉ tập trung vào BĐKH sẽ khiến độc giả bội thực, không muốn theo dõi thì truyền thông không hiệu quả
Mô hình truyền thông hai chiều: chú ý đến vai trò của công chúng: lựa
chọn thông tin tiếp nhận, bày tỏ lòng mong muốn, yêu cầu đối với thông tin tiếp nhận, thậm chí còn tham gia trực tiếp trong quá trình truyền thông [25, tr.35]
Theo mô hình này, BĐKH sẽ được thông tin đúng và đầy đủ thông qua nhiều thể loại tin, bài nhiều thời điểm khác nhau để nội dung thông tin đến
Trang 34được với số đông khán giả Những thông tin có nội dung phù hợp với tưng nhóm đối tượng và đáp ứng được nhu cầu công chúng thì truyền thông mới hiệu quả
Mô hình truyền thông ba chiều: xây thêm 1 chiều thu thập thông tin về
nhu cầu công chúng trước khi xây dựng nôi dung và phương pháp trao đổi các sản phẩm truyền thông với công chúng [25.tr.36]
Áp dụng mô hình này, các tờ BMĐT nghiên cứu nhu cầu công chúng cần thông tin gì về BĐKH trước khi truyền thông để đưa các nội dung thông tin phù hợp về BĐKH đến từng nhóm đối tượng vào từng thời điểm bằng kênh truyền thông họ tiếp cận
1.3 Vai trò của báo chí nói chung và báo mạng điện tử nói riêng trong thông tin về vấn đề biến đổi khí hậu
Với những chức năng đặc trưng là thông tin – giao tiếp; định hướng, giám sát và phản biện dư luận xã hội, báo chí đã và đang tiếp tục khẳng định
vị thế quan trọng trong đời sống xã hội hiện đại
Theo PGS.TS Nguyễn Văn Dững, Học viện Báo chí và Tuyên truyền
tiếp cận từ quan điểm hệ thống: “Báo chí là hoạt động thông tin – giao tiếp
xã hội trên qui mô rộng lớn nhất, là công cụ và phương thức kết nối xã hội hữu hiệu nhất, là công cụ và phương thức can thiệp xã hội hiệu quả nhất trong mối quan hệ với công chúng và dư luận xã hội, với nhân dân và với các nhóm lợi ích, với các nước trong khu vực và quốc tế…” [7; tr.61]
Chức năng thông tin – giao tiếp của báo chí và BMĐT bắt nguồn từ nhu cầu thông tin và giao tiếp của con người và xã hội Con người luôn muốn biết những gì đã và đang xảy ra xung quanh mình, từ gần gũi đến xa xôi, từ nông đến sâu Con người càng văn minh, xã hội càng phát triển thì nhu cầu thông tin giao tiếp càng cao Mặt khác, khả năng đáp ứng nhu cầu thông tin giao tiếp của con người và xã hội là một trong những chỉ báo cơ bản nhất đánh giá trình
Trang 35độ phát triển Trong quá trình đáp ứng nhu cầu này, báo chí truyền thông góp phần tích cực vào sự phát triển kinh tế- xã hội
Thông tin là chức năng khởi nguồn, cơ bản nhất của báo chí Báo chí ra đời và phát triển trước hết là nhằm thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao về thông tin của con người và xã hội Trong tiến trình phát triển của xã hội, báo chí đáp ứng nhu cầu thông tin – giao tiếp của công chúng theo các phương thức, năng lực và điều kiện khác nhau Trên thực tế, nhu cầu thông tin – giao tiếp của công chúng được báo chí đáp ứng bằng một số phương thức cơ bản
Thứ nhất, thông tin sự kiện và vấn đề thời sự Hàng ngày, hàng giờ, các
sự kiện trên mọi lĩnh vực của đời sống diễn ra như dòng thác, công chúng muốn biết nhưng chưa biết hoặc thậm chí bị loạn, nhiễu thông tin và cần báo chí thông tin để đáp ứng nhu cầu nhận thức và ứng xử phù hợp Thông tin sự kiện thời sự là tiêu chí đầu tiên quan trọng nhất đánh giá chất lượng sản phẩm báo chí
Thứ hai là giải thích và giải đáp về những sự kiện và vấn đề thời sự đã
và đang diễn ra Trước những sự kiện và vấn đề kinh tế - xã hội thường có nhiều ý kiến khác nhau, hoặc chứa đựng những vấn đề ẩn chứa đằng sau đó
mà công chúng muốn được nhận thức đầy đủ, sâu sắc hơn Do đó, báo chí cần phải thông tin, giải thích và giải đáp để từ đó tạo nên sự đồng thuận xã hội
Thứ ba, bình luận là cách thức chủ yếu và tập trung nhất cơ quan báo
chí bày tỏ quan điểm, thái độ về những sự kiện và vấn đề thời sự, thông qua
đó góp phần hướng dẫn, định hướng dư luận xã hội và đấu tranh chống các quan điểm sai trái, đối lập Thông tin và bình luận là phương thức chủ yếu nhất mà báo chí thực hiện chức năng xã hội của mình
Bên cạnh chức năng thông tin, chức năng định hướng, giám sát và phản biện xã hội góp phần thể hiện vai trò quan trọng của báo chí trong việc tham gia quản lý xã hội
Trang 36Định hướng là hoạt động có ý thức của con người trong nhận thức, thái
độ và hành vi; và muốn nhận thức, thái độ và hành vi của mình đạt được hiệu quả, nguồn lực trí tuệ và cảm xúc của mỗi con người và cộng đồng cần sự định hướng tập trung - tập trung nỗ lực nhận thức và nguồn lực vào việc nhận thức hoặc thực hiện một việc, hoạt động hay vấn đề nào đó Trên phạm vi cộng đồng và xã hội, muốn tập trung nguồn sức mạnh - cả về nguồn lực tinh thần và vật chất, vào việc giải quyết vấn đề gì đó, cần phải có định hướng huy động, tổ chức nguồn lực - cả về tinh thần và vật chất, thì mới đạt được hiệu quả cao
Trong đời sống xã hội, bản chất của hoạt động lãnh đạo, quản lý, thực chất là quá trình khơi dậy nguồn lực sáng tạo của cộng đồng, huy động và tổ chức nguồn lực sức mạnh tinh thần và vật chất của toàn xã hội vào việc xây dựng và phát triển đất nước Do đó, quản lý xã hội tốt là giải phóng và huy động năng lượng xã hội vào mục đích phát triển, chứ không phải hạn chế hay bóp nghẹt nguồn lực hoặc tạo rào cản để mưu lợi cá nhân và nhóm Bởi thế, vấn đề định hướng nhận thức, thái độ và hành vi của cộng đồng xã hội - biểu hiện về mặt xã hội, về bản chất là định hướng dư luận xã hội, tức là định hướng nhận thức, thái độ và hành vi của công chúng và nhân dân nhằm tập trung giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội lớn ðang ðặt ra Ðó là nhu cầu khách quan từ cả hai phía - phía thứ nhất, từ công tác lãnh đạo, quản lý và phía thứ hai, từ nhu cầu của công chúng, cộng đồng và nhân dân nói chung
Giám sát có thể được hiểu là theo dõi, kiểm tra xem có thực hiện đúng những quy định không‖ Điều này có nghĩa là giám sát bao gồm quá trình theo dõi và kiểm tra và phải được tiến hành bởi lực lượng độc lập, khác với chủ thể đang tiến hành hoạt động được giám sát, giám sát có chuyên môn, hiểu biết … mới bảo đảm tính khách quan và hiệu quả
Trang 37Phản biện xã hội có thể hiểu là sự tham gia rộng rãi của xã hội – các tầng lớp xã hội, nhân dân trong việc góp ý kiến cho các chủ trương, quyết sách, hoạt động của chính phủ
Thực hiện chức năng giám sát, phản biện xã hội là báo chí góp phần tập hợp nguồn lực trí tuệ và cảm xúc của toàn dân góp ý cho các quyết sách của nhà nước trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước
Cho tới nay, trong suốt quá trình phát triển, với sự ra đời của ngày càng nhiều loại hình, từ báo in, báo nói, báo hình cho tới báo mạng điện tử, báo chí càng có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống hằng ngày của mỗi quốc gia, dân tộc Hiện nay, báo chí trong đó có BMĐT là phương tiện truyền thông hữu hiệu, có sức mạnh to lớn trong việc lan tỏa thông tin, tạo lập dư luận xã hội, tác động và nhận thức và hành vi của con người
Sự phát triển cả về chiều rộng và chiều sâu của báo chí và truyền thông trên phạm vi toàn cầu trong những năm gần đây đã tạo ra cơ hội, thuận lợi to lớn cho con người trong việc tiếp cận, cập nhật một khối lượng thông tin khổng lồ về mọi mặt đời sống xã hội, trong đó có những thông tin về BĐKH
Trong bối cảnh BĐKH đang trở thành một vấn đề toàn cầu, với những nội dung quan trọng trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, thậm chí cả trong quan
hệ chính trị, kinh tế quốc tế thì truyền thông nói chung và báo chí nói riêng càng cần tập trung vào BĐKH, qua đó nâng cao nhận thức của toàn thể xã hội
về mối đe dọa thực sự từ BĐKH cũng như gia tăng ý thức bảo vệ môi trường
Đối với hoạt động thông tin về BĐKH, báo chí nói chung, BMĐT nói riêng có vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng lực quản lý nhà nước về BĐKH; nâng cao năng lực hợp tác quốc tế về BĐKH; nâng cao nhận thức và hình thành ý thức chủ động ứng phó với BĐKH, sử dụng tiết kiệm tài nguyên
và bảo vệ môi trường trong cộng đồng Bên cạnh đó, báo chí còn là công cụ quản lý giám sát, răn đe của nhà nước trong việc phát hiện các hành vi vi
Trang 38phạm luật về tài nguyên và môi trường Hơn nữa, hoạt động thông tin về BĐKH trên báo chí nói chung và BMĐT nói riêng có rất nhiều ý nghĩa
Thứ nhất, hoạt động thông tin về BĐKH trên BMĐT nhằm thu hút mọi
người tham gia vào quá trình chia sẻ thông tin, tạo ra sự hiểu biết chung, nhận thức chung về những vấn đề BĐKH để từ đó cùng chia sẻ trách nhiệm và thống nhất hành động theo một hướng chung trong việc giải quyết những vấn
đề đặt ra của BĐKH
Thứ hai, thông tin về BĐKH trên BMĐT sẽ giúp cho cộng đồng thấy rõ
thực trạng và những hậu quả tác động tiêu cực của BĐKH toàn cầu; những nguy cơ, hiểm hoạ tiềm tàng do BĐKH gây ra trong tương lai; nguyên nhân của BĐKH hiện nay và những giải pháp mà loài người phải thực hiện để hạn chế, giảm nhẹ và thích ứng với BĐKH, thông qua việc cung cấp cho họ những minh chứng khoa học và thực tiễn sinh động về hiện tượng BĐKH và hậu quả tác động của chúng
Thứ ba, thông qua quá trình thông tin trên BMĐT, có thể thu hút, huy
động đông đảo lực lượng xã hội tham gia vào quá trình tuyên truyền Qua đó, nâng cao nhận thức, kiến thức khoa học, thay đổi thái độ và hành vi của họ theo hướng ứng phó thích hợp và có hiệu quả với sự BĐKH trong mọi hoạt động sản xuất, phát triển kinh tế xã hội và đời sống
Theo xu hướng truyền thông hiện nay, BMĐT đang ―lên ngôi‖ vì là một trong số những kênh truyền thông đạt hiệu quả cao: thông tin nhanh, rộng khắp, thiết thực trong việc giáo dục nâng cao nhận thức của người dân và khả năng thu hút sự chú ý cũng như tính tương tác cao với độc giả
Với các thế mạnh không một loại hình báo chí, một kênh truyền thông nào có thể có được cộng với vai trò đặc biệt quan trọng trong xã hội hiện đại
và một khối lượng công chúng vô cùng lớn chúng ta có thể hoàn toàn khẳng định được vai trò đặc biệt quan trọng của hoạt động thông tin về BĐKH trên
Trang 39BMĐT BMĐT sẽ là một kênh truyền thông hiệu quả và thiết thực nhất khi thông tin về BĐKH nếu như biết phát huy hết được các tiềm năng thế mạnh của nó
1.4 Yêu cầu thông tin về vấn đề biến đổi khí hậu trên báo mạng điện tử
BĐKH đã đang và sẽ là thách thức toàn cầu đòi hỏi con người phải đối mặt Tiến trình phát triển của xã hội chiếm tới 90% nguyên nhân gây ra BĐKH Hiện tại, trái đất đang từng ngày từng giờ nóng lên với tốc độ rất nhanh, với chiều hướng có thể còn nhanh hơn nữa Tháng 1/2016 được đánh giá là nóng nhất trong 137 năm qua, theo số liệu công bố ngày 17/2 của Cơ quan Khí quyển và Đại dương quốc gia Australia Tuy nhiên, hiện tượng TĐNL chỉ là một biểu hiện của BĐKH BĐKH còn thể hiện ở nhiều hiện tượng thời tiết khắc nghiệt khác như: băng tan, mực nước biển dâng, nắng nóng, hạn hán, bão lũ, dịch bệnh, giảm đa dạng sinh học, hủy diệt hệ sinh thái…
Do đó, với những ưu thế vượt trội của mình về khả năng đa phương tiện, tính tức thời và phi định kỳ, tính tương tác, BMĐT đang thực sự trở thành nhu cầu không thể thiếu trong việc nâng cao nhận thức cũng như cảnh báo hậu quả từ BĐKH cho công chúng Tuy nhiên, trong thời đại bùng nổ thông tin và toàn cầu hóa như hiện nay cũng đặt ra những yêu cầu cơ bản đối với hoạt động thông tin về BĐKH trên BMĐT sao cho hiệu quả truyền thông được tốt nhất
Thứ nhất, BMĐT phải thông tin phản ánh đúng thực trạng diễn biến BĐKH tại các quốc gia và trên toàn cầu hiện nay, đảm bảo tính chân thực khách quan
Tránh thông tin không chính xác, sai lệch đặc biệt là những thông tin
dự báo cảnh báo khí tượng thủy văn vì có thể gây thiệt hại trực tiếp về người
và tài sản của người dân Tránh thông tin không trọn vẹn, sát thực tiễn diễn
Trang 40biến BĐKH Do bối cảnh báo chí tại Mỹ, Anh và Trung Quốc, vấn đề BĐKH gắn liền với sự phát triển kinh tế, chính trị trong khi các nhà báo, cơ quan báo chí có thể đại diện cho tiếng nói của các chính đảng khác nhau nên việc thông tin về BĐKH có thể trở thành một nội dung quan trọng trong cương lĩnh tranh
cử của các ứng viên và đảng phái
Thứ hai, thông tin về vấn đề BĐKH trên BMĐT phải cập nhật nhanh, kịp thời đảm bảo tính thời sự
Đối với việc thông tin, tuyên truyền về BĐKH, yếu tố thời sự, cập nhật
có ý nghĩa quan trọng bởi thiên tai, hạn hán, lũ lụt…đặc biệt là diễn biến của các hiện tượng về thời tiết người dân cần được biết ngay lập tức càng nhanh càng tốt Có thông tin nhanh, kịp thời thì người dân mới tránh, hoặc giảm thiểu được những hậu quả, thiệt hại do BĐKH gây ra Tính thời sự và cập nhật chính là điều kiện cần thiết để công chúng nắm bắt thông tin kịp thời và
có ứng xử phù hợp
Thứ ba, thông tin về vấn đề BĐKH trên BMĐT càng thiết thực, dễ hiểu, ngắn gọn, xúc tích bao nhiêu nó càng thu hút được sự quan tâm, chú ý của độc giả bấy nhiêu
Nhất là những thông tin gắn với các địa phương cụ thể, thông tin về những hiện tượng thời tiết cực đoan, hạn hán, thiên tai, bão lũ Có những thông tin thu hút được sự quan tâm của đối tượng nhờ tính nhạy cảm của nó,
ví dụ: việc phát triển các dự án kinh tế bất chấp các hậu quả về môi trường; cũng có những thông tin mới lạ gây bất ngờ cho đối tượng như: nhiều người không hình dung được việc mình vứt một mẩu giấy ra đường hoặc sinh thêm một đứa con lại là nguyên nhân dẫn đến BĐKH Bởi trên thế giới có hơn 7 tỷ người nếu mỗi người vứt một mẩu giấy sẽ tạo ra một bãi rác khổng lồ và nếu mỗi phụ nữ bước vào tuổi sinh đẻ có thêm một đứa con không chỉ làm bùng
nổ dân số mà còn kéo theo một lượng khí CO2 lớn thải vào môi trường