Nhiều người trong số họ đã được các cấp, các ngành trong tỉnh, nhất là tổ chức Công đoản quan tâm, chăm lo cuộc sống, bảo vệ các lợi ích hợp pháp, chính đáng trong việc: Ký kết hợp đồng
Trang 1v2
ĐỒ THỊ HÁI VẾN
BAO CHÍ ĐỒNG NAI BẢO VỆ LỢI ÍCH NGƯỜI LAO BONG
TRONG CÁC KHU CÔNG NGHIỆP (Khóa sút Báo thẳng Nai, Báo Lao đậng Đông Nai, Đài PT - TH Đẳng Nai
từ thắng ĐÃ năm 2005 đến thông 0 năm 2007)
Trang 2“BO GIAO DUC VA DAO TẠO HOC VIEN CHINH TRI - HANH CHINH QUOC GIA
HO CH{ MINH HOC VIEN BAO CHi VA TUYEN TRUYEN
DO THI HAL YEN
BAO CHI DONG NAI BAO VE LOI {CH NGƯỜI LAO ĐỘNG
TRONG CÁC KHU CÔNG NGHIỆP
(Khảo sát Báo Đồng Nai, Báo Lao động Đồng Nai, Đài PT - TH Đông Nai
Trang 3TRANG PHỤ BÌA
DANH MUC CAC CHU CAI VIET TAT
MO DAU
Chương l: LỢI ÍCH CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG VÀ MỘT SỐ
NHIỆM VỤ ĐẶT RA ĐÓI VỚI BÁO CHÍ ĐÔNG NAI
1.1 Tình hình các khu công nghiệp ở Đồng Nai
1.2 Một số khái niệm
1.3 Các văn bản- chính sách của T.W và địa phương liên
quan đến lợi ích người lao động
1.4 Vai trò của báo chí trong công cuộc đấu tranh bảo vệ
lợi ích người lao động
1.5 Chức năng, nhiệm vụ của hệ thống báo chí Đông Nai
Chương 2: THỰC TRẠNG TUYÊN TRUYÈN ĐẦU TRANH BẢO
| VỆ LỢI ÍCH NGƯỜI LAO ĐỘNG CỦA BÁO CHÍ
Chương 3: GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC NHUNG HAN CHE
TRONG VIỆC TUYỂN TRUYEN DAU TRANH BẢO
VỆ LỢI ÍCH NGƯỜI LAO ĐỘNG
3.1 Nâng cao nhận thức và tăng cường sự chỉ đạo đối với
công tác tuyên truyền bảo vệ lợi ích người lao động
Trang 4BHYT : Bảo hiểm y tế
FDI : Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
LDLD : — — Liên đoàn Lao động -
Trang 5I.TINH CAP THIET CUA DE TAI
Trong những năm qua, sự nghiệp đổi mới do Đảng ta khởi xướng và
lãnh đạo đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử quan trọng
Đó là kết quả của một quá trình tìm tòi, trải nghiệm và liên tục đổi mới phát triển tư duy của Đảng trên mọi lĩnh vực, trong đó có chiến lược phát triển kinh tế, mà đỉnh cao là các chính sách thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài, việc hình thành phát triển các khu công nghiệp (KCN)
Trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại, Đồng Nai luôn được Trung wrong đánh giá là địa phương đạt kết quả cao trong hoạt động thu hút các dự án và nguồn vốn đầu tư nước ngoài, chỉ đứng sau thành phố Hồ Chí Minh và thủ
đô Hà Nội Nếu năm 1991, Đồng Nai có 11 dự án đầu tư nước ngoài với số vốn trên 500 triệu USD, thì đến hết quí 1/2007 Đồng Nai đã có 866 dự án, với tổng số vốn đầu tư 9 tỉ 962 triệu USD Toàn tỉnh hiện đã hình thành
được 32 KCN với tổng diện tích đất trên 8000 ha, trong đó có 23 KCN đã
được Thủ tướng chính phủ phê duyệt và hoạt động ổn định
| Trên địa bàn tỉnh Đồng Nai hiện có 32 quốc gia và vùng lãnh thổ đã
đầu tư vào các KCN Hoạt động của các KCN đã tạo ra hiệu quả sản xuất
kinh doanh to lớn trong việc bổ sung nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, đóng góp gần 40% tống thu ngân sách, tham gia tích cực vào nhiều hoạt động xã hội và phát triển kinh tế ở địa phương Khi xây dựng qui hoạch phát triển các KCN, thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài vào Đồng Nai, Đảng bộ và chính quyền tỉnh luôn coi trọng công tác xây dựng và phát triển các tổ chức công đoàn
cơ sở, nhằm tập hợp lực lượng đông đảo công nhân lao động vào tổ chức công đoàn để giáo dục rèn luyện, nâng cao ý thức giai cấp, đồng thời bảo
vệ quyền lợi hợp pháp chính đáng cho người lao động Đây chính là niiệm
vụ quan trọng góp phần xây dựng mối quan hệ lao động tốt đẹp giữa :;;:3¡
Trang 6lao động với người sử dụng lao động trong các doanh nghiệp, đồng thời cũng đảm bảo các điều kiện cho các doanh nghiệp sản xuất kinh đoanh ổn
định, hiệu quả
Thống kê của Liên đoàn lao động (LĐLĐ) tỉnh Đồng Nai cuối năm
2006 cho thấy, toàn tỉnh có trên 430.000 lao động, trong đó có trên 360.000 người là lao động ở đơn vị 100% vốn nước ngoàải, đơn vị liên
doanh, đơn vị ngoài quốc doanh và các đơn vị thuộc doanh nghiệp nhà
nước năm trong các KCN Phần lớn số lao động làm việc trong các KCN là người ngoại tỉnh, tập trung đông nhất ở các tỉnh miền Trung và miền Bắc Nhiều người trong số họ đã được các cấp, các ngành trong tỉnh, nhất là tổ
chức Công đoản quan tâm, chăm lo cuộc sống, bảo vệ các lợi ích hợp
pháp, chính đáng trong việc: Ký kết hợp đồng lao động với người sử dụng
lao động: Vấn đề tiền lương-thu nhập; Việc thực hiện các chính sách Bảo
hiểm xã hội-bảo hiểm Yté (BHXH-BHYT); Trong việc bảo hộ lao động
(điều kiện môi trường làm việc, sức khoẻ, an toàn vệ sinh lao dong); Nâng cao trình độ học van-day nghề; Chăm lo về nhà ở -nhà trọ, xe đưa rước,
bữa ăn giữa ca; Nâng cao đời sống văn hoá tỉnh thần và một số lợi ích khác Tuy nhiên, những vấn đề cần quan tâm trên có lúc- có nơi còn chưa được quan tâm thấu đáo, dẫn đến hàng loạt các vụ đình công-lãn công, tranh chấp lao động tập thể trong các doanh nghiệp, nhất là ở các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, gây ra tình trạng mất an ninh trật tự xã
hội trên địa bàn
Thực tế ở Đồng Nai cho thấy, tình hình phát triển các KCN và tốc độ đầu tư nước ngoài ở địa phương đang phát triển rất nhanh, đã đưa số lượng lao động nhập cư và sự chuyển dịch lao động từ nhiều nơi đến các KCN trên địa bàn Tỉnh ngày càng đông Đây chính là điều kiện thuận lợi để các KCN có nguồn nhân lực dồi dào, hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định,
và cũng là yếu tố căn bản để các tổ chức công đoàn cơ sở trong các khu công nghiệp hình thành, từ đó góp phần phát triển lực lượng công nhân
Trang 7của tỉnh phát triển Tuy nhiên, bên cạnh những điều kiện thuận lợi ay con
có những khó khăn thách thức mà tỉnh Đồng Nai và các tổ chức Công đoàn
trong tỉnh luôn phải đối mặt Đó là việc giải quyết các nhu cầu bức thiết
cho người lao động như: Hoà giải các vụ tranh chấp lao động tập thê, các cuộc đình công - lãn công liên quan đến quyên lợi hợp pháp chính đáng của người lao động về vấn để nâng lương, tiền thưởng, giảm giờ làm thêm, tổ chức bữa ăn giữa ca, giải quyết chỗ ở, nhu cầu đời sống văn hoá tính than, các điều kiện vui chơi giải trí, chấm dứt hợp đồng lao động cho công nhân nghỉ việc không đúng qui định của pháp luật
Đồng hành cùng các ngành, các cấp và tổ chức công đoản trong tinh, những năm qua, báo chí Đồng Nai đã làm tốt chức năng, nhiệm vụ và góp phần quan trọng trong việc tuyên truyền các chủ trương, đường lối của Đảng, các qui định-chính sách pháp luật của nhà nước về nhiều vấn đề
công chúng và dư luận xã hội quan tâm, trong đó có van dé bao vệ loi ich
cho người lao động Báo chí Đồng Nai đã nhiều lần lên tiếng ủng hộ và bảo
vệ lợi ích chính đáng phù hợp, đấu tranh đến cùng trong các vụ việc, nhằm
mang lại quyền lợi hợp pháp, chính đáng cho người lao động Báo chí
Đồng Nai với chức năng, nhiệm vụ, tôn chỉ, mục đích hoạt động của mình
cũng đã góp phần làm cho công nhân và người lao động trên địa bàn tỉnh ngày cảng tin tưởng vào Đảng - nhà nước và chế độ, tin tưởng vào tương
lai phát triển tốt đẹp của đất nước
Tuy vậy, cũng phải khăng định rằng, không phải ở đâu và không phải lúc nào báo chí Đồng Nai cũng kịp thời lên tiếng và bảo vệ thành công lợi ích của người lao động Chính vì vậy, làm thế nào để người lao động luôn tin tưởng, gần gũi, gắn bó mật thiết với báo chí Đồng Nai? Làm thế nào để báo chí Đồng Nai tuyên truyền tốt các chính sách, văn bản, pháp luật và tham gia một cách hiệu quả trong việc đấu tranh bảo vệ lợi ích hợp pháp,
Trang 8là vẫn đề trọng tâm mà nội dung luận văn sẽ đi sâu tìm hiểu
2.TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐÉN ĐÈ TÀI
Lầu nay có một số công trình nghiên cứu, các bài viết, sách của các
nhà khoa học, nhà chuyên môn, nhà báo về vấn đề bảo vệ lợi ích người lao động đăng tải trên các báo, tạp chí của Trung ương, của tổ chức Công
đoản, của báo chí địa phương như:
- “Báo chí của Tổng liên đoàn lao động Việt Nam trong việc bảo vệ
lợi ích người lao động” (Luận văn thạc sĩ chuyên ngành báo chí học, năm
2004- tác giả Nguyễn Thị Hồng Thái) :
-“Gidi quyết việc làm cho người lao động tính Đồng Na?” (Luận văn
thạc sĩ chuyên ngành Kinh tế phát triển, năm 2000, tác giả Huỳnh Tần Kiệt)
| - “Một số giải pháp bảo đảm thực thỉ quyền của người lao động trong các doanh nghiệp có vốn đầu tr nước ngoài”, (Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý hành chính công, năm 2004, tác giả Huỳnh Văn Tịnh)
-“Lao động nhập cư trong các khu công nghiệp ở Bình Dương hiện nay” (Luận văn Thạc sĩ ngành Kinh tế phát triển, năm 2004, tác giả Nguyễn Thị Thơm)
- * Xây dựng giai cấp công nhân trong thời kỳ đẩy mạnh Công nghiệp hoá - biện đại hóa” Đề cương nghiên cứu khoa học của Tổng LĐLĐ Việt Nam Ngoài ra còn có các bài viết liên quan đến đề tài đăng
trên báo Đảng Cộng sản Việt Nam điện tử, báo Lao động (báo in, báo Lao
động điện tử) của Trung ương và báo Lao động địa phương được thực hiện dưới nhiều góc độ khác nhau Do vậy, vấn để bảo vệ lợi ích người lao động
đã nhận được sự quan tâm sâu sắc từ Trung ương đến địa phương
Kế thừa những thành quả đã có, tác giả mong muốn thông qua dé tai này sẽ đóng góp một phần nhỏ vào lý luận chung, từ đó đưa ra một cái nhìn mới, toàn diện, khoa học về cách thức tuyên truyền bảo vệ người lao động
tại các KCN trên hệ thống báo chí ở tỉnh Đồng Nai
Trang 9LĐLĐ tỉnh Đồng Nai mới chỉ tổng kết, thống kê, đánh giá về tình hình hoạt
động của các tổ chức Công đoàn trong các KCN, mà cho đến nay vẫn chưa
có một công trình nghiên cứu báo chí nào về lý luận lẫn thực tiễn đề cập
đến vấn đề bảo vệ lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động trong các KCN Chính vì vậy, tác giả mạnh dạn chọn nghiên cứu đề tài “Báo chí Đồng Nai bảo vệ lợi ích người lao động trong các Khu công nghiệp”
Trong tình hình hội nhập kinh tế quốc tế, các KCN ngày càng phát
triển, số lượng người lao động làm việc ở các doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài ngày càng tăng, việc nghiên cứu đề tài “ Báo chí Đông Nai bảo
vệ lợi ích người lao động trong các khu công nghiệp” thật sự cần thiết và
có ý nghĩa quan trọng không chỉ với tỉnh Đồng Nai mà còn có ý nghĩa thiết
thực với cả các tỉnh-thành có nhiều KCN, khu chế xuất tập trung đông
người lao động
3 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng các tác phẩm báo
chí liên quan đến đề tài trên báo Đồng Nai, báo Lao động Đồng Nai, đài PTTH Đồng Nai, luận văn sẽ phân tích, đánh giá những thành công và hạn chế trong việc tuyên truyền, đấu tranh, bảo vệ lợi ích của người lao động, qua đó tìm kiếm đề xuất những giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả bảo vệ lợi ích của người lao động trong các KCN trên địa bàn tỉnh
3.2 Nhiệm vụ nghién citu
- Đi sâu làm rõ các đặc điểm, tính chất trong việc tuyên truyền, đầu
tranh, bảo vệ lợi ích người lao động trong các KCN trên dia ban tinh
- Tập trung nghiên cứu khảo sát và đánh giá thực trạng cũng như hiệu quả tuyên truyền, đầu tranh của báo chí Đồng Nai liên quan đến vấn đề bảo
vệ lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động trong các KCN
Trang 10xuất đưa ra những giải pháp và những kiến nghị cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả tuyên truyền, đấu tranh bảo vệ lợi ích người lao động trong các KCN đối với báo chí Đồng Nai
4 ĐÓI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
4.1 Đối trợng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu các tác phẩm báo chí (tin - bài - phóng sự- điều tra - phỏng vấn - tọa đàm - tiết mục tư vấn - mục hỏi đáp )
đã đăng tải, phát sóng trên báo Đồng Nai, báo Lao động Đồng Nai và đài PTTH Đồng Nai có liên quan đến vấn đề bảo vệ lợi ích người lao động
trong các KCN trên địa bàn tỉnh Ngoài ra, luận văn còn tìm hiểu trực tiếp
các vấn đề của người lao động đang làm việc tại các KCN trên địa bàn tỉnh
Về thời gian: Tiến hành nghiên cứu khảo sát các tác phẩm báo chí (Tim, bài, phóng sự, chuyên mục, chuyên trang liên quan đến đề tài đã đăng trên báo Đồng Nai, báo Lao động Đồng Nai và phát trên sóng đài PTTH Đồng Nai) từ tháng 1/2005 đến tháng 1/2007, bởi đây là thời gian Đảng bộ Đồng Nai tập trung đánh giá tổng kết 10 năm thực hiện chỉ thị 07- CT/TW của Bộ Chính trị về xây dựng tô chức Đảng, đoàn thể trong các doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoai (FDI) Đây cũng là mốc thời gian quan trọng khi chính phủ ban hành nghị định 03/2006/NĐ-CP ngày 6/1/2006 về thực hiện mức lương mới trong các đoanh nghiệp FDI, là năm đầu tiên toàn tỉnh tập trung thực hiện nghị quyết
đại hội lần thứ VIII Đảng bộ tỉnh, nhiệm kỳ 2005-2010 Đặc biệt, đây cũng
là thời gian tổng kết các hoạt động của LĐLĐ tỉnh tiến tới tổ chức đại hội
Công đoàn tỉnh lần thứ VII, đại hội Công đoàn toàn quốc lần thứ X nhiệm
ky 2008 - 2013
Về không gian: Luận văn sẽ tiến hành khảo sát công tác tuyên truyền các chủ trương, đường lôi, chính sách pháp luật, việc đâu tranh bảo vệ lợi
Trang 11KCN Tam Phước và một số KCN tập trung nhiều doanh nghiệp 100% vốn
đầu tư nước ngoài có đông công nhân lao động
5 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Cơ sở lý luận
- Cơ sở lý luận báo chí Mác xít
- Đường lối chủ trương chính sách của Đảng và nhà nước, của Đảng
bộ và chính quyền tỉnh Đồng Nai đối với việc bảo vệ lợi ích người lao động
trong các KCN
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả sẽ sử dụng phương pháp phân tích-tông hợp, so sánh, phỏng vấn sâu, khảo sát thực tế, đồng thời tác giả
sẽ tập hợp nghiên cứu các văn bản, tài liệu liên quan đến đề tải Trong đó, phương pháp chính mà tác giả lựa chọn thực hiện trong luận văn là phân tích tổng hợp
Tác giả cũng sẽ áp dụng những thủ pháp khác như: Phỏng vấn, điều tra xã hội học, điều tra thực tế Trên cơ sở sử dụng các phương pháp nghiên cứu đó, tác giả luận văn sẽ có cơ sở đánh giá thực trạng các tác phẩm báo chí có nội dung liên quan đến việc bảo vệ lợi ích của người lao động Từ
đó, đánh giá hiệu quả thành công và hạn chế cũng như những yếu kém trong việc tuyên truyền, đấu tranh bảo vệ lợi ích người lao động trên báo Đồng Nai, báo Lao động Đồng Nai và đài PTTH Đồng Nai
Qua quá trình nghiên cứu, tác giả sẽ đề xuất các giải pháp và những
kiến nghị cụ thể nhằm nâng cao chất lượng hiệu quả tuyên truyền đối với
việc bảo vệ lợi ích người lao động trên báo Đồng Nai, báo Lao động Đồng
Nai và đài PTTH Đồng Nai
6 Y NGHIA LY LUAN VA THUC TIEN CUA DE TAI
- Đề tài làm rõ vai trò quan trọng của báo chí trong việc tuyên truyễn, đầu tranh bảo vệ lợi ích chính đáng của người lao động trong các KCN, nhât là lao động trong các doanh nghiệp có vốn đâu tư nước ngoài
Trang 12phân tích đánh giá về nội dung, hình thức và phương pháp tuyên truyền các
hoạt động bảo vệ lợi ích của người lao động trên địa bàn tỉnh
- Đưa ra những đề xuất, kiến nghị và những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tuyên truyền của báo chí Đồng Nai đối với giai cấp công nhân, nhất là vấn để bảo vệ quyên lợi hợp pháp, chính đáng cho người lao động
- Góp phần cung cấp tài liệu tham khảo cho những người quan tâm đến vấn để tuyên truyền, đấu tranh bảo vệ lợi ích người lao động trong các
KCN
7 KET CAU LUAN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận và đanh mục tài liệu tham khảo Luận
văn gôm có 3 chương và 11 mục
Trang 13LỢI ÍCH CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG VÀ MỘT SÓ NHIỆM VỤ
DAT RA DOI VOI BAO CHi DONG NAI
1.1 Tình hình các khu công nghiệp ở Đồng Nai
1.1.1 Sự phát triển và hoạt động của các khu công nghiệp
Theo Luật Đầu tư 1996 và qui chế khu công nghiệp (KCN), khu chế
xuất ban hành kèm theo nghị định số 36/CP ngày 24/4/1997 thì: KCN là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, do chính phủ hoặc Thủ tướng chính phủ quyết định thành lập
KCN có ranh giới địa lý xác định vã không có dân cư sinh sống Trong -
KCN có thể có cả doanh nghiệp KCN (ñoạt động theo qui chế của doanh nghiệp trong KCN) và doanh nghiệp chế xuất (hoạt động theo qui chế của
doanh nghiệp trong khu chế xuất) Các KCN có vị trí đặc biệt quan trọng
trong sự phát triển chung của các nước khối Asean vì nó vừa kích thích xu hướng sản xuất hướng ra xuất khẩu, vừa động viên phát triển sản xuất thay _ thế hàng nhập khẩu và chế biến nguyên liệu thô trong nước, vừa tạo được nhiều việc làm mới Xu hướng hiện nay không chỉ các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chiếm tỉ trọng lớn trong các KCN mà các doanh nghiệp trong nước cũng thật sự muốn hoạt động sản xuất kinh doanh tại đây Vì vậy KCN là nơi có khả năng tạo ra nhiều việc làm và giúp người
lao động dễ dàng tìm kiếm việc làm
Quán triệt sâu sắc chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của nhà
nước về lĩnh vực kinh tế đối ngoại, Đồng Nai là một trong các tỉnh-thành
phố sớm nắm bắt thời cơ và tận dụng những tiềm năng lợi thế thu hút đầu
tư nước ngoài ngay từ khi các qui định của trung ương về hướng dan dau tu nước ngoài có hiệu lực vào năm 1998 Bằng các biện pháp tích cực triển khai luật và các hướng dẫn về đầu tư, cùng với tính năng động và sáng tạo luôn trung thành với phương châm “Chính quyền đồng hành cùng đoanh
Trang 14nghiệp”, vì vậy trong nhiều năm liền Đồng Nai luôn đứng thứ 3 trong cả nước về thu hút các dự án và nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, chỉ đứng sau thành phố Hồ Chí Minh và Thủ đô Hà Nội
- Mở đầu là giai đoạn 1991-1995 vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDJ của Đồng Nai chiếm 8% trong tổng nguồn vốn FDI đến giai đoạn
1996-2000 tăng lên đạt 12% vốn đầu tư FDI của cả nước
- Ở giai đoạn 2001-2005, với những quan điểm mới và những biện
pháp tăng cường tiếp thị, đàm phán trực tiếp, xúc tiến các đoàn tiếp thị ra nước ngoài mời gọi đầu tư, cải tiến môi trường đầu tư thông thoáng, đơn
giản hoá các thủ tục hành chính trong cấp phép đầu tư, rút ngắn thời gian
làm thủ tục cấp phép từ 1tháng xuống 1 tuần rồi 1 ngày, giảm giá thuê đất
cho nhà đầu tư nước ngoài, thực hiện một số chính sách ưu đãi cho nhà đầu
tư kết quả là giai đoạn này có 454 dự án đầu tư vào Đồng Nai, bình quân mỗi năm có 90 dự án đầu tư với số vốn trên 500 triệu USD Ngoài ra, còn
có gần 300 dự án khác xin điều chỉnh tăng vốn đầu tư với tông số vốn tăng thêm là 1,6 tỉ USD
Theo thống kê của UBND tỉnh Đồng Nai, đến cuối năm 2006 số đự án
100% vốn nước ngoài chiếm 71,6% và hình thức dự án liên doanh chiễm
11,6% tổng số dự án đầu tư nước ngoài vào địa bàn tỉnh Đến hết quí 1 nam
2007, Đồng Nai đã thu hút 32 quốc gia và vùng lãnh thổ đến đầu tư, kinh
doanh, sản xuất với 866 dự án đạt 9ti 962 triệu USD Trong đó nổi bật là
các quốc gia và vùng lãnh thô châu Á như: Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản,
- Trung Quốc, Hồng Kông, Thái Lan Xu hướng nước ngoài đầu tư vào Đồng Nai tập trung vào các ngành công nghiệp có tỉ lệ sản phẩm xuất khẩu
cao như: Điện, điện tử, cơ khí, dệt, giày da, may mặc (chiếm 93% số dự án
va 97% giá trị xuất khâu của khu vực có vốn đầu tư nước ngoải) Da số các
dự án 100% vốn nứơc ngoài chủ yếu đầu tư vào ngành công nghiệp như:
Máy tính điện tử, linh kiện viễn thông, kết cấu thép, xe máy, máy giặt,
máy ảnh, tivi, hoá chất, thuốc chữa bệnh .chiếm tỉ lệ 94%, số còn lại là
Trang 15đầu tư vào lĩnh vực sản xuất thực phẩm, đỗ uống, sản xuất trang phục, sản phẩm gỗ, thiết bị văn phòng, máy tính, sản phẩm da, gia da, máy móc thiết
bị, kim loại Còn lại là các đự án đầu tư vào các ngành nông -lâm nghiệp,
thương mại, dịch vụ
Quản triệt sâu sắc và thực hiện nghiêm túc chỉ thị 07-CT/TW của Bộ
Chính trị (khóa VIHI) về “7ăng cường công tác xây dựng Đảng và các đoàn thể nhân dân trong doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu nước ngoài” đến 30/11/2006 ở những KCN đã thành lập được 95 tổ chức cơ sở Đảng với 2425 Đảng viên và 350 công đoản cơ sở với tổng số
234.409 đoàn viên công đoàn trong tổng số gần 360.000 công nhân lao
động Đây chính là lực lượng nòng cốt đi đầu trong việc thực hiện các chủ
trương đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước, góp phần
đáng kể vào việc ôn định, nâng cao nhận thức chính trị, chấp hành nội qui
của doanh nghiệp, đề cao cảnh giác, chống các luận điệu sai trái thù địch - xây dựng tình đoàn kết, hợp tác, hoàn thành tốt nhiệm vụ sản xuất kinh
doanh, nhất là hạn chế các vụ tranh chấp, đình công, lăn công
Tuy hiệu quả hoạt động của các KCN trên địa bàn tỉnh đã gặt hái được những thành công nhất định, nhưng cũng phải thẳng thắn thừa nhận những mặt yếu kém còn tồn tại rất lớn, đúng như những đánh giá của ban chấp hành Trung ương Đảng trong chỉ thị 07-CT/TW “ Về tăng cường công tác xây dựng Đảng và các đoàn thể nhân dân trong các doanh nghiệp tư
nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài”, ngày 23/11/1996 nêu
1õ: Hoạt động của một số doanh nghiệp trong các KCN: đã bộc lộ những yếu kém tiêu cực như trốn thuế, lậu thuế, vi phạm hợp dong, ở một số nơi quyền lợi và nhân phẩm của người lao động chưa được tôn trọng và bảo vệ kịp thời, sự lãnh đạo của Đảng, công tác quản lý của nhà nước và hoạt
động đoàn thể ở các cáp đối với các doanh nghiệp này chưa được coi trọng đúng mic [34,Tr.8] Theo chi thị trên thì những khuyết điểm hạn chế ay cân phải được sửa chữa và khắc phục ngay
Trang 161.1.2 Tình hình của người lao động trong các khu công nghiệp
Khi nên kinh tế thị trường phát triển và luật đầu tư nước ngoài phát huy hiệu quả, các dự án đầu tư nước ngoài vào Đồng Nai ngày càng nhiều,
từ đó đã thu hút lực lượng lao động đông đảo khắp mọi miền đất nước về
đây tìm kiếm việc làm, tạo dựng cuộc sống
Từ năm 1996-1999, lao động đến Đồng Nai tiếp tục gia tăng bình quân
mỗi năm có hơn 20.000 người, phần lớn đến từ Thanh Hoá, Nghệ An, Hà
Tĩnh, Nam Định, Hải Dương, Thái Bình, Bến Tre, Bà Rịa-Vũng Tàu, Hà Nam Số người nhập cư (lao động tìm kiếm việc-làm) đến Đồng Nai tập
trung đông ở khu vực đô thị và cạnh các KCN, đa số họ đều nằm trong độ
Từ năm 2000-2004 có hơn 80.000 người nhập cư đến Đồng Nai, bình quân mỗi năm có gần 16.000 người Trong 2 năm 2005-2006 có khoảng 31.000 lao động nhập cư, phần lớn họ đều là lao động trẻ đến tìm kiếm việc làm tai các doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài nằm trong các KCN
trên địa bàn tỉnh
Đến nay, thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã tạo việc làm cho gần 360.000 lao động trong và ngoài tỉnh Phần lớn họ xuất thân từ các vùng nông thôn, do đó ý thức kỷ luật lao động, tác phong công nghiệp nhìn chung còn hạn chế Họ chỉ thích hợp với các công việc lao động phổ thông, lao động giản đơn trong các doanh nghệp 100% vốn đầu tư nước ngoài chuyên sản xuất hàng may mặc, giày da, lắp ráp linh kiện điện tử, chế biến
gd, chế biến nước uống giải khát Qua thống kê của LĐLĐ tỉnh về đặc điểm, cơ cấu lao động trong các KCN cho thấy:
+ Lao động trẻ có tuổi đời từ 18 đến 35 tuổi chiếm tỉ lệ 72,55%
+ Lao động phô thông chưa qua đào tạo nghề chiếm 51,54%
+ Lao động có trình độ chuyên môn tay nghề thấp: 4,89% trung cấp ky
thuật; 1,05% cao đăng: 4,47% đại học; và 0,10% trên đại học Số công
Trang 17nhân lao động có tay nghề bậc cao không nhiều, bậc 4-5 là 25,01%; bậc 6-7
+ Trình độ nhận thức pháp luật chỉ có một số ít được giáo dục cơ bản
về nội dung Luật Lao động, Luật Công đoàn Còn phần đông người lao động chưa được học một cách căn bản về pháp Luật:Lao động
So với tình hình công nhân lao động chung của cả nước thì trình độ học vấn bậc THCS và THPT của công nhân lao động trong các KCN trên địa bản tỉnh Đồng Nai cao hơn (91,65% / 47,12%) Tuy vậy, nhìn chung, trình độ học vấn, tay nghề, kiến thức quản lý, trình độ chính trị của đội ngñ công nhân lao động Đồng Nai vẫn còn nhiều bất cập so với yêu cầu, do đó dẫn đến sự mắt cân đối trong cơ cấu lao động kỹ thuật, lao động giữa các ngành nghề Bên cạnh đó, các tổ chức Đảng, tổ chức Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, hội Thanh niên Việt Nam trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh chưa nhiều, nơi đã thành lập được thì hoạt động còn lúng
túng, ít hiệu quả
Thực tế trên cũng cho thấy, đa số người lao động làm việc trong các
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở Đồng Nai là lao động trẻ, trình
độ văn hoá chuyên môn, tay nghề của họ còn nhiều hạn chế so với yêu cầu
của doanh nghiệp đặt ra Trừ Nhật Bản là nước có tiềm lực kinh tế mạnh,
công nghệ cao, còn lại các quốc gia và vùng lãnh thổ châu Á khác như Đài Loan, Hàn Quốc, Hồng Kông, Trung Quốc, Malaixia Thái Lan đầu tư vào Đồng Nai chủ yếu ở các ngành may mặc, giày da, ché bién san phim
gỗ, chế biến thực phẩm đồ uống giải khát chỉ để thu hút nhân công lao
động giá rẻ, nhằm thu lợi nhuận cao Chính điều đó làm cho quan hệ lao động giữa người lao động với người sử dụng lao động ở các doanh nghiện
Trang 18100% vốn đầu tư nước ngoải có lúc, có nơi trở nên căng thắng, phức tạp Không ít thời điểm tại các doanh nghiệp này đã nảy sinh nhiều vấn đề bức xúc như: Doanh nghiệp không thực hiện đúng Luật Lao động cho người lao động trong việc đóng BHYT, đóng BHXH, chủ doanh nghiệp miệt thị công nhân, trả tiền lương quá thấp dẫn đến tình hình lãn công, đình công xảy ra ngày càng tăng Một vẫn đề khác là hầu hết các lao động đều có tay nghề của thợ bậc thấp, phần đông họ chưa qua đào tạo, trình độ học vấn và năng lực chuyên môn còn ở mức yếu, bất cập so với yêu cầu của kỹ thuật-công nghệ cao trong môi trường công nghiệp hiện đại Ở Đồng Nai nói riêng và
cả nước nói chung hiện đang có tình trạng “Thừa thầy thiếu thợ”, tình _
hình thiếu quá nhiều thợ lành nghề bậc cao đang báo động nguy cơ sẽ phải nhập ngoại công nhân kỹ thuật, nếu các địa phương không có sự chủ động, đột phá trong lĩnh vực dạy nghề, đào tạo nghề, đáp ứng yêu cầu của thị
trường lao động thì cơ hội tìm kiếm việc làm ổn định sẽ hết sức khó khăn
Một khía cạnh nữa đáng lưu ý là đời sống vật chất lẫn tính thần của
người lao động trong các KCN mặc dù đã được quan tâm cải thiện, tuy
nhiên tình hình chung hiện nay vẫn còn nhiều khó khăn bất cập Môi
trường lao động chưa được quan tâm đúng mức, chất lượng cuộc sống của người lao động ở một số nơi vẫn còn thấp, tiền lương không tăng kịp so với giá cả thực tế thị trường, đời sống sinh hoạt hàng ngày của người lao động
vẫn chưa được tốt, bữa ăn đạm bạc thiếu dinh đưỡng, chỗ ở chật chội, nhu
cầu thiết yếu cho cuộc sống còn nhiều thiếu thốn, đời song tinh than nghèo nan Van dé dat ra hién nay là làm sao để đời sống người lao động trong
các KCN vơi bớt khó khăn, trình độ văn hoá lẫn trình độ chuyên môn của
họ được nâng cao, đời sống vật chất lẫn tinh thần của họ được cải thiện,
hạn chế đến mức thấp nhất các cuộc đình công-lãn công và giải quyết được hết những bức xúc của người lao động
Trước tình hình các KCN ngày càng phát triển, số lao động ngày càng tăng thì vai trò hoạt động của tô chức công đoàn trong các KCN ngày càng
Trang 19quan trọng Tháng 7/1998 Công đoàn KCN được thành lập quản lý các
công đoàn cơ sở trực thuộc ở 4 KCN gồm: KCN Biên Hoà 1, Biên Hoà 2,
LoTeco và KCN Amata Qua phân cấp quản lý, công đoàn KCN trực thuộc
LDLD tinh da thye hiện tốt chức năng nhiệm vụ được giao, hoạt động ngày
càng mở rộng và đi vào chiều sâu, có sự phát triển lớn mạnh về số lượng và
chất lượng Tiếp đó, các KCN còn lại lần lượt được LĐLĐ tỉnh tiếp tục
phân cấp cho LĐLĐ thành phố Biên Hoà- thị xã Long Khánh và các huyện quản lý trực tiếp Qua phân cấp, LĐLĐ các địa phương đã nhanh chóng
tiếp cận chỉ đạo cơ sở, đây mạnh có hiệu quả các hoạt động như:
- Triển khai rộng khắp công tác giáo dục đường lối chủ trương của
Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước về các nhiệm vụ của tổ chức công đoàn Vì vậy người lao động đã được học tập Luật Lao động, Luật Công
đoàn, hiểu biết về các chế độ, chính sách có liên quan đến quyên và lợi ích chính đáng của người lao động như việc thương lượng và ký kết thỏa ước
lao động tập thể, chế độ BHXH, BHYT, bảo hộ lao động
- Tổ chức các lớp học bỗổ túc văn hoá giúp người lao động nâng cao
trình độ học vấn Tuyên truyền các kiến thức để người lao động biết cách
phòng chống các tệ nạn xã hội
- Tham gia giải quyết các vụ đình công, tranh chấp lao động liên quan đến các vấn đề của người lao động như nâng lương, tiền thưởng, ký hợp đồng lao động, giảm giờ làm thêm, tổ chức bữa ăn giữa ca, chấm dứt hợp đồng lao động cho công nhân nghỉ việc không đúng qui định pháp luật
- Vận động công nhân tích cực tham gia các hoạt động văn nghệ thê
thao, vui chơi giải trí và tham gia các hoạt động nhân đạo, xã hội Bên cạnh
đó, các cấp Công đoàn còn tích cực tham gia công tác xây dựng Đảng, giới thiệu những đoản viên công nhân lao động giỏi, chiến sĩ thi đua, lao động
ưu tú để được xem xét kết nạp vào hàng ngũ vinh quang của Đảng
Có thể nói, việc phân cấp cho Công đoàn cấp trên cơ sở, quản lý các KCN là hoàn toàn phù hợp với sự phát triển chung, vì chính họ là đơn yj
Trang 20gần gũi, thân thiết, gắn bó nhất với người lao động và các đơn vị, doanh nghiệp trong KCN Đồng thời họ cũng làm tốt công tác tuyên truyền, vận
động gắn liền với nhiệm vụ kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội ở địa phương 1.2 Một số khái niệm
bên ngoài, thể hiện tính tích cực của mình trong việc lựa chọn những yếu tố
điều kiện ở môi trường bên ngoài dé tổn tại và phát triển
Tác giả Lê Hữu Tầng cho rằng “ N#u cẩu là những đòi hỏi của con
người, của từng cá nhân, của các nhóm xã hội khác nhau hay của toàn bộ
những nhóm xã hội muốn có những điều kiện nhất định đề tôn tại và phát triển [ 32,tr.46] Còn theo Maslow, nhà tâm lý học Mỹ“ Nhu cẩu của con người có sự phân cấp từ thấp lên cao và được nảy sinh như sau: Nhu cẩu sinh học (ăn, uống, ở,); Nhu cẩu an toàn (thân thể, sự nghiệp); nhu cầu
liên kết và được chấp nhận; Nhu câu được tôn trọng; Nhu cầu tự thể hiện
Để thỏa mãn những nhu cầu của mình, các chủ thể phải tham gia vào quá trình sản xuất, phải quan hệ, trao đổi hoạt động với các chủ thể nhu cầu khác Năng lực của quá trình sản xuất và tính chất của các mối quan hệ xã hội này sẽ quyết định mức độ cũng như phương tiện, phương thức thỏa mãn nhu cầu và trong những điều kiện nhất định, làm cho nhu cầu và quan
hệ nhu cầu mang một tính chất mới: Lợi ích và quan hệ lợi ích
Từ những quan điểm nêu trên ta có thê thấy rằng: Lợi ích là một khái niệm mang tính lịch sử- xã hội dùng đề chỉ phần giá trị của nhu câu được thỏa mãn thông qua trao đổi hoạt động với các chủ thể nhu cầu khác trong những điều kiện lịch sử nhất định Theo đó, lợi ích chính là một quan hệ-
quan hệ giữa sự vật hiện tượng của thê giới bên ngoài chủ thê với nhu cân»
Trang 21của chủ thể, còn về mặt nội dung, lợi ích là cái thoả mãn nhu cầu, đáp ứng lại nhu cầu Lợi ích chính là những nhu cầu đã nhận thức của con người Nhu cầu và lợi ích, đặc biệt là lợi ích kinh tế, là động lực cơ bản thúc đây
con người hoạt động, phát triển sản xuất, trên cơ sở đó thúc đây tiến bộ xã
hội Khi nhu cầu có điều kiện thực hiện thì trở thành lợi ích thiết thân, thúc
đây con người hành động Theo qui luật thì nhu cầu của con người không
có giới hạn, không bao giờ được hoàn toàn thoả mãn Do vậy sự thoả mãn nhu cầu chính là động cơ thúc đây con người tích cực hoạt động Như vậy, nhu cầu là nguồn gốc của lợi ích, mặt khác lợi ích chính là những nhu cầu `
giữa xã hội và cá nhân Sự hài hoà này dựa trên cơ sở hài hòa về lợi ích Vì
vậy chúng ta luôn phải chú ý kết hợp hài hoà các lợi ích cá nhân- lợi ích tập
thể và lợi ích xã hội
1.2.2 Người lao động
Người lao động là lực lượng đông đảo trong xã hội, có vai trò, vị trí mang tính quyết định trong quá trình sản xuất của xã hội Tư liệu lao động
dù có tỉnh xảo và hiện đại đến đâu chăng nữa, nhưng nếu tách khỏi người
lao động thì cũng sẽ không phát huy được tác dụng tích cực của nó, chính
vì vậy mà VI Lênin đã khẳng định “Lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại là công nhân, là người lao động” [41,tr 430] Boi vi lao động không chỉ là sản phẩm của quá trình sản xuất mà bằng những kinh
nghiệm và trí tuệ được tích luỹ đã chế tạo ra công cụ sản xuất Đồng thời
bang tri thức và kinh nghiệm nghệ nghiệp của mình, con người +“: >'Ê:
Trang 22cách sử dụng sáng tạo công cụ sản xuất để sản xuất ra của cải vật chất cho
xã hội Người lao động với tư cách là một bộ phận của lực lượng sản xuất
xã hội là những người có thể lực, có tri thức văn hoá, có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao, có kinh nghiệm và có những thói quen tốt, phẩm chất
tư cách lành mạnh, lương tâm nghề nghiệp và trách nhiệm cao với công việc Nếu trước đây, người lao động chỉ có kinh nghiệm và thói quen, thể lực và thời gian thì ngày nay người lao động đã được trí thức hoá Khoa học đã làm biến đổi trạng thái tâm lý và năng khiếu nghề nghiệp rất quan trọng của con người Do vậy, người lao động ngày nay không phải chỉ là người lao động chân tay mà còn bao gồm cả các chuyên gia kỹ thuật, kỹ sư
và cán bộ khoa học chuyên ngành tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất Người lao động ở nước ta bao gồm số người trong độ tuổi lao động (nam từ 16 đến 60 tuổi, nữ từ 16 đến 55 tuổi) có khả năng lao động (trừ
những người tàn tật mất sức lao động loại nặng như thương bệnh binh,
ngừơi bị tai nạn lao động, tàn tật bẩm sinh, người bị bệnh nghề nghiệp về hưu trước tuổi qui định ) thì không tính là người lao động Tuy nhiên trong
thực tế, một số ít những người này vẫn có nhu cầu về việc làm để có thu
nhập, nên cần phải hỗ trợ, tạo điều kiện cho họ tham gia lao động theo khả năng và nhu cầu của mỗi người [6,Tr 139] Ngoài ra, người lao động còn bao gồm số người trên tuổi lao động và dưới tuổi lao động (13 tuổi, 15 tuổi) Nhưng kết quả điều tra cho thấy số người trên tuổi lao động thực tế
có việc làm chiếm khoảng 2/3 trong tổng số ngừơi trên tuổi lao động Tỷ lệ này ở nông thôn đạt rất cao, có khi lên tới 80% Số người đưới tuổi lao động thực tế có việc làm là các em ở độ tuổi 13tuổi-15 tuổi, làm những công việc phù hợp với lứa tuổi như: trông em,chăn trâu, cắt cỏ, giúp đỡ người lớn một số việc trong sản xuất Người lao động thường được chia thành hai loại là lao động chân tay và lao động trí óc Lao động chân tay phải tiêu hao sức lực cơ bắp một cách trực tiếp, kéo dài và liên tục trong thời gian lao động để sáng tạo ra sản phẩm và địch vụ Còn đối với người
Trang 23lao động trí óc chủ yếu là lao động bằng trí lực, những người này có điều
kiện thường xuyên tiếp cận với văn hoá, công nghệ và tri thức nhân loại
Như vậy, người lao động là những người có khả năng lao động và tham gia vào quá trình sản xuất Nói theo cách khác cụ thể hơn, người lao động là những người làm công ăn lương Đề có thu nhập đảm bảo cuộc sống họ phải bán sức lao động của mình.[10,Tr.62]
Trong xã hội cho thấy, khả năng lao động và yêu cầu công việc của
moi người đều ở những mức độ khác nhau Điều kiện thể lực mà người lao
động phải có là tình trạng sức khỏe bình thường, để họ có thể thực hiện
được một số công việc nhất định theo yêu cầu chung Còn điều kiện trí lực
chính là khả năng nhận thức của con người đối với hành vi lao động mà họ
thực hiện, đối với nhiệm vụ lao động của họ hay mục đích công việc mà họ làm Muốn có được sức khoẻ hay đạt được một trình độ nhận thức z:Š:
định, người lao động phải trải qua một khoảng thời gian cần thiết để phát
triển, cụ thể là đạt được một trình độ văn hoá và khả năng tiếp thu nhất
định, có trình độ chuyên môn kỹ thuật, tay nghề, có kinh nghiệm thực tiễn
cuộc sống, có trình độ quản lý và tác phong lao động, có thể lực tầm vóc
sức khỏe phù hợp với công việc và họ luôn được giáo dục, học tập, trau
dồi để hoàn thiệnhơn `
1.2.3 Lợt ích của người lao động
Lợi ích của người lao động gắn liền với lợi ích của nhà nước, của tập
thể Sự tổn tại của nhà nước chính là bảo đảm lợi ích cho người lao động
Lợi ích của người lao động không đơn thuần là những lợi ích thiết thân hàng ngày (lợi ích hàng ngày) như cơm ăn, áo mặc mà đó chính là các lợi
ích quan trọng khác (lợi ích láu dai) như: Lợi ích chính trị, lợi ích kính 18, loi ich tinh than, lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể, lợi ích toàn xã hội Cáo iợi ích này thể hiện nhu cầu, nguyện vọng cụ thê về việc làm, thu nhập, đời
sống gia đình, điều kiện lao động, BHXH, nghỉ ngơi, đời sống văn hoá tỉnh thân cũng như sự ôn định và phát triên của nghề nghiệp, công băng zÃ
Trang 24hội, dân chủ nhân quyền Các loại lợi ích này đan xen hòa quyện vào nhau, trong đó lợi ích kinh tế có ý nghĩa quyết định, lợi ích cá nhân là động
lực trực tiếp của sự phát triển xã hội
Trong bối cảnh của nước ta hiện nay, nền kinh tế thị trường phát triển với nhiều thành phần kinh tế song song tổn tại, lợi ích đang thể hiện vai trò của mình một cách rõ nét, qua đó đã làm nảy sinh nhiều vấn đề nan giải,
mà việc giải quyết những vấn đề ấy một cách đúng đắn cần phải được làm
sáng tỏ về mặt lý luận, đặc biệt là lí luận về mối quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể Nói theo cách khác, xét về góc độ phân phối sản phẩm trong nền kinh tế của nước ta hiện nay thì cần phải có cơ chế phân
phối sản phẩm một cách hợp lý Một mặt, cần kiên quyết chống tư tưởng
bình quân chủ nghĩa, mặt khác cũng không nên để tạo ra một khoảng cách chênh lệch quá lớn trong phân phối Bởi vì suy cho cùng, mọi hoạt động
của con người đều nhằm đạt được những mục đích nhất định của họ Việc
vi phạm các quan hệ lợi ích thể hiện nổi bật là quan hệ phân phối sẽ tác động xấu đến tổ chức quản lý sản xuất, đến sở hữu và mọi mặt của đời sống
xã hội
1.3 Các văn bản- chính sách của Trung ương và địa phương liên quan đến lợi ích người lao động
1.3.1 Các văn bản -chính sách của Trung trơng
Liên quan đến vấn đề bảo vệ lợi ích người lao động nói chung và người lao động trong các KCN nói riêng, Đảng và nhà nước ta trong mọi
giai đoạn Cách mạng đều luôn coi trọng nhiệm vụ chăm lo, cải thiện, nâng
cao đời sống, bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân lao động
Các nghị quyết của Đảng ta qua nhiều kỳ đại hội đều nhấn mạnh: P»á£
triển kinh tế, ồn định và nâng cao đời sống nhân dân là nhiệm vụ hàng đâu của các tổ chức Dang, Doan thể, là mục đích cao nhất của mọi kế hoạch
phát triển kinh tế xã hội.
Trang 25Ngay từ khi mới ra đời năm 1930, trong cương lĩnh hoạt động của
Đảng cộng sản Việt Nam đã khẳng định “Đảng giải phóng công nhân và
nông dân thoát khỏi ách tư bản không bao giờ Đảng lại hy sinh quyển lợi của giai cấp công nhân và nông dân cho một giai cấp khác” [19, tr.15].Vì vậy mà Đảng Cộng sản Việt Nam từ khi thành lập đến nay luôn là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động, của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân của nhân dân lao động
Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, thống nhất đất nước, đại hội lần thứ IV của Đảng khai mạc vào tháng 12/1976 đã xác định “Công đoàn
cùng với nhà nước chăm lo giải quyết các vấn đề thiết thực về đời sống, về
phúc lợi tập thể, về điểu kiện lao động, học tập, nghỉ ngơi bảo dam
những quyên lợi chính đáng của công nhân viên chức, đặc biệt chú trong làm tốt công tác bảo hộ lao động, đề phòng và khắc phục tai nạn lao động, thi hành tốt luật công đoàn ”[1,tr.13]
Đến hội nghị lần thứ § Ban chấp hàng Trung ương Đảng khoá VI năm
1986 đã chỉ rõ “Động lực thúc đẩy phong trào quân chúng là đáp ứng lợi
ích thiết thực của nhân dân và kết hợp hài hòa các lợi ích, thong nhất
quyên lợi với nghĩa vụ công dân Trong đó, lợi ích thiết thân, đồng thời là động lực thúc đẩy trực tiếp đổi với công nhân là việc làm và thu nhập”
[38,tr.118]
Tại Đại hội lần thứ IX của Đảng năm 2000 cũng đã khẳng định, mục
tiêu vươn tới của đất nước chúng ta làø:ây dựng một nước Việt Nam “Dán giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh” Đề thực hiện
mục tiêu quan trọng đó, Đảng ta với tư cách là một Đảng cầm quyền đã đề
ra đường lối xây dựng các giai cấp và tầng lớp trong xã hội một cás: ¿7 động và sáng tạo, trước hết là đường lối xây dựng và vận động công nhân, nông dân và tầng lớp trí thức Toàn bộ đường lối xây dựng giai cấp công nhân, đường lối vận động công nhân của Đảng phải được nhà nước thể =5Â
Trang 26hoá và bảo đảm bằng pháp luật ở tat cả các lĩnh vực cụ thể có liên quan đến
cuộc sống của người lao động như: Luật Lao động, bảo hộ lao động, BHXH, tiền lương, chăm sóc sức khỏe, đào tạo và sử dụng các hoạt động
xã hội, các sinh hoạt chính trị, sinh hoạt tập thể, các cuộc vận động chống
tiêu cực, tham nhũng và quan liêu
Đến đại hội X của Đảng từ ngày 18 đến 25/4/2006 cũng đã xác định
công tác xây dựng, phát triển toàn điện giai cấp công nhân luôn là mối quan tâm thường trực của Đảng trong suốt quá trình lãnh đạo Cách mạng nước
ta, vì vậy văn kiện đại hội Đáng lần này đã nêu rõ: Đối với giai cấp công
nhân phát triển về số lượng, chất lượng và tô chức, nâng cao giác ngộ bản
lĩnh chính trị, trình độ học vấn và nghề nghiệp, xứng đáng là lực lượng đi đầu trong sự nghiệp CNH-HDH đất nước [10, Tr.68] Một trong những
nội dung quan trọng của văn kiện đại hội X cũng đã nhân mạnh:
“Tiếp tục đây mạnh CNH đất nước nhưng gắn với phát triển kinh tế tri thức Trong đó, giai cấp công nhân là con đẻ của công nghiệp hiện đại,
vì vậy đẩy mạnh sự nghiệp này chỉnh là giải pháp quan trọng và rộng lớn nhất đ phát triển nhanh giai cấp công nhân nước ta cả về số lượng, chất lượng Đẩy mạnh CNH-HĐH và phát triển giai cấp công nhân là quả trình mang tính biện chứng Giai cấp công nhân vừa là chủ thể, vừa là sản phẩm
của sự nghiệp CNH-HĐH đất nước ”.[24,Tr.72]
Như vậy, để đạt được những mục tiêu trên “Giai cấp công nhân phải
làm nòng cốt trong việc xây dựng khối liên minh vững chắc với nông dân,
trị thức, các tầng lớp nhân dân lao động khác đề thực hiện thành công
công cuộc CNH-HĐH nói chung, công nghiệp hoá nông nghiệp và nông
thôn nói riêng, thực hiện tốt chính sách đại đoàn kết dân tộc của Đảng,
hợp tác với các nhà tư sản dân tộc, chủ đầu tư nước ngoài để phát triển
kinh tẾ, tôn trong quyên lợi hợp pháp của giới chủ, đối thoại, đấu tranh, thuyết phục họ đảm bảo lợi ích chính đáng của người lao động”
[24.Tr.117]
Trang 27Còn bộ Luật Lao động của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
được Quốc Hội khóa IX kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 23/06/1994 và có hiệu lực thi hành từ 01/01/1995 cũng chỉ rõ: Ứao động là hoạt động quan
trong nhất của con người, tạo ra của cải vật chất và các gia tri tinh than của xã hội Lao động có năng suốt, chất lượng và hiệu quả cao là nhân tổ
quyết định sự phát triển của đất nước Pháp luật lao động quy định quyền
và nghĩa vụ của người lao động, của người sử dụng lao động, các tiêu
chuẩn lao động, các nguyên tắc sử dụng và quản lý lao động, góp phần thúc đây sản xuất, vì vậy có vị trí quan trọng trong đời sống xã hội và trong hệ thống pháp luật của quốc gia [9, Tr.62] °
Kế thừa và phát triển pháp luật lao động của nước ta từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến nay, bộ Luật Lao động thể chế hoá đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam và cụ thể hoá các quy định của Hiến pháp nước Cộng hoà XHCN Việt Nam năm 1992 vẻ lao động, sử đụng và quản lý lao động
Bộ Luật Lao động bảo vệ quyên làm việc, lợi ích và các quyền khác
của người lao động, đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người
sử dụng lao động, tạo điều kiện cho mối quan hệ lao động được hài hoà và
ổn định, góp phần phát huy trí sáng tạo và tài năng của người lao động trí
óc và người lao động chân tay, của người quản lý lao động, nhằm đạt
năng suất, chất lượng và tiến bộ xã hội trong lao động, sản xuất, dịch vụ,
hiệu quả trong sử dụng và quản lý lao động, từ đó góp phần vào công
cuộc CNH-HĐH đất nước vì sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, xã hội công
bằng, văn minh Bộ luật Lao động gồm 17 chương, 198 điều, trong đó có
những chương qui định rất rõ về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của
từng lĩnh vực cụ thể như: Việc làm (chương 2), học nghề (chương 3), agp
đồng lao động (chương 4), thỏa ước lao động tập thể (chương ), tiên lương (chương 6)
Trang 28Cũng nhằm bảo đảm quyền dân chủ và lợi ích của người lao động, luật Công đoàn được Quốc hội khoá 8, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 30/06/1990 cũng đã qui định các chức năng, quyền và trách nhiệm của Công đoàn tại 4 chương, 19 điều Trong đó, điều 1 chương I nêu rõ:
“Công đoàn là tô chức chính trị - xã hội rộng lớn của giai cắp công nhân và của người lao động Việt Nam (gọi chung là người lao động) tự
nguyện lập ra dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam; là thành viên trong hệ thong chính trị của xã hội Việt Nam; là trường học chủ nghĩa
xã hội của người lao động Những người lao động Việt Nam làm việc trong các đơn vị sản xuất kinh doanh thuộc các thành phần kinh tế, xí nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài, đơn vị sự nghiệp, cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội
(goi chung là cơ quan, đơn vị, tô chức) đều có quyên thành lập và gia nhập công đoàn trong khuôn khô Điều lệ công đoàn Việt Nam”.[9,Tt.15]
Điều 4 và điều 5 trong chương HH của luật Công đoàn cũng đã qui định quyền và trách nhiệm của công đoàn như sau : “Công đoàn đại điện và tô
chức người lao động tham gia với Nhà nước xây dựng và thực hiện chương
trình phát triển kinh tẾ - xã hội, chính sách, cơ chế quản lý kinh tế, chủ trương, chính sách liên quan đến quyên, nghĩa vụ và lợi ích của người lao động ”[9,Tr.40] Trong phạm vi các vẫn đề có liên quan trực tiếp đến quyên, nghĩa vụ và lợi ích của người lao động, Tổng LĐLĐ Việt Nam có quyề::
trình dự án luật, pháp lệnh ra trước Quốc hội và Hội đồng Nhà nước Công
đoàn tham gia với cơ quan nhà nước xây dựng pháp luật, chính sách, chế
độ về lao động, tiền lương, bảo hộ lao động và các chính sách xã hội khác liên quan trực tiếp đến quyên, nghĩa vụ và lợi ích của người lao động Công
đoàn có trách nhiệm đôn đốc, giám sát việc thực hiện các chính sách chế độ lao động
1.3.4 Các văn bản, chính sách của địa phương
Liên quan đến vấn đề bảo vệ lợi ích cho người lao động, các chủ
trương đường lối, chính sách pháp luật của Đảng bộ - chính quyền :inh
Trang 29Đồng Nai những năm gần đây đã luôn chú ý, quan tâm đến người lao động bằng nhiều chủ trương thông qua các nghị quyết, chỉ thị, chế độ, chính sách
và các qui định cụ thê như:
- Chỉ thị 07 CT/TU ngày 02/12/1997 của Ban thường vụ Tỉnh uỷ Đồng Nai (khoá VI) về “7ăng cường công tác xây dựng Đảng và các đoàn thể
nhân dân trong doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đẩu tư nước
ngoài” Chỉ thị trên yêu cầu các cấp uỹ Đảng phải kiên trì, vận dụng, tranh thủ mọi điều kiện, mọi thời cơ để tiếp xúc, tuyên truyền, vận động, thuyết
phục nhà đầu tư hiểu rõ chủ trương, mục đích việc thành lập và hoạt động của tô chức Đảng và các đoàn thể nhân dân (công đoàn, thanh niên ) trong
các doanh nghiệp {34,Tr 12]
- Nghị quyết 62-NQ/TU của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh ban hành
cuối tháng 4/2004 về “Xây dựng, phát huy vai trò đội ngũ công nhân viên chức lao động và tô chức công đoàn trong thời kỳ CNH-HĐH từ nay đến 2010” Trong đó chú trọng 4 nhiệm vụ trọng tâm là: Nâng cao trình độ chính trị, học vấn chuyên môn và tay nghề cho công nhân viên chức lao động Các cấp, các ngành phối hợp thực hiện tốt các cơ chế chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước tạo động lực phát triển đội ngũ công nhân lao động Phát triển phong trào xây dựng nếp sống văn hoá trong Công nhân viên chức lao động, góp phần xây dựng tổ chức Công đoàn vững
mạnh đáp ứng tình hình mới của đất nước
- Quyết định 1596/QĐ-UBND tỉnh về “ Việc ban hành qui chế phối
hợp giữa UBND các huyện-thành phố Biên Hoà với các sở -ban- ngành
trong việc xử lý bước đầu các vụ tranh chấp lao động tập thể tại các doanh
nghiệp trên địa bàn tỉnh” Quyết định qui định trách nhiệm cụ thể của từng
đơn vị khi tham gia giải quyết các vụ việc tranh chấp lao động không bị chồng chéo và đùn đây trách nhiệm cho nhau
- Kế hoạch 71/KH-LĐLĐ ngày 09/06/2006 của ban thường vụ LĐLĐ
tinh Dong Nai vê “ Nâng cao vai trò của tô chức Công đoàn trong việc
Trang 30thực hiện chức năng bảo vệ quyên, lợi ích hợp pháp chính đáng của người lao động và các biện pháp ngăn ngừa đình công tự phát ” Kế hoạch đà ra
nhằm nâng cao vai trò của công đoàn cơ sở khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Mục đích của kế hoạch
chính là xây dựng tổ chức công đoàn trong các doanh nghiệp vững mạnh, thực sự làm tốt chức năng bảo vệ quyên và lợi ích hợp pháp chính đáng cho người lao động, đồng thời kế hoạch còn tập trung hướng dẫn công đoàn cơ
sở, nắm bắt kịp thời tâm tư nguyện vọng của người lao động nhằm phát huy tốt vai trò đại diện cho công nhân lao động, phối hợp với người sử dụng lao động xây đựng mối quan hệ lao động lành mạnh, góp phần ổn
định phát triển sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, bảo đảm hài hòa lợi
ích cho người lao động, người sử dụng lao động
Trước đó, văn kiện đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Đồng Nai lần thứ
VII nhiệm kỳ 2000-2005 cũng đã chỉ ra những mục tiêu và phương hướng xây dựng đội ngũ công nhân viên chức lao động và tổ chức công đoàn từ nay đến năm 2010 như sau:
“Xây dựng đội ngũ công nhân viên chức lao động vững mạnh xứng
đáng là lực lượng nòng cốt, đi đẩu trong sự nghiệp CNH-HĐH đất nước,
làm nên tảng vững chắc cho khối đại đoàn kết toàn dân, trên cơ sở liên
mình giai cấp công nhắn với giai cấp nông nhân và đội ngũ trí thức Tập trung xây dựng tô chức công đoàn vững mạnh, thực sự là người chăm lo, bảo vệ quyên lợi và lợi ích hợp pháp, chính đáng của công nhân viên chức lao động; coi trọng về phát triển số lượng, chất lượng của đoàn viên và tô chức công đoàn trong các thành phần kinh tế, thực hiện trí thức hoá công nhân, nâng cao năng lực và trình độ cán bộ công đoàn ngang tâm với yêu
cẩu của nhiệm vụ, tích cực tham gia xây dựng Đảng, chính quyền gop phan
thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tỄ văn hoá xã hội, giữ vững quốc phòng an ninh vì mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ van minh” [41,Tr 65]
Trang 311.4 Vai trò của báo chí trong công cuộc đấu tranh bảo vệ lợi ích người lao động
Thực tiễn cho thấy, hoạt động báo chí nước ta trong suốt quá trình lịch sử Cách mạng luôn giữ một vị trí hết sức quan trọng và là một bộ phận
không thê tách rời của sự nghiệp Cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng
Trong thời kỳ đổi mới nhất là giai đoạn từ năm 1986 đến nay, hoạt động báo chí của nước ta phát triển và lớn mạnh không ngừng cả về qui mô lẫn
nội dung và hình thức Hệ thống báo chí tiếp tục khẳng định vị trí quan
trọng của mình trong đời sống xã hội xứng đáng với vai trò chức năng người tuyên truyền, cổ vũ tập thể các phong trào hành động Cách mạng của nhân đân, là điễn đàn để nhân dân bày tỏ ý chí và nguyện vọng, nêu ý kiến
và góp phần giải quyết những vấn đề hệ trọng của đất nước, của dân tộc, xây đắp và phát triển dư luận lành mạnh, không ngừng nâng cao dân trí, :¿5
sự đồng thuận về chính trị, tính thần, tình cảm và hành động của toàn xã
hội, là nhân tố quan trọng đúng như nhận định trong văn kiện đại hội lần
thứ IX Đảng Cộng sản Việt Nam là “7c đẩy con người tự hoàn thiện nhân cách, kế thừa truyền thống Cách mạng của dân tộc, phát huy tỉnh than yêu nước, ý chí tự lực tự cường xây dựng và bảo vệ tỄ quốc”
(24,Tr.67]
Thuc tién cing chimg minh, trong nhimg nam qua, hé théng bao chi cA
nước luôn giữ vững bản lĩnh chính trị, vững vàng trước mọi thử thách của
tình hình chính trị trong nước và quốc tế Cùng với các tờ báo Nhân dân, Quân đội Nhân dân, Tạp chí Cộng Sản, Báo điện tử Đảng cộng sản Việt Nam và một số tờ báo khác hệ thống báo chí Công đoàn Việt Nam như báo Lao động Trung ương, Lao động điện tử, tạp chí Công đoàn, tạp chí
Bảo hộ lao động, báo Lao động của một số tỉnh thành trong ca nude clung
đã tích cực cô vũ cho các phong trào thi đua yêu nước của mọi tâng lớp nhân dân nói chung và công nhân viên chức lao động nói riêng; hệ thống
báo chí trong nước đã luôn tích cực đâu tranh với mọi biêu hiện 1Â: 172
Trang 32trong đời sống xã hội, kịp thời phát hiện những vấn đề sai trái, chỉ ra những
mặt hạn chế thiếu sót, nhằm góp phần làm trong sạch Đảng, trong sạch
chính quyền các cấp, giữ vững niềm tin của nhân dân đối với chế độ
XHCN
Hệ thống báo chí cũng đã góp phần quan trọng trong việc tuyên truyền bảo vệ chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, làm cho chủ nghĩa
Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh trở thành hệ tư tưởng của toàn xã hội
và là km chỉ nam cho mọi hành động Bên cạnh đó, các cơ quan báo chí cũng tích cực tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách pháp luật của nhà nước tới cán bộ công nhân viên chức và người lao động Đồng thời, các cơ quan trên còn tích cực tuyên truyền về phong trào công
nhân và hoạt động công đoàn trên các mặt hoạt động chính trị, kinh tế, văn
hoá, xã hội, qua đó góp phần khẳng định vai trò, vị trí của tổ chức Công
đoàn trong xã hội Đặc biệt, các cơ quan báo chí trong từng lúc, từng nơi còn tham gia bảo vệ lợi ích chính đáng, hợp pháp của công nhân viên chức
và người lao động, tuyên truyền và đấu tranh chống mọi biểu hiện vi phạm luật Công đoàn, luật Lao động Báo chí đã góp tiếng nói quan trọng của
minh mang lai nhiéu quyén lợi thiết thực cho người lao động, nhất là đội
ngũ người lao động trong khu vực kinh tế ngoài quốc doanh
Phải nhìn nhận rằng, một mặt báo chí đã phản ánh và cô vũ kịp ;ời những sáng kiến, những kinh nghiệm hay, những cách làm mang lại nhiều hiệu quả trong sản xuất kinh doanh, nêu nhiều gương người tốt, việc tốt
trên các lĩnh vực của đời sống xã hội Mặt khác, báo chí cũng đã kiên quyết
phê phán, đấu tranh đến cùng các tệ nạn tham những, quan liêu, tiêu cực,
các biểu hiện sai trái ảnh hưởng đến lợi ích của đất nước, ảnh hưởng đến
quyền lợi của nhân dân, của công nhân viên chức- người lao động vả
truyền thống đạo lý tốt đẹp của dân tộc
Trong sự nghiệp đổi mới ngày nay, hệ thống báo chí trong cả nước vẫn tiệp tục khăng định vị trí quan trọng của mình đôi với đời sông 7? ”^
Trang 33xứng đáng với vai trò, chức năng là người tuyên truyền tập thể, cô vũ tập
thể, tổ chức tập thể, lao động tập thể trong các phong trào hành động Cách
mạng của nhân dân Hệ thống báo chí của ta tiếp tục xứng đáng là điễn đàn
tin cậy để nhân dân bày tỏ ý chí và nguyện vọng, xứng đáng là cơ quan có
uy tín và vị thế tham gia đề xuất ý kiến, tập trung các kiến nghị, góp phần tích cực vào việc giải quyết những vấn đề quan trọng của đất nước Báo chí
đã luôn giữ vững định hướng của Đảng, phục vụ tốt nhiệm vụ chính trị của
đất nước, của địa phương, không ngừng cải tiễn đổi mới cả về nội dung lẫn hình thức, phấn đấu vươn lên ngang tầm nhiệm vụ, đáp ứng sự nghiệp đổi mới ngày càng cao của đất nước _ :
1.5 Chức năng, nhiệm vụ của hệ thống báo chí Đồng Nai
Hơn 30 năm qua, những cây bút ở Đồng Nai đã cùng chung nhịp đập
Với công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc, đem hết trí tuệ và tải nang dé
cùng góp phần vào những chặng đường phát triển của mảnh đất Đồng Nai đày truyền thống văn hoá, truyền thống đấu tranh Cách mạng và năng động
trong công cuộc đôi mới Bang trách nhiệm xã hội và nghĩa vụ công dân
của mình, các thế hệ làm báo Đồng Nai đã miệt mài khắc họa chân dung và
dáng đứng của Đồng Nai trong khu vực và cả nước Báo chí Đồng Nai đã
thật sự góp phần quan trọng trong việc nâng cao nhận thức chính trị, khơi
dậy lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, xây dựng niềm tin đối với nhân dân, với Đảng và chế độ
32 năm qua, được sự quan tâm của Đảng bộ và chính quyên tỉnh, các
cơ quan báo chí Đồng Nai đã không ngừng vươn lên xây đựng và phát triển
về quy mô, chất lượng phục vụ, kỹ năng tác nghiệp, cơ sở vật chất cũng như trưởng thành về đội ngũ Báo chí Đồng Nai đã luôn bám sát sự chỉ đạo, lãnh đạo của Đảng Bộ và chính quyền tỉnh, luôn truyền đạt kịp thời sá2 Nghị quyết, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, thông tin nñnanh nhạy các sự kiện chính trị xã hội, cổ vũ, động viên toàn Đảng bộ và nhân
dan trong tỉnh phan đấu hoàn thành các mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ nh
Trang 34tế - xã hội, an ninh - quốc phòng, xây dựng Đảng, xây dung chế độ mới, con người mới, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu học tập, giải trí, nâng cao đời sống tỉnh thần của nhân dân
Mấy chục năm qua, báo chí Đồng Nai không chỉ kiên trì tuyên truyền
các nhân tố điển hình, người tốt - việc tốt trên các lĩnh vực kinh tế - văn
hoá - xã hội - an ninh - quốc phòng, mà còn đũng cảm đấu tranh chống tham những, lãng phí và các biểu hiện tiêu cực, góp phần làm lành mạnh xã hội Đặc biệt, trong lĩnh vực chăm lo bảo vệ lợi ích người lao động, báo chí Đồng Nai đã góp phần quan trọng trong việc tham gia hoàn thiện hành lang pháp lý bảo vệ người lao động thông qua việc tích cực tuyên truyền,
phổ biến, giáo dục pháp luật, đăng tải kịp thời mọi ý kiến, kiến nghị đóng góp trong xây dựng chính sách pháp luật, đồng thời phát hiện những bat
hợp lý trong thực thi pháp luật lao động, lên tiếng bênh vực bảo vệ quyền
lợi hợp pháp chính đáng cho người lao động
Ngày nay, báo chí Đồng Nai tiếp tục khẳng định vị trí quan trọng của mình trong đời sống xã hội, xứng đáng với vai trò, chức năng, nhiệm vụ của mình, xứng đáng với sự tín tưởng kỳ vọng của Đảng, của hệ thống
chính quyển các cấp, sự tin tưởng của các tầng lớp nhân dân trong tỉnh
Báo chí Đồng Nai không chỉ giữ vững định hướng của Đảng, phục vụ tốt nhiệm vụ chính trị địa phương, mà còn không ngừng phát triển về qui mô, cải tiến nâng cao chất lượng về cả nội dung lẫn hình thức tuyên truyền,
phấn đấu vươn lên ngang tầm nhiệm vụ, đáp ứng sự nghiệp đổi mới của đất nước, của địa phương
1.5.1 Đối với báo Đồng Nai
Ra đời trong dòng chảy lịch sử của báo chí Cách mạng Việt Nam, kế
từ tháng 6/1946 đến nay báo Đồng Nai đã có quá trình hơn 60 năm xây
dựng và trưởng thành Trải qua những năm tháng khốc liệt vừa cầm bút vừa
chiến đấu, đội ngũ làm báo của báo Đồng Nai trước năm 1975 (tiền thân
là bảo Thủ Biên) đã có nhiều đóng góp hiệu quả trong việc tuyên truyền,
Trang 35động viên đồng bào chiến sĩ hăng hái chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu chống giặc ngoại xâm, cũng như phản ánh không khí thi đua sôi nổi trong các đơn vị quân đội, đoàn thể dân-chính đảng Báo Đồng Nai thời kỳ ay đã
làm tốt nhiệm vụ “Kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang” nhằm mục tiêu đánh bại các cuộc chiến tranh của kẻ địch, tiến tới giải
phóng đất nước
Báo Đồng Nai ngày càng khẳng định uy tín của mình, được bạn đọc trong và ngoài tỉnh dành cho nhiều thiện cảm tốt đẹp Hiện tại, báo Đồng Nai có 16 trang, bao gồm 12 trang nội dung, được bố trí theo cau tric: Tin tức-sự kiện (trang 1+2), vấn dé sự kiện (trang 3), kinh té (trang 4), nhịp
sống đô thị và khu công nghiệp (trang 5), chính trị-xã hội (trang 6), van
hoá-văn nghệ-thể thao (trang 7), pháp luật-đời sống (trang 8+9), bạn đọc (trang 10), quốc té và tiếp trang (trang 15+16), còn lại 4 trang quảng cáo Ngoài ra, báo Đồng Nai còn duy trì thường xuyên hơn 20 chuyên mục như
“Người tốt việc tốt”, “Khắp nơi trong linh ” “Nhà nước va công dân”,
“Vấn đề trong tuần”, “ Chuyện cơ sở”, “Luật sư của bạn `, “Cáu chuyện
nông thôn”, “Đường dây nóng” qua báo Đồng Nai bạn đọc có thê tìm
thấy sức bật và nhịp thở cuộc sống của một tỉnh Công nghiệp qua trang
Vấn đề-sự kiện, nhịp sống đô thị KCN hoặc ai quan tâm tới cuộc sống, sự
vươn lên của những người lao động, đặc biệt là người nông dân bám ruộng,
bám đất trong bối cảnh địa phương đang đô thị hoá có thể tìm hiểu qua
chuyên mục “Chuyện cơ sở”, “Câu chuyện nông thôn ” Cùng với những chuyên trang, các chuyên mục này đã tạo nhiều điểm nhấn, sức hấp dẫn với người đọc, đồng thời là động lực thúc đây đội ngũ phóng viên-biên tập viên luôn tìm tòi học tập, nâng cao trình độ nghiệp vụ, đáp ứng nhu cầu thông
tin ngày càng cao của độc giả
Báo Đồng Nai ngày càng trưởng thành với sự phát triển đi lên của đất
nước, ngày càng đổi mới để đáp ứng với nhu cầu hội nhập trong khu vực và
thé ĐIỚI, đầu năm 2002 báo Đồng Nai điện tử ra số đầu tiên Đến
Trang 3626/04/2005 báo Đồng Nai điện tử bộ mới chính thức ra mắt độc giả trong
và ngồi tỉnh Với sự ra mắt này, báo Đồng Nai mong muốn nâng cao hơn nữa về chất lượng thơng tin, đưa thơng tin nhanh, đa dạng, phong phú đến với bạn đọc Báo điện tử Đồng Nai cập nhật nhiều lần trong ngày đưa tin
lên Websie híp:/_www baộongnaiLcom.vi thực hiện đúng chức năng
của một tờ báo điện tử và cĩ nhiều chuyên mục sinh động như: 7ïn fức, thể
giới, phĩng sự, Đơng Nai trên các bảo, phỏng vấn diễn đàn, lao động việc
làm Hiện nay, báo Đồng Nai cĩ 49 cán bộ nhân viên, trong đĩ cĩ 25
phĩng viên - biên tập, cĩ 2 người chuyên viết về Cơng đồn - người lao
động, trên 80% phĩng viên của báo đã tốt nghiệp đại học báo chí hoặc các
đại học chuyên nghành khác, báo Đồng Nai cịn cĩ một đội ngũ khoảng
100 cộng tác viên trong và ngồi tỉnh thường xuyên viết bài cộng tác cho
báo ở nhiều lĩnh vực Si
Nhiều năm qua, báo Đồng Nai là tờ báo địa phương cĩ số lượng phát _ hành cao thứ 4 trong cả nước, báo đã luơn bám sát định hướng chính trị trong chỉ đạo tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước Báo đã tích cực tuyên truyền những thành quả đạt được trong cơng cuộc đổi mới, đặc biệt là quá trình chuyển địch cơ câu kinh tế theo
hướng cơng nghiệp-dịch vụ-nơng nghiệp, thu hút nguồn vốn đầu tư trong
và ngồi nước thơng qua hệ thống tin, bài đa dạng và cĩ chiều sâu Báo
cũng đã phản ánh được tâm tư, nguyện vọng, đời sống cơng nhân viên chức lao động, cuộc sống-việc làm-sinh hoạt hàng ngày của người lao động
trong các KCN, đồng thời tuyên dương gương người tốt, việc tốt, gĩp phần
tạo được dư luận xã hội lành mạnh
Khảo sát từ tháng 1/2005 đến hết tháng 1/2007, trong 296 số báo phát hành, báo Đồng Nai đã đăng tải 89 bài và 108 tin viết về dé tài bảo vệ lợi ích người lao động trong các KCN Trong đĩ cĩ 23 bài viết về tiên lương;
20 bài về đào tạo nghề việc làm; 14 bài về hoạt động Cơng đồn; 7 bài về BHXH-BHYT; 18 bài về vui chơi giải trí đời sống tinh thần; 18 bài về bảo
Trang 37hộ lao động, phòng chống cháy nỗ; 7 bài về nhà ở cho người lao động
Nhìn chung, số lượng các bài viết về đề tài này không nhiều, một vài số
báo hầu như không có tín hoặc bài nào liên quan đến công nhân lao động
Tuy nhiên, dù ít nhưng phần lớn các tin-bài đăng tải trên báo Đồng Nai hai
năm qua đã phản ánh khá rõ nét bức tranh lao động và đời sống sinh hoạt hàng ngày, nhất là nói lên được tâm tư, nguyện vọng và những nhu cầu bức xúc của người lao động trong các KCN
1.5.2 Đối với báo Lao động Đông Nai
Báo Lao động Đồng Nai thành lập từ ngày 2/10/1993 tiền thân là bản
tin công nhân Đông Nai ra đời từ năm 1980 Thời gian dau bao in 8 trang,
đen trắng, mỗi tháng xuất bản 2 kỳ, mỗi kỳ 3000 bản Từ ngày 30/4/1995
bao in 4 mau, 12 trang gồm có các chuyên mục: Thời sự, vấn đề-sự kiện, kinh tế-đời sống, Giáo đục- văn hoá, trang bạn đọc, khoa học-tri thức, nhìn
ra thé gidi bảo xuất bản mỗi tuần 2kỳ vào ngày thứ ba và thứ sáu, mỗi
kỳ phát hành 6000 bản Báo Lao động Đồng Nai từng bước khắc phục
những khó khăn của một tờ báo ngành, cố gắng vươn lên thực hiện tốt
nhiệm vụ chính trị là cơ quan ngôn luận của LĐLĐ tỉnh, là diễn đàn của
công nhân lao động Đồng Nai Thời gian qua, báo Lao động Đồng Nai đã luôn giữ vững bản lĩnh chính trị, tích cực cổ vũ tuyên truyền cho các phong trào thi đua yêu nước trong đội ngũ công nhân viên chức lao động trong tỉnh Dù lực lượng ít, trình độ tay nghề chuyên môn không đồng đêu, nhưng đội ngũ phóng viên của báo vẫn luôn tích cực đấu tranh với các
biéu hiện tiêu cực trong đời sống xã hội, phát hiện được nhiều vấn đề dư
luận xã hội quan tâm, góp phần làm tăng thêm lòng tin của công nhân viên chức và người lao động đối với Đảng, nhà nước
Báo Lao động Đồng Nai cũng đã góp phần quan trọng trong việc tuyên truyền "bảo vệ chủ nghĩa Mác-Lênn và tư tưởng Hồ Chí Minh tích cực tuyên truyền có hiệu quả các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước tới đội ngũ cán bộ công nhân viên chức và người lao
Trang 38động Đồng thời, báo còn tích cực tuyên truyền về phong trào công nhân và hoạt động Công đoàn trên các mặt hoạt động chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội góp phần khẳng định vai trò, vị trí của tổ chức công đoàn trong xã hội Đặc biệt, báo còn tham gia bảo vệ lợi ích chính đáng, hợp pháp của công nhân viên chức và người lao động, tuyên truyền và đấu tranh chống mọi biểu hiện vi phạm luật Công đoàn, luật Lao động, vi phạm các chính sách
về BHXH, BHYT, bảo hộ lao động hoặc các vi phạm khác đối với người
lao động
Trong những năm qua, báo Lao động Đồng Nai không chỉ phản ánh
và cô vũ kịp thời những sáng kiến, kinh nghiệm hay, những gương lao
động tốt trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, nhất là những điển hình
trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh ở các công ty, nhà máy, xí nghiệp, trong các KCN, mà còn góp phần làm tốt công tác tuyên truyền thành lập công đoàn cơ sở đi đôi với công tác phát triển đoàn viên, củng cố công đoàn cợ
sở nhằm từng bước xây dựng đội ngũ cán bộ công đoàn có năng lực thực sự tại doanh nghiệp Một mặt, báo tham gia tích cực công tác tuyên truyền giáo đục pháp luật cho công nhân lao động, chủ yếu tập trung vào những vấn để cơ bản về quyền và nghĩa vụ của công nhân lao động, về các chính sách pháp luật liên quan đến tranh chấp lao động tập thể Mặt khác, báo còn thường xuyên thông tin, tuyên truyền công tác phối hợp, kiểm tra, giám
sát việc thực hiện pháp luật lao động tại các doanh nghiệp, việc tập huấn
kiến thức pháp luật và kỹ năng hoạt động công đoàn cho đội ngũ cán bộ công đoàn cơ sở; Hướng dẫn người lao động ký kết hợp đồng lao động với người sử dụng lao động đúng pháp luật; Hướng dẫn việc thương lượng ký kết thỏa ước lao động tập thể; Tuyên truyền việc thực hiện chế độ chính
sách, việc thực hiện chế độ BHXH, BHYT cho người lao động Báo cũng
đóng góp tích cực vào việc tuyên truyền hướng dẫn người lao động thực
hành pháp luật lao động tại doanh nghiệp chủ yếu tập trung vào các nội dung xây dựng thang bảng lương, qui chế trả lương, qui chế trả thưởng, xây
Trang 39đựng thỏa ước lao động tập thể, nội qui lao động, qui chế phối hợp giữa ban chấp hành công đoàn cơ sở với ban giám đốc doanh nghiệp Đặc biệt, thông qua tiết mục “7# vấn pháp luật” báo Lao động Đồng Nai còn liên kết với Trung tâm tư vẫn pháp luật của LĐLĐ tỉnh tham gia công tác tư vẫn pháp luật bảo vệ quyển lợi và hỗ trợ pháp lý, buộc các công ty, đơn vị
vi phạm luật Lao động phải giải quyết chế độ, chính sách cho hàng ngàn công nhân lao động trong tỉnh
Hiện nay báo Lao động Đồng Nai có 17 cán bộ công nhân viên, trong
đó có 10 người đã tốt nghiệp đại học báo chí và các đại học liên quan Trình độ chính trị của phóng viên - biên tập viên trong cơ quan báo Lao động Đồng Nai ngày càng được nâng cao Qua khảo sát 2 năm trên 196 số báo Lao động Đồng Nai cho thấy có 168 tin và 108bài liên quan đến các vẫn đề bảo vệ lợi ích người lao động trong các KCN Đáng chú ý là có khá
nhiều bài viết tập trung chủ đề tiền lương-thu nhập (29 bài); đời sống người
lao động (14bàï); Công đoàn và hoạt động công đoàn (16 bà); bảo hộ và
an toàn lao động (16 bài); BHXH-BHYT (12 bài); đào tạo nghề và việc làm
(18bàï); Nhà ở cho công nhân (5 bài) và tiết mục tư vẫn pháp luật giải đáp
các thắc mắc cho người lao động Có thé nói, về các vẫn đề liên quan đến
lợi ích người lao động trong các KCN, so với báo Đồng Nai thì báo Lao
động Đồng Nai có nhiều lợi thế hơn về điều kiện phát hiện thông tin, phát hiện đề tài, thuận lợi hơn trong việc tiếp cận cơ sở, bởi vì hệ thống Công
đòan ở các doanh nghiệp chính là tai mắt, là vệ tinh của cơ quan báo Lao động Mặt khác, báo Lao động cũng chính là cơ quan ngôn luận của LĐLĐ tỉnh, là tiếng nói của giai cấp công nhân trong tỉnh Vì thế, việc tuyên truyền sâu rộng các chủ để liên quan đến đời sống người lao động không
chỉ là yêu cầu, mà còn là nhiệm vụ quan trọng của báo
1.5.3 Đội với đài Phát thanh - Truyén hinh Dong Nai
Từ đầu năm 2003 đến nay, đài Phát thanh-Truyền hình (PTTH) Đồng
Nai có nhiều nỗ lực đổi mới mạnh mẽ về tăng kênh phát sóng, tăng thời
Trang 40lượng phát sóng, đổi mới cải tiến các chương trình và tăng doanh thu quảng cáo tài trợ Nội dung tuyên truyền của Đài giai đoạn này tập trung mạnh vào những bước chuyển mình năng động trong phát triển, chủ động hội
nhập kinh tế quốc tế mà cụ thể là chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo tỉnh thần
các nghị quyết của tỉnh Đảng bộ “Phẩn đếu xây dựng Đồng Nai thành một tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại ”
Về hoạt động Phát thanh: Trước đây, đài phát thanh Đồng Nai phát trên sóng AM 720KHZ mỗi ngày 3 buổi sáng, trưa, chiều, theo mô hình
sản xuất chương trình cũ Đến năm 2003, khi máy phát sóng phát thanh
FM 97,5MHZ duoc thay thế thì các đợt cải tiến chương trình đã được tô chức và phát sóng tăng thời lượng liên tục từ 5giờ sáng đến 23giờ mỗi ngày Từ chỗ đài chỉ làm các chương trình thu trước vào băng phát 3 chương trình thời sự và một số chuyên mục, chuyên đề, văn nghệ đến
năm 2003 đài đã tiến đến làm chương trình thời sự trực tiếp hàng ngày
Hiện nay, mỗi ngày, phát thanh Đồng Nai có 10 chương trình thời sự,
trong đó có 3 chương trình chính và các bản tin đầu giờ được thực hiện trực
tiếp Các chương trình thời sự phát thanh phần lớn tin tức được dùng cho cả Phát thanh lẫn Truyền hình, mỗi chương trình 30 phút Ngoài ra, hàng tuân,
phát thanh có 15 chuyên mục, chuyên đề như: Hội nhập kinh tế quốc tế,
Hương quê, Đảng ở quanh la, tiếp chuyện bạn nghe đài, văn hoá xã hội,
nhịp sống đô thị, Công nhân lao động, dành cho phụ nữ, câu chuyện hôm
nay, gương sáng đời thường, Yhọc và sức khỏe, mua sắm dịch vụ, gặp gỡ
và bình luận, Đông Nai xưa và nay, thé gidi quanh ta, ban tré va cudc
sống, đi chợ budi sdng Cing trén song phat thanh, hé thống các chương trình văn nghệ giải trí hết sức phong phú, đóng góp rất lớn vào việc tạo ra
món ăn tinh thần cho nhân dân như: Ca khúc Việt Nam, ca nhạc yêu cấu,
nhạc nhẹ quốc tẾ, ca cổ, cô nhạc theo yêu cẩu, ca nhạc thiếu nhi, thính phòng và giao hưởng, dân ca, nhạc không lời Việt Nam, Giải điệu bạn trẻ, mỗi tuần một nhân vật, tạp chí văn nghệ, sân khẩu truyền thanh Phát