1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chất lượng công tác kiểm tra, giám sát của đảng bộ học viện an ninh nhân dân việt nam hiện nay

100 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 877,3 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhận thức sâu sắc quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nghị quyết của Đảng, Đảng ủy CATW, trong những năm qua, công tác KTGS luôn được cấp uỷ, tổ chức đảng, UBKT ở

Trang 1

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

TRẦN NGỌC HẢI

CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC KIỂM TRA, GIÁM SÁT

CỦA ĐẢNG BỘ HỌC VIỆN AN NINH NHÂN DÂN HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ XÂY DỰNG ĐẢNG VÀ CHÍNH QUYỀN NHÀ NƯỚC

HÀNỘI - 2015

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Luận văn được hoàn thành dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Đinh Ngọc Hoa Tài liệu và số liệu trong luận văn là trung thực và đáng tin cậy Kết quả của luận văn không trùng lặp với những công trình đã được công bố trước đây

Hà Nội, ngày tháng năm 2015

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Trần Ngọc Hải

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC KIỂM TRA, GIÁM SÁT CỦA ĐẢNG BỘ HỌC VIỆN AN NINH NHÂN DÂN 7

1.1 Quan điểm Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác kiểm tra, giám sát của Đảng 7 1.2 Quan niệm về công tác kiểm tra, giám sát của Đảng và chất lượng công tác kiểm tra, giám sát của Đảng bộ Học viện An ninh nhân dân 16

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC KIỂM TRA, GIÁM SÁT CỦA ĐẢNG BỘ HỌC VIỆN AN NINH NHÂN DÂN 35

2.1 Tình hình, đặc điểm Đảng bộ Học viện An ninh nhân dân 35 2.2 Chất lượng công tác kiểm tra, giám sát của Đảng bộ Học viện An ninh nhân dân 43

CHƯƠNG 3: NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC KIỂM TRA, GIÁM SÁT CỦA ĐẢNG BỘ HỌC VIỆN AN NINH NHÂN DÂN 70

3.1 Các yếu tố tác động và phương hướng nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giám sát của Đảng bộ Học viện An ninh nhân dân 70 3.2 Giải pháp nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giám sát của Đảng bộ Học viện An ninh nhân dân 72

KẾT LUẬN 92 TÀI LIỆU THAM KHẢO 93 PHỤ LỤC

Trang 4

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong giai đoạn hiện nay, Đảng ta xác định xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt; công tác xây dựng Đảng là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, có ý nghĩa sống còn đối với Đảng, đảm bảo vai trò lãnh đạo đất nước phát triển vững mạnh theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa

Công tác KTGS là một bộ phận quan trọng của công tác xây dựng Đảng, là nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng, một công cụ có hiệu quả để giải quyết những vấn đề trong quan hệ nội bộ Đảng nhằm hạn chế những sai lầm, khuyết điểm Công tác KTGS còn là một phương thức hữu hiệu để xây dựng và hình thành nhân cách người cán bộ, đảng viên Ở bất cứ thời kỳ cách mạng nào, công tác KTGS đều có vai trò quan trọng đặc biệt; là một quy luật và phương thức hành động không thể thiếu để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị mà Đảng đặt ra Trong điều kiện Đảng cầm quyền, cùng với công tác cán bộ, KTGS trở thành một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong công tác xây dựng Đảng

Nghị quyết Trung ương 4, khóa XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” khẳng định, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức,

lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên là một trong ba vấn đề cấp bách của Đảng ta hiện nay cần tập trung giải quyết Mặt khác, hiện nay tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí của đảng viên có xu hướng ngày càng nghiêm

trọng; những biểu hiện xa rời mục tiêu chủ nghĩa xã hội, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có chiều hướng phức tạp Vì vậy, công tác KTGS của Đảng góp

phần đấu tranh, loại bỏ những phần tử tha hóa, biến chất, làm trong sạch đội ngũ của Đảng càng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng

CAND Việt Nam là một lực lượng vũ trang trọng yếu của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, làm nòng cốt, xung kích trong sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia và đảm bảo trật tự, an toàn

Trang 6

xã hội; đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Để đảm bảo và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với lực lượng CAND, Đảng ủy CATW luôn xác định KTGS là một trong những mặt công tác trọng tâm và nhiệm vụ then chốt, là nội dung không thể thiếu của công tác xây dựng Đảng trong CAND

Nhận thức sâu sắc quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nghị quyết của Đảng, Đảng ủy CATW, trong những năm qua, công tác KTGS luôn được cấp uỷ, tổ chức đảng, UBKT ở Đảng bộ Học viện HVANND quan tâm tiến hành thường xuyên, góp phần quan trọng vào việc bảo vệ đường lối, quan điểm, các nguyên tắc của Ðảng; thúc đẩy thực hiện các nhiệm vụ chính trị; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên; nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng; góp phần tăng cường, giữ gìn

sự đoàn kết, thống nhất trong Ðảng bộ Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, công tác KTGS của Đảng bộ HVANND vẫn còn tồn tại một số hạn chế như: một số cấp uỷ, tổ chức cơ sở đảng nhận thức chưa đầy đủ về ý nghĩa, vai trò và tầm quan trọng của công tác KTGS; chưa phát huy tính chủ động, tích cực tham mưu cho cấp uỷ thực hiện nhiệm vụ KTGS Chất lượng một số cuộc KTGS còn hạn chế so với yêu cầu đặt ra,…

Từ những lý do cơ bản trên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng công tác KTGS của Đảng bộ HVANND, nhằm nâng cao chất lượng

công tác ở Đảng bộ HVANND, học viên lựa chọn vấn đề: “Chất lượng công tác kiểm tra, giám sát của Đảng bộ Học viện An ninh nhân dân hiện nay”

làm luận văn Cao học ngành Xây dựng Đảng và Chính quyền nhà nước

Trang 7

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Trong những năm qua, vấn đề chất lượng công tác KTGS của Đảng nói chung và chất lượng công tác KTGS trong lực lượng CAND nói riêng đã được cấp ủy, tổ chức đảng, UBKT các cấp, nhiều nhà nghiên cứu lý luận và hoạt động thực tiễn quan tâm nghiên cứu, trao đổi Trong đó có một số công trình, đề tài khoa học tiêu biểu về công tác KTGS của Đảng nói chung như:

Nguyễn Anh Liên, Tâm đức trong sáng, bản lĩnh vững vàng và tinh thông nghiệp vụ là ba tố chất cốt yếu của người CBKT của Đảng, Tạp chí

Đặng Đình Phú, Công tác giám sát trong Đảng giai đoạn hiện nay, Học

viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, đề tài khoa học cấp Bộ,

điện tử Ban Nội chính Trung ương, 6/2014;

Phạm Văn Đô, KTGS là yếu tố quan trọng để xây dựng tổ chức cơ sở Đảng trong sạch vững mạnh, Báo Bắc Ninh, 6/2014;

Tô Quang Thu, Đẩy mạnh công tác KTGS góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XI của Đảng, Báo nhân dân, 8/2014;…

Nguyễn Văn Giang, Tiêu chí cơ bản đánh giá chất lượng và hiệu quả các cuộc KTGS chuyên đề của Đảng, Kỷ yếu hội thảo công tác KTGS của

Đảng, 9/2014;

Trang 8

Cù Thị Phương, Công tác KTGS của Đảng trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền, Luận văn Thạc sỹ khoa Luật đại học Quốc gia Hà Nội,

năm bảo vệ 2012;

Huỳnh Minh Phương, Nâng cao chất lượng kiểm tra đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm của UBKT huyện ủy ở các tỉnh Duyên hải miền Trung giai đoạn hiện nay, Luận án Tiến sĩ đại học Lao động xã hội, năm bảo vệ 2012;

Các bài viết, công trình khoa học tiêu biểu có những kết quả nổi bật về công tác KTGS trong CAND như:

Trần Công Viên, Kết quả đạt được và những định hướng cơ bản về công tác KTGS của UBKT các cấp trong Đảng bộ CATW thời gian tới, Kỷ

yếu hội thảo công tác KTGS của Đảng, 5/2014;

Trần Văn Ba, Xây dựng đội ngũ CBKT trong Đảng bộ CATW đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ KTGS trong tình hình hiện nay, Kỷ yếu hội thảo công tác

bộ CATW hiện nay, Kỷ yếu hội thảo công tác KTGS của Đảng, 5/2014;

Đinh Ngọc Hoa, Nâng cao chất lượng công tác giám sát của UBKT các

cấp trong Đảng bộ CATW, đề tài tốt nghiệp lớp Cao cấp lý luận chính trị -

Hành chính, 2014

Nguyễn Thị Hồng Ngọc, Công tác KTGS của Đảng bộ CATW hiện nay,

Khóa luận tốt nghiệp ngành Xây dựng Đảng và Chính quyền nhà nước, HVANND, năm 2013;…

Nhìn chung, những công trình khoa học trên, các tác giả đã đưa ra những quan niệm của mình về vấn đề công tác KTGS của Đảng và từ thực tiễn hoạt động của UBKT và tổ chức đảng các cấp, một số tác giả rút ra

Trang 9

những kinh nghiệm, giải pháp, kiến nghị để nâng cao chất lượng công tác KTGS của Đảng nói chung và trong CAND nói riêng

Tuy nhiên, chưa có tác giả và công trình khoa học nào thực sự nghiên cứu có hệ thống về vấn đề chất lượng công tác KTGS của Đảng bộ HVANND hiện nay Những công trình khoa học của các tác giả sẽ là nguồn tài liệu tham khảo cho học viên nghiên cứu vấn đề trên một cách có hệ thống, toàn diện và sâu sắc

3 Mục tiêu, nhiệm vụ

* Mục tiêu: Trên cơ sở làm sáng tỏ một số vấn đề cơ bản lý luận và

thực tiễn chất lượng công tác KTGS của Đảng bộ HVANND, đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao chất lượng công tác KTGS của Đảng bộ HVANND thời gian tới

* Nhiệm vụ:

- Làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về công tác KTGS của Đảng

- Làm rõ thực trạng chất lượng công tác KTGS của Đảng bộ HVANND chỉ rõ ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân

- Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm góp phần nâng cao chất lượng công tác KTGS của Đảng bộ Học viện thời gian tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu: Chất lượng công tác KTGS của Đảng bộ

HVANND

* Phạm vi nghiên cứu:

- Nội dung: Công tác KTGS của cấp ủy, tổ chức đảng, UBKT các cấp thuộc Đảng bộ HVANND

- Không gian: HVANND

- Thời gian: Từ năm 2010 đến năm 2015

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và những quan điểm của Đảng ta về công tác xây dựng

Đảng nói chung và công tác KTGS của Đảng nói riêng

Trang 10

Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp lịch sử; phương pháp lôgic; phương pháp thu thập, xử lý thông tin; phương pháp thống kê; phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp so sánh,…

6 Đóng góp của luận văn

Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể cung cấp luận cứ góp phần nâng cao chất lượng công tác KTGS của Đảng bộ HVANND; sử dụng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu và giảng dạy môn xây dựng Đảng trong hệ thống các trường chính trị, các trường CAND; Đồng thời, có thể góp phần nâng cao chất lượng công tác KTGS của Đảng trong lực lượng CAND hiện nay

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, các phụ lục, luận văn được kết cấu thành 3 chương, 6 tiết:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về chất lượng công tác kiểm

tra, giám sát của Đảng bộ Học viện An ninh nhân dân

Chương 2: Thực trạng chất lượng công tác kiểm tra, giám sát của Đảng

bộ Học viện An ninh nhân dân

Chương 3: Nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giám sát của Đảng

bộ Học viện An ninh nhân dân

Trang 11

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG

VỀ CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC KIỂM TRA, GIÁM SÁT

CỦA ĐẢNG BỘ HỌC VIỆN AN NINH NHÂN DÂN

1.1 Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm

của Đảng ta về công tác kiểm tra, giám sát của Đảng

1.1.1 Chủ nghĩa Mác - Lênin về công tác kiểm tra, giám sát

a, Tư tưởng cơ bản của C.Mác và Ph.Ăngghen về công tác KTGS

Ph.Ăngghen cho rằng mỗi hoạt động có ý thức, có tổ chức của con người đều chứa đựng trong nó những yếu tố của kiểm tra Kiểm tra là một trong những phương thức hành động quan trọng để thực hiện mục đích C.Mác, Ph.Ăngghen là những người bước đầu nêu lên những tư tưởng cơ bản

về công tác KTGS Những quan điểm đó là kết quả của quá trình nghiên cứu

lý luận và từ thực tiễn lãnh đạo phong trào công nhân, lãnh đạo cách mạng vô sản, xây dựng chủ nghĩa xã hội Thời điểm đó, các ông chưa sử dụng trực tiếp khái niệm KTGS mà thường sử dụng khái niệm kiểm kê, kiểm tra, kiểm soát -

đó là những khái niệm bao gồm cả nội dung giám sát Trong các tác phẩm của mình, do điều kiện hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ, C.Mác chưa đề cập sâu đến công tác KTGS của một đảng cầm quyền, nhưng đã thể hiện rõ quan điểm về KTGS trong quản lý kinh tế - xã hội

Ngay từ năm 1847, hai ông đã chủ trương thành lập một chính đảng độc lập Dưới sự chỉ đạo của C.Mác, Ph.Ăngghen, Điều lệ Đồng minh những người cộng sản đã được khởi thảo, trong đó thể hiện rõ những tư tưởng cơ bản

về tổ chức xây dựng đảng Điểm then chốt mà hai ông đã khẳng định Đảng phải là một đội ngũ có tổ chức tập trung chặt chẽ, các cơ quan lãnh đạo của Đảng phải được bầu cử một cách dân chủ và họ có thể bị bãi miễn bất kỳ lúc nào nếu họ không hoàn thành được nhiệm vụ của tổ chức giao cho; đảng phải

là một khối thống nhất về chính trị, tư tưởng và tổ chức

C.Mác, Ph.Ăngghen đã kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội và các biểu hiện vi phạm kỷ luật đảng C.Mác đã thấy rõ sự cần thiết phải duy trì

Trang 12

kỷ luật đảng, “nếu không mọi thứ sẽ mất hết” Như vậy, hai ông luôn đòi hỏi cao ở một chính đảng cách mạng là phải luôn giữ vững nguyên tắc hoạt động,

có sự thống nhất và kỷ luật nghiêm minh Trong quá trình lãnh đạo và xây dựng nội bộ đảng, tất yếu Đảng Cộng sản phải tiến hành hoạt động kiểm tra Không chỉ dừng lại ở việc kiểm tra thực hiện đường lối, quan điểm, mà còn kiểm tra đội ngũ đảng viên của Đảng trong việc thực hiện vai trò là chiến sĩ tiên phong, phấn đấu rèn luyện theo mục tiêu lý tưởng của Đảng

* Quan điểm của V.I.Lênin về công tác KTGS của Đảng

V.I.Lênin xác định công tác kiểm tra, kiểm soát là một công cụ hữu hiệu và là một nội dung lãnh đạo quan trọng đối với tổ chức đảng, cơ quan Nhà nước

V.I.Lênin đã khẳng định: “Để chính quyền vô sản non trẻ đứng vững và phát triển thì những người cộng sản phải nắm chắc công cụ kiểm tra, kiểm soát Coi đó như là những nghiệp vụ đã trở thành tự nhiên đối với những người xã hội chủ nghĩa sau khi giành được chính quyền” [51, tr 298] Khi mục đích và nhiệm vụ đã được xác định, nghị quyết đã được thông qua thì nhiệm vụ tổ chức phải được đặt lên hàng đầu: “Điều chủ yếu là chuyển trọng tâm từ việc soạn thảo các sắc lệnh và mệnh lệnh sang việc lựa chọn người và kiểm tra việc thực hiện” [49, tr 446]

Về vị trí, vai trò và tính tất yếu của công tác kiểm tra, kiểm soát; V.I.Lênin rất coi trọng công tác kiểm tra, kiểm soát, xác định đó là công cụ hữu hiệu và là một nội dung lãnh đạo quan trọng Người đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò công tác kiểm tra, kiểm soát sau khi giành được chính quyền Vì nhiệm vụ trọng tâm đã chuyển từ tước đoạt của kẻ đi tước đoạt, sang nhiệm

vụ tổ chức, quản lý xây dựng chính quyền, đặc biệt trung tâm là phát triển kinh tế nâng cao năng suất lao động Đây là nhiệm vụ khó khăn gấp bội, như V.I.Lênin đã thường nói, “giành chính quyền đã khó, giữ chính quyền càng khó hơn”

Về nội dung, nhiệm vụ, ý nghĩa của kiểm tra, kiểm soát: công tác kiểm

tra, kiểm soát tập trung trước hết là kiểm tra “việc” và kiểm tra “người” Theo

Trang 13

V.I.Lênin, nhiệm vụ chủ yếu trong công tác kiểm tra, kiểm soát là biết sửa chữa, uốn nắn công việc, ngăn ngừa thiếu sót, sai lầm Điều đó cho thấy tính chủ động, tính nhân văn của công tác kiểm tra, kiểm soát của Đảng Tìm ra lỗi lầm ở người phụ trách chỉ là một phần rất nhỏ của công việc; kiểm tra, kiểm soát nhằm xây dựng tinh thần trách nhiệm và kỷ luật cao của mỗi cán bộ, đảng viên

Về phương pháp và hình thức kiểm tra, kiểm soát, V.I.Lênin yêu cầu phải tổ chức sự phối hợp việc kiểm tra, kiểm soát từ dưới lên và từ trên xuống, đặc biệt coi trọng vai trò của quần chúng Theo V.I.Lênin: “Không có

gì ngu dại hơn là biến các xôviết thành một cái gì cứng đờ, thành một cái gì độc lập tự tại Ngày nay, chúng ta càng cương quyết chủ trương phải có một chính quyền thẳng tay cứng rắn, phải thi hành chế độ chuyên chính cá nhân trong những quá trình công tác nào đó, trong những chức năng thuần túy có tính chất thực hành nào đó, thì những hình thức và những phương pháp kiểm tra từ dưới lên, càng phải hết sức muôn vẻ để làm tê liệt mọi khả năng, dù nhỏ đến đâu, dẫn tới xuyên tạc chính quyền xôviết, để tiếp tục và trừ cho tiệt cái

Về xây dựng cơ quan chuyên trách kiểm tra của Đảng, V.I.Lênin nêu ý kiến cần thiết phải có một cơ quan trung ương có thể bảo đảm sự đúng đắn

của chính sách vô sản xã hội chủ nghĩa Trong “Dự thảo nghị quyết về nhiệm

vụ trước mắt của công tác xây dựng Đảng” trình bày tại Hội nghị IX toàn

Nga, ngày 24-11-1924 có ghi: “Thừa nhận sự cần thiết phải thành lập Ban Kiểm tra song song với Ban Chấp hành Trung ương, thành phần ban này phải gồm những đồng chí có trình độ nhất định trong lĩnh vực công tác Đảng, có kinh nghiệm nhất, không thiên vị và có khả năng thực hiện công tác kiểm tra hoàn toàn theo tinh thần của Đảng”

V.I.Lênin cũng đòi hỏi CBKT phải là những người mẫu mực nhất,

“không thể chê trách được”; vì vậy, người cán bộ đó phải được lựa chọn cẩn thận, sát hạch, thanh tra kỹ, được “đặc biệt tin cẩn và được huấn luyện rất

Trang 14

công phu, họ sẽ phải có khả năng công tác cao, phải được thanh tra một cách

1.1.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng ta về công tác kiểm tra, giám sát của Đảng

a, Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác kiểm tra của Đảng

Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác kiểm tra của Đảng chiếm một vị trí cực kỳ quan trọng trong toàn bộ di sản tư tưởng của Người về xây dựng Đảng Quá trình hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác kiểm tra gắn với quá trình hình thành và phát triển tư tưởng của Người về xây dựng Đảng Cộng sản cầm quyền Tư tưởng về công tác kiểm tra của Đảng đã không ngừng được Hồ Chí Minh bổ sung, phát triển hoàn thiện hơn và trở thành một hệ thống hoàn chỉnh Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác kiểm tra của Đảng được thể hiện rõ nét ở các nội dung chủ yếu sau đây:

Một là, sự cần thiết phải tiến hành công tác kiểm tra của Đảng

Lãnh đạo là chức năng bao trùm của Đảng Chức năng ấy được quy định bởi ngay từ quy luật ra đời của Đảng Yêu cầu cao nhất của một chính đảng là phải lãnh đạo đúng Vì vậy, Hồ Chí Minh đã luận giải hết sức rõ ràng rằng: “Lãnh đạo đúng nghĩa là: 1 Phải quyết định mọi vấn đề một cách cho đúng Mà muốn thế thì nhất định phải so sánh kinh nghiệm của dân chúng Vì dân chúng chính là những người chịu đựng cái kết quả của sự lãnh đạo của ta;

2 Phải tổ chức sự thi hành cho đúng Mà muốn vậy, không có dân chúng giúp sức thì không xong; 3 Phải tổ chức sự kiểm soát, mà muốn kiểm soát đúng thì cũng phải có quần chúng giúp mới được” [31, tr 325]

Trong bài viết “Một việc mà các cơ quan lãnh đạo cần thực hiện ngay”, Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Chính sách đúng là nguồn gốc của

thắng lợi Song từ nguồn gốc đi đến thắng lợi thực sự thành công, tổ chức phải đấu tranh Khi đã có chính sách đúng, thì sự thành công hoặc thất bại của chính sách đó là do nơi cách tổ chức công việc, nơi lựa chọn cán bộ, và do nơi kiểm tra Nếu ba điều ấy sơ sài, thì chính sách đúng mấy cũng vô ích” [31, tr 520-525]

Trang 15

Hai là, về mục đích, ý nghĩa tác dụng của công tác kiểm tra của Đảng

Hồ Chí Minh chỉ rõ mục đích, tác dụng của công tác kiểm tra là giúp cho cấp ủy, tổ chức đảng nắm được thực chất tình hình lãnh đạo, chất lượng của các nghị quyết, chỉ thị…; tình hình thực hiện như thế nào, có gì đúng đắn,

có gì sai lệch; ai chấp hành tốt, ai chấp hành chưa tốt, năng lực thực tế của mỗi người, từ đó mà phát huy ưu điểm, thành tích, có biện pháp khắc phục, sửa chữa thiếu sót, khuyết điểm để tiến bộ Theo Hồ Chí Minh: “1 Có kiểm soát như thế mới biết rõ cán bộ và nhân viên tốt hay xấu; 2 Mới biết rõ ưu điểm và khuyết điểm của các mệnh lệnh và nghị quyết” [31, tr 287-288]

Ba là, về chủ thể, đối tượng và nội dung kiểm tra

Người nêu một cách khái quát chủ thể kiểm tra và đối tượng kiểm tra là: “Cấp trên phải thường kiểm tra cấp dưới” [32, tr 9] và “Cán bộ cấp trên phải luôn luôn đôn đốc và kiểm tra đôn đốc cán bộ cấp dưới” [32, tr 66]

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng cho rằng, nội dung kiểm tra là kiểm tra người và kiểm tra việc Theo Hồ Chí Minh, phạm vi, nội dung của công tác kiểm tra rất rộng Nhưng tập trung nhất là kiểm tra việc và kiểm tra người

Bốn là, phải coi trọng và phát huy vai trò, trách nhiệm của nhân dân

trong công tác kiểm tra của Đảng

Hồ Chí Minh chỉ rõ ý nghĩa, vai trò, tác dụng của việc nhân dân tham gia giám sát, kiểm tra: “Chính phủ ta là chính phủ của nhân dân, chỉ có một mục đích là ra sức phụng sự lợi ích của nhân dân Chính phủ rất mong đồng bào giúp đỡ, đôn đốc, kiểm soát, phê bình để làm trọn nhiệm vụ của mình là người đầy tớ trung thành tận tụy của nhân dân” [33, tr 361] Làm như vậy thì:

“- Một mặt trong có Đảng kiểm tra đôn đốc; - Một mặt có anh em ngoài kiểm tra đôn dốc Như thế đảng viên và cán bộ ngoài Đảng cũng được giáo dục” [33, tr 39]

Năm là, về phương pháp, hình thức kiểm tra và người kiểm tra

Hồ Chí Minh coi kiểm tra như là một phương tiện, một liều thuốc đặc biệt chống lại các căn bệnh: “nghị quyết một đường, thi hành một nẻo” và bệnh quan liêu, giấy tờ…Song, công tác kiểm tra muốn đạt hiệu quả cao thì

Trang 16

phải “khéo kiểm soát” “Khéo” tức là phải trên cơ sở khoa học, có hình thức, phương pháp kiểm tra linh hoạt, đa dạng, nhưng phải tuân thủ nguyên tắc, phương pháp công tác đảng

Sáu là, về tổ chức thực hiện việc kiểm tra và người đi kiểm tra

Theo Hồ Chí Minh, có hình thức, phương pháp kiểm tra đúng, điều đó rất quan trọng, nhưng yếu tố quyết định chất lượng hiệu quả của mỗi cuộc kiểm tra là ở tổ chức thực hiện việc kiểm tra và người đi kiểm tra Do đó, Người cho rằng: “Không thể gặp ai cũng phải đi kiểm tra Người lãnh đạo phải tự mình làm việc kiểm tra mới đủ kinh nghiệm và oai tín Nhưng người lãnh đạo cần phải có một nhóm cán bộ nhiều kinh nghiệm và giàu năng lực để giúp mình đi kiểm tra Ai đi kiểm tra việc gì, nơi nào nếu có sơ xuất thì người

ấy phải chịu trách nhiệm” [31, tr 521]

b, Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác giám sát của Đảng

Hồ Chí Minh nói về giám sát một cách linh hoạt, bằng ngôn ngữ giản

dị, dễ hiểu; bao hàm cả giám sát trong Đảng, Nhà nước, các đoàn thể nhân dân, giám sát đối với cán bộ, đảng viên, công chức, vì hầu hết cán bộ, công chức đều là đảng viên, là công bộc của nhân dân Song, cũng có trường hợp Người nói riêng về giám sát trong Đảng, giám sát đối với cán bộ, đảng viên

Vấn đề đặt ra là vì sao phải giám sát? Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, khi

đã có đường lối, chủ trương, chính sách đúng, thì việc thành công hay thất bại của đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng trong thực tế còn do cách tổ chức công việc, do việc lựa chọn cán bộ và do việc kiểm tra, kiểm soát (tức phải giám sát xem việc thực hiện có đến nơi, đến trốn hay không) Vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, để đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước được triển khai thực hiện có chất lượng, hiệu quả trong thực tế thì Đảng và Nhà nước, cán bộ, đảng viên, công chức phải luôn luôn trú trọng công tác giám sát

Đối với cán bộ, đảng viên, công chức, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chỉ

rõ phải tăng cường giám sát để quản lý, giáo dục, rèn luyện họ, để giúp họ tự

tu dưỡng, trau dồi đạo đức cách mạng, tính tiên phong gương mẫu của người

Trang 17

cộng sản Đặc biệt, người lãnh đạo trong hệ thống chính trị (Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị xã hội) phải luôn rèn luyện đức tính cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư

Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu phải thực hiện việc giám sát một cách toàn diện, đồng bộ nhiều hình thức, biện pháp mới đem lại kết quả cao Người viết: “…từ nay các cán bộ đều biết phê bình và tự phê bình, đều cố gắng sửa đổi lối làm việc, theo đúng đường lối của Chính phủ và Đoàn thể, hợp với lòng dân Cán bộ cấp trên phải luôn luôn đôn đốc và kiểm tra công việc cán

bộ cấp dưới Nhân dân thì giúp Chính phủ và Đoàn thể kiểm tra công việc và hành vi của cán bộ” [42, tr 66]

Tuy nhiên, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng lưu ý, muốn thực hiện công tác giám sát có chất lượng, hiệu quả, phải “khéo” cả trong “phương pháp và hình thức”, thực hiện phải sáng tạo, linh hoạt, uyển chuyển trong từng trường hợp

cụ thể, không rập khuôn máy móc Song việc giám sát của Đảng, Nhà nước phải trên cơ sở và đúng các nguyên tắc, phương pháp cơ bản của Đảng, nhất

là nguyên tắc tập trung dân chủ; phải đảm bảo công khai, dân chủ giữa chủ thể giám sát và đối tượng giám sát; đặc biệt là sự giám sát của nhân dân đối với cán bộ, đảng viên

c, Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác KTGS

Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, ngay từ ngày thành lập đã xác định rõ vị trí, vai trò, tác dụng của công tác KTGS và việc giữ gìn kỷ luật đối với việc nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng

Trong bản "Điều lệ vắn tắt của Đảng" tại Hội nghị thành lập Đảng (tháng 2 năm 1930), Mục V đã ghi rõ: "Điều tra các việc" [13, tr 8]; và Mục

IX, Điểm c đã ghi: "Cách xử phạt người có lỗi trong Đảng do hội chấp hành

uỷ viên trong cấp đảng hay đại biểu đại hội định" [13, tr 9] Điều lệ Đảng chính thức được thông qua vào tháng 10 năm 1930 đã quy định: Trách nhiệm của đảng viên và cán bộ là giữ gìn kỷ luật đảng một cách nghiêm khắc Tất cả đảng viên đều phải chấp hành các nghị quyết của Quốc tế Cộng sản, của Đảng

Trang 18

đại hội, của Trung ương và của thượng cấp cơ quan, Đối với vấn đề vi phạm

kỷ luật thì do toàn bộ chi bộ hoặc cấp đảng bộ tra xét Các cấp uỷ viên có thể đặt ra đặc biệt uỷ viên để tra xét những vấn đề vi phạm kỷ luật đảng,…

Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng lần thứ I (10 năm 1935) đã khẳng định: "Cần giữ kỷ luật sắt cho Đảng, những phần tử đi trái đường lối chính trị chung của Đảng, của Quốc tế Cộng sản mà không chịu sửa lỗi, những kẻ không phục tùng nghị quyết, điều lệ, phá hoại kỷ luật của Đảng thì nhất thiết phải khai trừ " [14, tr 25] Ngày 16 tháng 10 năm 1948, Ban Kiểm tra Trung ương được thành lập - đánh dấu sự ra đời và phát triển ngành kiểm tra Đảng

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II (tháng 2 năm 1951), Đảng ta

đã khẳng định: "Đảng Lao động Việt Nam phải có kỷ luật sắt đồng thời là kỷ luật sắt" [15, tr 37]; Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III (tháng 9 năm 1960)

đã nêu rõ: “Phải tăng cường kiểm tra và giám sát của Đảng đối với cán bộ và

cơ quan nhà nước, giữ gìn kỷ luật nghiêm minh, xử lý thích đáng đối với những phần tử quan liêu gây tác hại nghiêm trọng cho Đảng, Nhà nước và nhấn mạnh: Lãnh đạo mà không có kiểm tra thì lãnh đạo sẽ trở thành quan liêu” [14, tr 231]; Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng (tháng 12 năm 1976) đã yêu cầu phải: "Tổ chức chu đáo, thường xuyên và có hệ thống công tác kiểm tra việc thực hiện đường lối, chính sách, ngăn ngừa xảy ra sai lầm, ngăn ngừa các vụ vi phạm nguyên tắc Không kiểm tra coi như không lãnh đạo" [14, tr 378]; Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng (tháng

3 năm 1982) đã nêu rõ: “Công tác kiểm tra là một trong những chức năng lãnh đạo chủ yếu của Đảng, một bộ phận quan trọng trong toàn bộ công tác xây dựng Đảng, nhất là trong hoàn cảnh Đảng lãnh đạo chính quyền Lãnh đạo mà không kiểm tra thì coi như không lãnh đạo” [16, tr 192-193]

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (tháng 12 năm 1986) tiếp tục khẳng định các quan điểm về KTGS và kỷ luật đảng mà Đại hội Đảng lần thứ V đã chỉ ra, đồng thời nhấn mạnh: "Kiểm tra là một chức năng lãnh đạo chủ yếu của Đảng, là một khâu quan trọng của tổ chức thực hiện Đó cũng là biện pháp hiệu nghiệm để khắc phục bệnh quan liêu Mọi tổ chức, từ

Trang 19

cơ quan của Đảng, Nhà nước đến đoàn thể quần chúng, mọi lĩnh vực hoạt động từ kinh tế, xã hội đến quốc phòng, an ninh, đối ngoại, không có ngoại lệ, đều phải đặt dưới sự kiểm tra của tổ chức đảng có thẩm quyền" [17, tr 137-138]

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (tháng 6 năm 1991) diễn ra trong bối cảnh có nhiều biến động, diễn biến phức tạp, nhất là bối cảnh quốc tế, những thời cơ và thách thức lớn đan xen nhau Trong bối cảnh

đó, Đảng ta tiếp tục khẳng định vị trí, vai trò của công tác KTGS, kỷ luật đảng; khẳng định sự kiên định, trung thành với chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, lấy đó làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng (tháng 7 năm 1996)

đã khẳng định: "Công tác kiểm tra có vị trí cực kỳ quan trọng trong toàn bộ hoạt động lãnh đạo của Đảng Kiểm tra và giữ gìn kỷ luật của Đảng là nhiệm

vụ của toàn Đảng, Các tổ chức đảng, trước hết là các cấp uỷ đảng, Bộ Chính trị và các ban thường vụ cấp uỷ, cần tự mình tiến hành kiểm tra và sử dụng các ban để tổ chức thường xuyên việc kiểm tra " [19, tr 150-151]

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng (tháng 4 năm 2001) thẳng thắn nhận định: "… Việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng còn lúng túng, chưa đi sâu làm rõ đặc điểm và yêu cầu về sự lãnh đạo của Đảng trong điều kiện đảng cầm quyền Tổ chức chỉ đạo thực hiện và kiểm tra việc thực hiện các nghị quyết của Đảng và pháp luật của Nhà nước còn yếu" [20,

tr 138-139] và nhấn mạnh phải: "Tăng cường công tác kiểm tra của các cấp

uỷ, của uỷ ban kiểm tra các cấp, tập trung vào các nội dung chủ yếu: thực hiện các nghị quyết, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; chấp hành nguyên tắc tập trung dân chủ và quy chế làm việc; củng cố đoàn kết nội

bộ, giáo dục, rèn luyện, nâng cao phẩm chất, đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên"[20, tr 146]

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng (tháng 4 năm 2006) trên

cơ sở tổng kết và nghiên cứu lý luận đã bổ sung chức năng, nhiệm vụ giám sát của các tổ chức đảng vào Điều lệ Đảng và khẳng định: KTGS là những chức năng lãnh đạo của Đảng Tổ chức đảng phải tiến hành công tác KTGS Tổ

Trang 20

chức đảng và đảng viên chịu sự KTGS của Đảng Đây là một bước tiến trong nghiên cứu lý luận về khoa học kiểm tra đảng, tạo cơ sở vững chắc, căn cứ pháp lý để các tổ chức đảng tiến hành công tác giám sát

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng (tháng 1 năm 2011) tiếp tục khẳng định vị trí, vai trò, tác dụng của công tác KTGS, kỷ luật đảng

do Đại hội lần thứ X đề ra, đồng thời nhấn mạnh việc "đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác KTGS" Văn kiện Đại hội chỉ rõ: "Các cấp uỷ, tổ chức đảng phải nâng cao tinh thần trách nhiệm, thực hiện tốt hơn nhiệm vụ KTGS theo Điều

tượng, nội dung cụ thể Đồng thời, yêu cầu: "Công tác KTGS của Đảng phải phối hợp chặt chẽ với công tác thanh tra của Chính phủ, công tác giám sát của Quốc hội và các cơ quan hành pháp, tư pháp, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân theo đúng chức năng và thẩm quyền của mỗi cơ quan Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ và hoạt động của hệ thống uỷ ban kiểm tra các cấp Hoàn thiện quy chế phối hợp giữa uỷ ban kiểm tra đảng với các tổ chức đảng

và các cơ quan bảo vệ pháp luật trong việc xem xét khiếu nại, tố cáo và xử lý

Tóm lại, quan điểm xuyên suốt và nhất quán của Đảng Cộng sản Việt Nam luôn khẳng định: KTGS là một tất yếu, là nhu cầu không thể thiếu đối với hoạt động của các tổ chức đảng và đảng viên, là chức năng lãnh đạo, đồng thời là một trong những phương thức lãnh đạo của Đảng, biện pháp hiệu nghiệm để khắc phục bệnh quan liêu, nạn tham nhũng và công tác KTGS có

vị trí cực kỳ quan trọng trong toàn bộ hoạt động lãnh đạo của Đảng, giữ gìn

kỷ luật là nhiệm vụ của toàn Đảng

1.2 Quan niệm về công tác kiểm tra, giám sát của Đảng và chất lượng công tác kiểm tra, giám sát của Đảng bộ Học viện An ninh nhân dân

1.2.1 Công tác kiểm tra, giám sát của Đảng

a, Quan niệm về công tác KTGS của Đảng

Theo Từ điển tiếng Việt, “kiểm tra” có nghĩa là “xem xét tình hình thực

tế để đánh giá, nhận xét” [52, tr 523], để xác định tính hợp pháp, mức độ

Trang 21

đúng sai; “giám sát” có nghĩa là “theo dõi và kiểm tra xem có thực hiện đúng những điều quy định không” [52, tr 389]

Theo từ điển Luật học, kiểm soát là “xem xét để phát hiện, ngăn ngừa việc làm sai trái với thỏa thuận, với quy định” [53, tr 264] Giám sát còn được hiểu là “sự theo dõi, quan sát hoạt động mang tính chủ động thường xuyên, liên tục và sẵn sàng tác động bằng các biện pháp tích cực để buộc và hướng hoạt động của đối tượng chịu sự giám sát đi đúng quỹ đạo, quy chế nhằm đạt được mục đích, hiệu quả đã được xác định từ trước, bảo đảm cho pháp luật được tuân theo nghiêm chỉnh” [53, tr 174]

Kiểm tra và giám sát là thuật ngữ được sử dụng ở trong nhiều lĩnh vực

và trong nhiều các tổ chức khác nhau như Đảng, chính quyền, đoàn thể, các tổ chức xã hội… Trong điều lệ, quy chế hoạt động của các đoàn thể đều có quy định về KTGS Việc giám sát của các đoàn thể chính trị không chỉ trong phạm

vi của nội bộ mà còn được Bộ Chính trị quy định tham gia giám sát và phản biện xã hội

Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác KTGS và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khóa XI (ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW, ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương) giải thích công tác KTGS của Đảng như sau:

- Kiểm tra của Đảng là một trong những chức năng lãnh đạo của Đảng, là việc tổ chức đảng xem xét, đánh giá, kết luận về ưu điểm, khuyết điểm hoặc vi phạm của cấp ủy, tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên trong việc chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, chủ trương, nghị quyết, chỉ thị của Đảng và pháp luật của Nhà nước

- Giám sát của Đảng là việc các tổ chức đảng theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động nhằm kịp thời tác động để cấp ủy, tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên được giám sát chấp hành nghiêm chỉnh Cương lĩnh chính trị, Điều

lệ Đảng, chủ trương, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng

Có thể hiểu công tác KTGS của Đảng như sau:

Trang 22

Thứ nhất, công tác kiểm tra của Đảng là hoạt động của Đảng, được tiến

hành đối với tổ chức đảng và đảng viên nhằm nắm vững tình hình; nhận xét, đánh giá việc chấp hành Điều lệ, nghị quyết, chỉ thị, các quy định, quyết định của Đảng; xác định sự đúng đắn hay vi phạm của các hành vi có liên quan đến

kỷ cương, kỷ luật của Đảng và đưa ra hình thức xử lý kịp thời, đúng đắn

- Chủ thể kiểm tra bao gồm: chi bộ, đảng ủy bộ phận, đảng ủy cơ sở; cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy từ cấp trên cơ sở trở lên; UBKT, các ban đảng, văn phòng cấp ủy, cơ quan UBKT (gọi chung là các cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp ủy); ban cán sự đảng, đảng đoàn

- Đối tượng kiểm tra bao gồm: chi bộ, đảng ủy bộ phận, đảng ủy cơ sở; cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy, thường trực cấp ủy từ cấp trên cơ sở trở lên; UBKT, các cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp ủy; ban cán sự đảng, đảng đoàn; đảng viên

- Nội dung kiểm tra:

+ Việc chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, chủ trương, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, của cấp ủy cấp trên và cấp mình: pháp luật của Nhà nước

+ Việc chấp hành nguyên tắc tập trung dân chủ, quy chế làm việc, chế

độ công tác, thực hiện dân chủ trong Đảng, giữ gìn đoàn kết nội bộ

+ Việc lãnh đạo, chỉ đạo thực hành tiết kiệm; phòng chống tham nhũng, lãng phí; rèn luyện phẩm chất, đạo đức lối sống của cán bộ, đảng viên

+ Việc lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện cải cách hành chính, cải cách tư pháp

+ Việc lãnh đạo, chỉ đạo các cơ quan bảo vệ pháp luật trong công tác điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án

+ Việc tuyển dụng, quy hoạch, luân chuyển, đào tạo, đề bạt, bố trí, sử dụng cán bộ

+ Việc lãnh đạo, chỉ đạo và giải quyết khiếu nại, tố cáo của đảng viên

và nhân dân

+ Việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao của người đứng đầu

tổ chức đảng, nhà nước, mặt trận và các đoàn thể nhân dân các cấp

Trang 23

Thứ hai, công tác giám sát của Đảng là nhiệm vụ của toàn Đảng Tổ

chức đảng và đảng viên có trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ giám sát theo quy định, nhằm theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của tổ chức đảng và đảng viên chịu sự giám sát trong việc chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, các chỉ thị, các quy định, quyết định của Đảng và đạo đức, lối sống theo quy định của Ban Chấp hành Trung ương

- Chủ thể giám sát bao gồm: chi bộ, đảng ủy bộ phận, đảng ủy cơ sở; cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy từ cấp trên cơ sở trở lên; UBKT, các cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp ủy

- Đối tượng giám sát bao gồm: chi bộ, đảng ủy bộ phận, đảng ủy cơ sở, cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy, thường trực cấp ủy từ cấp trên cơ sở trở lên; UBKT, các cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp ủy; ban cán sự đảng, đảng đoàn; đảng viên

- Nội dung giám sát:

+ Đối với đảng viên: Việc thực hiện nhiệm vụ đảng viên

b, Công tác KTGS là một tất yếu khách quan trong xây dựng Đảng

Thực tiễn và các quan hệ xã hội luôn luôn vận động và phát triển theo quy luật khách quan Trong khi đó nhận thức của con người là một quá trình Con đường nhận thức chân lý khách quan của con người đi từ hiện tượng đến bản chất Dù ý định của con người được tính toán cân nhắc kỹ tới mấy, chắc chắn vẫn có những sơ hở, khiếm khuyết Nhận thức của đội ngũ đảng viên vẫn không nằm ngoài quy luật chung đó

Trong đội ngũ đảng viên, bên cạnh số đông là những người tiên tiến, có giác ngộ lý tưởng cách mạng, nhận thức được quy luật của thực tiễn cách mạng, thì vẫn còn một số đảng viên do nhận thức chưa đầy đủ các chủ trương,

Trang 24

nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nên cũng dễ mắc phải sai lầm, khuyết điểm Song, ngay cả những đảng viên hội đủ sự nhiệt tình, năng nổ và tính trách nhiệm cao cũng có khi thất bại, thậm chí vi phạm các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước khi ở họ mong muốn sự thể nghiệm những ý tưởng, việc làm vượt quá những điều kiện vật chất cho phép Nhận thức của đảng viên đúng hay sai sẽ ảnh hưởng đến năng lực tổ chức thực tiễn và hiệu quả thực hiện nhiệm vụ chính trị của mình

Sự vận động, biến đổi của xã hội theo hướng phát triển, tiến bộ, theo đó

mà yêu cầu của nhiệm vụ chính trị cũng có sự thay đổi cho phù hợp với từng giai đoạn lịch sử cụ thể Trong cách mạng dân tộc dân chủ, nhiệm vụ chính trị chủ yếu là làm sao đập tan chế độ thực dân phong kiến, con người được giải phóng, thoát khỏi ách áp bức, bóc lột Còn trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, nhất là thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì yêu cầu nhiệm vụ chính trị càng nặng nề, phức tạp hơn, nhiều vấn đề mới đặt ra cho chủ thể lãnh đạo, đội ngũ đảng viên phải giải quyết

Cơ chế quản lý kinh tế - xã hội đang trong quá trình hoàn thiện, trong nhiều trường hợp ranh giới giữa đúng và sai, giữa năng động, sáng tạo và vi phạm rất khó xác định Trong khi đó năng lực, nhận thức của một bộ phận đảng viên còn hạn chế, bất cập chưa được chuẩn bị kỹ về lý luận và thực tiễn, nên rất dễ dẫn tới sai phạm Sự vi phạm đó ngoài nguyên nhân khách quan còn có nguyên nhân chủ quan, đó là đảng viên chưa tự giác học tập, tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng, bị cuốn hút bởi lối sống thực dụng do chủ nghĩa cá nhân gây ra Bất luận trong hoàn cảnh nào người đảng viên cũng không được đổ lỗi cho khách quan để làm trái quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước Đó là lương tâm, lẽ sống, trách nhiệm của người đảng viên Nhận thức không đúng là căn nguyên đầu tiên mở đường cho các sai phạm, yếu kém ở một bộ phận cán bộ, đảng viên Chính vì vậy, tăng cường công tác KTGS của tổ chức đảng để giáo dục, uốn nắn những nhận thức, hành vi chưa

đúng của đảng viên là yêu cầu khách quan, cần thiết

Những quan điểm mới mẻ, tiên tiến được khởi đầu từ một người, hoặc

Trang 25

một nhóm người, do đó phải có quá trình thông qua hoạt động thực tiễn mới

có cơ sở để thẩm định tính đúng đắn của quan điểm đó Nếu như cái mới, cái tiên tiến trong ý tưởng của một đảng viên nào đó thiếu vắng sự bàn bạc của tập thể, chưa được kiểm nghiệm của thực tiễn, vừa mong muốn thể nghiệm để chứng tỏ bản lĩnh và ý thức đổi mới thì cũng dễ mắc phải sai lầm, khuyết điểm Vì vậy, phải tăng cường kiểm tra để ngăn chặn các sai phạm có thể xảy

ra ở một bộ phận đảng viên đó Chủ động kiểm tra để ngăn chặn sai phạm của đảng viên, nhưng cần khích lệ cái đúng, cái tiên tiến dựa trên cơ sở khoa học Bởi vì, cái mới, cái tiên tiến xuất hiện chưa dễ gì được mọi người chấp nhận ngay Cần bảo vệ, nuôi dưỡng tư tưởng tiên tiến dù còn manh nha, vì đó là yếu tố góp phần vào quá trình đổi mới sự lãnh đạo của Đảng

Từ các vấn đề phân tích trên cho thấy, do những tác động khách quan, nếu cán bộ, đảng viên hạn chế về nhận thức, thiếu tu dưỡng, rèn luyện thì rất

dễ dẫn tới các khuyết điểm, sai phạm Để đội ngũ đảng viên của Đảng luôn là những chiến sĩ tiên phong cả về nhận thức và hành động; luôn là những "công bộc" của dân thì đòi hỏi các cấp ủy đảng, UBKT phải luôn tăng cường KTGS Qua đó có tác dụng giáo dục, phòng ngừa, giúp đảng viên ý thức rõ hơn trách nhiệm, nghĩa vụ của bản thân

Vì vậy, KTGS không chỉ là ý muốn chủ quan của một cá nhân hay một

tổ chức nào mà là tất yếu khách quan, cần thiết đối với mỗi con người và tổ chức trong xã hội Ý thức càng cao, nhiệm vụ chính trị càng nặng nề, phức tạp càng đòi hỏi phải tăng cường công tác KTGS

c, Mối quan hệ giữa kiểm tra và giám sát của Đảng

Giữa kiểm tra và giám sát của Đảng về cơ bản có nhiều điểm giống nhau và có mối liên hệ tác động qua lại lẫn nhau Bởi vì, muốn thực hiện tốt việc giám sát thì phải có theo dõi, xem xét tình hình hoạt động thực tế của đối tượng bị giám sát Ngược lại, muốn thực hiện tốt việc kiểm tra thì phải giám sát Càng làm tốt việc giám sát, thì giúp cho việc kiểm tra càng trúng, càng

đúng và chất lượng, hiệu quả của kiểm tra càng cao

Trang 26

Kiểm tra và giám sát đều là hoạt động của nội bộ Đảng, do cấp ủy, tổ chức đảng và UBKT thực hiện (Chủ thể kiểm tra và giám sát đều là tổ chức đảng); nội dung kiểm tra và giám sát đều là việc chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; mục đích KTGS đều nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng góp phần hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đảng

Trong giám sát, chủ thể hẹp hơn chủ thể kiểm tra, đảng viên chỉ tham gia giám sát khi được cấp có thẩm quyền phân công; đối tượng giám sát rộng hơn đối tượng kiểm tra theo phương châm của Nghị quyết Hội nghị Trung ương năm, khóa X của Đảng: “giám sát phải mở rộng, kiểm tra phải có trọng tâm, trọng điểm”

Giám sát không đi sâu thẩm tra, xác minh, không xem xét thi hành kỷ luật như một cuộc kiểm tra Thông qua giám sát, theo dõi để phát hiện vấn đề, phản ánh với tổ chức và cá nhân, nhằm kịp thời cảnh báo, ngăn ngừa, tránh để xảy ra vi phạm Phương pháp giám sát có giám sát trực tiếp và giám sát gián tiếp Ngược lại, kiểm tra phải tiến hành theo quy trình, coi trọng thẩm tra, xác minh; sau kiểm tra có kết luận cuộc kiểm tra, có đánh giá, nhận xét ưu điểm, khuyết điểm, vi phạm (nếu có) và xử lý kỷ luật tổ chức đảng và đảng viên (nếu có vi phạm đến mức phải xử lý kỷ luật)

Giám sát tiến hành với các hoạt động đang diễn ra của tổ chức đảng và đảng viên Kiểm tra còn có thể tiến hành xem xét các hoạt động của tổ chức đảng và đảng viên đã xảy ra trong quá khứ… Do đó, thời gian tiến hành kiểm tra thường được xác định trước, thời gian giám sát chỉ thông báo thời điểm bắt đầu giám sát mà không thông báo thời điểm kết thúc giám sát (trừ giám sát theo chuyên đề)

Có thể hiểu rằng giám sát của Đảng là hệ thống cảnh báo sớm trong nội

bộ, là sự chủ động cao nhất trong nhiệm vụ chiến lược là ngăn ngừa các vi phạm có thể có ngay khi bàn thảo chủ trương, ngay từ khâu thảo luận các dự thảo nghị quyết, các bản thảo chính sách, ngay khi bàn tính đến các quyết

Trang 27

định sẽ đưa ra Đây cũng là giới tuyến để xác định rạch ròi giữa giám sát của Đảng với kiểm tra nói chung, với kiểm sát của Viện Kiểm sát, với điều tra và với thanh tra Về nhận thức, đến nay do các hoạt động nêu trên có sự cận kề, giao thoa và vì thế đôi khi vẫn còn hiện tượng nhầm lẫn về một số nội dung,

về cách làm, về thủ tục văn bản,…

1.2.2 Chất lượng công tác kiểm tra, giám sát của Đảng

a, Quan niệm về chất lượng công tác KTGS của Đảng

Từ điển Bách khoa Việt Nam định nghĩa “chất lượng” như sau: “Phạm trù triết học biểu thị những thuộc tính bản chất của sự vật, chỉ rõ nó là cái gì, tính ổn định tương đối của sự vật phân biệt nó với các sự vật khác Chất lượng

là đặc tính khách quan của sự vật Chất lượng biểu hiện ra bên ngoài qua các thuộc tính Nó là cái liên kết các thuộc tính của sự vật lại làm một, gắn bó với

sự vật như một tổng thể, bao quát toàn bộ sự vật và không tách khỏi sự vật

Sự vật trong khi vẫn còn là bản thân nó thì không thể mất chất lượng của nó

Sự thay đổi chất lượng kéo theo sự thay đổi của sự vật về căn bản Chất lượng của sự vật bao giờ cũng gắn liền với tính qui định về số lượng của nó và không thể tồn tại ngoài tính qui định ấy Mỗi sự vật bao giờ cũng là sự thống nhất của chất lượng và số lượng [41, tr 419]

Theo Đại từ điển tiếng Việt, “chất lượng” được hiểu là: "1- Cái làm nên phẩm chất, giá trị của con người, sự vật 2- Cái tạo nên bản chất sự vật, làm

cho sự vật này khác với sự vật kia " [52, tr 331]

Khái niệm "chất lượng" hàm chứa trong nó tính chỉnh thể, tổ hợp các thuộc tính cấu thành nên phẩm chất, giá trị của một con người, một sự vật Chất lượng hằn sâu sự thay đổi của các yếu tố, để làm cho sự vật này khác với

sự vật kia

Như vậy, có thể hiểu: Chất lượng công tác KTGS của Đảng là tổng thể những đặc điểm tâm lý, sinh lý, năng lực, những nguồn lực, cơ chế, điều kiện cần thiết bảo đảm cho hoạt động KTGS của Đảng đúng mục tiêu, yêu cầu đặt ra; góp phần thúc đẩy việc thực hiện nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đảng

b, Chất lượng công tác KTGS được cấu thành bởi những yếu tố:

Trang 28

Thứ nhất, sự chỉ đạo của cấp ủy đảng cùng cấp

Công tác xây dựng Đảng gắn liền với hoạt động lãnh đạo của các cấp

ủy đảng, có vai trò rất lớn quyết định đến sự trong sạch vững mạnh của đảng

bộ trên cả ba mặt chính trị, tư tưởng và tổ chức Xuất phát từ vai trò, bản chất của Đảng, nên hệ thống nguyên tắc tổ chức của Đảng ta được tổ chức chặt chẽ thống nhất theo nguyên tắc tập trung dân chủ Vì vậy, các hoạt động KTGS của tổ chức đảng, UBKT đều phải đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy đảng cùng cấp

Thứ hai, trình độ năng lực, uy tín của UBKT, CBKT

Đây là chủ thể trực tiếp thực hiện nhiệm vụ do Điều lệ Đảng quy định, quyết định đến chất lượng, hiệu quả KTGS Xét tới cùng mọi thành bại của công việc là do chất lượng tổ chức bộ máy mà nòng cốt là đội ngũ cán bộ Chủ động nắm bắt tình hình đảng viên, nhận diện vi phạm đến mức nào, xem xét làm rõ đúng, sai đến đâu tùy thuộc rất lớn vào trình độ, năng lực, uy tín của CBKT Nếu CBKT thiếu nhân cách, tâm đức không trong sáng thì không thể tiến hành KTGS đạt hiệu quả Ngoài phẩm chất, năng lực, uy tín CBKT cần phải có bản lĩnh, dũng khí đấu tranh để làm rõ sự thật

Thứ ba, xử lý chính xác và kết luận làm rõ đúng, sai

Để có cơ sở kết luận làm rõ đúng, sai, CBKT cần khắc phục sự nhầm lẫn giữa hiện tượng và bản chất trong công tác KTGS Bởi vì, trong thực tế hiện tượng không biểu hiện hoàn toàn bản chất mà chỉ biểu hiện một khía cạnh của bản chất, biểu hiện bản chất dưới hình thức đã biến đổi, nhiều khi xuyên tạc bản chất của vấn đề C.Mác đã chỉ ra rằng: "Nếu hiện tượng và bản chất của sự vật là nhất trí với nhau thì tất thảy khoa học sẽ trở nên thừa" [9, tr 540] Trong công tác KTGS, cần đặc biệt tuân thủ các quy định, phương pháp, nguyên tắc, quy trình để đảm bảo quá trình kết luận có căn cứ, chính xác và khách quan nhất

Thứ tư, phối hợp với các ban, ngành có liên quan

Cùng với sự vận động của cơ chế thị trường, các quan hệ xã hội cũng phát triển tương ứng và tác động không nhỏ đến phát triển kinh tế, chính trị,

Trang 29

xã hội, trong đó có công tác xây dựng Đảng Đó là một trong những nguyên nhân làm cho tình hình vi phạm của đảng viên có xu hướng gia tăng Nội dung, tính chất, hành vi vi phạm ngày càng tinh vi, phức tạp, thậm chí vượt ra ngoài phạm vi của một tổ chức, đơn vị Trong đội ngũ CBKT kiến thức, năng lực chưa đồng đều, hơn nữa có những mảng, những lĩnh vực không phải CBKT nào cũng am hiểu đầy đủ Do đó, cấp ủy, UBKT các cấp cần có sự phối hợp với các ban, ngành có liên quan để phối hợp KTGS là thực sự cần thiết Sự phối hợp đó phải hướng vào trao đổi, cung cấp thông tin, xác định phạm vi đối tượng, thẩm quyền, phương thức phối hợp thẩm định Có như vậy các vi phạm phức tạp của đảng viên, liên quan đến nhiều lĩnh vực mới được nhanh chóng xem xét, kết luận làm rõ

Thứ năm, sự tham gia tích cực của quần chúng nhân dân

Mối quan hệ giữa Đảng và quần chúng nhân dân là mối quan hệ "máu thịt" không thể tách rời Đảng viên là người lãnh đạo quần chúng thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước Đồng thời quần chúng nhân dân lại là người giám sát mọi hoạt động của cán bộ, đảng viên Mọi diễn biến về tư tưởng, hành vi tốt, xấu của cán bộ, đảng viên đều được quần chúng nhận biết Vì ở đâu, chỗ nào trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội đều có nhân dân Những vi phạm của đảng viên đều ảnh hưởng đến uy tín của tổ chức đảng và lòng tin của nhân dân Quần chúng nhân dân có nhiều khả năng để nhìn nhận, đánh giá ưu điểm, khuyết điểm của cán bộ, đảng viên khách quan và chính xác Do đó, cấp ủy các cấp, UBKT cần tạo điều kiện, môi trường, cơ chế để phát huy vai trò của quần chúng nhân dân tham gia tích cực vào việc giám sát cán bộ, đảng viên, cung cấp cho UBKT những thông tin

bổ ích, quan trọng, để có cơ sở xem xét kết luận được chính xác

Thứ sáu, chất lượng công tác KTGS còn được thể hiện ở đối tượng

(đảng viên) có tự giác, thành khẩn thừa nhận các khuyết điểm, sai phạm và quyết tâm khắc phục sửa chữa

Có thể nói chủ thể và đối tượng KTGS là hai trục xuyên suốt liên quan chặt chẽ với nhau trong quá trình kiểm tra Trong quá trình tiến hành KTGS

Trang 30

dù chủ thể kiểm tra thể hiện quyết tâm cao, nắm chắc nguyên tắc, sáng tạo trong việc vận dụng phương pháp, quy trình, nhưng đảng viên được kiểm tra thiếu tự giác thì rất khó khăn cho việc xem xét kết luận bản chất vụ việc Tính

tự giác của đảng viên không chỉ tự giác tiếp nhận quyết định KTGS; tự giác nhận khuyết điểm, giải trình những sai phạm và tiếp thu những ý kiến đóng góp chân tình, thẳng thắn của các đảng viên trong tổ chức đảng mà còn là sự

tự giác khắc phục sửa chữa các sai phạm, tích cực phấn đấu rèn luyện tốt hơn

Tóm lại, chất lượng công tác KTGS được tổ hợp ở 6 yếu tố Các yếu tố

này liên quan chặt chẽ với nhau, tạo nên một chỉnh thể thống nhất, coi nhẹ hoặc không thực hiện tốt các yếu tố đó sẽ ảnh hưởng đến chất lượng công tác KTGS

c, Các tiêu chí đánh giá chất lượng công tác KTGS của Đảng

Theo Từ điển tiếng Việt, “tiêu chí” được định nghĩa như sau: Đặc

trưng, dấu hiệu làm cơ sở, căn cứ để nhận biết, xếp loại các sự vật, các khái niệm [52, tr 164]

Khi đánh giá về chất lượng sản phẩm của một sự vật, hiện tượng nào đó phải căn cứ vào những tiêu chí nhất định Mỗi kiểu dạng sản phẩm đều có hệ

tiêu chí đánh giá riêng Có thể hiểu: Tiêu chí đánh giá chất lượng, hiệu quả KTGS là dấu hiệu, tính chất mà dựa vào đó có thể nhận biết, đánh giá được chất lượng, hiệu quả KTGS là tốt hay chưa tốt, đạt hay chưa đạt mục tiêu, yêu cầu

Để đánh giá chất lượng, hiệu quả các cuộc KTGS, cần căn cứ vào các tiêu chí chủ yếu sau:

Một là, mục đích, yêu cầu của KTGS Nghĩa là, các cuộc KTGS phải

xác định rõ cái đích nhằm tới là gì? mục tiêu, khuôn khổ đòi hỏi phải tuân thủ, phải đạt được trong quá trình tiến hành? Mục đích, yêu cầu KTGS do cấp uỷ,

tổ chức đảng có thẩm quyền xác định và là cơ sở tổ chức thực hiện KTGS Do

đó, để đánh giá chất lượng, hiệu quả KTGS, việc xem xét mức độ đạt được về mục đích và những yêu cầu đặt ra của cuộc KTGS phải được coi là tiêu chí hàng đầu

Hai là, xây dựng kế hoạch; xác định nội dung, đối tượng, thời điểm,

phương pháp tiến hành, phân công tổ chức, cá nhân thực hiện Để KTGS có

Trang 31

chất lượng, hiệu quả phải có kế hoạch, có phương pháp đúng; phải có kế hoạch ngay từ khi bắt đầu triển khai thực hiện nghị quyết, chỉ thị, chương trình, đề án Nếu việc thực hiện nghị quyết đã được triển khai rồi mới có kế hoạch KTGS thì đó là cuộc KTGS không đúng về hình thức, nội dung Bởi vậy, đánh giá chất lượng KTGS cần xem xét đến việc xây dựng, tổ chức thực hiện kế hoạch, xác định nội dung, đối tượng, phương pháp tiến hành, tổ chức lực lượng, phân công tổ chức, cá nhân thực hiện cuộc KTGS đó

Kế hoạch KTGS phải được xây dựng chi tiết Nội dung, đối tượng KTGS phải phù hợp, gắn với thực hiện nhiệm vụ chính trị, với các mặt công tác xây dựng Đảng; sát với đặc điểm của đảng bộ; hướng vào tổ chức đảng cấp dưới, cơ quan cùng chuyên ngành cấp dưới trong thực hiện nhiệm vụ chuyên môn thuộc lĩnh vực phụ trách Cần có trọng tâm, trọng điểm, như việc chấp hành nghị quyết, quyết định, chỉ thị của cấp trên và của cấp mình; về công tác cán bộ; về xây dựng, thực hiện quy chế làm việc của cấp uỷ Nếu nội dung KTGS dàn trải, không phù hợp thì cuộc KTGS không thể có chất lượng, hiệu quả tốt

Thời điểm tiến hành KTGS phải thể hiện tính chủ động, nếu chỉ dồn vào cuối năm là dấu hiệu cho thấy việc KTGS bị động, hình thức Về tổ chức thực hiện KTGS: cần xem có đúng tiến độ, đúng các nội dung đã đề ra trong

kế hoạch hay không? Nếu cuộc kiểm tra kéo dài thời gian, chậm kết luận, gây bức xúc cho đối tượng kiểm tra thì không thể cho là có chất lượng, hiệu quả cao được

Ba là, việc thực hiện thủ tục, quy trình, các biện pháp nghiệp vụ KTGS

Việc thực hiện nghiêm túc, đúng đắn thủ tục, quy trình, các biện pháp nghiệp

vụ có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng, hiệu quả KTGS, bởi nếu thực hiện không đúng thì kết quả sẽ sai lệch, thậm chí phạm sai lầm nghiêm trọng, khó lường hậu quả Trong thực tế, có không ít cuộc KTGS chưa thực hiện đúng quy trình, có trường hợp không tổ chức hội nghị để thống nhất đánh giá kết quả giám sát mà gửi báo cáo để lấy ý kiến tham gia, hoặc không gửi thông báo kết quả giám sát cho đảng viên được giám sát biết Do đó, khi đánh giá

Trang 32

chất lượng KTGS cần xem xét kỹ việc thực hiện thủ tục, quy trình, các biện pháp nghiệp vụ Nếu có sai sót, vi phạm cụ thể thì không thể coi cuộc KTGS

đó có chất lượng tốt được

Bốn là, kết quả phát hiện, xử lý qua KTGS Đây là tiêu chí trực tiếp

phản ánh chất lượng cuộc KTGS Mục đích của kiểm tra là để giúp cấp ủy nắm bắt kịp thời, sâu sắc những vấn đề còn khó khăn, vướng mắc, hạn chế để

có hướng giải quyết Do đó, kiểm tra có chất lượng khi phát hiện trúng và xử

lý đúng đắn, kịp thời những khó khăn, hạn chế, sai phạm đó Giám sát giúp cấp ủy theo dõi, phát hiện, điều chỉnh ngay những biểu hiện chưa đúng, chưa đầy đủ trong chấp hành Cương lĩnh, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng Vì vậy, giám sát có chất lượng khi kịp thời phát hiện, hướng dẫn, điều chỉnh những biểu hiện chấp hành chưa đúng, chưa đầy đủ của đảng viên, tổ chức đảng Từ đó, khi đánh giá về chất lượng nhất thiết phải xem xét kết quả phát hiện, xử lý qua KTGS Tất nhiên, không phải cuộc KTGS nào cũng có những phát hiện về hạn chế, khuyết điểm, sai phạm đến mức phải xử

lý kỷ luật nhưng không thể không có

Năm là, kết quả phát huy ưu điểm, sửa chữa khuyết điểm sau KTGS

KTGS không phải để xử lý kỷ luật mà chủ yếu giúp cho tổ chức đảng, đảng viên phát huy ưu điểm, sửa chữa khuyết điểm KTGS có chất lượng cao hay thấp, đạt hay không đạt yêu cầu phải xem xét kết quả phát huy ưu điểm, sửa chữa khuyết điểm sau KTGS Khi đánh giá chất lượng, hiệu quả KTGS phải xem xét từ kế hoạch sửa chữa đến kết quả thực tế việc chấp hành của tổ chức đảng, đảng viên được KTGS đã chỉ ra

Sáu là, tác động và tác dụng của cuộc KTGS Chất lượng, hiệu quả

KTGS được thể hiện sinh động ở tác động của nó đến thái độ của đối tượng KTGS, của quần chúng và đặc biệt là ở tác dụng của KTGS đối với tổ chức và hoạt động của đối tượng KTGS Bởi xét đến cùng KTGS là nhằm góp phần xây dựng tổ chức đảng vững mạnh, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên Do đó, cần xem xét những tác động và tác dụng của KTGS về những mặt sau đây: Thái độ của đối tượng KTGS về sự đồng tình, ủng hộ, mức độ

Trang 33

tham gia của đảng viên, tổ chức đảng và quần chúng ở đơn vị được KTGS Tình hình nội bộ tổ chức đảng và kết quả thực hiện nhiệm vụ của tổ chức đảng, đảng viên sau KTGS Một cuộc KTGS có chất lượng, hiệu quả là phải giúp cho tổ chức đảng, đảng viên được KTGS nêu cao ý thức thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao; giữ gìn phẩm chất đạo đức, lối sống; chủ động phòng ngừa, ngăn chặn xảy ra khuyết điểm, vi phạm; tổ chức đảng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, thực hiện tốt hơn nhiệm vụ chính trị Không thể cho là KTGS có chất lượng, hiệu quả khi: Sau KTGS lại phát sinh mâu thuẫn, mất đoàn kết nội bộ, làm khó khăn, phức tạp thêm việc thực hiện nhiệm vụ của tổ chức đảng, đảng viên

d, Yêu cầu chất lượng công tác KTGS

Để công tác KTGS có hiệu quả, cần hướng vào thực hiện yêu cầu chất

lượng KTGS Có thể hiểu: Yêu cầu chất lượng KTGS được hiểu là những nội dung cần đạt được trong hoạt động KTGS nhằm thực hiện có kết quả nhiệm

vụ KTGS và nâng cao chất lượng KTGS Có một số yêu cầu cụ thể trong chất

lượng công tác KTGS như sau:

Một là, chủ thể phải tuân thủ nghiêm ngặt nguyên tắc, phương pháp,

Điểm xuyên suốt bao trùm của công tác KTGS là công tác đảng Đây là

cơ sở cho cấp ủy, tổ chức đảng các cấp, UBKT, CBKT khi tiến hành KTGS phải giữ đúng nguyên tắc, tính chất công tác đảng, đúng phương pháp kiểm tra của Đảng Đường lối, quan điểm của Đảng, tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác KTGS là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, quy định phương hướng hoạt động KTGS

Xa rời những vấn đề có tính nguyên tắc này, chất lượng, hiệu quả hoạt động của chủ thể KTGS sẽ chệch hướng Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ KTGS, các tổ chức đảng, UBKT, CBKT có nắm vững phương pháp, quy trình thì mới có cơ sở đảm bảo chất lượng, hiệu quả công tác KTGS

Hai là, quá trình thực hiện KTGS phải đảm bảo khách quan, trung thực

Khách quan, trung thực - một yêu cầu quan trọng để đảm bảo chất lượng công tác KTGS Nói đến khách quan, trung thực tức là nói đến sự vật

Trang 34

tồn tại như chính bản thân nó ngoài ý thức chủ quan của chủ thể KTGS Trong quá trình KTGS đảm bảo tính khách quan, trung thực là cơ sở cho những kết luận được chính xác, kịp thời, đảm bảo công bằng đối với các đảng viên vi phạm, minh oan bảo vệ cho đảng viên không vi phạm Do đó, bất luận trong hoàn cảnh, điều kiện nào, CBKT phải luôn vững vàng kiên định, trung thực, khách quan, với tất cả ý thức trách nhiệm, để thực hiện nhiệm vụ kiểm tra có chất lượng, hiệu quả

Ba là, xác định đúng nội dung, đối tượng KTGS

Xác định đúng nội dung, đối tượng KTGS vừa là yêu cầu, vừa là nội dung quan trọng nhằm nâng cao chất lượng công tác KTGS Bởi vì có xác định đúng nội dung, đối tượng KTGS mới giúp cho cấp ủy, tổ chức đảng, UBKT, CBKT xem xét, kết luận, làm rõ bản chất vi phạm, ngăn chặn kịp thời sai phạm, giúp đảng viên có vi phạm sửa chữa, khắc phục khuyết điểm để tiến

bộ, trưởng thành Để có cơ sở thẩm định nội dung, đối tượng KTGS chính xác cần khắc phục hai thiên hướng, thứ nhất là chạy theo dư luận mà thiếu phân tích sàng lọc, thứ hai là xuất hiện sự buông xuôi, né tránh trước các nguồn thông tin

Bốn là, quá trình tiến hành KTGS đi đến kết luận phải đảm bảo nghiêm minh, chính xác, kịp thời và dứt điểm

Có đảm bảo được tính nghiêm minh, chính xác, kịp thời và dứt điểm mới giúp cho cấp ủy, UBKT, CBKT nâng cao được chất lượng, hiệu quả công tác từ việc duy trì yêu cầu về tính công bằng trong KTGS, giáo dục, răn đe, xem xét, kỷ luật đối với các đảng viên; đến việc kết luận chính xác làm rõ đúng, sai bản chất các sai phạm, xử lý kịp thời, đúng lúc không để chậm trễ kéo dài

Năm là, quá trình tiến hành KTGS phải đảm bảo tính hiệu quả

Xa rời và không tính đến hiệu quả của hoạt động thì công tác KTGS của cấp ủy, UBKT sẽ chệch hướng Bởi vì công tác KTGS không có mục đích

tự thân Tính hiệu quả vừa là mục đích, vừa là thước đo chính xác chất lượng công tác KTGS Dù biểu hiện trực tiếp hay gián tiếp công tác KTGS đều có

Trang 35

tác dụng tích cực tới hiệu quả về chính trị, xây dựng Đảng và hiệu quả kinh

tế, trong đó hiệu quả về xây dựng Đảng là tác động trực tiếp nhất

Như vậy các khái niệm chất lượng công tác KTGS, tiêu chí đánh giá chất lượng KTGS liên quan chặt chẽ với nhau, giao thoa về nội hàm nhưng có

sự khác biệt tương đối Trong khi khái niệm chất lượng công tác KTGS thể hiện các nội dung cơ bản để cấu thành chất lượng của một sự vật thì khái niệm tiêu chí đánh giá lại nhấn mạnh các tiêu chí làm căn cứ cơ sở cho việc đánh giá chất lượng, công tác KTGS cao hay thấp, hiệu quả hay không có hiệu quả; còn khái niệm yêu cầu chất lượng công tác KTGS nó đòi hỏi sự hướng đích, nhằm đạt được những nội dung, mục đích đối với công tác KTGS đặt ra cho chủ thể phải tuân thủ nghiêm ngặt các yếu tố đó Nếu xem nhẹ các yêu cầu cần phải đảm bảo trong công tác KTGS thì chất lượng KTGS sẽ hạn chế

1.2.3 Chất lượng công tác kiểm tra, giám sát của Đảng bộ Học viện

An ninh nhân dân

a, Công tác KTGS của Đảng bộ HVANND

Công tác KTGS của Đảng bộ HVANND là tổng thể hoạt động của Đảng bộ Học viện để thực hiện chức năng, nhiệm vụ KTGS mang tính chủ động đối với mọi hoạt động của tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên của Đảng

bộ Học viện nhằm hướng các hoạt động của các tổ chức đảng, đảng viên đó chấp hành nghiêm chỉnh Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chủ trương, nghị quyết của Đảng ủy Học viện và cấp ủy Công

an cấp trên, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ được giao

- Công tác kiểm tra của Đảng bộ HVANND là hoạt động kiểm tra được tiến hành đối với tổ chức đảng và đảng viên thuộc Đảng bộ Học viện nhằm nắm vững tình hình; nhận xét, đánh giá việc chấp hành Điều lệ, nghị quyết, chỉ thị, các quy định, quyết định của Đảng, chủ trương, nghị quyết của Đảng

ủy Học viện và cấp ủy Công an cấp trên; xác định sự đúng đắn hay vi phạm của các hành vi có liên quan đến kỷ cương, kỷ luật của Đảng, của Bộ Công an

và đưa ra hình thức xử lý kịp thời, đúng đắn

Trang 36

+ Chủ thể kiểm tra bao gồm: chi bộ, đảng ủy cơ sở thuộc Đảng bộ Học viện; Đảng ủy, Ban thường vụ Đảng ủy Học viện; UBKT, các cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp ủy

+ Đối tượng kiểm tra bao gồm: chi bộ, đảng ủy cơ sở thuộc Đảng bộ Học viện; Đảng ủy, Ban thường vụ Đảng ủy Học viện; UBKT, các cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp ủy; đảng viên

- Nội dung kiểm tra:

+ Việc chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, chủ trương, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, của cấp ủy cấp trên và cấp mình: pháp luật của Nhà nước

+ Việc chấp hành nguyên tắc tập trung dân chủ, quy chế làm việc, chế

độ công tác, thực hiện dân chủ trong Đảng, giữ gìn đoàn kết nội bộ

+ Việc lãnh đạo, chỉ đạo thực hành tiết kiệm; phòng chống tham nhũng, lãng phí; rèn luyện phẩm chất, đạo đức lối sống của cán bộ, đảng viên

+ Việc lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện cải cách hành chính + Việc tuyển dụng, quy hoạch, luân chuyển, đào tạo, đề bạt, bố trí, sử dụng cán bộ

+ Việc lãnh đạo, chỉ đạo và giải quyết khiếu nại, tố cáo của đảng viên, quần chúng và nhân dân

+ Việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao của người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng các cấp thuộc Đảng bộ HVANND

- Công tác giám sát của Đảng bộ HVANND là nhiệm vụ của toàn Đảng

bộ Tổ chức đảng và đảng viên thuộc Đảng bộ có trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ giám sát theo quy định nhằm theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của tổ chức đảng và đảng viên chịu sự giám sát trong việc chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, các chỉ thị, các quy định, quyết định của Đảng và đạo đức, lối sống theo quy định của Ban Chấp hành Trung ương

và Bộ Công an

+ Chủ thể giám sát bao gồm: chi bộ, đảng ủy cơ sở thuộc Đảng bộ Học viện; Đảng ủy, Ban thường vụ Đảng ủy Học viện; UBKT, các cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp ủy

Trang 37

+ Đối tượng giám sát bao gồm: chi bộ, đảng ủy cơ sở thuộc Đảng bộ Học viện; Đảng ủy, ban thường vụ Đảng ủy Học viện; UBKT, các cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp ủy; đảng viên

- Nội dung giám sát:

+ Đối với tổ chức đảng các cấp thuộc Đảng bộ Học viện:

Việc chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, chủ trương, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, pháp luật của Nhà nước

Việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn thuộc lĩnh vực phụ trách và những nội dung do cấp ủy giao

+ Đối với đảng viên: Việc thực hiện nhiệm vụ đảng viên

b, Chất lượng công tác KTGS của Đảng bộ HVANND

- Chất lượng công tác KTGS của Đảng bộ HVANND là tổng thể những đặc điểm tâm lý, sinh lý, năng lực, những nguồn lực, cơ chế, điều kiện cần thiết bảo đảm cho hoạt động KTGS của Đảng bộ HVAND đúng mục tiêu, yêu cầu đặt ra; góp phần thúc đẩy việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của đơn vị và công tác xây dựng Đảng

* Nâng cao chất lượng công tác KTGS của Đảng bộ HVANND là dựa trên cơ sở sơ kết, tổng kết đánh giá chất lượng công tác KTGS qua mỗi giai đoạn, mỗi thời kỳ, để qua đó tìm ra giải pháp khắc phục những tồn tại, yếu kém nhằm thực hiện ngày càng tốt hơn công tác KTGS của Đảng bộ HVANND; góp phần tích cực vào việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của đơn

vị và công tác xây dựng Đảng

Tiểu kết chương 1

KTGS là một tất yếu khách quan đối với mỗi con người và tổ chức trong xã hội Khi con người, tổ chức nhận thức được lợi ích của mình thì càng coi trọng công tác KTGS Ý thức càng cao, nhiệm vụ chính trị nặng nề, phức tạp thì càng phải coi trọng và làm tốt công tác KTGS

Tác dụng của công tác KTGS thể hiện ở chỗ, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng; giáo dục, rèn luyện đảng viên

Trang 38

luôn giữ nghiêm kỷ cương, kỷ luật của Đảng, nêu cao vai trò tiên phong của người cộng sản Thông qua KTGS góp phần củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, xác lập quan hệ Đảng - dân vững chắc, nhằm tạo nên uy tín và sức mạnh của Đảng

Chất lượng KTGS - một vấn đề đang còn nhiều ý kiến, quan niệm và cách tiếp cận khác nhau Song, theo tác giả luận văn, chất lượng KTGS được

tổ hợp bởi nhiều yếu tố, trong đó khẳng định sự chỉ đạo của các cấp ủy đảng, trình độ, năng lực của UBKT là những yếu tố nổi trội chi phối

Để có cơ sở thẩm định chất lượng, hiệu quả của công tác KTGS phải căn cứ vào hệ tiêu chí đánh giá Luận văn xác định tiêu chí đánh giá chất lượng, hiệu quả công tác KTGS của Đảng nói chung và tiêu chí đánh giá chất lượng công tác KTGS trong CAND và trong Đảng bộ HVANND nói riêng Sự thẩm định và tác động biện chứng giữa chúng, cho phép chủ thể đánh giá cũng phải hết sức biện chứng, mềm dẻo, linh hoạt; tuyệt đối hóa một tiêu chí nào, đó đều là phiến diện, duy ý chí

Công tác kiểm tra lúc bình thường đã khó, nhưng trước đòi hỏi của thời

kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, trước tác động của mặt trái cơ chế thị trường, trước yêu cầu nội tại của cuộc vận động xây dựng chỉnh đốn Đảng, càng đặt ra cho công tác KTGS phải đối mặt với nhiều vấn đề mới, phức tạp Từ đó, đặt ra cho các cấp ủy đảng, UBKT phải được chuẩn bị cả về nhận thức, chấn chỉnh tổ chức bộ máy, đầu tư phương tiện vật chất để làm tốt hơn nhiệm vụ của Điều lệ Đảng đã quy định

Trang 39

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC KIỂM TRA, GIÁM SÁT

CỦA ĐẢNG BỘ HỌC VIỆN AN NINH NHÂN DÂN

2.1 Tình hình, đặc điểm Đảng bộ Học viện An ninh nhân dân

2.1.1 Đặc điểm Học viện An ninh nhân dân có liên quan đến công tác kiểm tra, giám sát của Đảng

HVANND ngày nay tiền thân là Trường Huấn luyện Công an được thành lập ngày 25 tháng 6 năm 1946 theo Nghị định số 215/NĐ-P2 của Bộ Nội

vụ (nay là Bộ Công an) Trải qua các giai đoạn cách mạng khác nhau, Trường lần lượt mang các tên gọi: Trường Huấn luyện Công an (1946-1949), Trường Công an trung cấp (1949-1953), Trường CATW (1953-1974), Trường Sỹ quan

an ninh (1974-1981), Trường Đại học An ninh nhân dân (1981-2001) và từ năm 2001 đến nay là HVANND Mang nhiều tên gọi khác nhau, song một cái tên đã khắc sâu trong tâm trí của các thế hệ cán bộ, giáo viên, học viên và có uy tín sâu rộng trong toàn ngành Công an - Trường C500

Trải qua gần 70 năm xây dựng và phát triển, từ một trường huấn luyện công an, đào tạo nghề, đến nay HVANND trở thành một trong những trung tâm đào tạo đại học, sau đại học và nghiên cứu khoa học lớn của cả nước, một trường đại học đào tạo cán bộ An ninh hàng đầu của ngành Công an; Học viện cũng là một trong những đơn vị dẫn đầu về nguồn nhân lực chất lượng cao trong hệ thống giáo dục đào tạo và nghiên cứu khoa học của Ngành

Từ khi thành lập đến nay, HVANND đã đào tạo hàng ngàn cán bộ công

an tham gia kháng chiến thời kỳ chống Pháp; đào tạo hàng vạn cán bộ công

an chi viện cho chiến trường B, C, K; là đơn vị chủ lực đào tạo cán bộ công

an tham gia chiến đấu bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, bảo vệ ANQG trong thời kỳ đất nước thống nhất, đổi mới và hội nhập quốc tế Ngoài đào tạo cho ngành Công an, Học viện cũng đã đào tạo hàng ngàn cán bộ có trình độ cử nhân, thạc sỹ, tiến sĩ cho lực lượng an ninh quân đội, bộ đội biên phòng, lưu học sinh, cán bộ cao cấp Lào, Campuchia

Trang 40

Trong quá trình xây dựng và phát triển, Học viện luôn nhận được sự quan tâm đặc biệt của Bác Hồ, của Đảng, Nhà nước và Bộ Công an Trường vinh dự được 8 lần Bác Hồ về thăm và nói chuyện với cán bộ, giáo viên; nhiều đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước đã đến thăm và làm việc; liên tục 16 năm, từ 1946 đến 1962, người đứng đầu ngành Công an trực tiếp làm Hiệu trưởng; nhiều thế hệ cán bộ, giáo viên, học viên sau khi công tác, học tập tại Trường đã trưởng thành, là những cán bộ lãnh đạo cao cấp của Đảng, Nhà nước, ngành Công an, tướng lĩnh, sỹ quan cao cấp, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân: 04 đồng chí là Ủy viên Bộ chính trị, 16 đồng chí là Ủy viên Trung ương đảng, gần 200 đồng chí được phong quân hàm cấp tướng CAND, 13 đồng chí được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Những mốc son đó đã khẳng định vị thế, tầm quan trọng của Trường trong hệ thống giáo dục đào tạo nói chung và các trường CAND nói riêng

Phát huy truyền thống đơn vị anh hùng và những thành tựu đã đạt được, phát huy trí tuệ tập thể, HVANND đang tích cực đổi mới nội dung chương trình đào tạo, phát triển ngành nghề, tích cực đầu tư cơ sở vật chất tiên tiến, hiện đại để sớm xây dựng Học viện trở thành cơ sở giáo dục đại học trọng điểm của ngành Công an, tiến tới trở thành trường trọng điểm quốc gia vào năm 2020; xứng đáng là cơ sở đào tạo, nghiên cứu khoa học hàng đầu của ngành Công an, có uy tín và danh tiếng trong xã hội, ngang tầm với các trường tiên tiến trong khu vực

Nhân dịp kỷ niệm 65 năm Ngày thành lập (năm 2011), Học viện đã được Nhà nước tặng Huân chương Sao vàng Tháng 2 năm 2015, Học viện đã được Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân lần thứ 2 - thời kỳ chống Mỹ, cứu nước

* Cơ cấu tổ chức bộ máy của HVANND

- Ban Giám đốc Học viện bao gồm: 01 đồng chí Giám đốc và các đồng chí Phó Giám đốc

Ngày đăng: 25/11/2021, 07:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Hồng Anh (2001), "Ủy ban Kiểm tra các cấp và các thế hệ cán bộ kiểm tra luôn giữ vững truyền thống, quyết tâm phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao", Kiểm tra, (11), tr. 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ủy ban Kiểm tra các cấp và các thế hệ cán bộ kiểm tra luôn giữ vững truyền thống, quyết tâm phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao
Tác giả: Lê Hồng Anh
Năm: 2001
2. Ban Chấp hành Trung ương, số 29/CT-TW, Chỉ thị về tăng cường công tác kiểm tra của Đảng, tr. 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị về tăng cường công tác kiểm tra của Đảng
6. C.Mác và Ph.Ăngghen (2005), Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C.Mác và Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2005
7. Nguyễn Văn Chi (2004), "Nắm chắc tình hình tổ chức và cán bộ để có kế hoạch kiểm tra đúng, kịp thời, đạt hiệu quả cao", Kiểm tra, (2), tr. 14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nắm chắc tình hình tổ chức và cán bộ để có kế hoạch kiểm tra đúng, kịp thời, đạt hiệu quả cao
Tác giả: Nguyễn Văn Chi
Năm: 2004
8. Nguyễn Thị Doan (2003), "Một số giải pháp nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động giám sát trong Đảng", Kiểm tra, (10), tr. 12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số giải pháp nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động giám sát trong Đảng
Tác giả: Nguyễn Thị Doan
Năm: 2003
9. Phan Diễn (2004), "Đổi mới công tác kiểm tra là một bộ phận trong đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng", Kiểm tra, (2), tr.10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới công tác kiểm tra là một bộ phận trong đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng
Tác giả: Phan Diễn
Năm: 2004
10. Đảng Cộng sản Việt Nam, Ban Chấp hành Trung ương (2002), "Qui định hướng dẫn cụ thể thi hành Điều lệ Đảng", Xây dựng Đảng, tr.66-67 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Qui định hướng dẫn cụ thể thi hành Điều lệ Đảng
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam, Ban Chấp hành Trung ương
Năm: 2002
12. Đảng cộng sản Việt Nam (2012), Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam khoá XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam khoá XI
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2012
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 2, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng toàn tập
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2005
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 5, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng toàn tập
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2005
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 12, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng toàn tập
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2005
30. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2000
31. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2000
32. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 6, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2000
33. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 7, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2000
34. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 8, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2000
35. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 9, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2000
36. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 10, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2000
37. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 11, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2000
38. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 12, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2000

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w