Đội ngũ công chức cấp xã có vai trò rất quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến việc xây dựng và củng cố hệ thống chính trị ở cơ sở, tác động trực tiếp đến sự nghiệp cách mạng và đổi mới của
Trang 1HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
MAI VĂN TRUNG
X¢Y DùNG §éI NGò C¤NG CHøC CÊP X·
ë TØNH §¡K N¤NG HIÖN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÂY DỰNG ĐẢNG VÀ CHÍNH QUYỀN NHÀ NƯỚC
HÀ NỘI - 2016
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC
GIA HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
MAI VĂN TRUNG
X¢Y DùNG §éI NGò C¤NG CHøC CÊP X·
ë TØNH §¡K N¤NG HIÖN NAY
Chuyên ngành: Xây dựng Đảng & CQNN
Mã số: 60.31.02.03
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÂY DỰNG ĐẢNG VÀ CHÍNH QUYỀN NHÀ NƯỚC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS LƯU NGỌC TỐ TÂM
HÀ NỘI - 2016
Trang 3luận văn thạc sĩ
Hà Nội, ngày 9 tháng 5 năm 2016
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG
PGS, TS Trần Thị Anh Đào
Trang 4Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các trích dẫn số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước những kết quả nêu trên
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Mai Văn Trung
Trang 5MỞ ĐẦU 1 Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC CẤP XÃ 9
1.1 Cấp xã và đội ngũ công chức cấp xã 9 1.2 Quan niệm, nội dung xây dựng đội ngũ công chức cấp xã 18
Chương 2: XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC CẤP XÃ Ở TỈNH ĐĂK NÔNG HIỆN NAY -THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN VÀ MỘT
SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA 32
2.1 Những yếu tố ảnh hưởng đến công tác xây dựng đội ngũ công chức cấp xã ở tỉnh Đăk Nông 32 2.2 Xây dựng đội ngũ công chức cấp xã ở tỉnh Đăk Nông hiện nay thực trạng, nguyên nhân 45 2.3 Một số vấn đề đặt ra 57
Chương 3: MỤC TIÊU, PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC CẤP XÃ Ở TỈNH ĐĂK NÔNG 61
3.1 Mục tiêu, phương hương xây dựng đội ngũ công chức cấp xã ở tỉnh Đăk Nông 61 3.2 Những giải pháp chủ yếu đẩy mạnh việc xây dựng đội ngũ công chức cấp xã ở tỉnh Đăk Nông hiện nay 64
KẾT LUẬN 82 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 86
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cán bộ là vấn đề quan trọng, gắn liền với sự thành công hay thất bại của sự nghiệp cách mạng Trong suốt quá trình lãnh đạo 85 năm qua, trước muôn vàn khó khăn, thách thức, Đảng ta luôn kiện định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, đã lãnh đạo đất nước giành nhiều thắng lợi
vô cùng to lớn Đạt được những thành tựu đó chính là việc thực hiện tốt công tác cán bộ Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc” [40, tr.309], “Công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém” [40, tr.313] Kết luận số 37-KL/TW, ngày 02/02/2009 của Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương khoá X về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Chiến lược cán bộ từ nay đến năm 2020 khẳng định: Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, là khâu then chốt trong công tác xây dựng đảng
Đội ngũ công chức cấp xã có vai trò rất quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến việc xây dựng và củng cố hệ thống chính trị ở cơ sở, tác động trực tiếp đến sự nghiệp cách mạng và đổi mới của Đảng và Nhà nước ta hiện nay
Thực hiện cách chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các quy định, hướng dẫn của Trung ương về công tác cán bộ Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, Uỷ ban nhân dân tỉnh Đăk Nông đã ban hành nhiều văn bản về công tác quản lý, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở Qua đó công tác xây dựng đội ngũ công chức cấp xã trong tỉnh đã
có nhiều chuyển biến tích cực, từng bước đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị của địa phương Tuy nhiên, công tác xây dựng đội ngũ công chức cấp xã ở Đăk Nông vẫn còn nhiều mặt hạn chế, yếu kém như: Chất lượng đội ngũ công chức cấp xã còn nhiều mặt chưa ngang tầm yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh
Trang 7công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước và hội nhập quốc tế cũng như thực hiện chủ trương xây dựng nông thôn mới của Đảng, Nhà nước Đội ngũ công chức còn thiếu về số lượng, còn nhiều công chức chưa đạt chuẩn theo quy định; tình trạng bố trí, sử dụng công chức chưa đúng với chuyên môn đào tạo
Mặt khác, một bộ phận không nhỏ công chức cấp xã còn hạn chế về một số mặt như: có tư tưởng làm việc cầm chừng, thiếu ý chí phấn đấu nhưng khó khăn trong chính sách đầu ra nên ảnh hưởng không nhỏ đến định biên biên chế chung của chính quyền cấp xã, chưa có chính sách tuyển dụng chưa phù hợp và biên chế dự phòng để đào tạo thay thế công chức; chế độ chính sách tiền lương và phụ cấp đối với công chức chưa thật hợp lý Điều kiện cơ
sở vật chất, trang thiết bị làm việc ở nhiều nơi nhất là vùng sâu, vùng xã còn thiếu thốn lạc hậu, chua đáp ứng với yêu cầu thực thi nhiệm vụ của địa phương, đơn vị
Xuất phát từ thực tế đó và dựa trên yêu cầu cấp thiết của địa
phương, tác giả lựa chọn đề tài “Xây dựng đội ngũ công chức cấp xã ở
tỉnh Đăk Nông hiện nay” làm luận văn thạc sĩ Xây dựng Đảng và Chính
quyền nhà nước
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Vấn đề cán bộ, công chức cấp xã đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu Đến nay đã có nhiều công trình được công bố dưới những góc độ, mức độ, khía cạnh, hình thức thể hiện khác nhau đã được đăng tải và công bố trên một số sách, báo, tạp chí ở trung ương và địa phương như:
Về sách
- Cuốn sách “Cơ sở lý luận thực tiễn xây dựng đội ngũ cán bộ công
chức”, TS Thang Văn Phúc và TS, Nguyễn Minh Phương đồng chủ biên
cuốn sách , Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội, năm 2001 với nội dung bàn về cơ
sở để xây dựng đội ngũ cán bộ công chức ở nước ta hiện nay
Trang 8- PGS.TS Nguyễn Phú Trọng và Trần Xuân Sầm đồng chủ biên cuốn
“Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ
đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước” do Nxb Chính trị quốc
gia Hà Nội ấn hành năm 2001
-Tác giả TS Nguyễn Văn Sáu và GS Hồ Văn Thông đồng chủ biên
cuốn “Thực hiện quy chế dân chủ và xây dựng chính quyền cấp xã ở nước ta
hiện nay” do Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội ấn hành năm 2003 với nội dung:
Trình bày về thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở và việc xây dựng hệ thống chính trị cấp xã ở Việt Nam hiện nay
- Cuốn “Tổ chức bộ máy chính quyền và chế độ chính sách đối với cán
bộ cơ sở”, Phạm Kim Dung, Nxb Tư pháp Hà Nội, năm 2005 với nội
dung:Trình bày về tổ chức bộ máy của chính quyền cấp cơ sở và chế độ chính sách đối với đội ngũ cán bộ công chức cấp cơ sở
- Cuốn sách chuyên khảo của tác giả TS Nguyễn Minh Sản “Pháp luật
về cán bộ, công chức chính quyền cấp xã ở Việt Nam hiện nay – những vấn đề
lý luận và thực tiễn” do Nxb Chính trị - Hành chính Hà Nội ấn hành năm
2009 với nội dung: Trình bày những quy định pháp luật về cán bộ, công chức cấp xã ở Việt Nam theo Luật cán bộ, công chức năm 2008
Về đề tài khoa học
- “Xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở theo Nghị quyết Trung ương 5 (khoá IX)” (2007), Thạc sĩ Nguyễn Thế Vinh - Vụ Chính quyền địa phương - Bộ Nội vụ Đề tài khoa học cấp bộ, Hà Nội
- “Đổi mới phương thức và nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ - công chức nhà nước đáp ứng yêu cầu hội nhập”, PGS.TS
Bùi Đức Kháng chủ nhiệm (2010) Đề tài khoa học cấp bộ, TP Hồ Chí Minh
Về luận văn, luận án
- “Xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt các phường của quận Cẩm lệ,
thành phố Đà Nẵng trong giai đoạn hiện nay”, Lê Văn Sơn, Luận văn Thạc
Trang 9sỹ khoa học chính trị , Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2007 với nội dung: Trình bày thực trạng, giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp phường ở quận Cẩm lệ, thành phố Đà Nẵng hiện nay
- “Xây dựng đội ngũ cán bộ chuyên trách xã, phường, thị trấn ở Kiên
Giang trong giai đoạn hiện nay”, Phạm Anh Tuấn, Luận văn Thạc sĩ khoa
học chính trị, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2008 với nội dung: Trình bày thực trạng, giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ chuyên trách cấp xã phường, thị trấn ở tỉnh Kiên Giang
- “Chất lượng cán bộ, công chức chính quyền cấp xã ở Điện Biên”
Nguyễn Thanh Tuyền, Luận văn Thạc sĩ khoa học chính trị, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2009
- “Trẻ hoá đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp xã ở tỉnh Hậu Giang trong giai
đoạn hiện nay”, Lê Thị Ưng, Luận văn Thạc sĩ khoa học chính trị, Học viện
Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2012
- “Xây dựng đội ngũ cán bộ xã là người dân tộc thiểu số ở tỉnh Lào Cai
hiện nay”, Đặng Minh Tâm, Luận văn Thạc sĩ khoa học chính trị, Học viện
Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2013, nội dung: Trình bày thực trạng và pháp xây dựng đội ngũ cán bộ xã là người dân tộc thiểu số ở tỉnh Lào Cai hiện nay
- “Xây dựng đội ngũ công chức cấp xã ở tỉnh Kiên Giang hiện nay”,
Châu Minh Tuấn, Luận văn Thạc sĩ khoa học chính trị, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2014
- “Năng lực thực thi công vụ của công chức xã tỉnh Đăk Nông hiện
nay” Nguyễn Văn Hợi,Luận văn Thạc sĩ Hành chính công, Học viện Hành
chính, năm 2014
- “Nâng cao ý thức trách nhiệm công vụ của đội ngũ công chức cấp xã
tỉnh Đăk Nông hiện nay” Võ Thị Lý, Luận văn Thạc sĩ Triết học, Học viện
Trang 10Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2014, trình bày thực trạng và những giải pháp nâng cao năng lực thực thi công vụ của công chức cấp xã ở tỉnh Đăk Nông hiện nay
- “Xây dựng ngũ đội cán bộ, công chức người dân tộc thiểu số cấp xã ở
tỉnh Đăk Nông hiện nay”, Nguyễn Thị Thắm, Luận văn Thạc sĩ khoa học
chính trị, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2014
- “Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số
ở huyện Đăk Đoa, tỉnh Gia Lai hiện nay”, Giang H'Đan, Luận văn Thạc sĩ Xây
dựng Đảng và Chính quyền nhà nước, Học viện Báo Chí và Tuyên truyền, năm
2015
Về tạp chí
- "Bàn về chế độ chính sách đối với cán bộ cấp cơ sở xã, phường, thị
trấn", Nguyễn Hữu Đức, Tạp chí Tổ chức Nhà nước, số 1+2- 2008
- “Đổi mới công tác tổ chức, cán bộ đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”, Hồ Đức Việt, Uỷ viên Bộ Chính trị, Bí
thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương, Tạp chí Lý luận chính trị năm 2010
- Nguyễn Văn Vinh (2012), “Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ lãnh
đạo, quản lý các cấp theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 khoá XI”, Tạp
chí Tổ chức nhà nước
- Công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức xã theo quyết định 1956/QĐ/TTg tại tỉnh Thừa Thiên Huế, trang điện tử Sở Nội vụ tỉnh Thừa Thiên Huế, ngày 20/6/2014
Những công trình khoa học nêu trên trong chừng mực nhất định đã đề cập đến nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn về xây dựng đội ngũ công chức như: quan điểm về cấp xã, đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã, nội dung quy trình xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức; giải pháp nâng cáo chất lượng đội ngũ
Trang 11cán bộ, công chức cấp cơ sở Các công trình khoa học trên là tài liệu tham khảo có giá trị cho việc nghiên cứu luận văn này của tác giả Tuy nhiên, đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện về xây dựng đội ngũ công chức cấp xã ở tỉnh Đăk Nông ở tầm thạc sĩ Vì vậy, việc chọn nghiên cứu đề tài này mang ý nghĩa lý luận và thực tiễn, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị của tỉnh Đăk Nông nói riêng cũng như các tỉnh Tây Nguyên nói chung
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1 Mục đích
Trên cơ sở nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận về xây dựng đội ngũ công chức cấp xã và thực tiễn xây dựng đội ngũ công chức cấp xã ở Đăk Nông, luận văn đề xuất các giải pháp để thực hiện tốt việc xây dựng đội ngũ cấp xã ở tỉnh Đăk Nông đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ trong thời kỳ mới
- Đề xuất các giải pháp nhằm thực hiện tốt công tác xây dựng đội ngũ công chức cấp xã ở tỉnh Đăk Nông hiện nay
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu vấn đề xây dựng đội ngũ công chức cấp xã ở tỉnh
Trang 12Đăk Nông hiện nay
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu công tác xây dựng đội ngũ công chức cấp xã ở tỉnh Đăk Nông
- Về không gian và thời gian:
+ Luận văn tiến hành khảo sát tại 39/71 xã trên địa bàn 8 huyện, thị xã của tỉnh Đăk Nông đối với các chức danh công chức cấp xã
+ Luận văn khảo sát, đánh giá thực trạng đội ngũ công chức cấp xã và công tác xây dựng đội ngũ công chức cấp xã ở tỉnh Đăk Nông giai đoạn từ năm 2010 đến nay và đề xuất các giải pháp đẩy mạnh xây dựng đội ngũ công
chức cấp xã ở tỉnh Đăk Nông trong thời gian tới
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1 Cơ sở lý luận
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh; quan điểm, chủ trương, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức nói chung và xây dựng đội ngũ công chức cấp xã nói riêng; đồng thời luận văn kế thừa, vận dụng có chọn lọc những kết quả của các tác giả đã nghiên cứu vấn đề này
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp lôgíc và lịch sử, đặc biệt coi trọng phương pháp tổng kết thực tiễn
6 Những đóng góp và ý nghĩa của luận văn
6.1.Những đóng góp của luận văn
- Làm rõ thực trạng về đội ngũ công chức cấp xã và việc xây dựng đội ngũ công chức cấp xã của tỉnh Đăk Nông trong thời gian qua Từ đó rút ra
Trang 13những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của những ưu điểm và hạn chế, từ đó làm cơ sở, tiền đề để xây dựng và nâng cao hơn nữa chất lượng công chức cấp
xã ở tỉnh Đăk Nông
- Đề xuất những giải pháp đẩy mạnh công tác xây dựng đội ngũ công chức cấp xã của tỉnh Đăk Nông trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập quốc tế
6.2 Ý nghĩa của luận văn
- Những kết luận và những giải pháp rút ra từ luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho việc xây dựng, hoạch định chính sách và quy hoạch, đào tạo đội ngũ công chức cấp xã ở tỉnh Đăk Nông
- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy môn xây dựng Đảng, nhất là ở Trường Chính trị tỉnh và các Trung tâm bồi dưỡng chính trị huyện, thị xã ở tỉnh Đăk Nông
- Đề tài có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các đề tài nghiên cứu liên quan sau này
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận văn gồm 3 chương, 7 tiết
Trang 14Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ XÂY DỰNG
ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC CẤP XÃ
1.1 CẤP XÃ VÀ ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC CẤP XÃ
1.1.1 Quan niệm, đặc điểm và vai trò của cấp xã
1.1.1.1 Quan niệm và đặc điểm về cấp xã
Cấp xã là cấp thấp nhất trong các cấp độ quản lý của hệ thống chính quyền nhà nước bốn cấp ở Việt Nam Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định:
“Cấp xã là cấp gần gũi dân nhất, là nền tả của hành chính Cấp xã làm được việc thì mọi công việc đều xong xuôi” [40 tr.371]
Trong suốt chiều dài lịch sử xây dựng và bảo vệ đất nước của, làng xã luôn có vị trí, vai trò rất quan trọng trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá - xã hội, an ninh quốc phòng Xã được hình thành bởi các xóm, ấp, làng, buôn, bon, ngoài những đặc điểm về kinh tế, văn hoá - xã hội, phong tục, tập quán Xã còn có những đặc điểm riêng góp phần làm phong phú đa dạng cho nền văn hoá của dân tộc Việt Nam
Đánh giá cao vai trò của cấp xã, nên từ khi giành được chính quyền, cùng với việc củng cố, xây dựng hệ thống chính chính trị các cấp, Đảng, Nhà nước ta đã rất quan tâm xây dựng, củng cố hệ thống chính trị cấp cơ sở Xã trở thành một cấp trong hệ thống chính quyền bốn cấp ở nước ta Ngày 22-11-
1945, Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà ra Sắc lệnh
số 63/SL về tổ chức chính quyền ở nông thôn và ngày 21-12-1945 ban hành Sắc lệnh số 77/SL về tổ chức chính quyền ở đô thị Theo quy định của hai Sắc lệnh nay, chính quyền địa phương được hình thành trên các đơn vị hành chính: kỳ, tỉnh, huyện, xã
Năm 1946, Quốc hội nước ta đã thông qua bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà Cùng với việc ra đời của bản Hiến pháp đầu
Trang 15tiên này đã tạo cơ sở cho việc tổ chức và thực thi quyền lực nhà nước ở nước ta lúc bấy giờ Hiến pháp 1946 khẳng định: Đất nước Việt Nam là một khối thống nhất Trung Nam Bắc không thể phân chia, nhưng về phương diện hành chính - lãnh thổ, nước ta được chia thành 3 bộ: Bắc, Trung và Nam Mỗi bộ được chia thành tỉnh, mỗi tỉnh chia thành huyện, mỗi huyện chia thành xã (Điều 2)
Cùng với tiến trình phát triển của lịch sử, mỗi giai đoạn lịch sử của cách mạng Các bản Hiến pháp nước ta (Hiến pháp 1946,1959, 1980, 1992 và Hiến pháp 2013) điều xác định đơn vị hành chính trong cả nước ngày càng rõ ràng và phù hợp với điều kiện thực tế hơn Điều 110 Hiến pháp 2013 của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, quy định: "Nước được chia thành tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Tỉnh chia thành huyện, thị xã và thành phố thuộc tỉnh; thành phố trực thuộc trung ương chia thành quận, huyện, thị
xã và các đơn vị hành chính tương đương; Huyện chia thành xã, thị trấn; Thị
xã và thành phố thuộc tỉnh chia thành phường và xã; quận chia thành phường" Như vậy, cấp xã chính là xã, phường, thị trấn, là cấp quản lý nhà nước ở cấp cơ sở Phường là cấp cơ sở ở đô thị Xã và thị trấn là cấp cơ sở ở khu vực nông thôn Đây là khu vực rộng lớn trong tổng số đơn vị hành chính cấp cơ sở ở nước ta hiện nay
Như vậy, cấp xã ở nước ta có một số đặc điểm sau đây:
Một là, xã là nơi tập trung đất đai, nơi sản xuất ra của cải vật chất cung
cấp nhân lực cho xã hội; là nơi tiêu thụ và cung cấp nguồn nguyên nhiên liệu cho các nhà máy xí nghiệp trên địa bàn Xã cũng là nơi cung cấp nguồn nhân lực dồi dào cho các ngành sản xuất, dịch vụ, thương mại ở các khu công nghiệp- dịch vụ góp phần tạo nên sự phồn thịnh, phát triển của nền kinh tế -
xã hội của đất nước
Hai là, xã là cấp thấp nhất trong cấp độ của hệ thống chính quyền nhà
nước, nhưng lại là nền tảng của chế độ chính trị và đời sống xã hội
Trang 16Ba là, xã là nơi diễn ra cuộc sống của nhân dân, nơi chính quyền và các đoàn thể nhân dân tổ chức các phong trào của cộng đồng dân cư, là nơi để nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình
Bốn là, xã là địa chỉ cuối cùng mà mọi chủ trương, đường lối nghị
quyết của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước phải tìm đến
Năm là, xã không phải là cấp hoạch định ra chủ trương đường lối, chính
sách Xã là cấp tổ chức hành động để đưa đường, nghị quyết, chính sách vào cuộc sống Là cấp hành động và tổ chức thực hiện, nên cán bộ, công chức cấp
xã phải gần gũi với nhân dân, hiểu dân, sát dân
1.1.1.2 Vai trò của cấp xã
Xuất phát từ đặc điểm của mình, cấp xã ở nước ta có những vai trò sau:
Một là, cấp xã là cấp trực tiếp thực hiện các chủ trương, đường lối, nghị
quyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; mục tiêu, nhiệm vụ của cấp trên Nếu cấp xã yếu kém thì các mục tiêu nhiệm vụ của cấp trên dù có đứng đắn đến đâu cũng không đạt được kết quả Ngược lại cấp xã vững mạnh, năng lực quản lý tốt thì không những mục tiêu, nhiệm vụ của cấp trên thực hiện tốt mà còn là nơi đưa ra những sáng kiến, kinh nghiệm cho cấp trên
Hai là, cấp xã là cấp thường nắm được tâm tư, nguyện vọng của dân
nên có thể đề xuất các chính sách, giải pháp thực hiện hiệu quả
Ba là, cấp xã là cấp năm thông tin nhanh, trực tiếp nên có thể xử lý linh hoạt và chính xác các tình huống trong thực tiễn Mục tiêu cuối cùng của mọi chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước là điều hướng đến người dân, tạo điều kiện cho người dân sống ngày càng tốt hơn
Bốn là, cấp xã là nền tảng của hệ thống chính trị, kinh tế, xã hội của
quốc gia Trong giai đoạn hiện nay Đảng, Nhà nước ta chủ trương hướng mạnh về cơ sở, củng cố cơ sở xã hội đảm bảo ổn định an ninh, chính trị trật tự
an toàn xã hội đảm bảo cho phát triển kinh tế - xã hội
Trang 17Nghị quyết Trung ương 5, khoá IX của Đảng về đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn, đã khẳng định và nêu bật vị trí, vai trò quan trọng của cấp xã:
Cơ sở xã, phường, thị trấn là nơi tuyệt đại bộ phận nhân dân cư trú, sinh sống Hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn có vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức và vận động nhân dân thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, tăng cường đại đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ của dân, huy động các khả năng, phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức cuộc sống của cộng đồng dân cư [24, tr.166]
Do cấp xã có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng, nên vấn đề có ý nghĩa to lớn, quyết định đối với cấp xã là phải xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong hệ thống chính trị cấp xã đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong thời kỳ mới - thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập quốc tế
Tóm lại xã, phường, thị trấn là đơn vị hành chính cấp cơ sở, nơi thiết lập và hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở, đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của tổ chức đảng cơ sở Đảng Xã phường, thị trấn phát triển mạnh toàn diện thì huyện mạnh; huyện mạnh thì tỉnh mạnh và tỉnh mạnh thì góp phần vào sự phát triển chung của cả nước vững mạnh Ngược lại nếu cấp xã yếu kém, phát triển kém, thiếu ổn định, tình hình chính trị, kinh tế -xã hội diễn biến phức tạp, thì ảnh hưởng rất lớn và trực tiếp đến huyện và tỉnh Điều đó khẳng định chủ trương của Đảng, Nhà nước ta chủ trương hướng mạnh về cơ sở, khắc phục những yếu kém từ cơ sở là chủ trương đúng đắn
1.1.2 Công chức cấp xã và vai trò của đội ngũ công chức cấp xã
1.1.2.1 Quan niệm, đặc điểm công chức cấp xã
*Quan niệm về công chức cấp xã
Công chức là bộ phận cấu thành trong nền hành chính quốc gia Tuỳ vào cấu trúc của hệ thống chính trị ở mỗi nước mà có những quan niệm khác
Trang 18nhau Ở Việt Nam do những đặc điểm về thể chế chính trị, truyền thống văn hoá, lịch sử xây dựng và bảo vệ tổ quốc mà có quan niệm đặc thù riêng Theo khoản 3, Điều 4, Luật cán bộ, công chức năm 2008: Công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc UBND cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước Cũng theo Luật trên, tại khoản 3, Điều 61 quy định công chức cấp xã có các chức danh sau:
- Trưởng Công an;
- Chỉ huy trưởng Quân sự;
- Văn hoá xã hội
Công chức cấp xã do cấp huyện quản lý
* Đặc điểm của đội ngũ công chức cấp xã: Được quy định tại Nghị
định số 112/2011/NĐ-CP, ngày 05/12/2011 của Chính phủ và Thông tư số
06/2012/TT-BNV, ngày 30 - 10- 2012 của Bộ Nội vụ Hướng dẫn về chức trách, tiêu chuẩn cụ thể, nhiệm vụ và tuyển dụng công chức xã, phường, thị trấn có quy định các đặc điểm của công chức cấp xã ở nước ta là: đủ 18 tuổi trở lên; trình độ văn hoá: Tốt nghiệp trung học phổ thông; trình độ chuyên môn: Tốt nghiệp trung cấp chuyên nghiệp trở lên của ngành đào tạo phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ của chức danh công chức được đảm nhiệm; trình độ tin học: Có chứng chỉ tin học văn phòng trình độ A trở lên; tiếng dân tộc thiểu số:
Ở địa bàn công tác phải sử dụng tiếng dân tộc thiểu số trong hoạt động công
vụ thì phải biết thành thạo tiếng dân tộc thiểu số phù hợp với địa bàn công tác đó; nếu khi tuyển dụng mà chưa biết tiếng dân tộc thiểu số thì sau khi tuyển
Trang 19dụng phải hoàn thành lớp học tiếng dân tộc thiểu số phù hợp với địa bàn công tác được phân công; sau khi được tuyển dụng phải hoàn thành lớp đào tạo, bồi dưỡng quản lý hành chính nhà nước và lớp đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị theo chương trình đối với chức danh công chức cấp xã hiện đảm nhiệm
Tuy nhiên, Thông tư này cũng nêu: căn cứ vào điều kiện thực tế của địa phương, UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương được xem xét, quyết định: Giảm một cấp về trình độ văn hoá, trình độ chuyên môn đối với công chức làm việc tại xã được cấp cớ thẩm quyền công nhận thuộc khu vực biên giới, hải đảo, vùng miền núi, vùng sâu, vùng xã, vùng dân tộc thiểu số, vùng
có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn; đồng thời xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng để chuẩn hoá công chức chức cấp xã
Đội ngũ công chức cấp xã đặc biệt quan trọng trong việc thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và là lực lượng chiếm số lượng hết sức đông đảo trong tổng biên chế hiện nay Họ là những người gần dân, sát dân, biết dân, trực tiếp triển khai đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước và nhân dân, gắn bố mật thiết với nhân dân Công chức cấp xã
là người trực tiếp giải quyết tất cả các yêu cầu, quyền lợi chính đáng từ nhân dân, là cầu nối giữa Đảng nhà nước với nhân dân Công chức cấp xã phải thông qua tuyển dụng và phụ trách những lĩnh vực công tác cụ thể nên nhìn chung có sự đảm bảo về tiêu chuẩn và tính ổn định trong công tác Công chức cấp xã trực tiếp tham mưu cho lãnh đạo UBND cấp xã trong việc điều hành, chỉ đạo công tác Chất lượng của công chức cấp xã sẽ góp phần quyết định đến hiệu lực, hiệu quả quản lý hành chính nhà nước ở cấp xã
1.1.2.2 Vai trò của đội ngũ công chức cấp xã
Các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác -Lênin đã từng nêu cao vai trò của người cán bộ Lênin chỉ rõ:
Trong lịch sử chưa hề có một giai cấp nào giành được quyền thống
Trang 20trị, nếu nó không đào tạo ra được hàng ngũ của mình những lãnh tụ chính trị, những đại biểu tiên phong có đủ khả năng tổ chức và lãnh đạo phong trào [35, tr.473]
Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến cán bộ, coi đây là vấn đề then chốt Người khẳng định:
Cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành, đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, Chính phủ hiểu để đặt ra chính sách cho đúng [40, tr.269]
Khẳng định vị trí, vai trò của người cán bộ, đòi hỏi người cán bộ phải
có những đức tính tốt, nhưng đồng thời Hồ chí Minh cũng cho rằng: cán bộ trước hết cũng là con người, có thể có cả tính xấu Nhưng người cán bộ phải nhận biết và sửa chữa, loại bỏ tính xấu, phát triển tính tốt của mình; đồng thời
Hồ Chí Minh cũng không cho rằng cán bộ là nhân tố quyết định tất cả, mà
“Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân” [40, tr.197], còn vai trò quyết định của cán bộ là ở chỗ nhận thức được để đi trước, làm gương, lãnh đạo Bởi, nếu thiếu họ thì không có cách mạng, mục tiêu đề ra không thể hoàn thành, cán bộ có vai trò quyết định đối với công việc “Muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém” [40, tr.240]
Thấm nhuần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta luôn coi trọng công tác cán bộ Văn kiện đại hội toàn quốc lần thứ IX của Đảng khẳng định:
“Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng gắn liền với vận mệnh của Đảng, của chế độ, là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng” [20, tr.34] Cán bộ, công chức nói chung có vai trò rất quan trọng, cán bộ, công chức cơ sở nói riêng có vị trí nền tảng cơ sở: “Cấp cơ sở là cấp trực tiếp
tổ chức thực hiện mọi chủ trương đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà nước Chất lượng và hiệu quả thực thi pháp luật một phần được quyết định
Trang 21bởi sự phát triển ở cơ sở Cấp cơ sở là cấp trực tiếp gắn với quần chúng; tạo dựng phong trào cách mạng quần chúng Cơ sở xã phường, thị trấn mạnh hay yếu một phần quan trọng phụ thuộc vào chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức
xã, phường, thị trấn” [22, tr.123]
Xuất phát từ đặc điểm của mình đội ngũ công chức cấp xã có những vai trò sau:
Một là công chức cấp xã là người trực tiếp phổ biến chủ trương, đường
lối, nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước đến Nhân dân; làm cho các tầng lớp nhân dân hiểu đúng, đầy đủ các chủ trương, chính sách đó
Trong giai đoạn hiện nay, khi nước ta đang tiến hành xây dựng Nhà nước pháp quyền, mở rộng dân chủ XHCN, tăng cường mối quan hệ gắn bó giữa Đảng, Nhà nước và Nhân dân Vì vậy, vai trò này của đội ngũ công chức cấp xã càng có ý nghĩa quan trọng, đảm bảo cho nhân dân biết và năm rõ các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, trên cơ sở đó tham gia, đóng góp vào việc thực hiện thắng lợi các chủ trương, chính sách đó Để làm được điều
đó, đội ngũ cán bộ công chức cấp xã phải tiến hành nhiều hình thức, biện pháp khác nhau thông qua các buổi tuyên truyền, nói chuyện tại các cuộc họp, xóm, ấp, buôn, làng, khu dân cư hoặc thông qua các buổi đối thoại trực tiếp với nhân dân để giải quyết các vấn đề mới phát sinh như liên quan đến việc bồi thường thiệt hại, giải phóng mặt bằng, quy hoạch Đồng thời, nó còn đòi hỏi đội ngũ công chức cấp xã phải có những hiểu biết nhất định về lý luận và
am hiểu tình hình thực tế của địa phương, cũng như năm bắt được các đặc điểm tâm lý của từng tầng lớp dân cư thuộc phạm vi quản lý của mình
Hai là công chức là người tổ chức và vận động nhân dân thực hiện chủ
trương, đường lối của Đảng, chính ách pháp luật của Nhà nước, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, huy động mọi khả năng phát triển kinh tế - xã hội,
tổ chức cuộc sống của cộng đồng dân cư
Các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước được nhân dân nắm
Trang 22bắt, nhận thức mới chỉ là bước khởi đầu, điểm xuất phát để kiểm nghiệm được tính đúng đắn của chủ trương, đường lối đó, điều kiện đủ là phải tổ chức thực hiện trong thực tiễn; muốn làm được điều đó không có ai khác là cán bộ, công chức cấp xã, bởi công chức cấp xã là người tiếp xúc nhiều nhất hiểu rõ nhất, giải quyết nhiều việc nhất của nhân dân
Để thực hiện tốt vị trí, vai trò này, đòi hỏi đội ngũ công chức cấp xã phải có khả năng tổ chức, tập hợp và lôi cuốn mọi người vào hoạt động; phải
có khả năng xử lý các tình huống phát sinh, đó là các tình huống về tài chính,
về thiên tai, địch hoạ và các tình huống do va chạm xóm giềng, dòng tộc, tình huống nảy sinh khi ra những quyết định sai trái với cấp trên ; phải có khả năng kiểm tra, đánh giá hoạt động của mình và khả năng sở kết, tổng kết việc thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước
Công chức cấp xã có vai trò đảm bảo cho các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước thực hiện một cách nghiêm túc, thông qua việc xử lý, đấu tranh ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật kịp thời, hiệu quả, góp phần vào ổn định tình hình an ninh - chính trị, trật tự an toàn xã hội tại địa phương thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị đề ra
Ba là, công chức là người kịp thời nắm bắt, phản ánh đầy đủ tâm tư
nguyện vọng của nhân dân đến với Đảng, Nhà nước để có cơ sở sửa đổi bổ sung, ban hành các chủ trương phù hợp với thực tiễn trong từng giai đoạn của cách mạng
Các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước khi ban hành muốn đảm bảo tính khả thi phải xuất phát từ thực tiễn cuộc sống; muốn vậy, đòi hỏi đội ngũ công chức nói chung, công chức cấp xã nói riêng phải nắm bắt được tâm tư nguyện vọng của nhân dân, để mọi chủ trương, chính sách khi ban hành đều vì lợi ích của nhân dân, dựa trên ý kiến của nhân dân; qua đó sẽ phát huy được tính tích cực, chủ động của mỗi con người, làm cho mọi tiềm năng
Trang 23sáng tạo được phát triển, mọi người dân đều được tham gia vào các quá trình chính trị - xã hội, các vấn đề nảy sinh được phát hiện kịp thời, các khó khăn sớm được tháo gỡ, tạo sự phát triển mạnh mẽ của đất nước
Thực tiễn cách mạng của đất nước đã khẳng định, chính vai trò của đội ngũ công chức cấp xã trong việc năm bắt tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, nên Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách đúng, được nhân dân đồng tình ủng hộ Đảng đã ban hành nhiều nghị quyết quan trọng như Nghị quyết về công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn; xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và Nhà nước cũng ban hành nhiều văn bản điều chỉnh có hiệu quả các mặt của đời sống văn hoá - xã hội
Tóm lại, đội ngũ công chức nói chung và đội ngũ công chức cấp xã nói riêng có vị trí, vai trò hết sức to lớn trong bộ máy hành chính nhà nước ở cơ sở; với tư cách là bộ phận quan trọng, chiếm số lượng tương đối lớn thì đội ngũ công chức cấp xã có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng trong việc xây dựng nhà nước pháp quyền và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
1.2 QUAN NIỆM, NỘI DUNG XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC CẤP XÃ
1.2.1 Quan niệm về xây dựng đội ngũ công chức cấp xã
Theo cuốn Đại Từ điển Tiếng Việt của Nguyễn Như Ý từ "Xây dựng"
có ba nghĩa chính: 1 Làm nên, gây dựng nên; 2 Tạo ra giá trị tinh thần có nội dung nào đó; 3 Thái độ, ý kiến có tinh thần đóng góp, làm tốt hơn, thái độ xây dựng [61, tr 1856]
Theo Từ điển Tường giải và liên tưởng tiếng Việt, “đội” là toán người hợp thành một tổ chức, có chung một nhiệm vụ công tác chiến đấu
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, “đội ngũ” được hiểu là tập hợp gồm một số đông người cùng chức năng hoặc nghề nghiệp, thành một lực lượng
Từ khái niệm “Xây dựng” và “đội ngũ công chức cấp xã”, theo chúng
Trang 24tôi, Xây dựng đội ngũ công chức cấp xã là toàn bộ các hoạt động, các mặt
công tác nhằm tạo nên đội ngũ công chức cấp xã có số lượng, cơ cấu hợp lý,
có phẩm chất chính trị, đạo đức, trình độ, năng lực công tác đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của hệ thống chính trị cấp xã
Chủ thể của của việc tham gia xây dựng đội ngũ công chức cấp xã
gồm: Cấp uỷ các cấp từ Tỉnh đến cơ sở, những người đứng đầu các tổ chức
trong hệ thống chính trị các cấp Ngoài ra, việc xây dựng đội ngũ công chức cấp xã được tiến hành bởi các cơ quan, tổ chức cá nhân có thẩm quyền như UBND cấp huyện, thị xã, trong đó cơ quan có vai trò tham mưu quan trọng cho Ban Thường vụ Huyện, Thị uỷ và UBND huyện, thị xã là Phòng Nội vụ
và Ban Tổ chức Huyện, thị uỷ
Đối tượng xây dựng là đội ngũ công chức cấp xã: Đội ngũ công
chức, cấp xã có quan hệ mật thiết với hệ thống chính trị ở cơ sở Hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ sở có đạt được chất lượng và hiệu quả hay không phụ thuộc vào nhiều yếu tố như cơ sở vật chất, phương tiện làm việc, tính khoa học hợp lý trong thiết kế bộ máy của UBND cấp xã và đội ngũ cán bộ, công chức Trong đó đội ngũ công chức cấp xã là yếu tố động, có ảnh hưởng trực tiếp nhất Như vậy, đội ngũ công chức cấp xã cần phải nêu cao tinh thần trách nhiệm, ý thức tự giác phấn đấu học tập rèn luyện và hoạt động thực tiễn để trở thành những công chức hết lòng hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân
Mục đích của việc xây dựng đội ngũ công chức cấp xã: nhằm tạo ra
một đội ngũ công chức cấp xã có đủ về số lượng, chất lượng và cơ cấu hợp lý đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ chính trị đặt ra trong tình hình mới đối với từng
xã, phường, thị trấn Việc xây dựng đội ngũ công chức cấp xã giữ vai trò hết sức quan trọng trong tình hình hiện nay, góp phần quan trọng vào việc xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sờ vững mạnh toàn diện
Trang 251.2.2 Nội dung xây dựng đội ngũ công chức cấp xã
Xây dựng đội ngũ công chức cấp xã bao gồm nhiều nội dung, trong phạm vi luận văn này, chỉ xin đề cập đến một số nội dung sau:
1.2.2.1 Xác định chủ trương, mục tiêu, phương hướng, quan điểm, giải pháp xây dựng đội ngũ công chức cấp xã
- Về chủ trương: Trong giai đoạn hiện nay, khi Đảng, Nhà nước ta đang
quyết đẩy mạnh thực hiện cải cách hành chính nhằm: Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, xây dựng một nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh, từng bước hiện đại; đội ngũ cán bộ, công chức có đủ phẩm chất và năng lực thực thi công vụ; hệ thống các cơ quan nhà nước hoạt động có hiệu lực hiệu quả, phù hợp với thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế; đáp ứng với yêu cầu phát triển nhanh và bền vững của đất nước [27, tr.157,158] Mà mục tiêu, nhiệm
vụ trước mắt là cải cách hành chính phải đáp ứng được mục tiêu “sớm đưa đất nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, tạo nền tảng đến năm 2020 nước ta
cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại” [31, tr.53]
Xuất phát từ đó, việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức nói chung, đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã nói riêng thực sự có trình độ, năng lực, ngang tầm với thời đại, trung thành với sự nghiệp đổi mới của Đảng, có tâm huyết với cơ sở phải được quan tâm, chú trọng hơn bao giờ hết Có như vậy cải cách hành chính nhà nước mới đạt kết quả, góp phần xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam vững mạnh, đưa đất nước vượt qua khó khăn thách thức, tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, toàn diện, đồng bộ, phát triển nhanh và bền vững
*Về mục tiêu
Mục tiêu chung: Xây dựng đội ngũ công chức cấp xã nhằm tạo ra một
đội ngũ công chức đồng bộ, có cơ cấu hợp lý, có phẩm chất chính trị đạo đức,
Trang 26lối sống tốt; có trình độ và năng lực chuyên môn đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị ở cơ sở trong từng giai đoạn cách mạng
Mục tiêu cụ thể:
Một là, tạo ra một đội ngũ công chức cấp xã có số lượng, cơ cấu hợp lý
Xây dựng đội ngũ công chức cấp xã sẽ tạo ra một đội ngũ công chức cấp xã có cơ cấu hợp lý, đó là sự cân đối giữa các thành phần dân tộc, giai cấp, nghề nghiệp, giới tính, độ tuổi; sự hợp lý đó sẽ tạo nên sức mạnh tổng hợp, tính năng động, phối hợp nhịp nhàng, hài hoà và kế thừa, phát triển trong đội ngũ công chức; đặc biệt trong giai đoạn hiện nay với chủ trương của Đảng
và Nhà nước là tăng tỷ lệ cán bộ trẻ, nữ, dân tộc thiểu số trong đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã, thì công tác xây dựng đội ngũ công chức cấp xã sẽ biến chủ trương đó thành kết quả trong thực tế
Hai là, tạo ra được một đội ngũ công chức cấp xã có phẩm chất chính
trị, đạo đức lối sống tốt
Về phẩm chất chính trị: Đội ngũ công chức cấp xã có lòng yêu nước sâu sắc,
kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; chấp hành tốt các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước Có bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định mục tiêu, không dao động trước những khó khăn, thách thức và những biến động của tình hình trong nước và thế giới, có ý thức giữ vững và nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước Kiên quyết đấu tranh chống các quan điểm lệch lạc sai trái của các thế lực thù địch
Về phẩm chất đạo đức, lối sống: Có đạo đức cách mạng thì công chức
mới khả năng hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, mới được nhân dân tin yêu
và giúp đỡ, như Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định:
“Cũng như sông thì có nguồn, mới có nước, không có nguồn thì cạn; cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo; người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân” [40, tr.252-253]
Trang 27Tuy nhiên, trong thời gian qua tình trạng suy thoái về đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ công chức diễn ra nghiêm trọng, làm giảm sút lòng tin của nhân dân, Văn kiện Hội nghị trung ương khoá (XI) của Đảng đánh giá: “Đó là một nguy cơ lớn liên quan đến sự sống còn của Đảng, của chế độ” [30, tr.253] Vì vậy, xây dựng đội ngũ công chức không thể không chú ý về đạo đức, lối sống Trong giai đoạn hiện nay, xây dựng đội ngũ công chức cấp xã có phẩm chất, đạo đức tốt, lối sống lành mạnh phải đáp ứng được yêu cầu:
Có tinh thần trách nhiệm cao, gương mẫu, đi đầu trong công tác; xử
lý hài hoà các lợi ích, đặt lợi ích của Đảng, của Tổ quốc lên trên hết Liên hệ mật thiết với nhân dân, tôn trọng và bảo vệ quyền làm chủ của nhân dân Có lối sống trong sạch, lành mạnh, có kỷ cương,
kỷ luật Không quan liêu, tham nhũng, lãng phí và kiên quyết đấu tranh phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí và các biểu hiện tiêu cực khác [31, tr.289-290]
Ba là, việc xây dựng đội ngũ công chức cấp xã còn tạo ra một đội ngũ
có trình độ năng lực chuyên môn giỏi có Công chức có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt mà không có năng lực thì trong quá trình thực hiện nhiệm vụ sẽ gặp rất nhiều khó khăn, thậm chí thất bại Lênin đã chỉ ra: “Chỉ dựa vào tinh thần xung kích, vào tinh thần phấn khởi và nhiệt tình thôi, thì không thể làm được cái gì cả” [34, tr.253]
Bên cạnh những đòi hỏi về đạo đức cách mạng Hồ Chí Minh còn chú trọng đến việc nâng cao trình độ chuyên môn, năng lực công tác đối với cán
bộ, công chức Người nói: “Năng lực của con người không phải hoàn toàn tự nhiên mà có, mà phần lớn do công tác, do rèn luyện mà có” [40, tr.21] Như vậy, năng lực của con người không phải do bẩm sinh mà phải thông qua một quá trình rèn luyện, phấn đấu trong học tập, đặc biệt sự phấn đấu rèn luyện trong quá trình hoạt động thực tiễn
Trang 28Vì vậy, bên cạnh những yêu cầu về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống thì cần xây dựng và tạo ra được đội ngũ công chức cấp xã có trình độ chuyên môn cao, năng lực tư duy lý luận và năng lực tổ chức hoạt động thực tiễn đáp ứng với yêu cầu của công tác cán bộ trong thời kỳ mới
Trình độ của đội ngũ công chức cấp xã về học vấn, chuyên môn, nghiệp
vụ, lý luận chính trị và kiến thức bổ trợ phải đáp ứng được tiêu chuẩn đặt ra đối với từng loại cồng chức cấp xã, cụ thể như sau:
- Về năng lực tư duy lý luận: Đòi hỏi công chức cấp xã phải đáp ứng
được yêu cầu phát hiện, nhận thức đúng, nhanh nhạy các vấn đề thực tiễn ở cơ
sở dưới góc độ lý luận Đồng thời đề xuất, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động ở cơ sở
- Về năng lực tổ chức thực tiễn: Năng lực này là những hiểu biết,
những kỹ năng và cả phẩm chất tâm - sinh lý của chủ thể quản lý đảm bảo cho việc tổ chức thực hiện đạt hiệu quả
- Phải có những hiểu biết: về tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ,
quyền hạn cơ quan, đơn vị mà họ đang công tác; về chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; về con người, tình hình kinh tế - xã hội của địa phương
- Phải có những kỹ năng: Đó là những kỹ năng cụ thể hoá các chủ
trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước thành những quyết sách phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của địa phương Kỹ năng phổ biến và tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đến với quần chúng nhân dân Kỹ năng tổ chức thực hiện để biến những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trở thành hiện thực ở địa phương
1.2.2.2 Tổ chức thực hiện các khâu trong công tác cán bộ
Việc xây dựng đội ngũ công chức cấp xã cũng phải thực hiện tất cả các khâu trong quy trình công tác cán bộ gồm:
Thứ nhất, đảm bảo quy định về tiêu chuẩn chức danh công chức cấp xã
cho từng chức danh công chức cụ thể
Trang 29Trong công tác cán bộ nói chung và công tác xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức nói riêng, việc tiêu chuẩn hoá các chức danh cán bộ, công chức là
hệ thống căn cứ, tiêu chí, chuẩn mực để đánh giá, lựa chọn, xây dựng quy hoạch, bố trí, sử dụng đội ngũ cán bộ, công chức một cách hợp lý Xác định đúng tiêu chuẩn công chức là khâu đầu tiên để tiến hành việc xây dựng đội ngũ công chức cấp xã đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong từng thời kỳ cách mạng Xác định tiêu chuẩn công chức một cách đúng đắn, góp phần xây dựng được đội ngũ công chức đủ về số lượng, chất lượng và cơ cấu hợp lý, bởi đây chính là những quy chuẩn, là tiền đề và căn cứ để tiến hành các khâu khác trong công tác cán bộ
Hiện nay, tiêu chuẩn chung đối với cán bộ, công chức cấp xã được quy định tại Nghị định số 112/2011/NĐ-CP, ngày 05/12/2011 của Chính phủ về công chức xã, phường, thị trấn quy định như sau:
- Hiểu biết về lý luận chính trị, nắm vững quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước;
- Có năng lực tổ chức vận động nhân dân ở địa phương thực hiện có hiệu quả chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước;
- Có trình độ văn hoá và trình độ chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp yêu cầu nhiệm vụ, vị trí việc làm, có đủ năng lực và sức khoẻ để hoàn thành nhiệm vụ được giao;
- Am hiểu và tôn trọng phong tục, tập quán của cộng đồng dân cư trên địa bàn công tác
Tiêu chuẩn cụ thể đối với từng chức danh công chức cấp xã : Được quy định tại Thông tư số 06/2012/TT-BNV, ngày 30-10-2012 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ Theo thông tư nay thì tiêu chuẩn các chức danh công chức cấp xã đã được xác định khá cụ thể và có tính mở để địa phương xem xét áp dụng cho phụ với với tình hình cụ thể
Trang 30Thứ hai, đánh giá và lựa chọn tuyển dụng công chức cấp xã
Đánh giá cán bộ công chức là việc hệ trọng, là khâu có ý nghĩa quyết định trong công tác cán bộ, là cơ sở để thực hiện các khâu khác trong công tác cán bộ Đánh giá công chức đúng sẽ phát huy hết tiềm năng của từng công chức và cả đội ngũ công chức Đánh giá không đúng, sẽ dẫn đến lựa chọn công chức không đủ phẩm chất và năng lực bố trí vào những cương vị có trọng trách, dẫn đến hỏng người, hỏng việc, gây tổn thất cho địa phương và ảnh hưởng trong phạm vi cả nước
Đánh giá công chức là vấn đề hết sức quan trọng, nhạy cảm và phức tạp Vì vậy, nếu đánh giá công chức đúng thì mới có xây dựng quy hoạch và
bố trí sử dụng công chức mới chính xác Trên cơ sở đó mới có kế hoạch đào tạo bồi dưỡng và thực hiện chính sách đối với cán bộ, công chức tốt hơn; phát huy được khả năng, năng lực sở trường của từng công chức Ngược lại, nếu đánh giá công chức sai sẽ dẫn đến lựa chọn, bố trí, sử dụng công chức sai, sẽ không phát huy được năng lực từng công chức, làm ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý, điều hành thực thực hiện nhiệm vụ chính trị ở cơ sở
Lựa chọn công chức là hoạt động của tổ chức nhằm tìm kiếm những người có đủ phẩm chất, trình độ năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định để
bố trí, sử dụng hoặc dự nguồn sử dụng cho một tổ chức nào đó nhằm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của tổ chức đó, cũng như củng cố, xây dựng tổ chức vững mạnh, toàn diện Lựa chọn đội ngũ công chức đưa vào nguồn quy hoạch là biện pháp tất yếu đảm bảo cho đội ngũ công chức phát triển ổn định và làm cho công tác cán bộ có tính chủ động và tính kế hoạch cao
Lựa chọn công chức cấp xã hiện nay được tiến hành thông qua hình thức tuyển dụng
Muốn đánh giá, lựa chọn, bố trí và sử dụng một cách đúng đắn, phù với năng lực, sở trường của đội ngũ công chức cấp xã, cần phải chú ý một số vấn
Trang 31đề chủ yếu sau: Phải nắm vững và dựa vào tiêu chuẩn công chức cấp xã do Trung ương quy định và sự vận dụng, cụ thể hoá của tỉnh; lựa chọn người có đức có tài, có đầy đủ phẩm chất và năng lực Phải lấy hiệu quả công tác và sự đóng góp thực tế làm thức đo phẩm chất, năng lực của công chức cấp xã Đánh giá công chức cấp xã phải đảm bảo tính dân chủ, khách quan công khai, minh bạch Việc đánh giá công chức phải do tập thể hoặc người đứng đầu có thẩm quyền quyết định sau khi nghe ý kiến đóng góp của tập thể
Thứ ba, xây dựng quy hoạch đội ngũ công chức cấp xã
Quy hoạch cán bộ, công chức là quá trình tổng thể thực hiện các chủ trương, biện pháp tạo nguồn cán bộ, công chức đặc biệt là cán bộ lãnh đạo, quản lý trên cơ sở dự báo nhu cầu cán bộ, công chức nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị trong một thời gian Quy hoạch cán bộ, công chức được xây dựng và thực hiện tốt sẽ khắc phụ tình trạng hụt hẫng về công tác cán bộ, chắp vá trong công tác cán bộ, công chức; đảm bảo cho công tác cán bộ đi vào nề nếp, có tầm nhìn xã, đáp ứng cả nhiệm vụ trước mắt cũng như lâu dài
Quy hoạch cán bộ, công chức cấp xã là một khâu quan trọng của công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, bảo đảm việc chủ động trong công tác cán bộ, có kế hoạch phù hợp, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trước mắt cũng như lâu dài của địa phương Do đó, đòi hỏi phải thực hiện đồng bộ các biện pháp để tạo nguồn và xây dựng đội ngũ công chức cấp xã, bảo đảm tiêu chuẩn, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đảm bảo cho sự phát triển, có
kế thừa, chuyển tiếp liên tục Quy hoạch công chức phải căn cứ vào nhiệm vụ chính trị của từng chức danh cụ thể; tiêu chuẩn và thực trạng đội ngũ công chức cấp xã của từng địa phương, cơ sở
Quy hoạch cán bộ, công chức cấp xã phải đảm bảo sự lãnh đạo thống nhất của cấp uỷ huyện, xã, đảm bảo dân chủ, phải gắn với tình hình kinh tế -
xã hội địa phương; đảm bảo đúng quy trình, phương châm “động” và “mở”
Trang 32Thứ tư, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức cấp xã
Đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã là một khâu quan trọng trong công tác cán bộ của Đảng Trên cơ sở quy hoạch cán bộ, công chức các cấp
uỷ đảng, các cơ quan tham mưu cho Ban Thường vụ Huyện, thị uỷ, UBND huyện tiến hành xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức hàng năm, nhiệm kỳ để đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức một cách hợp
lý Việc đào tạo, bồi dưỡng phải quan tâm đến cả hai mặt là học tập ở cơ sở đào tạo và tự rèn luyện qua thực tiễn công tác để nâng cao kiến thức, năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, năng lực lãnh đạo, quản lý, kỹ năng hành chính Phải quan tâm đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, lý luận chính trị và khuyến khích hình thức tự học, tự rèn luyện để nâng cao trình độ của cán bộ công chức
Đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã muốn có chất lượng phải có nội dung, chương trình, hình thức va phương pháp phù hợp với từng đối tượng
Thứ năm, bố trí, sử dụng và quản lý đội ngũ công chức cấp xã
Bố trí, sử dụng công chức cấp xã là khâu hết sức quan trọng, phải căn
cứ vào tiêu chuẩn, yêu cầu, nhiệm vụ của từng chức danh cụ thể, đảm bảo cho công chức phát huy tốt năng lực, sở trường cá nhân, sử dụng đúng chuyên môn được đào tạo Sau khi bố trí, phân công công tác cho công chức cần thường xuyên theo dõi, giúp đỡ, hướng dẫn kiểm tra, đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ của công chức Kịp thời động viên, khen thưởng khi công chức hoàn thành tốt nhiệm vụ, giúp đỡ họ khi có hoàn cảnh khó khăn, mắc sai lầm, khuyết điểm
Thứ sáu, thực hiện chế độ chính sách đối với đội ngũ công chức cấp xã
Chính sách cán bộ, công chức là một hệ thống quy định thống nhất, đồng bộ trên tất cả các mặt của công tác cán bộ, công chức bao gồm: chế độ chính sách tiền lương, bảo hiểm xã hội, chính sách quản lý, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, điều động, bố trí, sử dụng cán bộ, công chức; bảo đảm
Trang 33lợi ích vật chất và tinh thần, bảo đảm sự công bằng đối với đóng góp của từng chức danh trong đội ngũ công chức cấp xã; chính sách đối với cán bộ, công chức phải đảm bảo sự đồng bộ, kết hợp hài hoà giữa lợi ích của tập thể và lợi ích cá nhân Đây chính là đòn bẩy, là động để nâng cao chất lượng công chức cấp xã, góp phần chống tiêu cực, tham nhũng, lãng phí ở cơ sở
Thực hiện tốt chính sách, chế độ đãi ngộ đối với đội ngũ công chức cấp
xã là yếu tố quan trọng tạo sự yên tâm, tính tích cực, hăng hái trong công tác của đội ngũ công chức cấp xã
Ngoài ra, để xây dựng công chức cấp xã đạt chất lượng hiệu quả còn phải chú ý đến nội dung như công tác luân chuyển, kiểm tra, giám sát cán bộ, công chức; sự đầu tư trang thiết bị, phương tiện, trụ sở làm việc và việc khen thưởng, xử lý kỉ luật đối với công chức cấp xã
1.2.3 Vai trò của việc xây dựng đội ngũ công chức cấp xã
Xây dựng độ ngũ công chức cấp xã có chất lượng hiệu quả có một số vai trò sau:
Một là, việc xây dựng đội ngũ công chức cấp xã sẽ góp phần xây dựng
hệ thống chính trị ở cơ sở vững mạnh, toàn diện
Con người và tổ chức luôn có mối quan hệ biện chứng với nhau Con người sáng lập ra tổ chức, là yếu tố động nhất trong tổ chức, con người hoạt động hiệu quả thì tổ chức hoạt động hiệu quả; nhưng khi tổ chức thành lập thì nó tác động trở lại con người, làm cho con người phát triển đi lên và ngược lại sẽ kìm hãm sự phát triển của con người; con người sống trong tổ chức thì sức mạnh được nhân lên gấp bội và ngược lại thì sức mạnh của con người sẽ yếu đi
Đội ngũ cán bộ, công chức nói chung và đội ngũ công chức cấp xã nói riêng có quan hệ mật thiết với hệ thống chính trị ở cơ sở Hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ sở có chất lượng và hiệu quả hay không phụ thuộc vào
Trang 34nhiều yếu tố như cơ sở vật chất, phương tiện làm việc, tính khoa học, hợp lý trong thiết kế bộ máy và đội ngũ cán bộ, công chức ; trong đó đội ngũ cán
bộ, công chức cấp xã là yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp nhất đến hoạt động của
hệ thống chính trị ở cơ sở
Hai là, xây dựng đội ngũ công chức cấp xã sẽ tạo ra đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã có số lượng, cơ cấu hợp lý đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị ở địa phương, cơ sở
Tính hợp lý trong việc xây dựng đội ngũ công chức cấp xã biểu hiện ở việc tinh giản biên chế ở cơ sở một cách tối ưu, đảm bảo hệ thống chính trị ở
cơ sở gọn nhẹ hoạt động có chất lượng, trong đó mỗi cá nhân công chức phát huy hết được năng lực, sở trường công tác của mình, có thể đảm đương tốt nhiệm vụ chính trị được Đảng, Nhà nước và Nhân dân giao phó, đảm bảo cho
bộ máy chính quyền cơ sở hoạt động thông suốt, có hiệu quả Tính hợp lý còn biểu hiện ở chỗ số lượng công chức không quá đông nếu không sẽ gây ra dư thừa, lãng phí nguồn nhân lực, đồng thời cũng không quá ít, vì nó sẽ tạo ra sức ép lớn trong công việc, gây ra sự mệt mỏi, căng thẳng trong đội ngũ công chức cấp xã
Xây dựng đội ngũ công chức cấp xã sẽ tạo ra một đội ngũ công chức cấp xã có cơ cấu hợp lý, đó là sự cân đối giữa các thành phần dân tộc, giai cấp, nghề nghiệp, giới tính, độ tuổi
Ba là, việc xây dựng đội ngũ công chức cấp xã sẽ tạo ra một đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã có phẩm chất chính trị đạo đức, lối sống tốt
Về phẩm chất chính trị: Đội ngũ công chức cấp xã có lòng yêu nước sâu sắc, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; chấp hành tốt chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Có bản lĩnh chính trị vững vàng, không dao động trước những khó khăn, thách thức và những biến động của tình hình thế giới và trong nước Kiên quyết đấu tranh chống các quan điểm lệch lạc, sai trái của các thế lực thù địch
Trang 35Về phẩm chất đạo đức, lối sống: Có đạo đức cách mạng thì cán bộ, công chức mới có khả năng hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, mới được nhân dân tin yêu và giúp đỡ, như Hồ Chí Minh khẳng định: “Cũng như sông phải có nguồn, mới có nước, không có nguồn thì cạn; cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo; người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân” Tuy nhiên, trong thời gian qua, tình trạng suy thoái về đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nho cán bộ, công chức diễn ra nghiêm trọng, làm giảm sút lòng tin của nhân dân
Trong giai đoạn hiện nay xây dựng đội ngũ công chức cấp xã có phẩm chất, đạo đức tốt phải đáp ứng được yêu cầu: Có tinh thần trách nhiệm cao, gương mẫu, đi đầu trong công tác; xử lý hài hoà các lợi ích, đặt lợi ích của Đảng, của Tổ quốc lên trên hết Liên hệ mật thiết với nhân dân, tôn trọng và bảo vệ quyền làm chủ của nhân dân Có lối sống trong sạch, lành mạnh, có kỉ cương kỉ luật Không quan liêu, tham nhũng, lãng phí và kiên quyết đấu tranh phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí và các biểu hiện tiêu cực khác
Bốn là, xây dựng đội ngũ công chức cấp xã còn tạo ra một đội ngũ công chức có trình độ năng lực
Công chức có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt mà không có năng lực thì trong quá trình thực hiện nhiệm vụ sẽ gặp rất nhiều khó khăn, thậm chí thất bại, như VI Lê nin đề cập: Chỉ dựa vào tinh thần xung kích và tinh thần thần phấn khởi và nhiệt tình không thôi, thì không thể làm được cái gì cả [34, tr136]
Đối với Hồ Chí Minh, bên cạnh những đòi hỏi về đạo đức cách mạng, Người còn chú trọng đến việc nâng cao trình độ năng lực đối với cán bộ, công chức Người đã nói: Năng lực của con người không phải hoàn toàn tự nhiên
Trang 36mà có mà phần lớn do công tác, do luyện tập mà có [40,tr213]
Vì vậy, bên cạnh những yêu cầu về phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống thì xây dựng đội ngũ công chức cấp xã có vai trò to lớn là tạo ra được đội ngũ công chức cấp xã có trình độ, năng lực tư duy lí luận và năng lực tổ chức thực tiễn
Tiểu kết chương 1
Đội ngũ công chức cấp xã có vị trí, vai trò quan trọng trong quản lý nhà nước của chính quyền cấp xã Họ vừa là những người tham mưu, giúp việc cho chính quyền xã trong việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở cơ sở vừa trực tiếp, tiếp xúc với nhân dân để giải quyết những công việc hàng ngày liên quan đến thủ tục hành chính, quản lý nhà nước ở cơ sở Bên cạnh đó công chức cấp xã còn là những người trực tiếp đưa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vào trong thực tiễn của đời sống nhân dân Do đó, cùng với cán bộ chính quyền cơ sở, họ là hình ảnh thu nhỏ của nền hành chính trong quan hệ với nhân dân
Trong chương 1, tác giả đã đề cập đến những khái niệm, quan niệm cơ bản về cấp xã, đặc điểm, vai trò của cấp xã; công chức cấp xã và đặc điểm đội ngũ công chức cấp xã nói chung và một số nội dung cơ bản để xây dựng đội ngũ công chức xã ở nước ta hiện nay Trên cơ sở phân tích có hệ thống đã chỉ
ra những nhân tố trong thực tế có ảnh hưởng đến việc xây dựng đội ngũ công chức cấp xã Những nội dung về cơ sở lý luận và thực tiễn về cấp xã và đội ngũ công chức cấp xã, cũng như nội dung xây dựng đội ngũ công chức cấp
xã được đề cập đến trong Chương 1 là căn cứ khoa học để phân tích đánh giá thực trạng năng lực của đội ngũ công chức cấp xã tỉnh Đăk Nông hiện nay trong Chương 2 cũng như xây dựng phương hướng và giải pháp trong Chương 3 của Luận văn
Trang 37Chương 2 XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC CẤP XÃ
Ở TỈNH ĐĂK NÔNG HIỆN NAY -THỰC TRẠNG,
Vị trí địa lý: Tỉnh Đăk Nông được thành lập ngày 01/01/2004, theo
Nghị quyết số 22/2003/NQ - QH11, ngày 26/11/2003 của Quốc hội khoá XI, trên cơ sở chia tách tỉnh Đắk Lắk thành 2 tỉnh Đắk Lắk và Đăk Nông Là tỉnh miền núi, nằm ở phía Tây Nam vùng Tây Nguyên, đoạn cuối dãy Trường Sơn; trên toạ độ địa lý: 11o45’ đến 12o
50’ vĩ độ Bắc, 107o 13’ đến 108o 10’ kinh độ Đông Địa giới hành chính có: Phía Bắc và Đông Bắc giáp tỉnh Đắk Lắk; Phía Đông và Đông Nam giáp tỉnh Lâm Đồng; phía Nam giáp tỉnh Bình Phước; phía Tây giáp Vương quốc Cămpuchia với 130 km đường biên giới,
có 2 cửa khẩu quốc tế Bu Prăng và Đắk Peur, nối với tỉnh Mondulkiri của vương quốc Campuchia
Địa hình: Đăk Nông nằm trọn trên cao nguyên M’Nông, độ cao trung
bình khoảng 600 - 700m so với mặt nước biển, nơi cao nhất là 1.982m Đăk Nông có địa hình đa dạng và phong phú, bị chia cắt mạnh, có sự xen kẽ giữa các núi cao hùng vĩ, hiểm trở với cao nguyên rộng lớn, dốc thoải xen kẽ các dải đồng bằng thấp trũng Nhìn tổng thể, địa hình Đăk Nông như hai mái nhà của một ngôi nhà mà đường nóc là dãy núi Nam Nung, có hướng thấp dần từ Đông sang Tây
Trang 38Đất đai, khí hậu: Đăk Nông có diện tích tự nhiên là 651.561 ha Tài
nguyên đất khá phong phú, đa dạng, bao gồm 5 nhóm đất: đất đen xám, đất
đỏ, đất phù sa, đất mùn trên núi, đất thung lũng Khí hậu Đăk Nông mang đặc điểm khí hậu cao nguyên nhiệt đới gió mùa cận xích đạo chia làm 02 mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô, lượng mưa trung bình năm từ 2.300mm đến 3.300mm/năm
Thuỷ văn, sông ngòi: Đăk Nông có mạng lưới sông suối, hồ, đập phân
bố tương đối đều khắp trên địa bàn tỉnh Gồm có 2 hệ thống sông chính: sông Đồng Nai, sông Sê rê pôk và các sông nhỏ khác, cùng với hệ thống hồ đập… tạo ra nguồn nước ngọt phong phú, khá thuận lợi để khai thác phục vụ sản xuất và đời sống, có điều kiện thuận lợi để đầu tư khai thác phát triển du lịch sinh thái, du lịch dã ngoại, nghỉ dưỡng…
Tài nguyên khoáng sản: Đăk Nông đã phát hiện được khoảng 20 loại
khoáng sản với trên 178 mỏ và điểm quặng chủ yếu là bauxit, wolfram, antimoal Trong đó, bauxit là nguồn khoáng sản trữ lượng lớn, với trữ lượng khoảng 5,4 tỷ tấn Ngoài ra, Đăk Nông còn có một số loại khoáng sản quý hiếm như: vàng, đá quý ngọc bích, saphir và các loại vật liệu xây dựng chưa đánh giá
Tài nguyên rừng: Đăk Nông có diện tích đất lâm nghiệp rừng là
362.644 ha (chiếm 55,66% diện tích đất tự nhiên), chủ yếu là rừng tự nhiên, rừng trồng không đáng kể, tỷ lệ che phủ rừng khoảng 49%, chủ yếu là rừng sản xuất (chiếm 67,30%) Rừng phòng hộ và rừng đặc dụng có tỷ lệ khá lớn;
hệ động thực vật khá đa dạng phong phú Tuy nhiên diện tích rừng nguyên sinh đang bị suy giảm đáng kể
*Đặc điểm về kinh tế
Tốc độ tăng trưởng GDP hàng năm của tỉnh khá cao, năm 2013 đạt 14,03%, năm 2014 đạt 13,8%, thu nhập bình quân đầu người đạt 29,87 triệu
Trang 39đồng, cơ cấu kinh tế từng bước chuyển dịch theo hướng tích cực, tỷ trọng công nghiệp và xây dựng đã tăng từ 19,53% lên 21,26%, nông nghiệp giảm từ 61,60% xuống còn 53,17%, dịch vụ từ 18,86% lên 25,59%, chất lượng nền kinh tế tiếp tục được nâng lên, các lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ phát triển đa dạng
Nông, lâm nghiệp: Đăk Nông có nhiều lợi thế phát triển nông lâm
nghiệp Tổng diện tích đất nông nghiệp khoảng: 228.500ha; diện tích đất lâm nghiệp khoảng 362.644 ha Trong tổng số đất nông nghiệp, đất trồng cây lâu năm chiếm phần lớn diện tích (61,52%); đất trồng cây hàng năm chủ yếu là đất trồng lúa, ngô, sắn và cây công nghiệp hàng năm Sản xuất nông nghiệp tiếp tục có bước phát triển, giữ vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và ổn định xã hội
Thương mại, dịch vụ và du lịch có bước phát triển: Giá trị dịch vụ tăng
bình quân hàng năm đạt trên 17%, năm 2014 đạt 17,85% Các dịch vụ lưu trú, nhà hàng, khách sạn, vận tải, bưu chính viễn thông phát triển nhanh, chất lượng phục vụ từng bước được nâng lên Kết cấu hạ tầng các điểm, tuyến du lịch sinh thái, du lịch văn hoá bước đầu được chú trọng đầu tư Trên địa bàn tỉnh hiện có 6 ngân hàng thương mại và 1 tổ chức tín dụng hoạt động Nguồn vốn huy động cho đầu tư phát triển tăng cao, bình quân hàng năm 36,2%, tổng
dư nợ cho vay tăng bình quân hàng năm 47,5%
Như vậy, nền kinh tế tỉnh Đăk Nông đã có bước phát triển khá, tốc độ tăng trưởng tương đối cao; cơ cấu kinh tế đang chuyển dịch theo hướng tích cực Tuy nhiên, nền kinh tế của tỉnh phát triển chưa tương xứng với tiềm năng
và thế mạnh của địa phương; cơ cấu kinh tế chủ yếu vẫn là sản xuất nông nghiệp, nền kinh tế phát triển chưa bền vững, nông nghiệp mang tính tự phát, phát triển chưa toàn diện, nhiều xã, phường, thị trấn còn lúng túng trong quản
lý điều hành, kinh tế dân cư gặp nhiều khó khăn; công nghiệp chế biến phát
Trang 40triển chậm; du lịch phát triển chưa tương xứng với tiềm năng Công tác quy hoạch, định hướng chưa mang tầm chiến lược; quản lý điều hành còn nhiều yếu kém, dẫn đến nền kinh tế hiệu quả thấp
* Đặc điểm về xã hội
Dân số, lao động: Khi mới thành lập tỉnh, Đăk Nông có 397.536 người
Đến cuối năm 2013 là 594.700 người Dân số được phân bố trên địa giới hành chính tỉnh, gồm 08 huyện, thị xã, 71 xã, phường, thị trấn Phân theo khu vực, dân thành thị chiếm 17,24%, dân nông thôn chiếm 82,76% Tỷ lệ tăng dân số
tự nhiên còn khá cao 1,52% Tính đến năm 2014, toàn tỉnh có 267.284 lao động trong độ tuổi đang làm việc trong các ngành kinh tế (chiếm 54% dân số) Năm 2014 đã giải quyết việc làm cho 17.250 lao động, đào tạo nghề cho 11.000 lao động Tuy vậy, đại đa số là lao động vẫn là phổ thông, chưa qua đào tạo
Công tác xoá đói giảm nghèo: Đã có chuyển biến tích cực, tỷ lệ hộ
nghèo đã giảm mạnh: nếu năm 2004 tỷ lệ hộ nghèo là 33,73%, thì đến năm
2013 giảm còn 15,6% Tuy nhiên, tỷ lệ hộ cận nghèo còn chiếm tỷ lệ cao và những hộ thoát nghèo chưa thực sự bền vững, đồng bào các dân tộc ít người trong diện nghèo chiếm tỷ lệ cao; nguồn thu nhập chủ yếu của hộ nghèo từ hoạt động nông lâm nghiệp là chính, về lâu dài, sự phân hoá giàu nghèo sẽ ngày càng diễn ra gay gắt
Về dân tộc: Đăk Nông là tỉnh đa dân tộc, với cộng đồng dân cư gồm 40
dân tộc anh em chung sống, trong đó: dân tộc Kinh chiếm 68,5%, dân tộc thiểu số chiếm 31,5% Đặc điểm của dân tộc thiểu số có số dân không đồng đều và sống xen kẽ với dân tộc Kinh; các dân tộc có trình độ phát triển kinh tế -
xã hội không đồng đều, trong đó các dân tộc thiểu số có trình độ sản xuất còn lạc hậu, phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên, còn nhiều tập tục lạc hậu trong sinh hoạt và sản xuất