1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khuynh hướng chính trị của báo chí mỹ (khảo sát các bài xã luận của new york times và wall street journal từ 2009 đến 2012)

209 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 209
Dung lượng 1,7 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

báo chí cho rằng, “Các nghiên cứu về khuynh hướng báo chí tập trung chủ yếu vào các cuộc bầu cử trong khi các nghiên cứu thực nghiệm về định kiến của CQBC trong các vấn đề đối nội như y

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA

HỒ CHÍ MINH

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

VŨ THANH VÂN

KHUYNH HƯỚNG CHÍNH TRỊ CỦA BÁO CHÍ MỸ

(Khảo sát các bài xã luận của New York Times và Wall Street Journal

từ 2009 đến 2012)

Hà Nội - 2015

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA

HỒ CHÍ MINH

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

VŨ THANH VÂN

KHUYNH HƯỚNG CHÍNH TRỊ CỦA BÁO CHÍ MỸ

(Khảo sát các bài xã luận của New York Times và Wall Street Journal

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan công trình này là của riêng tôi Các số liệu nêu trong luận

án đều trung thực và có nguồn gốc rõ ràng Những kết luận khoa học của luận án chưa từng được công bố trong bất kỳ một công trình khoa học nào khác

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

VŨ THANH VÂN

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

TỔNG QUAN 14

CHƯƠNG 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về đề tài 25

1.1 Khuynh hướng chính trị 25

1.2 Xã luận và xã luận trên báo chí Mỹ 43

1.3 Tổng quan về các vấn đề khảo sát 52

CHƯƠNG 2: Xã luận của New York Times và Wall Street Journal 58

2.1 Khái quát về New York Times và Wall Street Journal 58

2.2 Vai trò và quy trình sáng tạo 62

2.3 Phân loại xã luận 69

2.4 Đặc điểm xã luận của NYT và WSJ 78

CHƯƠNG 3: Biểu hiện định lượng về khuynh hướng chính trị của NYT và WSJ….95 3.1 Hình ảnh của Tổng thống Obama 95

3.2 Chính sách của chính quyền liên bang 98

3.3 Giải pháp đưa ra trong bài xã luận 101

CHƯƠNG 4: Biểu hiện định tính về khuynh hướng chính trị của NYT và WSJ 106

4.1 Quan điểm chủ đạo của NYT và WSJ………106

4.2 So sánh quan điểm NYT và WSJ theo chủ đề 109

4.3 Giọng điệu xã luận của NYT và WSJ 129

KẾT LUẬN 139

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ 149

TÀI LIỆU THAM KHẢO 150

PHỤ LỤC 154

Trang 5

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BHYT : Bảo hiểm y tế

CQBC : Cơ quan báo chí

KHCT : Khuynh hướng chính trị

TPBC : Tác phẩm báo chí

NYT : The New York Times

WSJ : The Wall Street Journal

Trang 6

DANH MỤC HÌNH TRONG LUẬN ÁN

Hình 1.1 Cơ cấu doanh thu của cơ quan báo chí 39

Hình 1.2 Cơ cấu doanh thu của New York Times 39

Hình 2.1 Tỷ lệ các bài XL của NYT và WSJ theo mục đích 73

Hình 2.2 Số lượng XL của NYT và WSJ theo lĩnh vực từ 1/1/2009 đến 31/12/2012 75

Hình 2.3 Số lượng XL của NYT và WSJ theo chủ đề từ 1/1/2009 đến 31/12/2012 77

Hình 2.4 Số lượng tít theo cấu trúc của NYT và WSJ 78

Hình 2.5 Mức độ tít phản ánh nội dung bài XL của NYT và WSJ 81

Hình 2.6 Số bài XL của NYT và WSJ theo 4 loại cấu trúc 86

Hình 2.7 Số bài XL sử dụng số liệu, ví dụ và trích dẫn của NYT và WSJ 87

Hình 3.1 Các loại chính sách được đề cập trong bài XL 99

Hình 4.1 Quan điểm của NYT trong bài XL về BHYT, thuế và thất nghiệp 106

Hình 4.2 Quan điểm của WSJ trong bài XL về BHYT, thuế và thất nghiệp 107

Hình 4.3 Số lượng bài XL của NYT và WSJ theo quan điểm 108

Trang 7

DANH MỤC BẢNG TRONG LUẬN ÁN

Bảng 2.1: Dạng thức của trích dẫn trong bài xã luận của NYT và WSJ 90

Bảng 3.1: Vai trò của Tổng thống Obama được đề cập trong bài XL 95

Bảng 3.2: Hình ảnh Tổng thống Barack Obama trong bài XL 97

Bảng 3.3: Đánh giá của NYT và WSJ về các chính sách của chính quyền 100

Bảng 3.4: Số lượng giải pháp trong bài XL của NYT và WSJ 101

Bảng 3.5: Vị trí của giải pháp trong bài XL của NYT và WSJ 102

Bảng 3.6 Từ ngữ trình bày giải pháp trong bài XL 103

Bảng 3.7: Đối tượng được đề xuất giải pháp trong bài XL 104

Bảng 3.8: Sự phù hợp của giải pháp với chính sách của các đảng 104

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài

Đề tài Khuynh hướng chính trị của báo chí Mỹ (qua khảo sát các bài xã

luận của New York Times và Wall Street Journal từ 2009 đến 2012) được thực

hiện vì những lý do chính sau đây

Thứ nhất, Mỹ là quốc gia có nền báo chí phát triển Một mặt, báo chí được

kỳ vọng là “quyền lực thứ tư” nhằm giám sát hệ thống tam quyền phân lập Các nhà lập quốc hi vọng rằng báo chí sẽ thực hiện tốt chức năng giám sát để bảo đảm nền dân chủ Đây chính là lý tưởng mà nền báo chí Mỹ được kỳ vọng sẽ vươn tới

Mặt khác, báo chí là ngành kinh doanh hấp dẫn và sôi động Mỹ là quốc gia có nhiều tập đoàn báo chí – truyền thông lớn nhất trên thế giới: Viacom Inc., Gannet Inc., McClatchy Company, News Corporation, The New York Times Company, Bloomberg… Các tập đoàn này thực chất là các tập đoàn kinh tế hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực báo chí và truyền thông Ông chủ của chúng như Rupert Murdoch, Micheal Bloomberg hay Robert Edward Turner có tên trong danh sách những người giàu nhất nước Mỹ

Vấn đề đặt ra là có mâu thuẫn giữa lý tưởng phục vụ công chúng và mục tiêu lợi nhuận của các CQBC hay không? Các CQBC có khả năng thống nhất lý tưởng và lợi ích hay không? Các CQBC có khách quan, công bằng, trung lập như

họ luôn tuyên bố không? Đây là những câu hỏi cần được giải đáp và chỉ có thể được giải đáp đầy đủ khi đi sâu nghiên cứu hoạt động của các CQBC để làm rõ KHCT của chúng trong các vấn đề của đời sống chính trị, kinh tế và xã hội

Thứ hai, NYT và WSJ là hai CQBC tiêu biểu cho nền báo chí Mỹ Hai CQBC này có phạm vi và khả năng ảnh hưởng rộng lớn trong đời sống chính trị

và xã hội nước Mỹ NYT được thành lập và xuất bản liên tục ở Thành phố New York từ năm 1851 Theo thống kê của công ty phân tích dữ liệu ComScore (Mỹ)

Trang 9

tháng 1-2011, trang báo mạng của New York Times có đến 30 triệu lượt người truy cập một tháng

Trong khi đó, WSJ là ấn phẩm của tập đoàn truyền thông News Corporation thuộc sở hữu của nhà tài phiệt Rupert Murdoch Tháng 8-2007, Rupert Murdoch đã chi 5 tỷ USD để mua WSJ từ tập đoàn Dow Jones Đây là tờ báo lớn nhất tại Mỹ tính theo lượng phát hành Theo Phòng kiểm toán phát hành (Mỹ), lượng phát hành của WSJ là 2,1 triệu bản/ngày tại thời điểm tháng 3-2010

Thứ ba, XL có vị trí quan trọng trên báo chí Mỹ nói chung, trên WSJ và NYT nói riêng NYT và WSJđều có bộ phận XL độc lập với bộ phận tin tức và

do các nhà báo nhiều kinh nghiệm điều hành Bài XLtrình bày quan điểm của các CQBC này về các vấn đề chính trị, kinh tế và xã hội quan trọng Nó cũng đánh giá các chính sách của chính quyền đồng thời đề xuất các giải pháp cho những vấn đề lớn trong xã hội Những câu hỏi cần được trả lời gồm: CQBC đưa

ra quan điểm, đánh giá gì về chính sách của chính quyền? Quan điểm, đánh giá

đó có mang tính hệ thống và tính nhất quán không? Quan điểm, đánh giá đó có hợp lý không? Việc phân tích nội dung các bài XL sẽ góp phần trả lời các câu hỏi này và làm rõ được những dấu hiệu về KHCT của CQBC

Thứ tư, nghiên cứu KHCT bằng phương pháp thực nghiệm là một hướng nghiên cứu quan trọng hiện nay Theo đó, việc một CQBC ủng hộ hay phản đối một đảng chính trị cần được chứng minh bằng những bằng chứng xác thực và cụ thể Các TPBC là nguồn tư liệu quan trọng để tìm kiếm những bằng này Các phần mềm phân tích dữ liệu định lượng và định tính như SPSS và nVivo là những công cụ đắc lực cho các nghiên cứu về KHCT

Nhà nghiên cứu Robert M Eisinger và một số tác giả khác cho rằng, “Vấn

đề báo chí mang tính khuynh hướng không thể được xác định thông qua các quan điểm khái quát hay những tuyên bố hùng hồn; khuynh hướng tư tưởng có thể và cần được xác định bằng những bằng chứng thực nghiệm[33, 18]” Đồng

quan điểm này, Christopher H Sterling (2009) trong cuốn Bách khoa toàn thư

Trang 10

báo chí cho rằng, “Các nghiên cứu về khuynh hướng báo chí tập trung chủ yếu

vào các cuộc bầu cử trong khi các nghiên cứu thực nghiệm về định kiến của CQBC trong các vấn đề đối nội như y tế chưa được thực hiện[58]”

Chính vì vậy, việc nghiên cứu KHCT thông qua việc phân tích các bài XL

về những vấn đề đối nội của NYT và WSJ là hướng tiếp cận phù hợp Hơn nữa, hiện nay chưa có nghiên cứu nào đi sâu vào KHCT của hai CQBC này Các kết quả nghiên cứu thực nghiệm về KHCT của chúng sẽ là bằng chứng thuyết phục

và đáng tin cậy để phản bác tuyên bố của các CQBC này về sự khách quan và công bằng tuyệt đối của họ

Những lý do trên đây cho thấy sự cấp thiết và phù hợp của việc thực hiện

đề tài Khuynh hướng chính trị của báo chí Mỹ (qua khảo sát các bài xã luận của

New York Times và Wall Street Journal từ 2009 đến 2012)

2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích trên, đề tài Khuynh hướng chính trị của báo chí Mỹ

(qua khảo sát các bài xã luận của New York Times và Wall Street Journal từ

2009 đến 2012) thực hiện những nhiệm vụ sau đây:

Thứ nhất, hệ thống hoá khái niệm KHCT, phân tích các yếu tố tác động đến KHCT đồng thời làm rõ mối quan hệ giữa chính trị và báo chí để làm cơ sở

lý luận cho nghiên cứu

Thứ hai, tìm hiểu quá trình hình thành và phát triển của thể loại XL trên báo chí Mỹ để chỉ ra đặc trưng của thể loại này về mục đích, đối tượng phản ánh,

Trang 11

cấu trúc và ngôn ngữ Đối chiếu với XL trên báo chí Việt Nam để chỉ ra sự tương đồng và khác biệt về bản chất, mục đích và đối tượng phản ánh

Thứ ba, khảo sát và làm rõ các đặc trưng của XL của NYT và WSJ, bao gồm các đặc trưng hình thức và nội dung, quy trình sáng tạo tác phẩm XL và chân dung người viết XL của hai CQBC này

Thứ tư, phân tích nội dung các bài XL của NYT và WSJ để xác định những biểu hiện định tính và định lượng về KHCT của 2 CQBC này Các biểu hiện này là bằng chứng cụ thể để kết luận về KHCT của CQBC

Thứ năm, đúc rút những vấn đề cơ bản về ý nghĩa lý luận và thực tiễn của KHCT đối với nhà báo và CQBC trong việc tạo ra khả năng thuyết phục và định hướng nhận thức cho công chúng

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là các bài XL chính trị, kinh tế và xã hội của NYT

và WSJ Các bài XL tập trung vào các vấn đề đối nội: chính sách thuế, bảo hiểm

y tế và thất nghiệp Đây là những vấn đề lớn và nóng trong nhiệm kỳ thứ nhất của Tổng thống Barack Obama Những vấn đề này vốn đã có từ thời Tổng thống George W Bush nhưng trở nên nóng bỏng hơn dưới tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế Mỹ bắt đầu từ năm 2008 Những tranh luận giữa đảng Cộng hoà

và đảng Dân chủ tập trung nhiều vào những vấn đề này

Các bài này được đăng trong chuyên mục Xã luận (Editorial) của NYT và Bình luận và đánh giá (Review and Outlook) của WSJ từ 1-1-2009 đến 31-12-

2012 Đây là khoảng thời gian từ khi ông Obama bắt đầu trở thành tổng thống tới khi chuẩn bị kết thúc nhiệm kỳ thứ nhất và tranh cử nhiệm kỳ thứ hai Các bài này đều được ghi rõ là bài xã luận để phân biệt với các loại bài khác

Việc khảo sát các bài XL của NYT và WSJ về các vấn đề đối ngoại có thể mang lại những kết quả mang tính bổ sung và đối sánh về KHCT của chúng Tuy nhiên, do giới hạn về thời gian và các nguồn lực khác, đề tài này chỉ tập trung vào các bài XL về các vấn đề đối nội Hơn nữa, việc khảo sát các bài XL về chủ

Trang 12

đề đối ngoại đòi hỏi xây dựng và áp dụng một bộ mã hoá KHCT hoàn toàn khác

Do đó, việc nghiên cứu về KHCT của hai CQBC này qua khảo sát các bài XL về các vấn đề đối ngoại sẽ được thực hiện trong một đề tài khác

4 Câu hỏi nghiên cứu

Các nhà chính trị và chủ sở hữu các CQBC Mỹ luôn tuyên bố, báo chí Mỹ

là khách quan, trung lập, công bằng và phi chính trị Họ phủ nhận tính khuynh hướng trong hoạt động báo chí và tuyệt đối hoá tính khách quan của báo chí tư sản Cả NYT và WSJ đều tuyên bố, họ tuân thủ các nguyên tắc nghiệp vụ và chuẩn mực đạo đức cao nhất Tuyên bố này cần được kiểm chứng trong thực tế

và bằng thực tế

Ở Mỹ, đảng Cộng hoà và đảng Dân chủ luôn hướng tới các nhóm cử tri khác nhau bằng các chiến lược và luận điệu chính trị khác nhau Hai đảng này thống nhất về lợi ích quốc gia nhưng khác biệt về chủ trương và chính sách, đặc biệt là các chính sách đối nội Vấn đề chính sách gì và chính sách cho ai thực chất phản ánh cuộc đấu tranh giữa các nhóm lợi ích và các đảng chính trị Câu hỏi quan trọng có thể đặt ra ở đây: Báo chí có thể trung lập giữa các lợi ích đó không? Báo chí có đứng ngoài cuộc đấu tranh để giành và giữ các lợi ích đó không?

Trên thực tế, báo chí đóng vai trò quan trọng trong quy trình chính sách từ khâu hoạch định đến phản biện và điều chỉnh chính sách Là 2 CQBC tiêu biểu cho nền báo chí Mỹ, NYT và WSJ có vai trò quan trọng trong quá trình hình thành và triển khai các chính sách đối nội thông qua việc họ thông tin và đánh giá các chính sách đó Việc CQBC đánh giá chính sách như thế nào, dựa vào cơ

sở nào; ủng hộ hay phản đối các chính sách đó đều liên quan hoặc xuất phát từ lợi ích của họ.Sự ủng hộ hay phản đối này là dấu hiệu quan trọng để nhận biết KHCT của CQBC

Việc nghiên cứu các bài XL của NYT và WSJ sẽ góp phần trả lời các câu hỏi quan trọng như: NYT và WSJ có thái độ và đánh giá như thế nào với các

Trang 13

chính sách của đảng Cộng hoà và đảng Dân chủ? Thái độ và đánh giá đó được biểu hiện về mặt định tính và định lượng như thế nào trong bài XL? Quan điểm, lập trường của hai CQBC này với hai đảng chính trị lớn là đảng Cộng hoà và đảng Dân chủ được thể hiện như thế nào trong bài XL? Câu trả lời cho những câu hỏi này sẽ là cơ sở quan trọng để đi đến kết luận về KHCT của NYT và WSJ

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

Đề tài được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận là những nguyên lý triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, trong đó đặc biệt quan trọng là nguyên lý về mối quan hệ phổ biến, nguyên lý về sự phát triển và quan điểm lịch

sử cụ thể về sự vật, hiện tượng

5.2 Phương pháp phân tích nội dung

Phương pháp phân tích nội dung định tính và định lượng là phương pháp nghiên cứu của chính đề tài Đây là một trong ba phương pháp phổ biến được sử dụng để nghiên cứu khuynh hướng của báo chí Kết quả phân tích định lượng có khả năng suy rộng trong khi kết quả phân tích nội dung định tính có khả năng làm sáng tỏ kết quả phân tích định lượng

Phương pháp phân tích nội dung được hỗ trợ bằng phần mềm SPSS để xử

lý số liệu và phần mềm nVivo để hệ thống hoá dữ liệu Phương pháp này được triển khai theo 9 bước

Bước 1 - Thu thập dữ liệu: Các bài XL của NYT và WSJ được thu thập

từ cơ sở dữ liệu trực tuyến Factiva tại địa chỉ www.factiva.com Các bài XL đáp ứng các tiêu chí: về chủ đề BHYT, chính sách thuế và thất nghiệp và trong khoảng thời gian từ 1/1/2009 đến 31/12/2012 Số bài XL thu thập được của từng

tờ báo theo từng chủ đề được trình bày trong bảng dưới đây

Trang 14

Bảo hiểm y tế 174 114

Bước 2 – Chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống theo bước nhảy k:Sử dụng

phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống theo bước nhảy k, tác giả đã chọn ra

50 bài XL theo từng chủ đề của mỗi báo Tổng cộng 300 bài XL của cả 2 CQBC được chọn để làm mẫu nghiên cứu Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống bảo đảm, các bài XL được chọn ra mang tính đại diện cho từng chủ đề và trải đều trong khoảng thời gian nghiên cứu Nhờ vậy, kết quả nghiên cứu có tính suy rộng Việc xác định bước nhảy k được thực hiện theo công thức dưới đây Danh sách 150 bài XL của mỗi báo được trình bày trong phần Phụ lục

∑ bài XL theo từng chủ đề

50

Bước 3 – Khảo sát mẫu phân tích: Các bài XL trong mẫu phân tích được

khảo sát sơ bộ nhằm nhận diện các đặc điểm phổ biến về nội dung và hình thức Đây là bước làm quen với mẫu nghiên cứu để xác định các đặc điểm chung trong các bài XL của NYT và WSJ Quá trình khảo sát này giúp người nghiên cứu từng bước phác thảo Bộ mã hoá về KHCT

Bước 4 – Xây dựng Bộ mã hoá về KHCT: Bộ mã hoá gồm 33 tiêu chí

được xây dựng dựa trên những khảo sát ban đầu Bộ mã hoá được chia thành 2 phần: Đặc điểm của các bài XL và Biểu hiện của KHCT Phần Đặc điểm của các bài XL giúp người nghiên cứu có hiểu biết sâu sắc về đặc điểm hinh thức và nội dung của đối tượng nghiên cứu Phần Biểu hiện của KHCT giúp người nghiên cứu có được những bằng chứng thực nghiệm để kết luận về KHCT của từng tờ báo

Bước 5 – Thử và điều chỉnh Bộ mã hoá về KHCT: Bộ mã hoá về KHCT

được sử dụng với một số bài XL chọn ngẫu nhiên từ mẫu phân tích để xác định mức độ phù hợp của bộ mã hoá Trên cơ sở đó, một số tiêu chí trong Bộ mã hoá được bổ sung và điều chỉnh

k=

Trang 15

Bước 6 – Tiến hành mã hoá: Sử dụng Bộ mã hoá về KHCT, tác giả đã

tiến hành mã hoá toàn bộ 300 bài XL của NYT và WSJ Các phiếu mã hoá được đánh số tương ứng với từng trường hợp Quá trình mã hoá đem lại 300 phiếu dữ liệu

Bước 7 – Nhập và xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS: Dữ liệu từ 300

phiếu mã hoá được nhập và xử lý bằng phần mềm SPSS cho ra các dữ liệu một chiều và hai chiều

Bước 8 – Phân tích và mô hình hoá dữ liệu: Căn cứ vào những dữ liệu

một chiều và hai chiều được xử lý bằng phần mềm SPSS, tác giả tiến hành phân tích và rút ra những quy luật, xu hướng, cấu trúc và mô tả những quy luật, xu hướng và cấu trúc đó bằng các mô hình Các quy luật, xu hướng tiếp tục được làm rõ bằng các phân tích định tính với sự hỗ trợ của phần mềm nViVo

Bước 9 – Đưa ra kết luận: Kết quả phân tích định lượng và định tính là

cơ sở để tác giả rút ra các kết luận về KHCT của NYT và WSJ Các kết quả phân tích định lượng phác hoạ xu hướng, quy luật và có khả năng suy rộng Các kết quả phân tích định tính làm sáng tỏ các xu hướng, quy luật đó

Toàn bộ quá trình thực hiện phương pháp phân tích nội dung định lượng

và định tính được thể hiện trong sơ đồ dưới đây

5.3 Các phương pháp nghiên cứu bổ sung

Trang 16

Đề tài còn sử dụng các phương pháp thu thập thông tin và nghiên cứu tài liệu Thông tin liên quan đến các khái niệm chính của đề tài được thu thập và hệ thống hoá từ sách, báo và tạp chí Tác giả cũng nghiên cứu các bài phỏng vấn trưởng ban XL của NYT và WSJ nhằm tìm hiểu nhận thức, quy trình và phương thức sáng tạo bài XL

6 Cơ sở lý thuyết của đề tài

Đề tài được triển khai trên nền tảng của Lý thuyết về khunh hướng chính trị - tư tưởng trong báo chí; Lý thuyết xây dựng chương trình nghị sự vàLý thuyết về ảnh hưởng chính trị - xã hội của báo chí

6.1 Lý thuyết về khuynh hướng chính trị - tư tưởng trong báo chí

Lý thuyết về khuynh hướng chính trị - tư tưởng trong báo chí là cơ sở lý luận quan trọng của đề tài Lý thuyết này được tác giả Tạ Ngọc Tấn trình bày và

lý giải trong nhiều tài liệu khác nhau như sách Từ lý luận đến thực tiễn báo chí, bài viết Báo chí Mỹ trong đời sống chính trị - xã hội, bài viếtTrách nhiệm chính

trị – xã hội của báo chívà bài Khuynh hướng chính trị - tư tưởng trong báo chí.Lý thuyết này hệ thống hoá quan niệm về khuynh hướng chính trị - tư tưởng,

các yếu tố chi phối nhận thức chính trị của nhà báo và biểu hiện của khuynh hướng chính trị - tư tưởng trong TPBC

Thứ nhất, GS.TS Tạ Ngọc Tấn khẳng định, khuynh hướng chính trị - tư tưởng là hiện tượng khách quan trong báo chí Dù trong xã hội nào, báo chí luôn

là phương tiện để giành và giữ lợi ích Vấn đề chỉ là giành và giữ lợi ích cho ai: cho quảng đại quần chúng hay cho thiểu số các ông chủ tư bản, cho tầng lớp cầm quyền tiến bộ hay cho thế lực phản động…? Tính chất nổi bật của báo chí Mỹ, theo ông là “sự thoả hiệp giữa hiệu quả kinh doanh và mục đích chính trị.”

Thứ hai, quá trình sáng tạo TPBC có mối liên hệ chặt chẽ với các quá trình chính trị Theo đó, báo chí không chỉ chịu sự chi phối mà còn tác động trở lại các quá trình chính trị Do đó, TPBC là nơi tập trung các biểu hiện về khuynh hướng chính trị - tư tưởng của CQBC

Trang 17

Thứ ba, yếu tố con người mà cụ thể là nhà báo đóng vai trò quyết định trong việc định hướng hay chủ động hình thành khuynh hướng chính trị - tư tưởng Do đó, hoạt động báo chí cần có định hướng chính trị đúng đắn để định hướng dư luận đồng thời đấu tranh chống những luận điệu sai trái

Trên đây là những tiền đề quan trọng để thực hiện nghiên cứu Khuynh

hướng chính trị của báo chí Mỹ (qua khảo sát các bài xã luận của New York Times và Wall Street Journal từ 2009 đến 2012)

6.2 Lý thuyết xây dựng chương trình nghị sự của báo chí

Lý thuyết xây dựng chương trình nghị sự được hai nhà nghiên cứu báo chí nổi tiếng Maxwell McCombs và Donald Shaw đưa ra năm 1972 Lý thuyết này lập luận rằng, xây dựng chương trình nghị sự là quá trình các phương tiện truyền thông đại chúng tập trung thông tin về các vấn đề mà họ cho là quan trọng Điều này thường được thực hiện theo ba con đường sau đây

Thứ nhất, vấn đề quan trọng được đề cập với dung lượng lớn như diện tích lớn hơn trên trang báo hoặc thời lượng phát sóng nhiều hơn trên truyền hình

Thứ hai, vấn đề quan trọng được đề cập một cách thường xuyên và liên tục Hay nói cách khác, nó được lặp đi lặp lại với tần suất lớn

Thứ ba, các vấn đề quan trọng được đặt tại vị trí nổi bật như trên trang nhất hoặc các vị trí dễ nhận thấy khác

Maxwell và Donald cũng chứng minh được mối tương quan giữa chương trình nghị sự của CQBC và chương trình nghị sự của công chúng Hai tác giả lập luận rằng, “Xây dựng chương trình nghị sự là quá trình các phương tiện truyền thông đại chúng thể hiện các vấn đề nhất định một cách thường xuyên và nổi bật, làm cho phần lớn công chúng đi đến nhận thức rằng, vấn đề này quan trọng hơn vấn đề kia Hay nói cách đơn giản, một vấn đề càng được thông tin nhiều, nó càng trở nên quan trọng đối với công chúng [48, 147]”

Lý thuyết của Maxwell và Donald được nhiều nhà nghiên cứu báo chí khác tán thành và phát triển Everett M.Rogers và James W Dearing coi xây

Trang 18

dựng chương trình nghị sự như một quá trình chính trị, trong đó các CQBC khác nhau cạnh tranh để thu hút sự chú ý của công chúng và các nhà hoạch định chính sách về những vấn đề mà CQBC cho là quan trọng [31, 2] Họ cũng cho rằng, chương trình nghị sự của CQBC tác động đến chương trình nghị sự của công chúng và chương trình nghị sự của các nhà chính trị như mô tả trong mô hình dưới đây

Lý thuyết xây dựng chương trình nghị sự của báo chí là cơ sở quan trọng

để lý giải tại sao một CQBC phản ánh vấn đề này, không phải ánh vấn đề kia và ảnh hưởng của quá trình này với các quá trình chính trị

6.3 Lý thuyết ảnh hưởng chính trị - xã hội của báo chí

Dennis McQuail được coi là một trong những học giả có ảnh hưởng nhất trong lĩnh vực nghiên cứu báo chí, đặc biệt là lý thuyết báo chí chính trị Trong

cuốn Quyền lực báo chí trong chính trị (Media Power in Politics), ông đưa ra lý

thuyết về ảnh hưởng chính trị - xã hội của các phương tiện truyền thông đại chúng Ông cho rằng, các phương tiện truyền thông đại chúng có tác động quan trọng đối với các cá nhân, tổ chức, xã hội và văn hoá Theo đó, việc sở hữu và

Kinh nghiệm cá nhân và trao đổi trong giới lãnh đạo và các cá

nhân khác

Chương trình nghị

sự truyền thông đạichúng

Thứ tự ưu tiên quan tâm của công chúng

Trang 19

kiểm soát các phương tiện truyền thông đại chúng mang lại cho các CQBC khả năng gây ảnh hưởng theo các con đường sau [50, 21]

Thứ nhất, phương tiện truyền thông đại chúng có khả năng thu hút và dẫn dắt sự chú ý đến các vấn đề, giải pháp hoặc con người theo cách ủng hộ những người đang nắm quyền và tương tự như vậy, đánh lạc hướng sự chú ý về các cá nhân hoặc các nhóm đối lập

Thứ hai, phương tiện truyền thông đại chúng có thể tạo dựng uy tín và khẳng định tính chính đáng cho một cá nhân, tổ chức, chính sách hay giải pháp

Đồng quan điểm với Dennis McQuail, Doris A Graber trong cuốn Mass

Media and American Politics (Các phương tiện truyền thông đại chúng và nền chính trị Mỹ)cho rằng,“Báo chí có ảnh hưởng quan trọng đối với chính trị bởi vì

nó cung cấp thông tin thiết yếu về chính trị cho đông đảo công chúng một cách thường xuyên và nhanh chóng… Bằng việc thể hiện câu chuyện và lý giải nó, các nhà báo gán ý nghĩa cho thông tin và xác định các giá trị để đánh giá thông tin đó [39, 29]” Công chúng của báo chí bao gồm nhà chính trị, các nhà hoạch định chính sách cũng như những người dân bình thường

Các lý thuyết trên đây sẽ được vận dụng để phân tích KHCT của các CQBC trong việc lựa chọn đề tài và thông tin về đề tài của các bài XL đồng thời làm rõ mục tiêu và khả năng tác động của các bài XL đối với công chúng

Trang 20

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

Đề tài Khuynh hướng chính trị của báo chí Mỹ (qua khảo sát các bài xã

luận của New York Times và Wall Street Journal từ 2009 đến 2012) trình bày

một cách có hệ thống về KHCT của báo chí Mỹ với các bằng chứng cụ thể từ việc phân tích nội dung định tính và định lượng các bài XL

Trên cơ sở nghiên cứu, hệ thống hoá lý thuyết về KHCT của báo chí, luận

án làm rõ ý nghĩa lý luận và thực tiễn của khuynh hướng chính trị đối với nhà báo và cơ quan báo chí; sự cần thiết phải có quan điểm chính trị đúng đắn trong hoạt động báo chí nhằm định hướng nhận thức và hành động cho công chúng đồng thời xây dựng bản sắc của cơ quan báo chí

Đề tài đồng thời cung cấp kiến thức toàn diện về thể loại XL trên báo chí hiện đại, trả lời các câu hỏi cơ bản như: XL là gì? Thể loại này đã hình thành và phát triển như thế nào? Đặc trưng của XL là gì? Mối quan hệ giữa thể loại XL và

sự biểu hiện của KHCT của báo chí được thể hiện như thế nào?

Kết quả nghiên cứu của luận án là cơ sở lý luận cho việc định hướng hoạt động báo chí trong thực tiễn Đây là tài liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu, nhà quản lý, nhà báo, giảng viên và sinh viên báo chí về thể loại xã luận và KHCT của báo chí nói chung và của báo chí Mỹ nói riêng

8 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, đề tài gồm 4 chương

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về đề tài

Chương 2: Xã luận của NYT và WSJ

Chương 3: Biểu hiện định lượng về KHCT của NYT và WSJ

Chương 4: Biểu hiện định tính về KHCT của NYT và WSJ

Trang 21

TổNG QUAN

KHCT của báo chí là chủ đề được cả các nhà nghiên cứu trong nước và ngoài nước quan tâm Đây là vấn đề mang tính bản chất của báo chí và có sự khác biệt căn bản về quan điểm giữa báo chí vô sản và báo chí tư sản Trong khi báo chí vô sản coi tính khuynh hướng là nguyên tắc cơ bản của hoạt động báo chí thì báo chí tư sản phủ nhận tính khuynh hướng và tuyệt đối hoá tính khách quan của báo chí Tuy nhiên, những tranh luận về KHCT của báo chí tư sản, đặc biệt là báo chí Mỹ chủ yếu xoay quanh các lập luận lý thuyết hoặc dựa vào một

số trường hợp, sự kiện thực tế Do đó, mảnh đất dành cho nghiên cứu mang tính thực nghiệm về KHCT của báo chí tư sản rất cần được khai phá để đưa ra những bằng chứng và kết luận có cơ sở vững chắc

Trên thực tế luôn tồn tại sự khác biệt cơ bản, thậm chí đối lập giữa quan điểm của các nhà nghiên cứu và các chủ sở hữu báo chí, các nhà báo Các chủ sở hữu CQBC tư sản phủ nhận tính khuynh hướng Họ cho rằng, báo chí độc lập với chính trị và tính khách quan là nguyên tắc tuyệt đối Trong bài XL “Chủ sở hữu mới” đăng ngày 1-8-2007 sau khi ông trùm truyền thông Rupert Murdoch mua

tờ WSJ từ gia đình Bancroft, ban biên tập tờ báo khẳng định, việc đổi chủ sở hữu không ảnh hưởng gì đến sự độc lập và khách quan của tờ báo vì ban biên tập

“kiên định những nguyên tắc và chuẩn mực nhất quán mà chúng tôi đã duy trì hơn một trăm năm” [80]

NYT cũng đưa ra tuyên bố hùng hồn không kém về tính khách quan và nhất quán trong cung cấp thông tin và tin tức Adolph Ochs, người sáng lập và chủ sở hữu đầu tiên của NYT từng khẳng định, tờ báo sẽ hoạt động “không sợ hãi và không thiên vị.” Bộ quy chuẩn đạo đức và nghiệp vụ của NYT viết,

“Trong hơn một thế kỷ, mọi con người của Times kiên định bảo vệ sự liêm chính của tờ báo [68]”.Trong bài trả lời phỏng vấn độc giả ngày 17-9-2007, Andrew

Trang 22

Rosenthal, Trưởng ban XL của NYT cho rằng, “bảo thủ” hay “cấp tiến” chỉ là cái nhãn mà người ta gán cho các CQBC Ông cho rằng, “những cái nhãn này ngày càng vô nghĩa đối với các cuộc thảo luận chính trị nghiêm túc [69]”

Đối với bất kỳ CQBC nào, uy tín xã hội vừa là mục tiêu phấn đấu vừa là động lực cho sự phát triển Ban biên tập của WSJ công nhận, “sự độc lập của ban biên tập nâng cao triển vọng cho thành công kinh tế Ấn phẩm càng đáng tin cậy,

nó càng có nhiều độc giả và nhà quảng cáo [83].” Tuyên bố về các nguyên tắc cốt lõi gắn liền với việc xây dựng uy tín của CQBC đối với công chúng trong bối cảnh niềm tin của công chúng vào tính khách quan và công bằng của báo chí giảm sút

Tuy nhiên, những tuyên bố này mang tính đương nhiên vì các CQBC Mỹ cần duy trì niềm tin của công chúng vào vai trò khách quan của họ CQBC càng

có khả năng làm cho công chúng tin vào sự khách quan của họ, họ càng có nhiều người đọc.Nhà lý luận báo chí Mỹ Noam Chomsky lập luận rằng, “Nếu các CQBC trung thực, họ sẽ nói, đây là những lợi ích mà chúng tôi đại diện và đây là cách thức chúng tôi nhìn nhận thế giới… Trên thực tế, họ sẽ làm ngược lại Họ

sẽ cố gắng thể hiện mình như đối trọng của quyền lực, như có tính phản biện, xa lánh các thể chế quyền lực và giám sát chúng”[28]

Noam Chomsky cũng cho rằng, các CQBC lớn thực chất là “các tập đoàn

“bán” công chúng của mình cho các doanh nghiệp khác” Thông tin báo chí thể hiện cách nhìn và lợi ích của những nhà lãnh đạo đứng đầu các doanh nghiệp này Họ xây dựng cơ chế để bảo đảm lợi ích của mình thông qua việc tuyển dụng những nhà quản lý, nhà báo có chung các giá trị hoặc chấp nhận các giá trị của

họ Noam Chomsky cho rằng, “Các nhà báo bước vào hệ thống này không thể phát triển được nếu không tuân thủ những áp lực mang tính tư tưởng bằng việc tiếp nhận các giá trị; không dễ để nói điều này trong khi tin vào một điều khác và những người không chấp nhận những áp lực này sẽ bị loại bỏ bởi những cơ chế quen thuộc”[29]

Chia sẻ quan điểm này của Noam Chomsky, nhà nghiên cứu báo chí Robert W McChesney cho rằng, quá trình cắt giảm chi phí và nhân sự của các

Trang 23

CQBC buộc các nhà báo trở nên “ngoan ngoãn” hơn trong việc chấp nhận lợi ích kinh tế của chủ sở hữu Ông lập luận rằng, “Trải qua thời gian, các nhà báo bị hạ gục và những người tồn tại được phải quán triệt các giá trị doanh nghiệp thiết yếu” Ông đề cập nghiên cứu 300 nhà báo của Viện Nghiên cứu Pew năm 2000, trong đó gần một nửa số nhà báo tham gia khảo sát thú nhận họ đôi khi chủ động chấp nhận việc “tự kiểm duyệt để phục vụ lợi ích thương mại của chủ lao động hoặc nhà quảng cáo[47]”

Sự tồn tại của các CQBC gắn liền với các bối cảnh và điều kiện xã hội, kinh tế và chính trị cụ thể Điều này có nghĩa là, CQBC muốn tồn tại và phát triển được phải thích ứng và làm cho mình phù hợp với các bối cảnh và điều kiện

cụ thể đó Alexis de Tocqueville (2008) trong cuốn sách kinh điểnNền dân trị

Mỹ cho rằng, “Một tờ báo chỉ có thể tồn tại được với điều kiện là nó phải bày tỏ

một học thuyết hoặc một tình cảm chung của số lượng lớn con người Vậy là bao giờ một tờ báo cũng đại diện cho một hiệp hội có các độc giả thường xuyên là thành viên của hiệp hội đó[19, 694]”

Trên phương diện lý luận, nhiều nhà nghiên cứu Mỹ chỉ ra quy luật về khuynh hướng của báo chí Theo đó, sự theo đuổi lợi ích của các CQBC tất yếu dẫn đến việc CQBC đó ủng hộ hoặc phản đối một đảng chính trị, một ứng cử viên hay một chính sách Nói cách khác, lợi ích của CQBC sẽ chi phối cách họ tiếp cận, đánh giá và phân tích các vấn đề và sự kiện Tuyên bố khách quan hay trung lập của các CQBC thực chất là phương thức họ hợp lý hoá quan điểm của mình

Tuy nhiên, xu hướng nghiên cứu thực nghiệm về KHCT ngày càng trở nên phổ biến nhằm tăng thêm tính thuyết phục cho những nghiên cứu lý luận Hiện nay, các nhà nghiên cứu báo chí đặc biệt quan tâm đến khuynh hướng của báo chí trong hoạt động thực tiễn Họ hướng đến trả lời câu hỏi: KHCT được biểu hiện như thế nào trong TPBC? Thay vì sử dụng cách tiếp cận diễn dịch, các nhà nghiên cứu dựa vào những bằng chứng thực nghiệm để rút ra kết luận về khuynh

Trang 24

hướng của báo chí Cách tiếp cận quy nạp này bảo đảm rằng, kết luận đưa ra có căn cứ, xác đáng và thuyết phục

Các phương pháp nghiên cứu thực nghiệm về KHCT vì thế ngày càng được hoàn thiện Các nhà nghiên cứu sử dụng 3 phương pháp chủ yếu: phân tích nội dung TPBC, phỏng vấn và điều tra xã hội học đối với nhà báo hoặc công chúng Mỗi phương pháp nghiên cứu KHCT có lợi thế và hạn chế riêng

Năm 1980, Robert Lichter, Đại học George Washington và Stanley Rothman, Đại học Smith sử dụng phương pháp điều tra xã hội học để xác định KHCT của một loạt các CQBC lớn của Mỹ Nghiên cứu này chủ yếu khảo sát thái độ chính trị và hành vi bầu cử của 240 nhà báo ở các CQBC như NYT, WSJ, Newsweek, ABC, CBS và PBS Tuy nhiên, không phải lúc nào các nhà báo cũng sẵn sàng cho biết quan điểm chính trị của họ Điều nàykhiến việc nghiên cứu KHCT của báo chí bằng phương pháp điều tra xã hội học đối với nhà báo không phải lúc nào cũng thực hiện được và không phải lúc nào cũng đem lại kết quả chính xác, đáng tin cậy

Phương pháp phỏng vấn và phỏng vấn sâu cũng được áp dụng để nghiên cứu KHCT của báo chí Phỏng vấn có thể mang lại những thông tin quan trọng

về quan điểm, phông văn hoá, lập trường chính trị, thế giới quan… của nhà báo Tuy nhiên, phương pháp này thường chỉ áp dụng được với những nhà báo đã nghỉ việc hoặc chuyển việc Các nhà báo đang làm việc tại các CQBC thường không công khai quan điểm chính trị của họ và coi đây là một phần của quyền riêng tư Một số nhà báo khác có thể phủ nhận các giả định về KHCT đồng thời viện dẫn nguyên tắc khách quan

Trong bối cảnh đó, các nhà nghiên cứu báo chí Mỹ cho rằng, việc nghiên cứu KHCT của báo chí bằng phương pháp phân tích nội dung văn bản là cách tiếp cận phù hợp Phương pháp phân tích nội dung TPBC bổ sung và làm sáng tỏ các nghiên cứu lý luận và tổng hợp về khuynh hướng của báo chí Robert M Eisinger, Loring R Veenstra, John P Koehn (2007) và Christopher H Sterling (2009) là những nhà nghiên cứu theo trường phái này Sterling cho rằng, cần tiến

Trang 25

hành các nghiên cứu thực nghiệm về khuynh hướng của báo chí trong các vấn đề đối nội như y tế [58] Ông cũng chỉ ra, các nhà nghiên cứu có xu hướng đi theo lối mòn khi tập trung chủ yếu vào việc nghiên cứu khuynh hướng của báo chí qua các cuộc bầu cử tổng thống

Đối tượng của các nghiên cứu phân tích nội dung về khuynh hướng có thể

là tin tức hoặc các bài XL Nghiên cứu Phân tích diễn ngôn XL của các tờ báo

Mỹ lớn (A Discourse Analysis of Elite American Newspaper Editorials) là một ví

dụ điển hình về nghiên cứu khuynh hướng qua các bài XL Foad Izadi và Hakimeh Saghaye-Biria thực hiện nghiên cứu này trên cơ sở nhận định của Frances Henry và Carol Tator rằng, các bài XL thể hiện “lập trường tư tưởng chủ đạo của chủ sở hữu và người quản lý tờ báo[42]”

Là 2 CQBC lớn của Mỹ, NYT và WSJ trở thành đối tượng của nhiều

nghiên cứu về khuynh hướng.Ví dụ, nghiên cứu Khuynh hướng báo chí và chính

trị: Cách báo chí định hình các vấn đề tranh cãi (Press Bias and Politics: How the Media Frame Controversial Issues) do giáo sư Jim A Kuypers, Viện Bách

khoa Virginia thực hiện năm 2002; nghiên cứu Đo lường khuynh hướng của báo

chí (A Measure of Media Bias) của Tim Groseclose, Đại học California (Los

Angeles) và Jeffrey Milyo, Đại học Missouri (2005) và nghiên cứu Yếu tố nào

thúc đẩy khuynh hướng? Dẫn chứng từ các nhật báo Mỹ (What Drives Media Slant? Evidence from US Daily) do Matthew Gentzkow và Jesse M Shapiro thực

hiện năm 2006

Bên cạnh đó, một số tác giả khác cũng nghiên cứu khuynh hướng của báo chí Mỹ trên cả phương diện lý luận và thực tiễn Có thể kể tên một số nghiên cứu của các tác giả:

 Riccardo Puglisi (2004) trong nghiên cứu New York Times: Hành vi chính

trị của một cơ quan báo chí (Being the New York Times: The Political Behaviour of a Newspaper) đã phân tích dữ liệu của NYT từ năm 1946

đến năm 1994 Ông tập trung vào các bài XL của NYT tại thời điểm của các cuộc bầu cử tổng thống Từ đó, ông rút ra kết luận, “Trong các cuộc

Trang 26

bầu cử tổng thống, NYT tập trung hơn vào các chủ đề thuộc lợi thế lâu dài của đảng Dân chủ như quyền dân sự, y tế, việc làm và phúc lợi xã hội khi tổng thống đương nhiệm là đảng viên Cộng hoà”[56, 42]

 Dave D’Alessio và Mike Allen (2000) trong nghiên cứu Khuynh hướng

trong bầu cử tổng thống (Media Bias in Presidential Elections) cho rằng,

báo chí Mỹ có khuynh hướng đảng phái, thể hiện rõ nhất trong các cuộc bầu

cử tổng thống khi báo chí ủng hộ ứng cử viên này trong khi phản đối ứng

cử viên kia 2 tác giả này đưa ra 3 loại KHCT trong báo chí căn cứ vào thao tác nghiệp vụ của nhà báo trong từng công đoạn của nghề báo Theo đó, khuynh hướng có thể xuất hiện khi (1) biên tập viên chọn đề tài này, bỏ đề tài kia từ nhóm các đề tài tiềm năng; (2) nhà báo đưa tin thiên lệch về một vấn đề hoặc sự kiện và (3) nhà báo đưa ý kiến cá nhân của họ vào bài báo [30, 135]

 Robert M Entman (2007) trong nghiên cứu Làm rõ khuynh hướng:

Truyền thông trong sự phân phối quyền lực (Framing Bias: Media in the Distribution of Power) chỉ ra 3 hướng hình thành khuynh hướng Theo

ông, khuynh hướng trong báo chí xuất hiện khi (1) tin tức bóp méo hoặc phản ánh sai hiện thực; (2) tin tức thiên vị một bên thay vì đối xử với hai bên một cách công bằng và (3) nhà báo có thái độ và động cơ tạo ra những nội dung thiếu khách quan[34, 163] Tuy nhiên, trên thực tế khuynh hướng trong báo chí chủ yếu diễn ra theo phương diện thứ hai và thứ ba

 David P Baron(2004) cho rằng, khuynh hướng trong báo chí có nhiều dạng khác nhau[26, 3] Trong nghiên cứu Khuynh hướng phổ biến trong

báo chí (Persistent Media Bias), David P Baron chỉ ra 3 dạng khuynh

hướng: (1) Khuynh hướng mang tính tư tưởng khi chủ sở hữu, chủ bút hoặc nhà báo thể hiện câu chuyện theo hướng ủng hộ một thế giới quan nào đó (2) Khuynh hướng mang tính đảng phái khi chủ sở hữu, chủ bút hoặc nhà báo thể hiện câu chuyện theo hướng ủng hộ chính sách hoặc sự

Trang 27

nghiệp của một đảng chính trị nào đó (3) Khuynh hướng mang tính cá nhân khi nhà báo bịa đặt, bóp méo hoặc che giấu một thông tin nào đó Nhìn chung, các nhà nghiên cứu Mỹ quan tâm kiểm chứng tuyên bố của các CQBC về tính khách quan và công bằng Phân tích nội dung TPBC được coi

là một trong những hướng tiếp cận quan trọng để nghiên cứu khuynh hướng của báo chí, đặc biệt khi việc phỏng vấn hay điều tra xã hội học đối với nhà báo trở nên khó khăn Tuy nhiên, các nghiên cứu thực nghiệm đã thực hiện về khuynh hướng của NYT và WSJ hoặc không tập trung vào duy nhất hai tờ báo này hoặc tập trung vào các cuộc bầu cử tổng thống hoặc sử dụng mẫu nghiên cứu từ trước năm 2007 trước khi WSJ có sự chuyển biến lớn về sở hữu

Trong khi các nhà nghiên cứu Mỹ đề cao nghiên cứu thực nghiệm về khuynh hướng của báo chí, các nhà nghiên cứu Xô Viết và Việt Nam thiên về nghiên cứu lý luận và tổng hợp Những nhà lý luận báo chí vô sản đặt tính khuynh hướng trong mối liên hệ với bản chất, vai trò và mục đích chính trị của báo chí Theo đó, báo chí không chỉ thông tin mà còn tham gia và gây ảnh hưởng đến các quá trình chính trị Nhà lý luận báo chí Xô Viết X.A Mikhailốp cho rằng, việc xác lập tính khuynh hướng góp phần mang lại thành công cho CQBC Ông cho rằng, “Tất cả những tờ báo hay và thành công đều có chủ thuyết và tính chất hoạt động riêng của mình[11, 171].”

E.P Prôkhôrốp thì sử dụng thuật ngữ “tính tư tưởng” thay cho “tính

khuynh hướng.” Trong cuốn Cơ sở lý luận báo chí, ông nhấn mạnh vai trò của

nhà báo trong việc hiện thực hoá tính tư tưởng Theo quan niệm của ông, nhà báo là nhà hoạt động tư tưởng và đại diện cho những tư tưởng nhất định trong xã hội Vai trò này được thực hiện với việc nhà báo “tuân thủ nghiêm ngặt đối với

hệ thống những quan điểm đã được thừa nhận…[13, 158]”

Các nhà lý luận báo chí Việt Nam thì coi tính khuynh hướng là một trong những nguyên tắc hàng đầu, bao trùm và xuyên suốt hoạt động báo chí Theo đó, việc nhận thức đúng đắn tính khuynh hướng của báo chí giúp nhà báo xác định mục đích nghề nghiệp và định hướng hoạt động một cách đúng đắn Cách tiếp

Trang 28

cận của các nhà nghiên cứu trong nước chịu ảnh hưởng nhất định của lý luận báo chí Xô Viết

GS.TS Tạ Ngọc Tấn là một trong những nhà nghiên cứu đi sâu tìm hiểu

và lý giải KHCT của báo chí Trong cuốn sách Từ lý luận đến thực tiễn báo chí,

TS Tạ Ngọc Tấn đã đề cập KHCT của báo chí phương Tây, báo chí Mỹ và biểu hiện của khuynh hướng chính trị - tư tưởng Tác giả khẳng định rằng, “Khuynh hướng chính trị-tư tưởng tồn tại trong báo chí như một hiện tượng khách quan, không thể phủ nhận Nó được biểu hiện trong từng tác phẩm, trong từng sản phẩm báo chí cụ thể một cách tế nhị” [17, 159] Đây là tiền đề quan trọng để chúng tôi thực hiện nghiên cứu về khuynh hướng của NYT và WSJ thông qua phân tích nội dung các bài XL của hai tờ báo này

Trong cuốn Cơ sở lý luận báo chí, TS Tạ Ngọc Tấn và một số tác giả

khác (1999) phân tích một loạt các ví dụ về việc đưa tin khác nhau của các phương tiện truyền thông Nga, Pháp, Anh và Mỹ về cùng một sự kiện Tác giả lý giải, sự khác biệt đó xuất hiện do các CQBC có khuynh hướng khác nhau Khuynh hướng của CQBC như thế nào thì việc đưa tin của họ như thế ấy [17, 159] Lập luận này gợi mở hướng nghiên cứu về nội dung thông tin của báo chí

để tìm ra các cấu trúc và quy luật về khuynh hướng của báo chí

Bài viết Báo chí Mỹ trong đời sống chính trị – xã hội của GS TS Tạ

Ngọc Tấn tập trung phân tích bản chất và phương thức hoạt động của báo chí Mỹ nhằm phản bác tuyên bố “phi chính trị” của các tài phiệt báo chí Tác giả đưa ra các trường hợp cụ thể về việc các CQBC Mỹ định hướng thông tin một cách sai lệch như trong cuộc chiến tranh của Mỹ tại Iraq và Afghanistan Qua đó, ông chỉ

ra tính chất nổi bật của báo chí Mỹ “là sự thoả hiệp giữa hiệu quả kinh doanh và mục đích chính trị.”

Đồng quan điểm này, GS.TS Phạm Ngọc Quang (2008) cho rằng, báo chí phương Tây luôn làm ngược lại tuyên bố về báo chí phi chính trị của họ Việc báo chí phương Tây đưa tin về chiến tranh ở Iraq hay các cuộc cách mạng màu ở các quốc gia ở Đông Âu cho thấy, lời nói và việc làm của họ không đi đôi với

Trang 29

nhau Ông cho rằng, “Không ít lần giới truyền thông tư bản chủ nghĩa rêu rao về tính vô tư, tính trung lập, tính phi chính trị của báo chí song thực tế họ lại hết sức chặt chẽ trong định hướng tư tưởng, định hướng chính trị của báo chí” [9, 321]

Điểm chung trong cách tiếp cận của các nhà nghiên cứu trong nước là sự nhất trí về sự tồn tại của KHCT trong báo chí GS Hà Minh Đức (2000) cho rằng, tính khuynh hướng là nguyên tắc cơ bản trong hoạt động sáng tạo nghệ thuật nói chung và hoạt động báo chí nói riêng Nguyên tắc này được thể hiện rõ nét trong hoạt động báo chí và góp phần tạo nên sự hấp dẫn của báo chí [6] Ông cũng cho rằng, quan điểm, chính kiến là biểu hiện của khuynh hướng và được thể hiện “thuyết phục qua hình thức chính luận.”

PGS.TS Nguyễn Văn Dững (2012) trong cuốn Cơ sở lý luận báo chí góp

phần làm rõ hơn các biểu hiện của khuynh hướng Ông cho rằng, sự ủng hộ hay phản đối, khen ngợi hay phê phán của CQBC đối với vấn đề, chính sách nhất định luôn gắn liền với lập trường chính trị của CQBC đó Theo đó, “Nhà báo đứng về phía (hoặc ủng hộ) nhóm người nào, giai cấp nào thì phản ánh và cổ vũ tư tưởng, tình cảm và nguyện vọng của nhóm người ấy, giai cấp ấy.” Ông cũng cho rằng, khuynh hướng của báo chí tập trung trong TPBC Ông viết, “Nhà báo do đó phải bộc lộ KHCT của mình thông qua hoạt động, mà trước hết tập trung ở tác phẩm[4, 221]”

Tác giả Nguyễn Mạnh Hà (2012) trong cuốn Giáo trình Cơ sở lý luận báo

chí đề cập khuynh hướng của báo chí như yếu tố thu hút, gắn kết và định hướng

công chúng Ông cho rằng, “Tính khuynh hướng là thuộc tính của báo chí” đồng thời chỉ ra 3 căn cứ để xác định khuynh hướng của báo chí: chủ sở hữu của CQBC; tôn chỉ của CQBC và góc độ, nội dung thông tin trong TPBC [7, 177] Như vậy, phân tích nội dung TPBC là một hướng quan trọng trong nghiên cứu KHCT của báo chí

Tiếp cận từ lĩnh vực chính trị, TS Lưu Văn An và một số tác giả khác (2008) cho rằng, việc xây dựng khuynh hướng của báo chí là hoạt động có chủ đích của giai cấp lãnh đạo nhằm giành và giữ quyền lực chính trị Theo đó, các

Trang 30

CQBC có thể định hướng thông tin nhằm tạo ra dư luận xã hội theo mong muốn của mình Dư luận xã hội này đến lượt nó sẽ tác động đến các nhà cầm quyền, buộc họ điều chỉnh, thay đổi hoặc chấm dứt chính sách cụ thể Do đó, “các thế lực tư bản ngày càng coi trọng việc đầu tư phát triển truyền thông đại chúng, thông qua đó không chỉ thu lợi nhuận kinh tế mà còn phục vụ cho sự nghiệp cai trị của mình [1, 217]”

Ngoài ra, có thể nêu ra một số bài viết và nghiên cứu của các tác giả trong nước về khuynh hướng của báo chí như:

 Báo chí dưới góc nhìn thực tiễn của PGS.TS Nguyễn Thế Kỷ (2013):

Tác giả cho rằng, báo chí vô sản cần thực hiện tốt tính khuynh hướng hay tính Đảng Việc thực hiện nguyên tắc này không chỉ góp phần xây dựng xã hội tốt đẹp hơn, hướng con người tới các giá trị đích thực mà còn huy động các lực lượng xã hội hướng tới các sự nghiệp chung [10, 140]

 Kỷ yếu Báo chí và truyền thông đại chúng – Đào tạo và bồi dưỡng

trong thời kỳ hội nhập của Học viện Báo chí và Tuyên truyền (2005):

Kỷ yếu tập hợp bài viết về các nguyên tắc cơ bản của báo chí vô sản và bản chất của báo chí tư sản Các tác giả như GS.TS Lê Hữu Nghĩa, TS Trần Thu Nga cho rằng, báo chí tư sản luôn che đậy mục đích thực sự của mình bằng những khẩu hiệu hào nhoáng [9, 321]

 Cơ sở lý luận báo chí và truyền thông của Dương Xuân Sơn, Đinh Văn

Hường, Trần Quang (1995): Các tác giả cho rằng, hoạt động báo chí không tách rời đời sống chính trị đồng thời khẳng định, “Báo chí là công cụ chính trị của Đảng[15]” hay nói rộng hơn là của giai cấp cầm quyền

Như vậy, việc nghiên cứu các tài liệu trong nước về KHCT của báo chí cho thấy, đây là chủ đề quan trọng trong lý luận và thực tiễn báo chí Các nhà khoa học tiếp cận khuynh hướng của báo chí trên nhiều bình diện và góc độ khác

Trang 31

nhau Trong đó, những luận điểm sau đây đặc biệt đáng quan tâm và là cơ sở quan trọng cho việc triển khai nghiên cứu khuynh hướng của báo chí bằng phương pháp phân tích nội dung

Thứ nhất, các CQBC Mỹ tuyên bố luôn khách quan, công bằng và trung lập Tính chân thực của tuyên bố này không thể được coi như lẽ đương nhiên mà cần được kiểm chứng trong thực tế bằng chính TPBC của họ Tuyên bố về tính khách quan, công bằng có thể nhằm che đậy mục đích chính trị thực sự của họ Hơn nữa, họ phủ nhận sự tồn tại của khuynh hướng trong hoạt động báo chí Việc nguỵ trang, phủ nhận KHCT nhằm bảo đảm rằng, CQBC tiếp tục duy trì được lợi nhuận từ niềm tin của công chúng.Uy tín xã hội bảo đảm họ thu hút được đông đảo công chúng đồng thời hấp dẫn được các nhà quảng cáo Chính vì vậy, các nhà nghiên cứu cần dựa trên các bằng chứng xác thực để trả lời câu hỏi:

Có hay không có KHCT trong báo chí Mỹ? Tuy nhiên, các nghiên cứu trong nước chủ yếu tiếp cận vấn đề này trên phương diện lý luận hơn là bằng phương pháp thực nghiệm

Thứ hai, biểu hiện của KHCT tập trung trong TPBC Đó có thể là sự ủng

hộ, phản đối, khen ngợi hay phê phán của CQBC về các chính sách Đó cũng có thể là quan điểm và sự đánh giá của CQBC về các vấn đề cụ thể Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu nào trong nước tiến hành phân tích nội dung TPBC của các CQBC Mỹ để xác định rõ những biểu hiện này

Thứ ba, biểu hiện của KHCT thể hiện rõ nét nhất trong tác phẩm chính luận Khuynh hướng của báo chí được biểu hiện ở các mức độ đậm nhạt khác nhau trong các loại TPBC khác nhau Vì thế, việc tập trung làm rõ KHCT qua phân tích các tác phẩm chính luận có thể mang lại những kết quả rõ ràng hơn so với các loại tác phẩm báo chí khác

KHCT của báo chí là vấn đề cốt lõi của báo chí trên cả phương diện lý luận và thực tiễn, do đó, nó trở thành chủ đề nghiên cứu đặc biệt quan trọng Việc nghiên cứu về khuynh hướng của báo chí Mỹ càng có ý nghĩa trong việc kiểm chứng những tuyên bố của các CQBC Mỹ về tính khách quan, trung lập,

Trang 32

phi chính trị Nghiên cứu khuynh hướng bằng phương pháp phân tích nội dung TPBC là mảnh đất rất cần được khai phá khi các nghiên cứu dạng này hầu như chưa được thực hiện ở Việt Nam

Trang 33

CHƯƠNG 1:

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐỀ TÀI

1.1 Khuynh hướng chính trị

1.1.1 Khái niệm KHCT trong báo chí

Đại từ điển Tiếng Việt do Nguyễn Như Ý chủ biên (2007) định nghĩa khuynh hướng là “hướng thiên lệch về phía nào trong hoạt động, phát triển”[21, 833].Từ điển Lạc Việt (2009) thì định nghĩa khuynh hướng là “chiều biến chuyển trong quá trình phát triển, hoạt động”

Danh từ “khuynh hướng” thường được sử dụng kết hợp với một danh từ khác hoặc tính từ để chỉ xu hướng phát triển, vận động và thay đổi trong những lĩnh vực tương ứng, như khuynh hướng xã hội, khuynh hướng văn học…Trong nhiều trường hợp, “khuynh hướng” được sử dụng tương đương với “xu hướng” nhằm diễn đạt xu thế vận động và biến chuyển của xã hội

Những định nghĩa trong từ điển và cách sử dụng trong thực tế cho thấy

“khuynh hướng” có 2 nét nghĩa chính: (1) Sự vận động, phát triển theo chiều hướng nhất định trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế và xã hội (2) sự thiên về hoặc ngả về một phía nào đó Trong thực tế, nét nghĩa thứ hai bao hàm sự ủng hộ hay phản đối có chủ ý của một chủ thể đối với vấn đề, sự kiện nhất định

Theo Từ điển Oxford, từ “bias” theo nghĩa hẹp là “định kiến” và theo nghĩa rộng là “khuynh hướng” hay “xu hướng”[74].Theo nghĩa hẹp, “bias” chỉ

sự đánh giá có lợi hoặc bất lợi đối với một việc, người hoặc một nhóm so với một nhóm khác theo cách được cho là không công bằng1 Theo nghĩa rộng,

“bias” là sự quan tâm hoặc tập trung vào một lĩnh vực hoặc chủ đề nhất định2 Định nghĩa thứ hai phù hợp với cách tiếp cận khuynh hướng trên cơ sở lý thuyết xây dựng chương trình nghị sự

Trang 34

 Quan niệm của các nhà nghiên cứu ngoài nước

Từ điển nghiên cứu truyền thông (Dictionary of Media Studies) định nghĩa

khuynh hướng trong báo chí là “1 Không đưa tin một cách khách quan, xác thực

dù có chủ ý hay không 2 Thái độ có định kiến hoặc không khách quan dẫn đến tình trạng không trình bày công bằng tất cả các khía cạnh của một vấn đề”[41, 22]

Mark Hanna, Marie Kinsey và John E Richardson (2005) trong cuốn Các

khái niệm chính trong báo chí (Key Concepts in Journalism) cho rằng, khuynh

hướng trong báo chí chỉ thực trạng báo chí không phản ánh thực tại khách quan một cách chính xác Khuynh hướng thường gắn với các quan hệ và các yếu tố mang tính cấu trúc hoặc tính hệ thống Các tác giả trích dẫn nhận định của nhà nghiên cứu McNair rằng, “Có mối liên hệ giữa cấu trúc quyền lực của một xã hội

và sản phẩm báo chí của xã hội đó; báo chí là một phần của một hệ thống xã hội

có giai cấp…[39, 25]” Loại khuynh hướng mang tính cấu trúc này cho biết về mục đích của chủ thể của hoạt động báo chí

Trong cuốn giáo trình Báo chí ngày nay (Journalism Today), khuynh

hướng được xác định là “sự trình bày thông tin theo chiều hướng khiến người đọc hoặc người nghe đi đến kết luận mà nhà báo muốn họ đi đến”[35, 318] Khuynh hướng trong trường hợp này được hình thành theo 2 con đường chủ yếu: (1) Nhà báo chỉ cung cấp những thông tin ủng hộ quan điểm của mình (2) Nhà báo lựa chọn và sử dụng từ ngữ hàm ẩn sự ủng hộ hoặc phản đối

Tác giả của cuốn giáo trình cũng chỉ ra rằng, để xác định được KHCT của CQBC, các nhà nghiên cứu cần xem xét một loạt các TPBC trong thời gian đủ dài, thay vì chỉ dựa vào một hoặc một vài tác phẩm đơn lẻ Tác giả cũng đưa ra lời khuyên, khi đọc hoặc nghe tin, công chúng cần chú ý đến KHCT để có thể nhìn nhận một vấn đề một cách toàn diện, trước khi đưa ra kết luận của riêng mình

Bách khoa toàn thư về truyền thông chính trị (Encyclopedia of Political Communication) cho rằng, ở cấp độ đơn giản, khuynh hướng trong báo chí chỉ

Trang 35

“hiện tượng báo chí thể hiện sự thiên vị bất hợp lý khi đưa tin Khi báo chí chuyển tải những thông tin thiên vị, những thông tin đó đem lại cho công chúng cái nhìn thiếu chính xác, thiếu cân bằng và/hoặc không công bằng về thế giới xung quanh họ”[44, 433] Khái niệm này nhấn mạnh tính chất tiêu cực của khuynh hướng trong báo chí và ảnh hưởng của nó đối với nhận thức của công chúng

Các nhà nghiên cứu nước ngoài có những cách tiếp cận khác nhau đối với khuynh hướng trong báo chí Theo đó, khuynh hướng có thể xuất phát từ định kiến hoặc hình thành do chủ ý của nhà báo Quá trình này gắn liền với việc nhà báo lựa chọn các vấn đề, sự kiện để thông tin và lựa chọn góc độ, mức độ thông tin Trong một số trường hợp, khuynh hướng được hiểu theo nghĩa tiêu cực trong

sự đối lập với sự khách quan, công bằng hay trung lập

Đáng chú ý là nhận định Donald L Ferguson, Jim Patten và Bradley

Wilson trong cuốn giáo trình Báo chí ngày nay Các tác giả này cho rằng, các

bằng chứng về khuynh hướng tập trung trong TPBC Do đó, việc nghiên cứu nội dung một tập hợp đủ lớn các bài báo có thể làm rõ khuynh hướng của từng CQBC

 Quan niệm của các nhà nghiên cứu trong nước

TS Tạ Ngọc Tấn (1996) trong nghiên cứu Khuynh hướng chính trị - tư

tưởng trong báo chí cho rằng, “Khuynh hướng chính trị -tư tưởng là sự thể hiện

đặc trưng của mục đích, quan điểm xã hội, thái độ chính trị trong báo chí”[16, 19] KHCT được thể hiện trong từng tác phẩm đơn lẻ hoặc cả hệ thống báo chí, cho thấy quan điểm, thái độ chính trị của nhà báo hoặc CQBC Điều này cũng có nghĩa là, để xác định được KHCT của một nhà báo hoặc một CQBC hoặc thậm chí một hệ thống báo chí, các nhà nghiên cứu cần xuất phát từ chính TPBC của nhà báo, CQBC hoặc của hệ thống báo chí đó Cũng theo GS.TS Tạ Ngọc Tấn, KHCT trong báo chí là một “hiện tượng khách quan” trong đó yếu tố con người,

cụ thể là nhà báo đóng vai trò quyết định

Trang 36

GS Hà Minh Đức (2000) thì cho rằng, “Khuynh hướng thể hiện thái độ không trung lập, trung hoà trước một hiện tượng; khuynh hướng biểu thị sự nhiệt tình ủng hộ hoặc phản đối của tác giả với một quan điểm chính trị, một vấn đề xã hội, một sự kiện hoặc một nhân vật”[5, 8] Theo ông, “KHCT, xã hội, đạo đức, thẩm mỹ… tất cả hoà hợp, liên kết trong cách nhìn của nhà báo, trong thái độ và tâm huyết bộc lộ qua trang viết”[5, 10] GS Hà Minh Đức cũng cho rằng, khuynh hướng có vai trò quan trọng đối với hoạt động nghề nghiệp của nhà báo Khuynh hướng không chỉ tạo nên động lực, cảm hứng cho người viết mà còn tạo

ra dũng khí của ngòi bút và sự hấp dẫn của TPBC

Một số nhà nghiên cứu cho rằng, tính khuynh hướng là một trong những nguyên tắc quan trọng của hoạt động báo chí Báo chí không phải là hoạt động phi chính trị, đứng ngoài chính trị mà nó đấu tranh vì lợi ích của một giai cấp nhất định trong xã hội PGS.TS Nguyễn Văn Dững, Học viện Báo chí và Tuyên truyền cho rằng, “Nhà báo đứng về phía nhóm người nào, giai cấp nào thì phản ánh tư tưởng, tình cảm và nguyện vọng của nhóm người ấy, giai cấp ấy”[4, 220] Khuynh hướng của báo chí được thể hiện theo các hình thức và ở các mức độ khác nhau

PGS.TS Nguyễn Văn Dững (2011) tiếp cận KHCT trên phương diện tính mục đích của hoạt động báo chí Ông cho rằng, “Mục đích bao trùm nhất, xuyên suốt như sợi chỉ đỏ trong hoạt động báo chí là mục đích chính trị”[3, 155] Mục đích chính trị này quy định khuynh hướng thông tin của báo chí về các sự kiện

và vấn đề thời sự Điều này lý giải tại sao, các CQBC khác nhau, của các quốc gia khác nhau cung cấp thông tin khác nhau, đưa ra những đánh giá khác nhau về cùng một sự kiện

Từ việc tìm hiểu và hệ thống hoá một số quan điểm tiêu biểu về KHCT của các nhà nghiên cứu trong nước, có thể rút ra những nhận định như sau về KHCT của báo chí

Trang 37

Thứ nhất, bản chất chính trị của hoạt động báo chí quy định tính khuynh hướng của báo chí Không chỉ mang tính nghiệp vụ đơn thuần, hoạt động báo chí còn mang tính chính trị Vì thế, không thể tách rời hoạt động báo chí khỏi hoạt động chính trị và cũng không có nhà báo “phi chính trị”

Thứ hai, KHCT thể hiện nhận thức, tình cảm, quan điểm và thái độ chính trị - xã hội của chủ thể báo chí đối với các sự kiện và vấn đề thời sự Chủ thể báo chí có xu hướng ủng hộ hoặc phản đối một vấn đề, sự kiện, cá nhân hay tổ chức

cụ thể, dưới sự chi phối của động lực và lợi ích của mình

Thứ ba, KHCT được thể hiện tập trung trong các TPBC Nhận thức, tình cảm, thái độ và quan điểm của chủ thể báo chí chính là những yếu tố đầu vào để tạo nên TPBC Vì thế, nghiên cứu TPBC là một phương thức quan trọng để xác định KHCT của CQBC

Như vậy, KHCTquy định phương hướng thông tin, phản ánh thái độ ủng

hộ hay phản đối của chủ thể báo chí đối với những vấn đề và sự kiện cụ thể Nó gắn liền với mục đích chính trị của CQBC Do đó, quan điểm, lập trường và đánh giá trong TPBC là những biểu hiện quan trọng của KHCT

1.1.2 Biểu hiện của KHCT trong tác phẩm báo chí

Biểu hiện của KHCT trong TPBC có thể mang tính định lượng hoặc tính định tính KHCT trong TPBC được thể hiện chủ yếu ở (1) sự lựa chọn đề tài, (2)

sự lựa chọn chi tiết thông tin, (3) sự lựa chọn từ ngữ và cách diễn đạt, (4) trích dẫn ý kiến, (5) đề xuất giải pháp và chính sách trong bài XL và (6) tuyên bố quan điểm của CQBC

Thứ nhất, bản thân sự lựa chọn đề tài là một biểu hiện của KHCT trong TPBC Các CQBC có xu hướng thông tin về vấn đề này nhưng không thông tin

về vấn đề khác hoặc thông tin nhiều về vấn đề này nhưng thông tin ít về vấn đề khác CQBC có thể lý giải rằng, họ không thể thông tin về tất cả các vấn đề do

sự giới hạn về diện tích tờ báo, thời lượng phát sóng và các nguồn lực Tuy nhiên, chính vì những giới hạn đó mà họ phải dựa vào các nguyên tắc và tiêu chí

Trang 38

để lựa chọn đề tài Các nguyên tắc và tiêu chí thường được đưa ra trong hướng dẫn của CQBC về giá trị của thông tin và cho biết về KHCT của họ

Trên thực tế, CQBC thường dành cho những đề tài quan trọng vị trí nổi bật (trang nhất, giờ vàng) và dung lượng đáng kể (diện tích trang báo lớn hơn, thời lượng phát sóng dài hơn) Điều này phù hợp với nội dung lý thuyết xây dựng chương trình nghị sự của báo chí Lý thuyết này cho rằng, “các phương tiện truyền thông đại chúng có ảnh hưởng lớn đối với công chúng thông qua việc

họ lựa chọn những câu chuyện nào là có giá trị tin tức và mức độ nổi bật và diện tích dành cho chúng”[27, 27]

Thứ hai, sự lựa chọn và sắp xếp chi tiết là biểu hiện vi mô của KHCT Chi tiết là các bộ phận tinh vi cấu thành TPBC Trên lý thuyết, nhà báo cần lựa chọn những chi tiết tiêu biểu và chính xác để tái tạo sự kiện một cách chân thực Nhờ vậy, công chúng có thể hiểu đúng về diễn biến cũng như bản chất của sự kiện Tuy nhiên, chỉ cần nhà báo thêm, bớt hoặc đảo lộn một vài chi tiết, sự kiện có thể bị hiểu khác đi Trên thực tế, việc phát hiện và lựa chọn chi tiết không chỉ phụ thuộc vào khả năng quan sát mà còn cả mục đích của nhà báo

Các bài viết trên báo chí Mỹ về bài phát biểu của Ngoại trưởng Colin Powell nhằm dọn đường cho cuộc chiến tranh Iraq là ví dụ điển hình về việc lựa chọn chi tiết có chủ ý Ngày 5-2-2003, trong khi phát biểu tại Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, đưa ra các bằng chứng về vũ khí sinh học của Iraq, ông Colin Powell cầm trong tay một lọ nhỏ được cho là đựng vi khuẩn bệnh than của Iraq Chi tiết này xuất hiện trên nhiều tờ báo và kênh truyền hình Mỹ như bằng chứng hiển nhiên về mối đe doạ an ninh đến từ Iraq Ngày 19-3-2003, Mỹ chính thức tấn công Iraq

Thứ ba, sự lựa chọn từ ngữ và cách diễn đạt cũng là biểu hiện quan trọng của KHCT Trong tiếng Anh cũng như trong tiếng Việt đều có những từ gần nhau về nghĩa nhưng mang sắc thái hoàn toàn khác nhau Việc sử dụng từ này

mà không sử dụng từ kia cho biết thái độ, quan điểm của nhà báo

Trang 39

Trong đời sống chính trị Mỹ, đảng Dân chủ và đảng Cộng hoà thường có quan điểm chia rẽ về nhiều vấn đề Một trong những dấu hiệu cho thấy sự chia rẽ quan điểm này chính là việc mỗi đảng dùng từ ngữ khác nhau khi nói về cùng một vấn đề Ví dụ, khi nói về cuộc chiến tranh do chính quyền George W Bush tiến hành tại Iraq, các đảng viên Cộng hoà thường dùng cụm từ “cuộc chiến chống khủng bố” (war on terror) trong khi các đảng viên Dân chủ dùng cụm từ

“cuộc chiến tại Iraq” (Iraq war hoặc war in Iraq) Còn để nói về tình trạng bạo lực gia tăng ở Iraq sau khi Mỹ triển khai lực lượng quân sự ở đây, đảng Cộng hoà và các CQBC ủng hộ đảng này có xu hướng dùng cụm từ “bạo lực bè phái” (sectarian violence) với hàm ý rằng, tình trạng ở Iraq xấu đi do các bộ tộc và các nhóm tôn giáo khác nhau gây ra Trong khi đó, đảng Dân chủ và các CQBC ủng

hộ đảng Dân chủ thường sử dụng từ “nội chiến” (civil war) với hàm ý rằng, xung đột ở Iraq đã lên đến đỉnh điểm

Thứ tư, việc trích dẫn ý kiến hoặc dẫn lời trong TPBC là dấu hiệu giúp nhận biết KHCT Các CQBC có xu hướng trích dẫn ý kiến của những nhân vật

có quan điểm gần với quan điểm của mình Số lần và tính chất của trích dẫn cho biết CQBC nghiêng về phía nào

Việc trích dẫn hoặc dẫn lời xảy ra theo 1 trong 2 cách: đưa ra trích dẫn để khẳng định lập luận trước đó hoặc đưa ra trích dẫn để sau đó bác bỏ Nhà báo cũng có thể trích dẫn nhân vật này nhiều hơn nhân vật khác hoặc chỉ trích dẫn nhân vật này mà không trích dẫn nhân vật khác

Vì vậy, một CQBC ủng hộ đảng Dân chủ sẽ có xu hướng trích dẫn các nhân vật của đảng Dân chủ nhiều hơn của đảng Cộng hoà Các trích dẫn này cũng nhằm củng cố các quan điểm mà nhà báo đưa ra Trong khi đó, nếu có trích dẫn nhân vật của đảng Cộng hoà, nhà báo sẽ chỉ ra sự bất hợp lý của ý kiến được trích dẫn Trên thực tế, một số nghiên cứu về KHCT hướng đến trả lời các câu hỏi như: Một CQBC nhất định có xu hướng trích dẫn nhân vật nào trong các vấn

đề cụ thể? CQBC trích dẫn nhân vật đó bao nhiêu lần? trích dẫn theo hướng nào?

Trang 40

Thứ năm, các giải pháp và chính sách được đề xuất trong TPBC, đặc biệt

là trong các bài XL cho biết rõ KHCT của CQBC Trong các bài XL, sau khi đã phân tích vấn đề, người viết thường đưa ra những đề xuất về giải pháp và chính sách Các giải pháp và chính sách này cho biết rất nhiều về việc người viết đang đứng trên lập trường nào và tại sao lại có lập trường đó

Các giải pháp và chính sách đưa ra thường có địa chỉ rõ ràng Chúng cho biết chủ thể thực hiện cũng như đối tượng tác động của giải pháp và chính sách Quan trọng hơn, các giải pháp và chính sách sẽ cho biết ai là người được hưởng lợi từ đó Bên cạnh đó, tính hợp lý của chính sách cũng là một cơ sở để xem xét quan điểm của CQBC Trên thực tế, có những giải pháp được đưa ra tuy không mang tính hợp lý nhưng lại đáp ứng được lợi ích nào đó

Thứ sáu, những tuyên bố quan điểm của CQBC là biểu hiện quan trọng về khuynh hướng Những tuyên bố này cho biết lập trường, chính kiến, sự ủng hộ hoặc phản đối của CQBC đối với vấn đề, chính sách và quyết định Trong các bài XL, tuyên bố này được thể hiện bằng đại từ “chúng tôi” đi kèm các động từ: tin tưởng, đồng ý, tán thành, lo ngại, nghi ngờ, hi vọng… Đại từ “chúng tôi” được sử dụng phổ biến trong các bài XL, thể hiện sự thống nhất quan điểm tập thể của CQBC Đây cũng là cách nói bao hàm và gắn kết công chúng nhằm có được sự đồng tình của họ

Các tuyên bố quan điểm của CQBC là cơ sở quan trọng để xác định CQBC ủng hộ, phản đối hay trung lập đối với các đảng chính trị hoặc chính sách của các đảng này Trong các bài XL của NYT và WSJ, quan điểm của CQBC

được trình bày rõ ràng để công chúng dễ nhận biết Ví dụ, bài xã luận Ứng cử viên Bernanke (The Bernanke Nomination) đăng ngày 25/1/2010 của WSJ viết:

“Chúng tôi đồng ý rằng FED cần nhanh chóng nới lỏng tiền tệ khi thị trường tài chính rơi vào khủng hoảng cuối năm 2008 và chúng tôi khen ngợi ông Bernanke

đã làm điều đó vào đúng thời điểm”[81] hay bài Việc làm mùa tuyết (Snow

Ngày đăng: 25/11/2021, 07:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w