1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

Tài liệu Thuốc dùng trong bệnh nhuyễn xương docx

5 379 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thuốc Dùng Trong Bệnh Nhuyễn Xương
Trường học Trường Đại Học Y Dược
Chuyên ngành Y Dược
Thể loại Tài liệu
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 203,73 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thuốc dùng trong bệnh nhuyễn xương Nhuyễn xương là tình trạng giảm sự khoáng hóa calci và phospho không đủ của khung xương, nếu đang tăng trưởng ở tuổi ấu thơ gây biến dạng xương được gọ

Trang 1

Thuốc dùng trong bệnh nhuyễn xương

Nhuyễn xương là tình trạng giảm sự khoáng hóa calci và phospho (không đủ) của khung xương, nếu đang tăng trưởng ở tuổi ấu thơ gây biến dạng xương được gọi là còi xương, nếu ở người lớn gây nhuyễn xương

Những nguyên nhân gây bệnh

Có rất nhiều nguyên nhân: rối loạn hấp thu vitamin D, khẩu phần ăn thiếu,

thiếu ánh sáng; một số thuốc như thuốc trị động kinh, thuốc ngủ barbituric, hợp

chất nhôm, fluorid, stidronat ; thiếu calci, phospho do khẩu phần ăn hoặc mất qua

thận; do bệnh ở gan, ruột, đường mật, cắt dạ dày, do kháng vitamin D; hạ phospho

Trang 2

máu mạn tính; toan ống thận, bệnh Wilson; ức chế khoáng hóa; do khối u;

Franconi

Thiếu vitamin D thường xảy ra ở các nước nghèo hoặc đang phát triển

Thiếu phospho hay gặp nhất do rối loạn tái hấp thu do mắc phải vì chế độ ăn hoặc

nghiện rượu, do khối u mô mềm bài tiết phospho qua đường niệu

Việc giảm khoáng tùy thuộc vào tuổi và mức độ nặng nhẹ

Căn cứ để chẩn đoán:

Xét nghiệm máu Đo tỷ trọng xương Xquang hoặc sinh thiết xương Đặc

biệt qua xét nghiệm máu để phân biệt loãng xương hay nhuyễn xương Loãng

xương gần như không có thay đổi xét nghiệm sinh hóa

Phòng và điều trị bệnh nhuyễn xương

Tùy thuộc vào nguyên nhân

Chế độ ăn thiếu vitamin: Thiếu hụt calci do không ăn đủ vitamin D, cần bổ

sung vitamin D Tác dụng của chúng là duy trì nồng độ calci và phospho bình

thường trong huyết tương, được hấp thu các chất khoáng khi ăn vào (có trong dầu

cá, gan cá, bơ, trứng, sữa)

Trang 3

Dùng ergocalciferol (vitamin D2) để bù đắp và dự trữ cho cơ thể Tiếp theo

là điều trị duy trì (dài hạn) Cần bổ sung qua đường uống, có thuốc viên kết hợp

sẵn như calci+vitamin D hoặc những thuốc multivitamin

Nếu kém hấp thu vitamin D cần uống liều cao làm sao đảm bảo duy trì

nồng độ 25-hydroxy D huyết thanh trong giới hạn bình thường cùng với calci,

đồng thời phải theo dõi 25-hydroxy D huyết thanh và calci huyết thanh, calci niệu

trong 24 giờ và cứ 3-6 tháng 1 lần

Phospho là cực kỳ cần thiết cho tạo xương và chuyển hóa năng lượng tế

bào Khoảng 85% phospho có ở xương, số còn lại ở trong tế bào, chỉ có 1% ở

dịch ngoại bào Phospho tồn tại trong cơ thể ở dạng phosphat nhưng đậm độ tập

trung ở huyết thanh biểu hiện khối lượng phospho (1mg/dl phospho = 0,32mM/l

phosphat) Giới hạn bình thường là 3-4,5mg/dl

Thiếu phospho do mất qua thận (còi xương kháng vitamin D) đáp ứng tốt

bổ sung phosphat suốt đời và cũng phải thêm vitamin D để cải thiện giảm hấp thu

calci do thiếu phosphat

Trang 4

Dùng thuốc qua đường tiêu hóa: ưu và nhược

Các thuốc hấp thu qua đường tiêu hóa (miệng, dạ dày, ruột non, hậu môn)

được sử dụng nhiều hơn cả Đây là đường hấp thu tự nhiên và dễ sử dụng Tuy

nhiên ở đường dùng này lại có một số nhược điểm như dễ bị các enzym tiêu hóa

phá huỷ (làm hỏng thuốc ảnh hưởng tới kết quả điều trị bệnh) hoặc thuốc tạo phức

với thức ăn làm chậm hấp thu Một số thuốc còn kích ứng niêm mạc đường tiêu

hóa gây viêm loét

- Thuốc dùng ngậm dưới lưỡi hấp thu qua niêm mạc miệng Hay sử dụng

như nifedipin (chống tăng huyết áp), nitroglycerin (chống đau thắt ngực) Tại

đây, thuốc vào thẳng vòng tuần hoàn nên không bị dịch vị của dạ dày phá huỷ

- Đối với thuốc uống:

Trang 5

+ Tại dạ dày: nói chung thuốc ít được hấp thu do niêm mạc dạ dày ít mạch

máu, lại chứa nhiều cholesterol, thời gian thuốc lưu lại ở dạ dày không lâu Hơn

nữa độ pH của dạ dày khoảng 1 - 3, không lý tưởng cho việc hấp thu thuốc ngoại

trừ các các acid yếu, ít bị ion hóa như aspirin, phenylbutazon, barbiturat Nếu uống

thuốc vào lúc đói (dạ dày rỗng), thuốc sẽ hấp thu nhanh hơn nhưng lại dễ bị kích

ứng

+ Tại ruột non: đây là nơi có diện tích hấp thu rất rộng, lại được tưới máu

nhiều, pH tăng dần tới trung tính và base (pH từ 6 - 8) nên đây là nơi hấp thu

thuốc chủ yếu khi uống thuốc

-Thuốc đặt trực tràng: đường đưa thuốc này được sử dụng trong những

trường hợp không dùng được đường uống (do nôn, do hôn mê, hoặc ở trẻ em) Với

đường dùng này có ưu điểm thuốc không bị enzym tiêu hóa phá huỷ, khoảng 50%

thuốc hấp thu qua trực tràng sẽ qua gan, chịu chuyển hóa ban đầu nhưng nhược

điểm là hấp thu không hoàn toàn và có thể gây kích ứng niêm mạc hậu môn

Ngày đăng: 20/01/2014, 23:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm