1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vấn đề quản lý bản quyền hình ảnh trong phim tài liệu trên truyền hình của đài truyền hình việt nam

110 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 908,28 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN LÊ NGỌC TÙNG VẤN ĐỀ QUẢN LÝ BẢN QUYỀN HÌNH ẢNH TRONG PHIM TÀI LIỆU TRÊN TRUYỀN HÌNH CỦA ĐÀI TRUYỀN HÌNH VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SỸBÁO CHÍ HỌC HÀ NỘI-

Trang 1

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

LÊ NGỌC TÙNG

VẤN ĐỀ QUẢN LÝ BẢN QUYỀN HÌNH ẢNH TRONG PHIM TÀI LIỆU TRÊN TRUYỀN HÌNH CỦA

ĐÀI TRUYỀN HÌNH VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SỸBÁO CHÍ HỌC

HÀ NỘI- 2019

Trang 2

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

LÊ NGỌC TÙNG

VẤN ĐỀ QUẢN LÝ BẢN QUYỀN HÌNH ẢNH TRONG PHIM TÀI LIỆU TRÊN TRUYỀN HÌNH CỦA

ĐÀI TRUYỀN HÌNH VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SỸ BÁO CHÍ HỌC

CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ PHÁT THANH TRUYỀN HÌNH,

BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ

Mã số: 8 31 02 01

Người hướng dẫn khoa học:TS NGUYỄN TRÍ NHIỆM

HÀ NỘI - 2019

Trang 3

Hà Nội, ngày… tháng… năm 2019

CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG

Trang 4

Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Trí Nhiệm Các số liệu, kết quả trong Luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, chính xác của các cơ quan chức năng đã công bố Những kết luận khoa học trong Luận văn là mới và chưa từng công

bố trong bất kì một công trình nào trước đây Nếu sai, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm

Tác giả

LÊ NGỌC TÙNG

Trang 5

Em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sự tri ân sâu sắc đối với các thầy

cô của Học viện Báo chí và Tuyên truyền, đặc biệt là các thầy cô Khoa Phát thanh truyền hình của Học viện đã tạo điều kiện tốt cho em hoàn thành Luận văn tốt nghiệp Em cũng xin chân thành cảm ơn TS Nguyễn Trí Nhiệm đã nhiệt tình hướng dẫn em thực hiện hoàn thành Luận văn tốt nghiệp

Trong quá trình học tập và thực hiện Luận văn, do trình độ lý luận cũng như kinh nghiệm thực tiễn còn hạn chế, nên Luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các Thầy, Cô để

em học thêm được nhiều kiến thức, kinh nghiệm để hoàn thành tốt hơn với những nghiên cứu sau này Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng năm 2019

Tác giả luận văn

LÊ NGỌC TÙNG

Trang 6

MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG 16

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ BẢN QUYỀN HÌNH ẢNH TRÊN TRUYỀN HÌNH 16

1.1.Các khái niệm liên quan 16

1.2 Tầm quan trọng của vấn đề quản lý bản quyền hình ảnh trên truyền hình trong phim tài liệu của đài truyền hình Việt Nam 23

1.3 Chủ thể, nội dung, phương thức, cơ chế quản lý bản quyền hình ảnh phim tài liệu trên truyền hình 30

1.4 Các yếu tố ảnh hưởng tới quản lý bản quyền hình ảnh trên truyền hình 40

Chương 2.THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ QUẢN LÝ BẢN QUYỀN HÌNH ẢNH TRONG PHIM TÀI LIỆU TRÊN TRUYỀN HÌNHCỦA ĐÀI TRUYỀN HÌNH VIỆT NAM 50

2.1 Giới thiệu về Đài THVN và hoạt động bản quyền truyền hình tại Đài 50

2.2 Khảo sát viêc quản lý bản quyền hình ảnh phim tài liệu trên VTV 52

2.3 Đánh giá chung 69

Chương 3:NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ BẢN QUYỀN HÌNH ẢNHPHIM TÀI LIỆU TRÊN TRUYỀN HÌNH 80

3.1 Những vấn đề đặt ra 80

3.2 Giải pháp 85

KẾT LUẬN 94

TÀI LIỆU THAM KHẢO 97

PHỤ LỤC 101

TÓM TẮT LUẬN VĂN 104

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính câp thiết của đề tài

Ngày nay, trên khắp thế giới, các quyền của những người sáng tạo như nhà văn, nhạc sĩ, nghệ sĩ đã được luật pháp quốc gia bảo hộ Để điều chỉnh mối quan hệ toàn cầu, các nội dung cơ bản về quyền tinh thần và quyền kinh tế của tác giả đã được luật pháp quốc gia và luật pháp quốc tế quy định đồng nhất

Ở Việt Nam, Nhà nước đã ghi nhận những quyền cơ bản của công dân liên quan đến quyền tác giả, thể hiện tư tưởng tiến bộ nhân văn về quyền con người ngay từ bản hiến pháp đầu tiên vào năm 1946 Đó là quyền tự do ngôn luận, tự do xuất bản của công dân, Nhà nước cam kết bảo vệ quyền lợi của trí thức, tôn trọng quyền tư hữu tư nhân về tài sản Tư tưởng lập pháp đó đã tiếp tục được thể hiện tại các bản hiến pháp về sau như Hiến pháp năm 1959,

1980, 1992 vàHiến pháp 2013 Điều 60 trong Hiến pháp năm 1992, Nhà nước

đã công khai tuyên bố : “Công dân có quyền nghiên cứu khoa học, kỹ thuật, phát minh, sáng chế, sáng kiến cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất, sáng tác, phê bình văn học, nghệ thuật, và tham gia các hoạt động văn hóa khác Nhà nước bảo hộ quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp”

Hiến pháp sửa đổi được Quốc hội thông qua ngày 28/11/2013 (có hiệu lực 1/1/2014), Điều 62: “Nhà nước ưu tiên đầu tư và khuyến khích tổ chức, cá nhân đầu tư nghiên cứu, phát triển, chuyển giao, ứng dụng có hiệu quả thành tựu khoa học và công nghệ; bảo đảm quyền nghiên cứu khoa học và công nghệ; bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ”

Quyền quy định là vậy nhưng trong thực tế nhiều chủ thể tham gia các hoạt động có liên quan đến bản quyền lại có sự xâm phạm dưới nhiều hình thức khác nhau Đặc biệt gần đây trong lĩnh vực truyền hình, nhiều yếu tố vi

Trang 8

phạm bản quyền được dư luận phát giác, thậm chí ở VTV- Đài truyền hình Quốc gia được công chúng Việt Nam tin tưởng và mến mộ dõi theo vẫn để xảy ra hàng loạt vi phạm liên quan tới bản quyền

Thời gian qua, bên cạnh việc quản lý bản quyền chặt chẽ giúp nhiều

bộ phim tài liệu của VTV đạt được lòng tin, sự mến mộ của công chúng, đảm bảo hiệu quả kinh tế cũng có nhiều trường hợp vi phạm về bản quyền xảy ra Thực tế cho thấy nhiều bộ phim tài liệu của VTV bị các đài truyền hình địa phương, các trang mạng, các đối tượng lợi dụng xâm phạm bản quyền

Ngoài ra, cũng có một thực trạng chính những BTV, Đạo diễn tại VTV cũng vi phạm bản quyền tác giả khi sử dụng và đăng tải những hình ảnh chưa được sự đồng ý của tác giả, thông qua việc tải về những hình ảnh, video trên môi trường số, trên mạng xã hội để đưa vào các phim tài liệu, với một số lượng lớn phim tài liệu phát sóng trong một năm, các vụ vi phạm lại nhỏ lẻ ở mức các cảnh quay đơn lẻ, vi phạm không trên phạm vi hệ thống khiến vấn đề quản lý bản quyền hình ảnh trở nên bức thiết hơn bao giờ hết

Đối với tác phẩm truyền hình, đặc biệt là phim tài liệu, yếu tố hình ảnh- yếu tố cấu thành phim tài liệu truyền hình- đóng vai trò hết sức quan trọng, là ngôn ngữ chủ đạo để thực hiện chủ đề, chủ đề tư tưởng của phim Và trong thực tế, hình ảnh là yếu tố bị vi phạm bản quyền nhiều nhất, đặc biệt là những hình ảnh tư liệu đặc sắc, quan trọng

Đứng trên góc độ vi phạm bản bản quyền hình ảnh thì VTV vừa là đơn

vị dễ bị vi phạm bản quyền hình ảnh do số lượng phim sản xuất và đăng tải lớn, nhưng cũng có nguy cơ vi phạm bản quyền hình ảnh của tác giả khác trong quá trình tổ chức sản xuất các bộ phim tài liệu.Chẳng hạn,nNăm 2016, chính VTV cũng là đối tượng có hành vi xâm phạm bản quyền của tác giả khác như việc sử dụng hàng loạt hình ảnh từ Flycam của ông Bùi Minh Tuấn

Trang 9

(Quảng Trị) mà không được tác giả đồng ý, cho phép, thậm chí những người làm truyền hình tại VTV còn không hỏi ý kiến tác giả

Bản quyền liên quan tới thương hiệuvà doanh thu của VTV.Tuy nhiên, vấn đề bản quyền liên quan đến hoạt động quản lý bản quyền của từng cơ quan báo chí dựa trên qui định pháp luật của nhà nước và quốc tế

Những thực trạng nêu trên cho thấy bản quyền truyền hình nói chung, bản quyền hình ảnh phim tài liệu nói riêng đang có nhiều lỗ hổng, “vết sạn” tại Đài truyền hình Việt Nam Nó làm giảm uy tín nhà Đài, mất lòng tin của công chúng

và phần nào đó trực tiếp làm giảm hiệu quả kinh doanh báo chí Những hạn chế xuất phát từ nhiều nguyên nhân nhưng theo tác giả có nguyên nhân chủ yếu là từ khâu quản lý chưa chặt chẽ, khoa học, còn buông lỏng, chưa có sự kiểm tra, giám sát, kiểm duyệt trong quá trình sản xuất, duyệt phim để phát sóng; trình độ, năng lực của một số cán bộ quản lý chưa đáp ứng yêu cầu

Xuất phát từ thực trạng này, để góp phàn quản lý bản quyền hình ảnh trong phim tài liệu truyền hình một cách hiệu quả, tuân thủ quy định pháp luật,

đạo đức, tác giả chọn đề tài: “Vấn đề quản lý bản quyền hình ảnh trong phim tài liệu trên truyền hình của Đài Truyền hình Việt Nam” để nghiên cứu

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả nhận thấy đã có khá nhiều công trình có liên quan đến đề tài Những công trình nghiên cứu là những tài liệu bổ ích có tính chất tham khảo, cung cấp kiến thức, phương pháp cho tác giả trong quá trình nghiên cứu để thực hiện mục đích, nhiệm vụ đã xác định Xin nêu một số công trình tiêu biếu:

- Nhóm các công trình nghiên cứu liên quan tới bản quyền

- Emmanuel (2005), Quyền tác giả và hoạt động xuất bản, (Nhà xuất

bản Hội nhà văn - Trung tâm Quyền tác giả văn học Việt Nam) Cuốn sách đã

đề cập đến các tác phẩm được bảo hộ bằng quyền tác giả Hệ thống loại hình

Trang 10

các tác phẩm được bảo hộ Các quyền được cấp bởi sở hữu văn học và nghệ thuật Sự thực thụ các quyền Quyền tác giả, các chế độ tài sản vợ chồng và thừa kế Thời hạn các quyền Những ngoại lệ

- Phạm Thành Hưng (2007), Thuật ngữ báo chí truyền thông, Nhà xuất

bản Đại học Quốc gia Hà Nội Cuốn sách được soạn theo cấu trúc một từ điển giản yếu, xếp các theo trật tự ABC để tiện lợi cho tra cứu tham khảo các thuật ngữ liên quan đến đề tài

- Phạm Lương Băng (2012), Bảo vệ quyền tác giả sách văn học, nghệ

thuật trên internet trong sự phát triển của công nghệ thông tin hiện nay,

(Luận văn thạc sĩ, Học viện Báo chí và Tuyên truyền) Thông qua việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn của vấn đề quyền tác giả sách văn học, nghệ thuật, mục đích nghiên cứu của luận văn là góp phần nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật trong thời đại công nghệ thông tin phát triển Từ đó đưa ra các giải pháp để thúc đẩy bảo vệ quyền tác giả sách văn học, nghệ thuật trên Internet

- Nguyễn Văn Dững (2013), Cơ sở lý luận Báo chí (Nhà xuất bản Lao

động) Sách cung cấp thông tin về cơ sở lý luận và thực tiễn hoạt động báo chí

- truyền thông Đề cập dến Cơ sở lý luận báo chí đã có nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước Tuy nhiên, có thể nói đay là công trình cập nhật nhất về Cơ sở lý luận báo chí Công trình đã cung cấp những lý luận cơ bản nhất về báo chi như Chức năng xã hội của báo chí, các nguyên tắc hoạt động của báo chí, Tự do báo chí, nhà báo…

- Lê Anh Vũ (2015), Bảo hộ quyền tác giả ở lĩnh vực xuất bản trong

môi trường kỹ thuật số ở nước ta hiện nay (Luận văn thạc sĩ xuất bản, Học

viện Báo chí và Tuyên truyền) Luận văn nghiên cứu cơ sở lý luận và khía cạnh pháp lý về bảo hộ quyền tác giả ở lĩnh vực xuất bản trong môi trường kỹ thuật số ở Việt Nam; Đánh giá thực trạng, tình hình thực thi quyền tác giả ở lĩnh vực xuất bản trong môi trường kỹ thuật số ở Việt Nam; Đề xuất một số

Trang 11

giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả về bảo hộ quyền tác giả ở lĩnh vực xuất bản trong môi trường kỹ thuật số ở Việt Nam

- Nguyễn Xuân Phúc, 2015, Vấn đề bản quyền truyền hình tại đài truyền

hình Việt Nam hiện nay (luận văn thạc sỹ báo chí bảo vệ tại Học viện Báo chí và Tuyền truyền) Đây là tài liệu liên quan đến đề tài nghiên cứu của luận văn

Thông quan việc khảo sát, đánh giá thực trạng việc quản lý bản quyền truyền hình tại Đài truyền hình Việt Nam, tác giả đã phân tích nguyên nhân thành công, hạn chế và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý bản quyền các tác phẩm, chương trình truyền hình tại Đài truyền hình Việt Nam

- Nguyễn Thị Thu Giang, Vấn đề bản quyền truyền hình tại Việt Nam

hiện nay (luận văn thạc sỹ báo chí, bảo vệ tại Học viện Báo chí và Tuyên

truyền) Luận văn đã nghiên cứu một cách tổng quát về vấn đề thực thi qui định về bản quyền truyền hình tại Việt Nam thông qua việc khảo sát việc thực hiện bản quyền ở một số đài Phát thanh và Truyền hình Thông qua việc khảo sát, phân tích, tác giả đã rút ra những vấn đề liên quan đến việc thực thi bản quyền truyền hình tại Việt Nam, từ đó, đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả việc quản lý, thực thi bản quyền truyền hình

- Lê Hương Giang, 2015, Quản lý hoạt động truyền hình trả tiền ở

Việt Nam hiện nay (luận văn thạc sỹ báo chí, bảo vệ tại Học viện Báo chí và

Tuyên truyền) Nội dung luận văn đề cập đến thực trạng viêc quản lý truyền

hình trả tiền tại Việt Nam và gián tiếp có đề cập đến vấn đề bản quyền

- Lê Thanh Bình, Phí Thị Thanh Tâm Quản lý nhà nước và pháp luật

về báo chí, Nxb Văn hóa- Thông tin, 2009 Nội dung cuốn sách đề cập đến

vấn đề quản lý nhà nước về báo chí và pháp luật về báo chí Khẳng định để quản lý tốt hoạt động báo chí, tạo điều kiện để báo chí phát triển cần hoàn thiện hệ thống pháp luật về báo chí

- Đỗ Quý Doãn, Quản lý và phát triển thông tin báo chí Việt Nam, do

Nxb Thông tin và Truyền thông phát hành năm 2014 Thông qua thực tiễn

Trang 12

hoạt động báo chí và quản lý báo chí, tác giả đã cung cấp cho người đọc những vấn đề liên quan đến quản lý báo chí ở Việt Nam Ngoài những nhận xét đánh giá tích cực về quản lý báo chí, tác giả cũng đã nêu những vấn đề bất cập trong công tác quản lý báo chí và thông tin báo chí, đồng thời nêu một số giải pháp để quản lý chặt chẽ nhưng không ảnh hưởng đến sự phát triển của báo chí, truyền thông.

- Nhóm các công trình liên quan tới phim tài liệu

- Năm 2002, Viện nghệ thuật và lưu trữ Điện ảnh Việt Nam ấn hành tài

liệu nghiệp vụ “Kỹ thuật làm phim tài liệu” do Nguyễn Văn Tuấn, dịch từ văn

bản tiếng Nga của nhà đạo diễn điện ảnh Khiu Bedli Sách gồm 335 trang, giới thiệu quy trình sản xuất phim tài liệu, từ chuẩn bị kịch bản, kịch bản phân cảnh, ý đồ bộ phim tương lai cho đến công đoạn quay phim, dàn dựng thành

bộ phim hoàn chỉnh Có thể nói, đây là tài liệu rất cần thiết cho đề tài nghiên cứu; bởi phim tài liệu điện ảnh hay truyền hình cũng là hai loại hình có mối quan hệ gần nhau Phim tài liệu truyền hình ra đời trên nền tài liệu điện ảnh Nhưng sách mới dừng lại ở quy trình sản xuất phim nói chung, chưa đề cập sâu đến lời bình, nên tài liệu chỉ có tác dụng bổ sung kiến thức chung về phim tài liệu

- Trong tài liệu dành cho các lớp tập huấn ngắn hạn ở một số Đài

PT-TH địa phương, năm 2003, nhà biên kịch Trần Đức Tuấn, Hãng phim TFS, Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh (HTV), người viết 85/92 kịch bản

phim dài tập Mekong ký sự , biên soạn tài liệu “Đôi nét về phim ký sự” Trong

đó, có “Một cái nhìn về phim tài liệu”, nêu vai trò, vị trí của phim tài liệu

trong cơ cấu phát sóng của các Đài truyền hình, cũng như sự cần thiết phải phát triển loại hình này trong tương lai Tập tài liệu cũng đã giúp cho tác giả

có một cái nhìn tổng quan về phim tài liệu, từ lịch sử ra đời, phát triển phim; cùng các yếu tố tác động đến chất lượng phim tài liệu, đặc biệt là vai trò của

Trang 13

lời bình trong phim Nhưng do là tài liệu soạn thảo dành cho các lớp tập huấn ngắn hạn và phần nói về phim tài liệu dưới dạng phụ lục, chưa đề cập sâu đến vấn đề tác giả nghiên cứu

- Ba tài liệu khác, hai của nhà biên kịch Nguyễn Hậu, nguyên giảng viên Học viện Báo chí và Tuyên truyền, đăng trên Website daotao.vtv.vn, có nhan đề “Các thể phim tài liệu” (bài 3) và “Lời bình trong phim tài liệu” (bài 14) Và một của tác giả Bùi Quang Huy, chủ tịch Hội nhà văn tỉnh Đồng Nai, một cộng sự của HTV hơn 10 năm qua, với bài viết “Lời bình trong phim tài liệu truyền hình” Bài viết của hai tác giả gần như đồng quan điểm một lần nửa khẳng định vị trí, vai trò và tác dụng của lời bình nhìn từ góc độ lý luận

và thực tiễn; cùng những yếu tố liên quan làm nên chất lượng bộ phim tài liệu như: hình ảnh, giọng đọc, cách thể hiện lời bình Hai bài viết dù rất cần thiết cho quá trình bổ sung kiến thức, gần sát với đề tài của tác giả nghiên cứu, nhưng do giới hạn của bài viết đăng trên trang thông tin điện tử và báo nên chưa đủ dung lượng, đi sâu vào vấn đề luận văn nghiên cứu

- Bùi Thị Thủy, năm 2006, cũng đã bảo vệ thành công luận văn tốt

nghiệp Thạc Sĩ, chuyên ngành Báo chí học, với đề tài “Phim tài liệu chân

dung truyền hình” Luận văn đã cung cấp những vấn đề lý luận, thực tiễn,

những kinh nghiệm được đúc kết qua kết quả khảo sát các phim tài liệu chân dung do Hãng phim TFS (HTV) thực hiện, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, phát huy hiệu quả thể loại này trên sóng truyền hình của HTV Luận văn nghiên cứu một cách khái quát thể loại phim tài liệu chân dung, một thể loại đi sâu hơn nữa của phim tài liệu, nên cũng chỉ có tác dụng tham khảo, bồi bổ kiến thức cho luận văn

- Luận văn của Nguyễn Thị Thơm, Hình ảnh trong phim tài liệu

truyền hình ( bảo vệ năm 2006 tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền) Nội

dung luận văn đã đề cập dến hình ảnh, vai trò của hình ảnh trong phim tài

Trang 14

liệu truyền hình; thực trạng chất lượng hình ảnh trong phim tài liệu truyền hình Luận văn đã cung cấp cho tác giả những vấn đề liên quan đến phim tài liệu và hình ảnh trong phim tài liệu truyền hình

- Luận văn của Nguyễn Thanh Tiếng, Nâng cao chất lượng lời bình

Phim tài liệu chính luận của Đài Phát thanh- Truyền hình thành phố Cần Thơ hiện nay (bảo vệ năm 2015 tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền) Tuy

nội dung luận văn chỉ tập trung vào chất lượng lời bình Phim tài liệu chính luận của Đài Phát thanh- Truyền hình thành phố Cần Thơ những đã cung cấp nhiều kiến thức liên quan đến phim tài liệu truyền hình như các yếu tố cấu thành phim tài liệu truyền hình; qui trình thực hiện phim tài liệu truyền hình; vai trò của lơi bình trong phim tài liệu chính luận truyền hình…

- Nhóm các công trình liên quan tới báo chí truyền hình và quản lý báo chí

- Năm 2004, Nhà xuất bản (Nxb) Thông tấn, Hà nội cho ấn hành quyển

sách, có tựa đề “Báo chí truyền hình”, tập 2, nằm trong bộ sách tham khảo

nghiệp vụ gồm 14 cuốn, do Đào Tấn Anh dịch từ nguyên bản tiếng Nga của nhóm tác giả G.V Cudơnhetxốp, X.L.Xvich, A.la.lurốpxki Tập 2 cuốn sách gồm 5 chương, tập trung giới thiệu các thể loại báo chí truyền hình; các nghiệp vụ nhà báo trong truyền hình; những nguyên tắc đạo đức trong báo chí truyền hình; các phương pháp nghiên cứu xã hội học về khán giả truyền hình

và nhà báo với chiếc camera ghi hình Trong đó, ở chương 1, phần nói về các thể loại báo chí, tác giả dành riêng bảy trang để nói về phim tài liệu truyền hình Đây cũng là một trong những nội dung rất cần thiết cho đề tài nghiên cứu của tác giả Nhưng liên quan đến vấn đề bản quyền tác phẩm truyền hình, bản quyền hình ảnh trong tác phẩm truyền hình vẫn chưa đề cập

- Phí Thị Thanh Tâm (2007), Luận văn ngành Lý luận lịch sử nhà nước

và pháp luật "Pháp luật về quản lý Nhà nước trong lĩnh vực báo chí ở Việt

Trang 15

Nam hiện nay" lại tập trung nghiên cứu sự cần thiết quản lý nhà nước bằng

pháp luật trong lĩnh vực báo chí, vai trò của pháp luật thực trạng pháp luật về QLNN trong lĩnh vực báo chí ở Việt Nam hiện nay Những thành tựu và hạn chế, nguyên nhân của những mặt tồn tại và những vấn đề đặt ra đối với báo chí hiện nay Trên cơ sở đó tác giả đã đưa ta những đề xuất, kiến nghị các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của pháp luật về quản lý báo chí Đề tài đã góp phần nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về QLNN đối với báo chí trong giai đoạn hiện nay, một vấn đề cấp thiết khi các phương tiện thông tin kỹ thuật hiện đại ngày càng chiếm lĩnh vị trí quan trọng trong đời sống xã hội, hoạt động báo chí và việc xây dựng hành lang pháp lý trong lĩnh vực báo chí cần được tăng cường và củng cố nhiều mặt đáp ứng yêu cầu đặt ra Như vậy đề tài nghiên cứu công tác quản lý báo chí dưới góc độ pháp luật

- Chử Kim Hoa (2009), Nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước bằng pháp

luật trong lĩnh 3 vực báo in ở Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ Báo chí học,

Học viện Báo chí và Tuyên truyền Nội dung của luận án tập trung làm rõ quan điểm của Đảng và Nhà nước về quản lý báo chí, hiệu lực quản lý nhà nước bằng pháp luật trong lĩnh vực báo in ở Việt Nam, khảo sát thực trạng công tác quản lý nhà nước về báo in trong giai đoạn đất nước bước vào thời kỳ đổi mới với nhiều

sự thay đổi trong đời sống xã hội, những thuận lợi và thách thức đan xen Đối tượng khảo sát của luận án là những văn bản quy phạm pháp luật đã được ban hành trong thời kỳ đổi mới đến 2008 và thực trạng của hoạt động tổ chức thực thi những văn bản đó trong lĩnh vực báo in, đối tượng nghiên cứu của luận án là hiệu lực QLNN đối với hoạt động báo in Phạm vi quản lý của Nhà nước theo hướng xây dựng nhà nước pháp quyền nên phạm vi nghiên cứu của luận án là vấn đề hiệu lực tác động của nhà nước tới các đối tượng quản lý (theo chiều từ trên xuống) mà không nghiên cứu tới hiệu quả của sự tác động đó (theo chiều phản hồi) Từ đó tác giả đã đề xuất một số giải pháp để nâng cao hiệu lực QLNN bằng pháp luật trong lĩnh vực báo in

Trang 16

- Lê Thanh Bình, Phí Thị Thanh Tâm (2009), Quản lý Nhà nước và

pháp luật về báo chí, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Các tác giả nghiên cứu

trọng tâm vào vấn đề hành lang pháp lý cho công tác quản lý nhà nước về báo chí, những bất cập của hệ thống các văn bản pháp luật về báo chí ơ nước ta ta hiện nay Từ đó tác giả cuốn sách đã đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của pháp luật về quản lý báo chí

- Lê Minh Toàn (chủ biên) (2009), Quản lý Nhà nước về thông tin và

truyền thông, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Nội dung của cuốn sách không

chỉ đề cập riêng về vấn đề quản lý nhà nước về báo chí mà cung cấp các kiến thức cơ bản có liên quan đến quản lý nhà nước về bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin bao gồm: hệ thống cơ quan quản lý, quản lý nhà nước về bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin, tần số vô tuyến điện, internet, thanh tra và xử lý vi phạm về thông tin và truyền thông

- Hoàng Quốc Bảo (chủ biên) (2010): Lãnh đạo và quản lý hoạt động

báo chí ở Việt Nam hiện nay, Nxb Lý luận chính trị Cuốn sách đã khái quát

quan điểm của Đảng về lãnh đạo và quản lý báo chí, cách thức tổ chức hoạt động của cơ quan báo chí và thực trạng hoạt động báo chí và lãnh đạo, quản

lý hoạt động báo chí trong sự nghiệp đổi mới đất nước Từ những nghiên cứu trên thực tiễn cuốn sách đã đưa ra những vấn đề đặt ra đối với hoạt động báo chí và quản lý hoạt động báo chí ở nước ta hiện nay Như vậy cuốn sách đã cung cấp những kiến thức trong công 5 tác lãnh đạo của Đảng và hoạt động quản lý báo chí nói chung trong sự nghiệp đổi mới đất nước chứ chưa đi sâu nghiên cứu về công tác QLNN

- Nguyễn Thị Minh Phương (2010), "Tăng cường quản lý Nhà nước

đối với báo Đảng hiện nay", Luận văn Báo chí học tại Học viện Báo chí và

Tuyên truyền Tác giả đi sâu nghiên cứu cách thức và nội dung quản lý Nhà nước với riêng đối tượng báo Đảng Luận văn này đã làm rõ sự cần thiết quản lý nhà nước đối với báo chí nói chung và báo Đảng hiện nay

Trang 17

Nêu ra thực trạng hoạt động của các báo Đảng và thực trạng quản lý nhà nước với các cơ quan báo chí này; những thành tựu hạn chế, nguyên nhân của những mặt còn tồn tại và những vấn đề đang đặt ra việc quản lý nhà nước đối với các đơn vị báo chí này Trên cơ sở đó luận văn đưa ra những

đề xuất, kiến nghị các giải pháp nhằm tăng cường QLNN đối với báo Đảng trong giai đoạn hiện nay

Sau khi nghiên cứu các công trình khoa học trên, tác giả nhận thấy nhiều yếu tố liên quan đến đề tài đã được giải quyết tuy nhiên để đi vào chuyên sâu là quản lý bản quyền hình ảnh trong phim tài liệutrên truyền hình

mà cụ thể là trên Đài truyền hình Việt Namthì chưa có công trình nào nghiên cứu Do vậy, đề tài luận văn của tác giả không trùng lặp với các công trình

đã được công bố trước đó Những tài liệu trên là nguồn tài liệu tham khảo quý báu cho tác giả trong quá trình thực hiện luận văn

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở hệ thống hóa các vấn đề lý luận, thực tiễn liên quan đến vấn

đề bản quyền hình ảnh trong phim tài liệu truyền hình; phân tích, đánh giá thực trạng vấn đề quản lý bản quyền hình ảnh, tác giả đề xuất các giải pháp góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả quản lý bản quyền hình ảnh trong phim tài liệutrên truyền hìnhtại Đài truyền hình Việt Namhiện nay

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện mục đích đã xác định, tác giả luận văn phải thực hiện những nhiệm vụ nghiên cứu sau:

Một là, hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý bản quyền hình ảnh trên

truyền hình qua tiếp cận các công trình, các lý thuyết được nghiên cứu trước đó

Hai là, khảo sát thực trạng quản lý bản quyền hình ảnh trong phim tài

liệu truyền hình tại Đài truyền hình Việt Namhiện nay Qua đó đánh giá những thành công, hạn chế; phân tích nguyên nhân thành công, hạn chế trong

Trang 18

vấn đề quản lý bản quyền hình ảnh trong phim tài liệu truyền hình

Ba là, phân tích những vấn đề đặt ra và đề xuất các giải pháp góp phần

nâng cao chất lượng, hiệu quả quản lý bản quyền hình ảnh trong phim tài liệu truyền hình tại Đài truyền hình Việt Nam trong thời gian tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là vấn đề quản lýbản quyền hình ảnh trên truyền hình trong phim tài liệu của đài truyền hình Việt Nam hiện nay

4.2 Phạm vi nghiên cứu

-Phạm vi khảo sát: Tác giả chỉ khảo sát các phim Tài liệu đã được phát sóng trên kênh VTV1 của Đài Truyền hình Việt Nam Đây là những bộ phim được sản xuất cả trong và ngoài nước, có nhiều vấn đề phát sinh liên quan tới bản quyền Do vậy khảo sát các bộ phim này có ý nghĩa đối với việc nghiên cứu đề tài

Trong208 Phim Tài liệu do đài Truyền hình Việt Nam sản xuất năm

2017- 2018, phát trong chương trình “Phim Tài Liệu” hàng tuần trên sóng

VTV1 với 4 buổi/1 tuần, vào 20h10 các ngày thứ hai, ba, tư, bảy, tác giả chỉ khảo sát những bộ phim tiêu biểu, có dấu ấn về bản quyền

-Thời gian khảo sát: Luận văn khảo sát dữ liệu từ tháng 1/2017 tới tháng 6/2018

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Tác giả thực hiện Luận văn dựa trên phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí, học thuyết Kinh tế Chính trị Mác – Lênin; chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước về báo chí, cụ thể là những quy định về sở hữu trí tuệ, về bản quyền đối với báo chí

Luận văn còn dựa trên Cơ sở lý luận Báo chí, Cơ sở lý luận báo chí

Trang 19

truyền hình, Cơ sở lý luận phim tài liệu, phim tài liệu truyền hình, pháp luật báo chí, đạo đức báo chí, khoa học quản lý, phương pháp nghiên cứu xã hội học…

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành luận văn, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu như sau:

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: được dùng để khảo cứu các tài liệu

khoa học như tài liệu về quản lý báo chí, bản quyền, hình ảnh trên truyền hình… nhằm hệ thống hóa các vấn đề lý luận và cơ sở lý thuyết cho vấn đề nghiên cứu

- Phương pháp thống kê - phân loại được dùng để thống kê phân loại các

nội dung, tiêu chí, quản lý bản quyền hình ảnh liên quan trên kênh khảo sát

- Phương pháp phỏng vấn sâu (phỏng vấn chuyên gia): được dùng để thu

thập thông tin từ những cá nhân có liên quan đến vấn đề quản lý bản quyền tại các cơ quan chức năng, các cơ quan báo chí, cơ quan báo truyền hình

- Phương pháp phân tích nội dung: được dùng để phân tích các văn bản

chỉ đạo, quản lý, các bài đánh giá, bình luận bản quyền hình ảnh truyền hình thuộc diện khảo sát nhằm thu thập thông tin mang tính định lượng

- Phương pháp toạ đàm: Nhằm đánh giá thực trạng quản lý bản quyền

âm thanh hình ảnh trên truyền hình và tìm các giải pháp quản lý bản quyền một cách hiệu quả nhất, Thành phần tham gia toạ đàm bao gồm, Lãnh đạo THVN, Vụ pháp chế, Đại diện cục Phát thanh Truyền hình và thông tin điện

tử, các nhà báo và Luật sư

6 Điểm mới của luận văn

Luận văn nghiên cứu một cách cơ bản và hệ thống các các vấn đề về quản lý bản quyền hình ảnhtrên truyền hình tại Đài THVN Thông qua việc khảo sát, phân tích, luận văn đã đánh giá khách quan thực trạng về vấn đề quản lý bản quyền hình ảnh trong phim tài liệu truyền hình của Đài Truyền

Trang 20

hình Việt Nam, cụ thể là các phim được sản xuất, phát sóng trên kênh VTV1 Luận văn cũng đề xuất một số giải pháp mang tính khả thi để quản lý bản quyền hình ảnh phim tài liệu tốt hơn với mục đích quản lý để bảo vệ lợi ích chính đáng của mình và không vi phạm pháp luật, đạo đức liên quan đến bản quyền và bản quyền hình ảnh trong phim tài liệu truyền hình

7 Ý nghĩa lý luận và giá trị thực tiễn của luận văn

7.1 Ý nghĩa lý luận

Luận văn khẳng định,quản lý bản quyền,bản quyền hình ảnh trong phim tài liệu truyền hình là một hoạt động quan trọng của cơ quan báo chí, nhà báo Bản quyền liên quan đến luật pháp, đạo đức, thương hiệu, kinh tế trong hoạt động báo chí Vì vậy, việc quản lý bản quyền, bản quyền hình ảnh trong phim tài liệu truyền hình là một hoạt động không thể thiếu của cơ quan báo chí

Đồng thời, luận văn cũng khẳng định, để quản lý bản quyền, bản quyền hình ảnh trong phim tài liệu truyền hình có hiệu quả cẩn phải có phương pháp, cơ chế, phương thức quản lý khoa học, phải có đội ngũ quản lý có trình

độ, kỹ năng nghiệp vụ và đạo đức nghề nghiệp trong sáng

7.2 Giá trị thực tiễn

Đây là công trình tổng kết, đánh giá những vấn đề thực tiễn về quản lý bản quyền hình ảnhphim tài liệu truyền hình ở kênh VTV1 - Đài Truyền hình Việt Nam trong thời gian qua nên ngoài ý nghĩa lý luận, còn có những đóng góp vào hoạt động thực tiễn

Thứ nhất, là tài liệu tham khảo cho các cơ quan báo chí, đặc biệt là các đài

phát thanh- truyền hình trong việc quản lý bản quyền tác phẩm, chương trình, bản quyền hình ảnh trong phim tài liệu truyền hình thông qua việc đánh giá các hoạt động quản lý bản quyền , cơ chế và phương pháp quản lý bản quyền

Thứ hai, cung cấp các giải pháp có tính khả thi để nâng cao chất lượng,

hiệu quả quản lý bản quyền hình ảnh trong phim tài liệu truyền hình

Thứ ba, luận văn là tài liệu tham khảo bổ ích cho các cơ sở đào tạo báo

Trang 21

chí, truyền thông và những ai quan tâm đến vấn đề nghiên cứu

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, Luận văn kết cấu 3 chương:

Chương 1:Cơ sở lý luận về quản lý bản quyền hình ảnh trên truyền hình Chương 2: Thực trạng vấn đề quản lý bản quyền hình ảnh trên truyền

hình trong phim tài liệu của Đài Truyền hình Việt Nam

Chương 3: Những vấn đề đặt ra và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý

bản quyền hình ảnh phim tài liệutrên truyền hình

Trang 22

NỘI DUNG Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ BẢN QUYỀN

Xã hội ngày càng phát triển con người đúc rút thêm nhiều kinh nghiệm mang tính quy luật để áp dụng vào thực tiễn cuộc sống, trong đó có hoạt động quản lý Trong xã hội hiện tại hoạt động quản lý dựa trên những

cơ sở khoa học và kinh nghiệm thực tiễn để con người đúc rút thành khoa học quản lý

Theo các nhà khoa học thì quản lý là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học, trong đó có cả khoa học tự nhiên lẫn khoa học xã hội Mỗi ngành khoa học nghiên cứu về quản lý từ góc độ riêng của mình và đưa ra định nghĩa về quản lý Theo điều khiển học thì quản lý là điều khiển, chỉ đạo một hệ thống hay một quá trình, căn cứ vào những quy luật, định luật hay nguyên tắc tương ứng để cho hệ thống hay quá trình ấy vận động theo ý muốn của người quản lý nhằm đạt được những mục đích đã định trước

Quản lý là chức năng vốn có của mọi tổ chức, mọi hành động của các

cá nhân, các bộ phận trong tổ chức có sự điều khiển từ trung tâm, nhằm thực

hiện mục tiêu chung của tổ chức Theo Từ điển Tiếng Việt, quản lý là “trông

nom, coi giữ” là “trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định Tổ chức

và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định” [29, tr.303]

Trang 23

Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đã đề ra, là một hoạt động thực tiễn đặc biệt của con người, trong đó các chủ thể tác động lên các đối tượng bằng các công cụ và phương pháp khác nhau, thông qua quy trình quản lý nhất định, nhằm thực hiện một cách hiệu quả nhất các mục tiêu của tổ chức trong điều kiện biến động của môi trường

Từ những cách tiếp cận trên, có thể thấy quản lý bao giờ cũng là một tác động hướng đích, có mục tiêu xác định, thể hiện mối quan hệ giữa hai bộ phận là chủ thể quản lý và khách thể quản lý Đó chính là mối quan hệ ra lệnh

- phục tùng, không đồng cấp và có tính bắt buộc Trong nội dung quản lý, có thể xem xét phương pháp, quy trình, nguyên tắc quản lý tùy theo nhu cầu cần nhận thức và hoạt động thực tiễn

Như vậy, quản lý là một yếu tố khách quan của mọi quá trình lao động

xã hội, bất kể dưới hình thái xã hội nào, quản lý cần thiết đối với mọi lĩnh vực hoạt động trong xã hội, là một yếu tố quan trọng và quyết định nhất đến

sự phát triển của mỗi tổ chức, mỗi quốc gia Nếu xét quản lý dưới tư cách là một hoạt động, có thể hiểu quản lý là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đã đề ra Xét ở góc độ chung nhất có thể hiểu: Quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm chỉ huy, điều hành, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi của cá nhân hướng đến mục đích hoạt động chung và phù hợp với quy luật khách quan Với cách hiểu này thì quản lý có những đặc điểm chính: là một hoạt động nhằm hướng tới mục tiêu đã định; thể hiện thông qua mối quan hệ giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý và là mối quan hệ mang tính quyền uy; là sự tác động mang tính chủ quan nhưng phải phù hợp với quy luật khách quan; nếu xét về mặt công nghệ thì đó là sự vận động củathông tin

Trang 24

1.1.2 Bản quyền

Trong các văn bản quốc tế, bản quyền được viết là copyright và được

ký hiệu bằng chữ cái C nằm trong vòng tròn dùng chỉ cho quyền sở hữu, sao chép tác phẩm của mình (tiếng Anh: copy tức là sao chép, right là quyền)

Theo Từ điển tiếng Việt do Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam

và Viện Ngôn ngữ học biên soạn thì bản quyền có nghĩa là “quyền tác giả hay nhà xuất bản về một tác phẩm, được luật pháp quay định” [17,tr45]

Nhiều ý kiến của các chuyên gia cùng đề cập: “Bản quyền là quyền tác giả, quyền liên quan, được quy định theo pháp luật, nó thuộc về một cá nhân, một tổ chức Người sáng tạo ra tác phẩm, tổ chức là người sở hữu các sản phẩm đó Thường tổ chức sở hữu là đơn vị cấp kinh phí để tạo ra tác phẩm đó”

Bản quyền là sự độc quyền kiểm soát tái bản và khai thác thương mại trong lĩnh vực sáng tạo có hiệu lực tại thời điểm sản phẩm được tạo ra Bản quyền là hình thức bảo vệ được cung cấp cho các tác phẩm gốc có tác giả, bao gồm các tác phẩm văn học, kịch, nhạc, đồ họa và các sản phẩm nghe nhìn “Bản quyền” nghĩa đen là quyền được sao chép, nhưng nghĩa rộng là phần chính của các quyền độc quyền theo luật pháp được cấp cho chủ bản quyền để bảo vệ tác phẩm của mình Bảo vệ bản quyền nghĩa là chủ bản quyền có thể kiểm soát việc

sử dụng nhất định đối với tác phẩm của mình Bản quyền là hình thức bảo vệ hợp pháp, cung cấp cho những người sáng tạo và sản xuất nội dung các quyền độc quyền để kiểm soát việc sử dụng nhất định đối với nội dung đó Khi một người tạo một tác phẩm gốc được cố định trong môi trường vật lý, người đó tự động sở hữu bản quyền đối với tác phẩm đó Sở hữu bản quyền mang lại cho người sở hữu các quyền dành riêng để sử dụng tác phẩm theo các cách cụ thể và nhất định Nhiều loại tác phẩm đủ điều kiện để được bảo vệ bản quyền

Bản quyền bao gồm quyền lợi về tinh thần và kinh tế Quyền lợi về tinh thần được hiểu là quyền của tác giả đặt tiêu đề cho tác phẩm của họ, gắn

Trang 25

liền tên thật của họ hoặc bút danh được thừa nhận khi tác phẩm của họ được xuất bản hoặc sử dụng, xuất bản các tác phẩm của họ, hoặc uỷ quyền cho người khác xuất bản tác phẩm của họ, bảo vệ sự nguyên vẹn cho tác phẩm; và cấm người khác sửa chữa, thay đổi hoặc bóp méo tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào, gây tổn hại đến danh dự và uy tín của tác giả

Quyền lợi kinh tế bao gồm quyền của tác giả được sáng tác các tác phẩm tiếp theo, trình diễn tác phẩm của họ trước công chúng, sao chép tác phẩm, phân phối hoặc nhập khẩu nguyên bản hoặc các bản sao tác phẩm, truyền thông tác phẩm của học tới công chúng bằng các phương tiện không dây và landline, mạng lưới thông tin điện tử hoặc các phương tiện kỹ thuật khác; phát hành nguyên bản hoặc bản sao tác phẩm điện ảnh và các chương trình máy tính Thời hạn của quyền tinh thần gần như không xác định Thời hạn của quyền kinh tế cho hầu hết các đối tượng theo luật sở hữu trí tuệ Việt Nam từ 50 năm đến khi cả cuộc đời tác giả và 50 năm sau khi tác giả qua đời

Như vậy bản quyền là một khái niệm rất rộng, tuỳ thuộc vào từng khía cạnh nghiên cứu mà có những cách quan niệm về bản quyền ở những góc độ khác nhau

Trong phạm vi luận văn, tác giả chỉ nghiên cứu bản quyền dưới góc độ

là bản quyền truyền hình

1.1.3 Hình ảnh

Hình ảnh là những ký hiệu nhân tạo nhằm giúp ta hiểu được chính mình, hiểu được hành vi của ta và tính chất phức tạp của thế giới chúng ta đang sống Được thêu dệt vào ngôn ngữ, những ký hiệu bằng hình ảnh và ngôn ngữ ấy trở thành một thứ hoa gấm của nhiều nền văn hóa khác nhau Suốt một thời gian dài, những ký hiệu đó đã là công cụ cơ bản mà con người

sử dụng để truyền thông và học hỏi

Trang 26

Trong quyển Từ máy ảnh đến hình ảnh tác giả trích câu nói của nhiếp ảnh gia người Mỹ ANSEL ADAMS (1902 - 1984): “Một bức ảnh tuyệt vời là một biểu hiện trọn vẹn những gì ta cảm nhận sâu xa nhất về sự vật được chụp ảnh Và do đó, nó chính là biểu hiện đích thực cảm nhận của ta về toàn bộ cuộc đời ” [46, tr.10]

Trong quyển Từ máy ảnh đến hình ảnh tác giả viết: Những hình ảnh đầu tiên được tạo ra khi nào? Không ai biết cả Chúng bắt nguồn từ thời tiền

sử, nhưng những chứng tích còn lại đã cho thấy rằng: Từ nhiều thế kỷ trước, hình ảnh đã tiến hóa thành một loại ngôn ngữ dễ hiểu, bắt cầu cho sự cảm thông giữa các nền văn hóa khác biệt Các ngôn ngữ hầu hết đều được nói lên hay viết ra, và sau này được lưu trữ trong cuốn sách

Với sự ra đời của nghề in ở thế kỷ XV , số lượng sách tăng trưởng rất nhanh và nhu cầu dùng hình ảnh để minh họa cho sách cũng phát triển nhanh chóng Hình ảnh, được phát minh vào đầu thế kỷ XIX, đã biến cuộc tiến hóa trong lĩnh vực tạo hình trở thành một cuộc cách mạng Hình ảnh đã thay đổi cách nhìn của chúng ta đối với sự vật, và vĩnh viễn làm thay đổi nghệ thuật tạo hình

Vậy hình ảnh là gì? trong phạm trù hạn hẹp nhất thì: hình ảnh là một phương tiện tạo hình bằng tác dụng của ánh sáng trên một phương tiện nhạy cảm với ánh sáng đó Nhưng một định nghĩa đơn giản như thế không thể mô

tả được cái kinh nghiệm sáng tạo hình ảnh hoặc tác động mạnh mẽ mà bức ảnh tạo ra hầu như trong mọi khía cạnh của đời sống hiện đại

Ở khía cạnh khác, hình ảnh còn được xem là ngôn ngữ biểu tượng, tức

là dùng ngôn ngữ hình ảnh để nói lên một vấn đề nào đó, như dùng hình ảnh chim Bồ câu trắng để nói lên khát vọng hòa bình; Một cánh diều bay trong gió với những chú bé chăn trâu vui đùa thể hiện sự yên bình của một làng quê…

Do vậy, ngôn ngữ biểu tượng là ngôn ngữ mang đầy màu sắc và hình ảnh

Trang 27

được xem như là một tiếng nói, một cảm xúc, một thể loại ngôn ngữ biểu tượng, giúp cho công chúng cảm nhận được nội dung và ý đồ của tác giả muốn phản ánh đến người xem

Trong phạm vi luận văn, tác giả sử dụng khái niệm hình ảnh theo nghĩa là

cả các sự vật xuất hiện trên phim, gồm cả người và cảnh, động và tĩnh, Hình ảnh chịu sự chi phối của hai điều: thứ nhất, sự tái tạo lại chính xác hiện thực của máy quay phim và thứ hai, cách lựa chọn có mục đích của người quay Nó gồm:

- Hình ảnh tĩnh: là sự sắp xếp những vật, người vào trong khuôn hình tĩnh (không có sự di chuyển bên trong khuôn hình)

- Hình ảnh động: là trong một cú bấm máy có sự di chuyển bên trong khuôn hình kết hợp với nhiều cỡ cảnh, sự vật được thay đổi đến khi ngắt máy

Hình ảnh có những ưu thế đặc biệt, đó là tính ghi thực trực tiếp, ra đời nhanh và gây ấn tượng sâu sắc Tận dụng đặc điểm này ngành truyền hình và những người làm báo hình đã sử dụng chiếc máy quay như một phương tiện đắc lực và hữu hiệu Bên cạnh những đặc điểm chung của nghệ thuật tạo cảnh thì hình ảnh còn mang những đặc điểm riêng

Xét về bản chất “hình ảnh sáng tác “không nhấn mạnh về thông tin, nhưng xem hình ảnh người ta lại có thể dẫn dắt đến yếu tố ý tưởng nào đó khá độc đáo, ta bảo hình ảnh đó mang tính nghị luận nhất định; dù nó không bao hàm tính tài liệu

Hình ảnh trên báo truyền hình, do tính mục đích của sự phản ánh, nên hai yếu tố thông tin và nghị luận luôn gắn kết chặt chẽ ngay trong bản thân sự kiện, sự vật, hiện tượng Yếu tố thông tin theo cách hiểu phổ thông và đơn giản chính là sự tổng hợp các chi tiết cấu thành đối tượng, sự kiện, sự việc có chứa đựng những nội dung cần thông báo đến người đọc người xem Lượng

Trang 28

thông tin trong hình ảnh được chuyển tải qua nội dung, hình ảnh lẫn hình thức thể hiện của nó; qua cả phần hình ảnh và phần lời nói của một tác phẩm

1.1.4 Quản lý bản quyền hình ảnh

Từ những phân tích nêu trên có thể thấy quản lý bản quyền hình ảnh là quá trình tác động của chủ thể quản lý lên các đối tượng quản lý như nguồn nhân lực, hệ thống bản quyền, cơ sở pháp lý về bản quyền, các vấn đề vi phạm, xâm phạm bản quyền để đảm bảo việc giữ vững bản quyền hình ảnh

Ở hầu hết các quốc gia, bản quyền nói chung và bản quyền hình ảnh nói riêng là quyền hợp pháp bảo vệ tác phẩm gốc của tác giả Thông thường, nếu một ngườitạo ra một trong các tác phẩm đó, họ sẽ có bản quyền từ thời điểm tạo ra tác phẩm (Hìn ảnh, Âm thanh, Văn bản… v.v…)

Bản quyền bảo vệ hình ảnh của tác giả, bao gồm: Ảnh, video, Hình vẽ, phim, nội dung phát sóng và chương trình truyền hình, trò chơi điện tử, tranh, ảnh

Chỉ những tác phẩm gốc mới đủ điều kiện được bảo vệ bản quyền Để

đủ điều kiện là tác phẩm gốc để được bảo vệ bản quyền, một tác phẩm phải

do chính tác giả tạo ra và phải có mức độ sáng tạo tối thiểu

Nói chung, những thứ như tên, tiêu đề, khẩu hiệu hoặc những cụm từ ngắn không được coi là tác phẩm gốc để được bảo vệ bản quyền Ví dụ: ký hiệu “+” có thể không có bản quyền nhưng một bức tranh với vô số hình dạng

và màu sắc được sắp xếp theo mẫu độc đáo có thể được bảo vệ bản quyền

Bản quyền không bảo vệ các sự việc hoặc ý tưởng nhưng có thể bảo vệ các từ hoặc hình ảnh gốc thể hiện sự việc hoặc ý tưởng đó Điều này có nghĩa

là tác gỉa có thể thể hiện sự việc hoặc ý tưởng giống với sự việc hoặc ý tưởng của tác giả khác, với điều kiện tác gỉa đó không sao chép cách thể hiện của tác giả khác Ví dụ: một nhà soạn kịch không thể có bản quyền đối với ý tưởng về một người đàn ông thức giấc và lặp đi lặp lại một ngày tương tự nhưng kịch bản cho vở kịch hoặc bộ phim thể hiện ý tưởng đó có thể có bản quyền

Trang 29

1.2 Tầm quan trọng của vấn đề quản lý bản quyền hình ảnh trên truyền hình trong phim tài liệu của đài truyền hình Việt Nam

1.2.1 Góp phần hình thành ý thức thượng tôn pháp luật của các nhà báo, các nhà sản xuất

Ở Việt Namhiện nay, hiện tượng vi phạm bản quyền đặc biệt là bản quyền hình ảnh trên các tác phẩm truyền hình trong khi đã có các quy định của pháp luật diễn ra hết sức phổ biến Nhìn rộng ra các lĩnh vực thì sách báo nói chung bị vi phạm bản quyền nhiều nhất Ở Việt Nam, vấn đề về bản quyền tác giả xem ra còn khá hờ hững Các vụ vi phạm bản quyền tác giả, sao chép sách/đĩa lậu… vẫn diễn ra hàng ngày Khi bị phát hiện thì các đơn vị vi phạm cũng chỉ bị xử phạt hành chính nên họ tỏ rõ thái độ “nhờn thuốc” các

vụ xâm phạm bản quyền âm nhạc, xuất bản sách… là hành vi cạnh tranh không lành mạnh

Khi mạng xã hội Youtube và Facebook cho phép kiếm tiền thông qua việc quảng cáo trên các video của người dùng,có những đối tượng đã trục lợi bằng cách sử dụng kỹ thuật capture (ghi lại các chương trình truyền hình và kết xuất dữ liệu số hoá để phát hành trên mạng xã hội)để ghi lại những phim tài liệu hay của truyền hình Việt Nam, sau đó biên tập lại, xoá bỏ logo VTV

và đưa các video đó lên youtube, chặn các IP từ Việt Nam để kiếm tiền ở nơi khác, chỉ những khán giả không ở Việt Nam mới có thể xem được các video

đó, việc phát hiện ra các đối tượng này rất khó và gian nan Việc vi phạm bản quyền ở đây không còn là vi phạm bản quyền hình ảnh đơn lẻ, mà có tính chất

hệ thống, vi phạm toàn bộ nội dung sản phẩm phim Tài liệu của đài

Cá biệt, Cũng trên mạng xã hội, có những nhóm đối tượng dùng thủ đoạn sử dụng một phần hình ảnh trong các Phóng sự vàPhim Tài liệu của VTV, kết hợp với các đoạn video sẵn có của họ để biên tập thành nội dung khác nhằm tạo uy tín giả, gây ảnh hưởng của mình,để tạo niềm tiên và và

Trang 30

lừadối người tiêu dùng thông qua các hình ảnh vi phạm Các đối tượng này còn tự ý sao chép, nhân bản, phân phối sản phẩm làm “nhái” với mục đích thương mại rất phổ biến, đăc biệt là ở các trung tâm ngoại ngữ tại TPHCM,

Hà Nội…

Trong lĩnh vực báo chí nói chung, truyền hình nói riêng, tình trạng vi phạm bản quyền cũng diễn ra phổ biến Chỉ cần bỏ công lướt Internet là có thể nhận thấy khá nhiều sự sao chép, khai thác này Đấy là chưa kể những trường hợp tỏ ra "tế nhị" khi đã "xào nấu", "gia giảm" ít nhiều (vay mượn hình ảnh, sử dụng hình ảnh của người khác trên internet mà không xin phép, cắt ghép nội dung hình ảnh mà không ghi nguồn ) mà để phát hiện ra đòi hỏi phải có sự kiểm tra, đối chiếu

Vào ngày 29/2/2016, người dùng YouTube bất ngờ thấy kênh chia sẻ Video của VTV bị dừng hoạt động Theo thông báo ghi trên trang YouTube của VTV, do tài khoản này đã vi phạm bản quyền của kênh YouTube Yamaha Trung Tá Đến 9h tối ngày 29/2/2016 VTV chính thức lên tiếng thừa nhận kênh YouTube VTV thời sự chính luận bị dừng hoạt động do biên tập viên đã

vi phạm bản quyền Việc một đài truyền hình quốc gia như VTV vướng vào

bê bối bản quyền đã thu hút sự chú ý của truyền thông trong nước và quốc tế trong suốt một thời gian dài

Ban Kiểm tra của VTV đã kiến nghị Tổng giám đốc VTV lấy năm 2016

là Năm bản quyền với những giải pháp rất cụ thể để tăng cường bảo vệ bản quyền Trong đó, Ban Kiểm tra kiến nghị Lãnh đạo VTV cho thành lập một đội

“Đặc biệt” gồm những phóng viên giỏi của VTV, tổ chức ghi hình những cảnh quay khó, đặc sắc ở các vùng miền để bổ sung vào kho thư viện hình ảnh dùng chung của VTV Tiến tới giảm chi phí ở các đơn vị, tránh việc chi phí manh mún như hiện nay, không hiệu quả, dẫn đến khai thác hình ảnh tùy tiện

Kiến nghị này được đưa ra sau khi VTV rơi vàovụ bê bối bản quyền

Trang 31

chưa từng có do bị một nhà quay phim cá nhân là anh Bùi Minh Tuấn ở Vĩnh Linh, Quảng Trị khiếu kiện Dù chỉ là một nhà quay phim nghiệp dư nhưng để thỏa mãn thú chơi flycam mà anh đã không tiếc tiền đầu tư máy móc, thiết bị, thời gian và công sức để tạo ra những cảnh quay flycam độc đáo về đất nước, con người Việt Nam trên mọi miền của Tổ quốc Những video được đăng tải trên kênh YouTube Yamaha Trung Tá đã bị một số biên tập viên, phóng viên của nhiều đài truyền hình trong nước cố tình dùng phần mềm thứ 3 can thiệp

để tải về, cắt cúp logo nhắc nhở bản quyền, cúp hình ảnh để sử dụng trong nhiều chương trình truyền hình khi chưa được sự chấp thuận của tác giả Trong đó, riêng VTV chỉ trong vòng 1 năm 2016 đã 14 lần bị phát hiện sử dụng trái phép cảnh quay flycam của anh Bùi Minh Tuấn

Song song với việc khiếu nại trên YouTube, anh Bùi Minh Tuấn cũng khiếu nại VTV1 đã 3 lần vi phạm bản quyền của anh lên Cục Bản quyền tác giả Anh Tuấn không đòi bồi thường bằng tiền mà chỉ yêu cầu lãnh đạo VTV có lời xin lỗi chính thức Đến ngày 10/3/2016, VTV đã chính thức có văn bản gửi anh Tuấn thừa nhận 2 trong số 3 vụ khiếu nại của anh Tuấn là đúng, tuy nhiên văn bản này không có một từ nào bày tỏ lời xin lỗi như anh Tuấn mong muốn

Gần đây nhất, là vụ việc VTV đã phải kiến nghị Cục Phát thanh truyền hình & TTĐT xử lý ba trang web vì hành vi tương tự, trong đó một trang tin đã bị xử phạt 20 triệu đồng Có thể nói, pháp luật Việt Nam về sở hữu trí tuệ nói chung và bản quyền đối với tác phẩm báo chí là tương đối đầy đủ Luật Sở hữu trí tuệ đã quy định rõ là tác phẩm báo chí là đối tượng bảo hộ của quyền tác giả Luật cũng như quy định các biện pháp pháp lý để bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm báo chí, từ biện pháp tự bảo vệ đến biện pháp hành chính, dân sự, thậm chí cả hình sự Vấn đề ở đây là việc áp dụng trong thực tiễn các quy định đó, mà trước hết là ý thức tự bảo vệ

Trang 32

quyền của các tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả

Trong nền kinh tế thị trường, báo chí không chỉ là hoạt động truyền thông, hoạt động chính trị - xã hội, mà còn là hoạt động kinh tế Đây là một loại hàng hoá đặc biệt mà giá trị phụ thuộc vào năng lực của người làm báo và

uy tín của tờ báo Giá trị của một bài báo, của một bức ảnh, của một chương trình truyền hình không nằm ở độ dài bài viết, độ nét của bức ảnh, thời lượng của chương trình truyền hình, mà nằm ở giá trị thông tin truyền tải, ở tính nghệ thuật và ở danh tiếng của tác giả cũng như uy tín của cơ quan báo chí

Nhiều cơ quan báo chí, trang tin điện tử đã tự ý khai thác nội dung của báo bạn vì muốn tiết giảm kinh phi, vì không đủ phóng viên có năng lực thực hiện các bài viết và đôi khi cũng không nghĩ rằng việc làm của mình ảnh hưởng đến hoạt động của báo bạn Thậm chí, nhiều người trong số họ còn cho rằng việc đăng lại bài của cơ quan báo chí khác chính là giúp phát triển cho các báo đó Nhưng quan điểm này là sai lầm

Xuất phát từ thực trạng đáng báo động trên, việc quản lý bản quyền hình ảnh nói chung, bản quyền hình ảnh phim tài liệu truyền hình nói riêng có vai trò hết sức quan trọng Chính nhờ công tác quản lý mà đội ngũ những người tham gia vào hoạt động báo chí mới biết tôn trọng đồng nghiệp, tôn trọng các thành quả lao động và hơn hết là tôn trọng pháp luật

1.2.2 Đảm bảo quyền sở hữu trí tuệ của tác giả

Mỗi một tác phẩm được đăng ký bản quyền là công sức của cả một đội ngũ, nhất là trong phim tài liệu truyền hình Do vậy các hành vi xâm phạm, vi phạm bản quyền trực tiếp hoặc gián tiếp đều là hành vi thể hiện việc ăn cắp trí tuệ của người khác Nhất là đặt trong bối cảnh kinh tế báo chí đang được các

cơ quan báo chí đẩy mạnh thì việc xâm phạm bản quyền, không tôn trọng quyền sở hữu của tác giả đáng bị lên án

Thực tế cho thấy nguồn kinh phí thu được của báo chí thường dựa trên

Trang 33

hai phương thức cơ bản sau: kinh phí thu được dựa trên số lượng phát hành và kinh phí quảng cáo Cả hai phương thức này đều phụ thuộc vào lượng độc giả, khán giả hoặc lượng truy cập Việc sao chép, "xào nấu" lại các tin bài, sản phẩm bảo chí sẽ tác động trực tiếp vào các lượng nói trên của cơ quan báo chí

có bài nguyên gốc Điều này sẽ tạo ra một sân chơi thiếu bình đẳng, thiếu trung thực

Ở góc độ quyền nhân thân, báo chí là một quá trình sáng tạo tác phẩm Việc thực hiện tác phẩm báo chí vừa là hoạt động có tính nhiệm vụ, vừa có tính cảm hứng cá nhân Một mặt, nhà báo phải tuân thủ kế hoạch tuyên truyền của tòa soạn về tiến độ thực hiện, khối lượng tin bài, định hướng tuyên truyền

Mặt khác, họ được quyền chủ động làm việc theo một phong cách riêng, đặc thù riêng trên nền tảng hiểu biết pháp luật, cảm tính, phong cách và trải nghiệm cá nhân - những trải nghiệm mà đôi khi phải được trả giá bằng những thất bại, nước mắt, thiệt hại kinh tế và thậm chí cả máu của mỗi nhà báo Do đó, việc bảo vệ bản quyền các tác phẩm báo chí là yêu cầu tiên quyết

và quan trọng để thúc đẩy quá trình sáng tạo của mỗi nhà báo

Nếu mỗi tác phẩm báo chí - là tâm huyết và sức lực của các nhà báo -

có thể bị dễ dàng xâm phạm, sao chép, kinh doanh trái ý muốn của tác giả thì động lực sáng tạo của nhà báo sẽ bị triệt tiêu Người gánh chịu thiệt hại cuối cùng chính là cả xã hội Người dân sẽ không còn được phục vụ các tác phẩm báo chí có chất lượng, không được sự bảo vệ bằng công luận trước những việc làm sai trái

Báo chí là phải nhìn thẳng vào sự thật, là tiếng nói trung thực và phản biện của xã hội Vấn đề tôn trọng bản quyền tác phẩm báo chí là biểu hiện đầu tiên của sự trung thực trong nghề báo Nếu người làm báo không có tư duy độc lập, không có sự sáng tạo nghề nghiệp, chỉ chăm chăm "xào nấu", copy

Trang 34

tin bài của đồng nghiệp thì rất dễ bị động, bị cuốn theo sự dẫn dắt của người khác, đồng nghĩa với tự đánh mất chính mình, làm suy giảm vai trò của báo chí

Về mặt quyền tài sản, quyền sở hữu tác phẩm báo chí thuộc về các cơ quan báo chí đã đầu tư vật chất đề thực hiện các tác phẩm Việc đầu tư cho sáng tạo báo chí là rất tốn kém, đặc biệt trong hoạt động sản xuất các chương trình truyền hình của các Đài phát thanh, truyền hình, trong đó có VTV Các trang thiết bị máy quay, bàn dựng, xe chuyên dụng, phát sóng đều rất đắt

đỏ Và các trang thiết bị kỹ thuật, công nghệ cũng nhanh chóng bị khấu hao, thay thế Nếu sự xâm phạm không bị xử lý, dẫn đến tình trạng khinh nhờn pháp luật bản quyền thì thiệt hại cho các cơ quan báo chí là khó lòng đong đếm được

Các cơ quan báo chí có thể coi là mối quan hệ "anh em" trên mặt trận

tư tưởng, truyền thông Các cơ quan báo chí có sự tác động, ảnh hưởng qua lại Các vấn đề, bài báo mang tính thời sự cao trên báo này có thể là định hướng, nguồn tham khảo cho báo khác Từ đó sẽ tạo nên sức mạnh tổng hợp,

đa chiều và phong phú Chính trong sự tác động qua lại này khiến các cơ quan báo chí trở nên gần nhau hơn, gắn bó với nhau hơn Mỗi nhà báo cũng có thể coi như một người sáng tạo với tâm hồn bay bổng và mối quan hệ rộng khắp trong làng báo

Chính thực trạng trên cho thấy việc quản lý bản quyền hình ảnh có vai trò hết sức quan trọng Chính việc tăng cường quản lý bản quyền góp phần gìn giữ những giá trị mà tác giả đã xây nên Đồng thời việc bảo vệ bản quyền cũng chính là khâu quan trọng để các hoạt động sáng tạo báo chí tiếp theo của tác giả diễn ra

1.2.3 Góp phần xây dựng thương hiệu cho đài

Có thể thấy, trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt giữa các phương tiện

Trang 35

truyền thông và các cơ quan báo chí như hiện nay thì việc khẳng định thương hiệu của mỗi đài là hết sức quan trọng Trong đó, chính nhờ việc gìn giữ bản quyền hình ảnh của phim tài liệu truyền hình góp phần tạo nên thương hiệu, bản sắc riêng cho môi cơ quan

Thực tế hiện nay, việc xâm phạm bản quyền giữa các cơ quan với nhau diễn ra phổ biến đã làm các đài phải chú trọng hơn nữa tới công tác quản lý Như trường hợp đăng trên báo Đầu tư: Ngày 24/12/2018, Báo Đầu tư chứng khoán nhận được đơn thư phản ánh của anh Nguyễn Anh T., phóng viên tờ báo chuyên trang thể thao về việc bị xâm phạm bản quyền tác quyền ảnh Anh T

kể lại, khoảng đầu tháng 12, anh phát hiện trên mạng xã hội chia sẻ rộng rãi nhiều bức ảnh có hình ông Park Hang Seo, huấn luyện viên đội tuyển bóng đá nam Việt Nam trên banner lớn treo trên đường phố với slogan “Xứng đáng là công dân Việt Nam” Anh T cho biết, bức ảnh trên anh chụp khi kết thúc trận thi đấu bóng đá giữa Việt Nam và Bahrain tại Asiad (Indonesia) ngày 23/8/2018 Thời điểm chụp ảnh có khoảng 10 phóng viên Anh T khẳng định mình là người duy nhất dùng ống tele còn những phóng viên khác dùng ống lens góc rộng và smartphone Do đó, anh T khẳng định không có tranh chấp về tác giả ảnh trong vụ việc này Tìm hiểu thêm, anh T phát hiện có tới 6 tấm biển quảng cáo khác nhau được dựng xung quanh các trục đường lớn ở Hà Nội, trên các banner có logo kèm theo slogan về kinh doanh của các công ty Những tấm quảng cáo này được treo từ ngày 4/12/2018-20/12/2018.Đến ngày 22/12/2018, anh T phát hiện các tấm biển quảng cáo trên đã được tháo dỡ Sau gần 1 tháng

từ khi sự việc xảy ra, anh T đã nhận phản hồi chính thức từ các bên liên quan

về vi phạm bản quyền bức ảnh của anh Đại diện giám đốc công ty trên thừa nhận, công ty đã sai khi sử dụng bức ảnh chưa xin phép tác giả Công ty cho biết, nhân viên thiết kế là người mới vào công ty đã copy bức ảnh trên mạng internet Công ty rất thiện chí làm việc với tác giả và hai bên đã tìm được tiếng

Trang 36

nói chung về khoản tiền bồi thường

Trường hợp trên là một vụ việc đơn lẻ nhưng không hiếm trong lĩnh vực truyền thông, báo chí Những vi phạm về bản quyền diễn ra nhan nhản dưới các hình thức khác nhau như tự ý sao chép nội dung, tin, bài viết, ảnh, clip mà không xin phép tác giả hay cơ quan chủ quản hoặc các đơn vị truyền thông thản nhiên sử dụng hình ảnh báo chí vào mục đích quảng cáo, tiếp thị sản phẩm mà không trích dẫn nguồn Thực trạng này cho thấy các cơ quan báo chí nói chung, các Đài truyền hình nói riêng phải tăng cường hơn nữa việc quản lý bản quyền để tạo lợi thế cạnh tranh, xây dựng thương hiệu vững mạnh trong bối cảnh cạnh tranh trên truyền thông khốc liệt như hiện nay

1.3 Chủ thể, nội dung, phương thức, cơ chế quản lý bản quyền hình ảnh phim tài liệu trên truyền hình

1.3.1.Chủ thể quản lý

Chủ thể quản lý bản quyền hình ảnh trong phim tài liệu trên truyền hình bao gồm nhiều cấp quản lý khác nhau Đối với các đài truyền hình thì lãnh đạo quản lý cao nhất là Tổng Giám đốc/giám đốc sau đó tới các thành viên trong ban giám đốc và lãnh đạo các kênh, phòng, ban Bên cạnh đó, việc quản

lý bản quyền cũng có sự tham gia của các chủ thể khác như đội ngũ trực tiếp

tổ chức sản xuất, họ là người nắm giữ các tư liệu về bộ phim tài liệu được sản xuất, do vậy vai trò quản lý của họ cũng rất quan trọng Đối với các bộ phim tài liệu được hợp tác sản xuất hoặc mua tư liệu từ đối tác nước ngoài thì chủ thể quản lý được mở rộng hơn, bao gồm các đối tác chủ sở hữu bản quyền gốc

ở trong và ngoài đài

Để việc quản lý bản quyền phim tài liệu trên truyền hình được hiệu quả đòi hỏi phải có sự kết hợp nhuần nhuyễn việc quản lý của tất cả các chủ thể nêu trên

1.3.2.Nội dung

Có thể thấy, với phim tài liệu truyền hình, hình ảnh nói chung, bản

Trang 37

quyền hình ảnh nói riêng đóng vai trò hết sức quan trọng Phim tài liệu truyền hình góp phần nâng cao nhận thức và tư duy của người xem, thông qua những hình ảnh có thật về con người, đất nước, thiên nhiên, sự kiện, sự việc, với tất cả sự phong phú đa dạng của nó.Phát hiện bản chất có ý nghĩa triết học của hiện tượng và sự kiện, nâng sự kiện lên tầm khái quát hoá bằng hình tượng tiêu biểu, qua việc sử dụng một cách có hiệu quả các thủ pháp nghệ thuật ( điều mà các thể loại tác phẩm báo chí truyền hình khác khó có thể thực hiện được do đặc điểm thể loại,độ dài thời gian (thời lượng) và mục đích thông tin) Nhấn mạnh ý nghĩa xã hội của hiện tượng

và sự kiện qua việc sử dụng các chi tiết điển hình, kết hợp với âm nhạc, tiếng động, lời bình, các thủ pháp dựng phim Chính vì hình ảnh là linh hồn của phim tài liệu truyền hình mà việc quản lý bản quyền đóng vai trò hết sức quan trọng

Đối với Đài Truyền hình Việt Nam, có ba khía cạnh chính trong hoạt động quản lý bản quyền hình ảnh của tác phẩm truyền hình nói chung, quản lý bản quyền hình ảnh phim tài liệu nói riêng Trong đó, thể hiện mối quan hệ giữa Đài Truyền hình Việt Nam- các hãng tin nước ngoài, Đài truyền hình Việt Nam với các tác phẩm của chính họ sản xuất ra và Đài Truyền hình Việt Nam với các đơn vị sản xuất nội dung hoặc xã hội hóa truyền hình trong nước

Do vậy, luận văn nghiên cứu ba hoạt động quản lý bản quyền hình ảnh chính, bao gồm:

- Một là: bản quyền hình ảnh khai thác từ nước ngoài

VTV rất chú trọng khai thác các phóng sự, phim tài liệu có chất lượng của các kênh truyền hình nước ngoài là đối tác của đài, thông qua việc mua bán, hoặc trao đổi các phóng sự và phim tài liệu do đối tác sản xuất hoặc liên kết sản xuất và cung cấp phát sóng Các chương trình và phim tài liệu này khi được phát sóng tại đài truyền hình việt nam được bảo hộ quyền cao nhất, và

Trang 38

hầu như không có vi phạm, tuy nhiên chi phí khá cao

- Hai là: Phim tài liệu được sản xuất bởi đội ngũ Đạo diễn, BTV

của Đài Truyền hình Việt Nam

VTV đặc biệt chú trọng việc đầu tư sản xuất các chương trình truyền hình nói chung và phim tài liệu nói riêng, trong sản xuất truyền hình, vấn đề sản xuất hình ảnh là một trong những khâu quyết định chất lượng chương trình của đài Các phim tài liệu do đài sản xuất được đầu tư thích đáng về thiết

bị, con người và các vấn đề liên quan trực tiếp ảnh hưởng đến chất lượng hình ảnh Đài truyền hình Việt Nam luôn chú trọng việc sản xuất chương trình với chất lượng hình ảnh và âm thanh tốt nhất

“VTV đặc biệt”, một chương trình phim tài liệu được Đài truyền hình Việt Nam chú trọng đầu tư với nguồn kinh phí tối đa nhất, miễn là tác phẩm hay, và đạt chất lượng tốt nhất Đài truyền hình Việt Nam đã không tiếc tay

để đầu tư nội dung, song song với đó, chất lượng hình ảnh được yêu cầu đẩy lên cao nhất mỗi chương trình VTV đặc biệt đều được công chúng đón nhận tích cực về nội dung và chất lượng hình ảnh, nhưng nguy cơ bị vi phạm bản quyền thông qua việc đăng tải trái phép từ người dùng khác là một nguy cơ hiện hữu và đã từng sảy ra, ngoài ra, việc sản xuất một chương trình tốt như vậy, nhưng chỉ cần một hình ảnh vi phạm do tác giả vay mượn hình ảnh, dù chỉ là một tấm ảnh trên mạng internet của người khác mà chưa được phép cũng có thể làm suy giảm uy tín của bộ phim dày công phu của tác giả, do đó, việc hiểu rõ quyền tác giả hình ảnh là vô cùng quan trọng

Trong các bộ phim Tài liệu Truyền hình, để đảm bảo yêu cầu về bản quyền hình ảnh, Đài truyền hình Việt Nam chủ động trong việc kiểm soát các hình ảnh, âm thanh thông qua các văn bản đến từng phòng ban trong đài, thông qua các văn bản này, các đơn vị sẽ nhận thức được những điều được phép làm và không được phép trong các các tác phẩm của mình Các văn bản này được lãnh

Trang 39

đạo đài chỉ đạo thông qua ban Thư ký Biên tập tới các đơn vị có liên quan

- Ba là: Phim tài liệu sản xuất với phương thức xã hội hoá

Ngoài việc trực tiếp sản xuất các phim tài liệu, Đài truyền hình Việt Nam trong những năm qua cũng có nhiều phim tài liệu sản xuất theo phương thức xã hội hoá, theo phương thức đặt hàng Các đơn vị tham gia vào phương thức này có thể thấy như: Hãng phim Tài liệu Khoa học Trung ương, Công ty Dolphin Media,Công ty cổ phần truyền thông giải trí IQ, Công ty Truyền thông Vietpictures, công ty Motion Media v.v… Để quản lý bản quyền hình ảnh trong các sản phẩm của các đơn vị truyền thông không nằm trong hệ thống của Đài như vậy, Truyền hình Việt Nam đã xây dựng một cơ chế riêng để quản lý các vấn đề

về bản quyền nói chung và bản quyền hình ảnh nói riêng Ví dụ: Khảo sát công ty Giải trí IQ được phối hợp với Truyền hình Việt Nam sản xuất chương trình phim Tài liệu Ký sự “Nẻo về Nguồn cội” phát sóng lúc 7h30 phút sáng từ thứ 2-thứ 6 hàng tuần trên kênh VTV1, với số lượng phim Tài liệu lớn như vậy, việc quản lý bản quyền hình ảnh của phim được đài Truyền hình Việt Nam quản lý thông qua hợp đồng sản xuất chương trình với đơn vị phối hợp sản xuất qua đó, công ty Giải trí IQ chịu trách nhiệm hoàn toàn trong việc cung cấp hình ảnh, nội dung cho đài với bản quyền đầy đủ nhất Phía công ty IQ, khi làm việc với mỗi đạo diễn của họ, các bộ phim khi sản xuất xong, các đạo diễn của từng tập phim đều phải ký giấy cam kết sở hữu tác quyền của phim Điều này giúp công ty IQ quản lý hoàn toàn được việc vi phạm bản quyền hình ảnh của các đạo diễn, biên tập trong từng tập phim, việc ký các văn bản bản quyền nhỏ lẻ đã giúp cho IQ hoàn toàn tránh được các rủi ro về bản quyền hình ảnh, cũng như nâng cao nhận thức và trách nhiệm sử dụng hình ảnh trong phim của từng đạo diễn, biên tập tham gia sản xuất phim cho công ty IQ Như vây, có thể thấy rõ rằng, việc quản lý bản quyền hình ảnh thông qua các chương trình xã hội hoá, đã được hệ thống hoá và hoạt động tương đối tốt, giảm thiểu tối đa các vi phạm về bản quyền hình ảnh (PV sâu Bà Trần Tâm Hà -

Trang 40

Giám đốc công ty cổ phần Giải trí IQ)

Trên thế giới, biều hiện của thị trường bản quyền thể hiện rõ nhất là việc mua bán chương trình qua nhiều quốc gia và thông thường việc mua bán này bao gồm các giai đoạn: Phát triển ý tưởng nội dung, mua bán và phân phối, sản xuất hoặc tái sản xuất và cuối cùng là phát sóng Để xây dựng được mạng lưới thị trường mua bán bản quyền hình ảnh trên truyền hình cần có sự tham gia của nhiều bên từ người xây dựng ý tưởng format đến nhà sản xuất, nhà đầu tư, kênh phát sóng, nhà phân phối…

- Các quyền sử dụng hình ảnh trước các hành vi vi phạm, xâm phạm bản quyền của đài Truyền hình Việt Nam

Nội dung quản lý này nhằm thực hiện đầy đủ chức năng cơ bản của bản quyền hình ảnh trên truyền hình là bảo vệ các quyền như quyền tổ chức phát sóng các chương trình, bản quyền phim Tài liệu, các quyền độc quyền do

tổ chức phát sóng tự thực hiện hoặc cho tổ chức, cá nhân khác thực hiện Các quyền này bao gồm:

+ Quyền phát sóng, tái phát sóng chương trình phát sóng chương trình: Bao gồm việc truyền tải để công chúng tiếp cận được âm thanh hoặc hình ảnh

và âm thanh, bằng các phương tiện không dây, truyền hình, phát thanh, vệ tinh

+ Quyền phân phối đến công chúng chương trình phát sóng: Khi chương trình được truyền tải đến công chúng, tín hiệu được phân phối bằng dây hoặc không dây, chỉ có thể được nhận bởi người có những thiết bị cần thiết để giải mã tín hiệu Truyền dẫn cáp là một ví dụ điển hình truyền thông tới công chúng Các chương trình truyền hình với tín hiệu tốt, âm thanh hình ảnh độ nét cao được cung cấp tới khách hàng cũng chính là khán giả bằng các đường dây cáp thông thường hoặc các đường cáp quang

+ Quyền định hình chương trình phát sóng: Các tổ chức phát sóng tự

Ngày đăng: 24/11/2021, 23:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Quang Chính (2004), Tài liệu tham khảo lịch sử điện ảnh Việt Nam, Trường Đại học Sân khấu Điện ảnh Hà Nội, Trung tâm nghiên cứu nghệ thuật và lưu trữ Điện ảnh Việt Nam tại TP. Hồ Chí Minh Khác
2. Chính luận truyền hình lý thiết và kỹ năng sáng tạo tác phẩm (2014), Nxb Thông tấn, Hà Nội Khác
3. C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, tập 23, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
4. G.V. Cudơnhetxốp X.L, A.La.Lurốpxki (2004), Báo chí truyền hình (tập 1,2), Nxb Thông tấn, Hà Nội Khác
5. Công ước Berne 1886 : công cụ hữu hiệu bảo hộ quyền tác giả, Nguyễn Bá Bình; Phạm Thanh Tùng. - 1st ed. - Hà Nội : Tư pháp, 2006 Khác
6. Các công ước và hiệp ước quốc tế về quyền tác giả, Nguyễn Bá Bình (2000) Conventions and treaties on copyright. - H. : Cục Bản quyền Tác giả Khác
7. Giới thiệu về quyền sở hữu trí tuệ = Introduction to intellectual property rights / Kathleen Hug b.t. (2002) - H. : Phòng Thông tin - Văn hóa Đại Sứ quán Hợp chủng Quốc Hoa Kỳ Khác
8. Các quy định pháp luật Việt Nam và quốc tế về quyền tác giả và quyền liên quan. - Tái bản có sửa chữa, bổ sung (2012). - Hà Nội : Cục Bản quyền Tác giả Khác
9. Từ điển thuật ngữ quyền tác giả, quyền liên quan, Tập thể tác giả. (2010) - Hà Nội : Thế giới : Cục Bản quyền tác giả Khác
10. Cẩm nang quyền tác giả khu vực Châu Á, Tamotsu Hozumi ; ng.d. Mai Minh Hằng (2005) - H. : Kim Đồng Khác
11. Đức Dũng (2002), Sáng tạo tác phẩm báo chí, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội Khác
12. Nguyễn Văn Dững (2000), Báo chí những điểm nhìn từ thực tiễn (tập 1,2), Phân viện Báo chí và Tuyên truyền, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội Khác
13. Nguyễn Văn Dững (2011), Báo chí và dư luận xã hội, Nxb Lao Động Khác
14. Nguyễn Văn Dững (2013), Cơ sở lý luận báo chí, Học viện Báo chí Tuyên truyền, Nxb Lao Động Khác
15. N. Everton - Lê Phong dịch (1999), Làm tin, phóng sự truyền hình, Quỹ Reuter, Hà Nội Khác
16. Nguyễn Thị Trường Giang (2011), Đạo đức nghề nghiệp của nhà báo, Nxb Chính trị Hành chính, Hà Nội Khác
17. A.Golovnhia (2005), Nghệ thuật quay phim, dịch: Ngô Tạo Kim, Trường Đại học sân khấu Điện ảnh, Hà Nội Khác
18. Đỗ Thị Thu Hằng (2010), PR công cụ phát triển báo chí, Nxb Trẻ, Hà Nội Khác
19. Đỗ Thị Thu Hằng (2013), Giáo trình tâm lý học báo chí, Nxb Đại học Quốc gia, Tp. Hồ Chí Minh Khác
20. Đỗ Thị Thu Hằng (2013), Giáo trình Tâm lý học báo chí, Nxb Đại học Quốc gia, thành phố Hồ Chí Minh Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w